Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |

 

 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

CHUNG TAY VÌ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG


Sáng kiến Dân chấm điểm mang sự hài lòng của người bệnh (22/11/2018)

Những năm qua, Trung tâm Y tế huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị luôn nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn, đặc biệt khi Sáng kiến Dân chấm điểm M.Score được triển khai tại đơn vị, sự hài lòng của người bệnh ở mức cao nhất tiếp tục là mục tiêu hướng đến của tập thể cán bộ, nhân viên trung tâm.


Tặng Huân chương Hữu nghị cho TS. Shin Young-soo (21/11/2018)

Ngày 21/11, tại Hà Nội, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã trao tặng Huân chương Hữu nghị cho TS.Shin Young-soo, Giám đốc Khu vực Tây Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế Thế giới.

 

 

 


Lễ phát động cam kết sử dụng kháng sinh có trách nhiệm vì sức khỏe cộng đồng (19/11/2018)

Ngày 19/11 tại Đông Anh, Hà Nội, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương phối hợp với Hội Truyền nhiễm Việt Nam tổ chức lễ phát động cam kết sử dụng kháng sinh hợp lý và có trách nhiệm.

 

 

 

 


Lễ tổng kết và trao giải cuộc thi “Y tế thông minh năm 2018” (18/11/2018)

Ngày 18/11 tại Hà Nội, Cục Công nghệ thông tin (Bộ Y tế) phối hợi với Hội tin học Việt Nam phối hợp tổ chức Lễ tổng kết và trao giải cuộc thi “Y tế thông minh năm 2018”. Ban tổ chức đã trao 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba, 3 giải Khuyến khích và 1 giải Triển vọng cho những sản phẩm y tế thông minh nhất và mang tính ứng dụng cao, giúp các cơ sở y tế lựa chọn được những phần mềm phù hợp để triển khai.

 

 


Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ làm việc với Bộ Y tế (17/11/2018)

Chiều 17/11, tại Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Chủ tịch Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại đã làm việc với Bộ Y tế. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã tiếp và làm việc với Đoàn.

 

 


Khánh thành Trung tâm điều trị đa khoa chất lượng cao của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương

Sáng 17/11 tại Hà Nội, Trung tâm điều trị đa khoa chất lượng cao của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương chính thức được khánh thành, đưa vào sử dụng. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến dự và phát biểu tại buổi lễ.


Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia: Cần nghiêm khắc hơn (16/11/2018)

Sáng 16/11, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự thảo Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia. Nhiều đại biểu đã cho rằng, dự thảo Luật cần quy định chặt chẽ và nghiêm khắc hơn, tăng chế tài trong nhiều nội dung.


Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Đề án bệnh viện vệ tinh năm 2013-2018 và kế hoạch 2018-2020 (15/11/2018)

Ngày 15/11, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Đề án bệnh viện vệ tinh năm 2013-2018 và kế hoạch 2018-2020. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến dự và chủ trì Hội nghị.


Hội nghị trực tuyến “Nhân rộng mô hình trạm y tế xã, phường hoạt động theo nguyên lý y học gia đình, tăng cường năng lực y tế cơ sở” (14/11/2018)

Sáng 14/11, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị trực tuyến “Nhân rộng mô hình trạm y tế xã, phường hoạt động theo nguyên lý y học gia đình, tăng cường năng lực y tế cơ sở”. Đây là lần đầu tiên Bộ Y tế triển khai trực tuyến với hơn 700 điểm cầu trên cả nước, bao gồm tất cả các trạm y tế (TYT) xã để thông tin về những thành quả bước đầu triển khai mô hình TYT xã điểm tại 26 trạm. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến dự và chủ trì Hội nghị.

 

 


Lễ Mít tinh hưởng ứng " Tuần lễ Thế giới nâng cao nhận thức về kháng kháng sinh" (13/11/2018)

Ngày 13/11, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức lễ mít tinh với chủ đề “Kháng sinh: Sử dụng có trách nhiệm” nhằm góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về kháng kháng sinh, đặc biệt là tầm quan trọng của việc sử dụng kháng sinh đúng cách và có trách nhiệm để Hưởng ứng “Tuần lễ thế giới nâng cao nhận thức về kháng kháng sinh, từ 12-18/11/2018”

 

 


Ngày hội vì cộng đồng – Gia đình cùng hành động sớm phòng chống bệnh đái tháo đường (11/11/2018)

Ngày 11/11 tại Quảng trường Cách Mạng Tháng Tám (Hà Nội) và Nhà văn hóa Thanh niên (TP Hồ Chí Minh), Bộ Y tế, Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam tổ chức Ngày hội vì cộng đồng – Gia đình cùng hành động sớm phòng chống bệnh đái tháo đường Hưởng ứng ngày Đái tháo đường thế giới (14/11). Tham dự có Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến; TS Kidong Park, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam; Bí thư Trung ương Đoàn Nguyễn Ngọc Lương và 1.000 người dân có nguy cơ bị đái tháo đường, lực lượng thầy thuốc trẻ đến từ các bệnh viện lớn trên địa bàn thành phố Hà Nội.


"Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”

Những năm qua, Trạm y tế xã Piềng Vế, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đã thực hiện tốt nhiệm vụ khám, chữa bệnh, kết hợp truyền thông giáo dục sức khỏe trên nhiều lĩnh vực, góp phần từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân địa phương.

 

 

 


Từng bước nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh 16/11/2018

Theo Bác sĩ Trần Thị Lý, Trưởng phòng Y tế huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng cho biết trong những năm qua, huyện Lạc Dương đã tập trung phát triển y tế cơ sở, từng bước nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân là nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và tạo điều kiện của chính quyền và tranh thủ các nguồn lực, đặc biệt là từ nguồn vốn 135 của Chính phủ và chương trình mục tiêu về xây dựng NTM để ưu tiên xây dựng mới và nâng cấp các trạm y tế, thực hiện chỉ tiêu xây dựng trạm y tế đạt chuẩn quốc gia


Bộ Y tế: Trình dự án Luật Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (09/11/2018)

Sáng 9/11, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trình bày Tờ trình về dự án Luật Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia (PCTHRB) tại Kỳ họp thứ sáu Quốc hội khoá XIV.


Cục quản lý Dược (Bộ Y tế) cung cấp thông tin về 'thuốc làm từ thịt người' (09/11/18)

Ngày 7/11/2018, Cục Quản l‎ý  Dược,  Bộ Y tế vừa có văn bản gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố cung cấp thông tin về loại thuốc làm từ thịt người đang được dư luận quan tâm trong thời gian vừa qua .


Nâng cao năng lực hoạt động cho hệ thống y tế cơ sở (8/11/2018)

Theo Trạm trưởng trạm y tế xã cho biết: Xã Vạn Thiện, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa có 4.838 hộ dân, người dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp nên đời sống còn nhiều khó khăn. Địa bàn xã nằm cách xa bệnh viện huyện nên nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân trong xã và các xã lân cận rất cao.


Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điều trị ung bướu giữa Việt Nam – Pháp (3/11/2018)

Ngày 3/11, tại Hà Nội, Bệnh viện K (Bộ Y tế) và Viện Curie (Cộng hòa Pháp) tổ chức Lễ ký thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực điều trị ung bướu hướng tới kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ hữu nghị ngoại giao Việt - Pháp và 25 năm ký Hiệp định giữa hai Chính phủ về hợp tác Y tế. Tham dự lễ ký, có bà Nguyễn Thị Kim Tiến Bộ trưởng Y tế Việt Nam, ông Agnes Buzyn Bộ trưởng Đoàn kết và Y tế Pháp cùng đại diện Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam.

 


Tạo điều kiện thuận lợi cho trạm y tế xã trong khám chữa bệnh BHYT (31/10/2018)

Ngày 31/10 tại Hà Nội,  Bộ Y tế đã cung cấp cho báo chí những thông tin mới nhất về Nghị định 146/2018/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 1-12-2018, thay thế Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15-11-2014 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế (BHYT) và Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24-11-2014 của liên Bộ Y tế - Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT.

 


Việt Nam đã sản xuất được 11/12 loại vaccine (31/10/2018)

Phấn đấu xây dựng công nghiệp dược, trong một tương lai không xa sẽ thành công nghiệp mũi nhọn cùng với công nghiệp vaccine và đẩy nhanh tiến độ liên thông kết quả xét nghiệm, công nhận lẫn nhau giữa các bệnh viện… là những vấn đề được Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cam kết thực hiện trước Quốc hội.

 

 


6 đội thi lọt vào chung kết Cuộc thi Y tế cơ sở giỏi năm 2018 (30/10/2018)

Ngày 30/10, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Chung kết cuộc thi “Y tế cơ sở giỏi năm 2018”. Tham dự và chỉ đạo cuộc thi có các đồng chí: Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế; Phạm Lê Tuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế 6 đội thi đến từ các tỉnh và thành phố: Phú Thọ, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Cần Thơ và Bạc Liêu đại diện cho 3 miền của Tổ quốc.

 

 


Sự hài lòng của người bệnh đã tăng lên rõ rệt (27/10/2018) 

Sáng 27/10, Quốc hội tiếp tục thảo luận về kinh tế - xã hội. Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã phát biểu giải trình về vấn đề chất lượng khám chữa bệnh và y tế cơ sở. Bộ trưởng cho biết, đánh giá gần đây nhất của UNDP qua chỉ số PAPI độc lập thì chỉ số hài lòng của bệnh nhân sau khi khám chữa bệnh đạt được 76%, và Tổ chức sáng kiến Việt Nam đánh giá 3.000 người dân ra viện, phỏng vấn người nhà sau hai tuần thì tỷ lệ hài lòng với bệnh nhân nội trú là 80%.


Triển khai nhiều biện pháp đối phó bệnh sốt xuất huyết (26/10/2018)

Trước tình hình bệnh sốt xuất huyết (SXH) có khả năng bùng phát mạnh trên địa bàn huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, ngành y tế huyện phối hợp với chính quyền, MTTQ và các tổ chức thành viên khẩn trương triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn nguy cơ dịch bệnh lây lan diện rộng.


Bệnh viện Bạch Mai và Hữu nghị Việt Đức khánh thành cơ sở 2 tại tỉnh Hà Nam 21/10/2018

Ngày 21/10, tại tỉnh Hà Nam, Bộ Y tế tổ chức Lễ khánh thành Khoa Khám bệnh thuộc Dự án cơ sở 2 của hai Bệnh viện Bạch Mai và Hữu nghị Việt Đức. Dự buổi lệ có các đồng chí: Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Thúy Anh, Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội; Nguyễn Đình Khang, Bí thư tỉnh Hà Nam; Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Y tế…

 

 


“Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” ngày càng hiệu quả (16/10/2018)

Sau một thời gian triển khai Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” cán bộ y tế và người dân đã tin tưởng vào thuốc do các doanh nghiệp trong nước sản xuất. Đặc biệt, khái niệm “sử dụng thuốc sản xuất trong nước” đã hình thành trong tiềm thức của người dân trong việc phòng và chữa bệnh.


Bộ Y tế phát động chiến dịch “phòng chống dịch bệnh tay chân miệng, sởi và sốt xuất huyết” tại Hà Nội (13/10)

Ngày 13/10 tại  Hà Nội, Bộ Y tế đã phối hợp với UBND Thành phố Hà Nội tổ chức triển khai “Chiến dịch phòng chống dịch bệnh tay chân miệng, sởi và sốt xuất huyết”.Tham dự Lễ phát động có GS.TS. Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ông Ngô Văn Quý, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội; cùng đại diện Lãnh đạo các Vụ, Cục, Viện, Văn phòng Bộ, Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; các tổ chức quốc tế; lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành, các bậc phụ huynh, các cháu thiếu nhi của TP Hà Nội; cơ quan truyền hình thông tấn Trung ương, Hà Nội đã về dự và đưa tin cho buổi Lễ.


Bộ Y tế phát động “Chiến dịch phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng, sởi và sốt xuất huyết năm 2018” (12/10)

Ngày 12/10, tại Tp. Hồ Chí Minh, Bộ Y tế phối hợp với UBND TP. HCM tổ chức “Chiến dịch phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng, sởi và sốt xuất huyết năm 2018” nhằm huy động các cấp chính quyền, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, từng gia đình và toàn xã hội chủ động tham gia và phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng, sởi, sốt xuất huyết không để bùng phát dịch bệnh trong thời gian tới, góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn thị Kim Tiến tham dự và phát biểu khai mạc lễ phát động.


Hơn 77% số ca mắc tay chân miệng ở các tỉnh phía Nam (9/10/2018)

Ngày 9/10 tại Hà Nội, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế tổ chức buổi gặp mặt báo chí cung cấp thông tin về phòng, chống dịch bệnh đông xuân. Tại buổi gặp mặt Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết, so với cùng kỳ năm 2017, số mắc tay chân miệng trên cả nước giảm 18,9%, số trường hợp nhập viện giảm 14,9%. Số mắc năm 2018 chủ yếu ghi nhận ở khu vực miền nam với 47.955 trường hợp, chiếm 77,6%.


Gia đình Công giáo tích cực khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Trực Mỹ

Xã Trực Mỹ (Trực Ninh, Nam Đinh) là đơn vị chỉ đạo điểm của tỉnh triển khai mô hình “Gia đình Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh”. Toàn xã có hơn 6.000 nhân khẩu, trong đó, đồng bào Công giáo chiếm 39,7%. Trước đây, Trực Mỹ là địa phương có tỷ lệ mất cân bằng giới tính cao nhất tỉnh với 126 cháu trai/100 cháu gái, tỷ lệ sinh con thứ 3 năm sau cao hơn năm trước.

 

 


Người thầy thuốc của dân bản 8/10/2018

Anh Đặng Khải Hùng là nhân viên y tế thôn Vằng Kheo, xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn mới 22 tuổi, nhưng đã có hơn 3 năm làm nhân viên y tế thôn. Thôn Vằng Kheo có 23 hộ dân, với 108 nhân khẩu, đặc thù 100% là người dân tộc Dao, cách trung tâm xã 4km đường rừng nên việc đi lại còn gặp nhiều khó khăn, vất vả.


Chú trọng công tác dân số trong tình hình mới

Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 về công tác dân số trong tình hình mới. Nghị quyết xác định: Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết, vừa lâu dài, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Quán triệt tinh thần này, ngành dân số Quảng Trị từng bước thay đổi nhằm nâng cao chất lượng phù hợp với yêu cầu, thách thức trong tình hình mới.

 


Thị trấn Gôi thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

Thị trấn Gôi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Vụ Bản, có 2.054 hộ dân với 7.280 khẩu, sinh sống tại 9 tổ dân phố. Thực hiện chương trình mục tiêu Dân số - SKSS/KHHGĐ Đảng uỷ, UBND Thị trấn Gôi; Ban Dân số - KHHGĐ thị trấn đã xây dựng kế hoạch hành động với mục tiêu “Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng SKSS, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân”. 


Nỗ lực giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh

Bảo đảm cân bằng giới tính khi sinh (GTKS) góp phần ổn định và nâng cao chất lượng dân số. Trong thời gian qua, Bình Dương đã triển khai và thực hiện có hiệu quả đề án bảo đảm cân bằng GTKS. Tuy nhiên, để tiếp tục thực hiên tốt mục tiêu giảm mất cân bằng GTKS cần có nhiều giải pháp hơn nữa...

 

 

 


Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh

Trước tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang có xu hướng tăng cao, ngành chức năng đã thực hiện nhiều giải pháp kiểm soát.

 

 

 

 

 


MTTQ xã Nghĩa Lợi tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách dân số

Xã Nghĩa Lợi (Nghĩa Hưng) có 1.791 hộ với 5.598 khẩu, trong đó có 39,6% đồng bào theo đạo Thiên chúa. Thời gian qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng uỷ, UBND xã, MTTQ xã đã có nhiều hoạt động thiết thực vận động nhân dân tích cực tham gia tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện công tác DS-KHHGĐ lồng ghép với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.


Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Theo số liệu của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Quảng Ninh, năm 2016, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh vẫn còn khá cao là 112,5 trẻ em trai/100 trẻ em gái. Năm 2017, mặc dù chỉ tiêu mà Tổng cục DS-KHHGĐ đưa ra cho tỉnh có thể tăng tỷ số tối đa thành 112,8 trẻ em trai/100 trẻ em gái, tuy nhiên, trước mắt, năm nay Quảng Ninh quyết tâm giữ nguyên tỷ số của năm 2016, tiến tới thực hiện giảm dần tỷ số giới tính khi sinh trong những năm tới.

 


Bộ Y tế yêu cầu khẩn trương chống dịch bệnh tay chân tay miệng (1/10)

Chiều 1/10, Bộ Y tế đã có công văn khẩn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng trước tình hình bệnh gia tăng phức tạp khiến hơn 53.500 ca mắc, 6 ca tử vong.


Thị xã Buôn Hồ đẩy mạnh tuyên truyền DS-KHHGĐ trong đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo

Những năm qua, với sự quan tâm của chính quyền các cấp, các ngành, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo trên địa bàn thị xã Buôn Hồ đã có nhiều bước đổi thay đáng ghi nhận.


Đổi mới toàn diện về phong cách, thái độ phục vụ người bệnh (2/10/2018)

Với quan điểm “Đổi mới toàn diện về phong cách, thái độ phục vụ người bệnh, cán bộ y tế phải thay đổi nhận thức, quan điểm, coi người bệnh là trung tâm, các cơ sở y tế là đơn vị cung cấp dịch vụ cho khách hàng dịch vụ tốt nhất”, ngành Y tế cả nước đang chỉ đạo thực hiện hàng loạt các biện pháp đổi mới: Đổi mới về quan điểm, nhận thức, đổi mới về quản lý, đổi mới về cách làm và đổi mới về phong cách, thái độ phục vụ.


Nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận (26/9/2018)

Trong những năm qua các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Thái Nguyên đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, kết luận, để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh Thái Nguyên đã hướng dẫn Ủy ban MTTQ các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên, các ngành chức năng thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh.


Ninh Bình làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh (20/9/2018)

Xác định công tác phòng, chống dịch bệnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thời gian qua, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh luôn nỗ lực triển khai có hiệu quả công tác y tế dự phòng nhằm giám sát và kiểm soát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, không để bùng phát, lây lan trên diện rộng, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.


Tặng 90 suất quà Tết Trung thu cho bệnh nhi bị ung thư (18/9)

Chiều 18/9, Bộ Y tế phối Quỹ hỗ trợ bệnh nhân ung thư Ngày mai tươi sáng, Bệnh viện K tổ chức tặng quà cho các bệnh nhi đang điều trị ung thư tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều nhân dịp Tết Trung thu năm 2018.

 

 

 

 


Hội thảo thu thập thông tin về tác động của chính sách trong dự án Luật Dân số

Vừa qua, Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) phối hợp với Sở Y tế Hà Nam tổ chức Hội thảo thu thập thông tin về tác động của chính sách trong dự án Luật Dân số. Tiến sỹ Phạm Minh Sơn, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Thanh tra, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình chủ trì hội thảo.


Hội thảo tập huấn về Chăm sóc dài hạn (17/9)

Ngày 17/9 tại Hà Nội, Bộ Y tế phối với Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam (WHO); Qũy dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) tổ chức Hội nghị tập huấn về Chăm sóc dài hạn. PGS.TS.Phạm Lê Tuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế chủ trì Hội thảo.

 

 

 


Bộ trưởng Bộ Y tế kiểm tra công tác khắc phục hậu quả lũ lụt tại Thanh Hóa (15/9)

Chiều 15/9, đoàn công tác của Bộ Y tế do PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế làm trưởng đoàn đã đi kiểm tra công tác khắc phục hậu quả lũ lụt tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Tiếp và làm việc với Đoàn về phía tỉnh Thanh Hóa có đồng chí Phạm Đăng Quyền, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa; đại diện lãnh đạo Sở Y tế, Văn phòng UBND tỉnh và huyện Thạch Thành.

 

 


Xã Đông Phong - điểm sáng công tác DS-KHHGĐ

Từ nhiều năm nay, cuộc sống của người dân xã Đông Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình từng bước được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm. Đồng chí Bùi Công Đoàn, Chủ tịch UBND xã chia sẻ: Thành quả có được một phần là nhờ đóng góp quan trọng của việc thực hiện chính sách dân số. Đã 5 năm liền, xã duy trì thành tích không sinh con thứ 3, đặc biệt có những địa bàn dân cư giữ bề dày thành tích không sinh con thứ ba 10 năm liền.


Nhiều mô hình quân dân y được triển khai hiệu quả (13/9)

Qua ba năm triển khai Dự án quân dân y kết hợp (từ năm 2016 đến nay), nhiều mô hình đã được thực hiện thành công trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân, bộ đội, trong thời kỳ mới; góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc.

 

 

 

 


  Đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo phát triển nguồn nhân lực y tế (13/09/2018)

Hệ thống đào tạo nhân lực y tế đã có sự phát triển mạnh mẽ với nhiều trường đại học, cao đẳng và trung cấp trên cả nước. Nhờ đó đã cung cấp nguồn nhân lực y tế có trình độ chuyên môn kỹ thuật đáp ứng về cơ bản yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân tất cả các tuyến y tế từ trung ương đến vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.


Bộ trưởng Bộ Y tế làm việc về công tác y tế cơ sở tại Nam Định

Ngày 11/9, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cùng đoàn công tác của Bộ Y tế đã đến làm việc về công tác y tế cơ sở tại Trạm y tế xã Xuân Hồng- huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

 

 

 

 


Gia Lai: Triển khai đề án cơ cấu và nâng cao chất lượng dân số

Vừa qua, Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Gia Lai tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch thực hiện đề án cơ cấu và nâng cao chất lượng dân số năm 2018. Đề án gồm 2 thành phần: kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017-2020.

 

 

 

 


Nghĩa Lộ đẩy mạnh tuyên truyền về mất cân bằng giới tính khi sinh

Nghĩa Lộ, Yên Bái là một trong những địa phương có nguy cơ về mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS). Tỷ lệ giới tính khi sinh trên địa bàn thị xã trong 2- 3 năm trở lại đây dao động từ 110 -112 trẻ nam/ 100 trẻ nữ. Như vậy, so với mức bình thường, độ chênh lệch giới tính khi sinh từ 5- 7 trẻ nam/ trẻ nữ.

 

 

 


Thực hiện Nghị quyết T.Ư 6, khóa XII về tăng cường công tác dân số trong tình hình mới: Giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Từ năm 2000 đến nay, tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam liên tục tăng và tốc độ khó kiểm soát. Đây là một vấn đề nóng của ngành dân số, như Nghị quyết Hội nghị T.Ư 6, khóa XII (Nghị quyết số 21-NQ/TW) về công tác dân số trong tình hình mới khẳng định mất cân bằng giới tính (MCBGTKS) tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng. Vì vậy, để đạt mục tiêu đến năm 2030, tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái thì bên cạnh các giải pháp của cơ quan chuyên môn thì cũng rất cần có sự chung tay giải quyết của toàn xã hội.


Liên Minh làm tốt công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (8/9)

Những năm qua, xã Liên Minh (Vụ Bản, Nam Định) là một trong những địa phương tiêu biểu của tỉnh về thực hiện các chỉ tiêu công tác Dân số - KHHGĐ. Bằng việc duy trì mức sinh thấp hợp lý; trong đó giảm tỷ lệ người sinh con thứ 3, đã góp phần nâng cao chất lượng dân số của xã.


Trung tâm y tế huyện Bố Trạch (Quảng Bình): Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân (8/9)

Những năm qua, đội ngũ y, bác sỹ của Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Bố Trạch luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, khám và chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn. Nhờ đó, Trung tâm đã tạo được sự tin tưởng của người dân khi đến khám và điều trị.


Một mô hình truyền thông cần được nhân rộng (8/9)

Không ít chuyên gia nhận định rằng, chỉ siết chặt quy định pháp luật sẽ không đủ để giải quyết triệt để tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh mà cần được điều chỉnh bằng phạm trù đạo đức, phong tục tập quán. Chính quan điểm đó đã tạo tiền đề cho sự thành công của mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh”.


Hội nghị nâng cao chất lượng trạm y tế xã, phường hoạt động theo nguyên lý y học gia đình dựa trên mô hình 26 trạm y tế điểm các tỉnh phía Bắc

Ngày 7/9, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị nâng cao chất lượng trạm y tế xã theo nguyên lý y học gia đình dựa trên mô hình 26 trạm y tế điểm của 8 tỉnh thành phía Bắc.Tham dự Hội nghị PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế; các đồng chí Thứ trưởng Bộ Y tế: Nguyễn Thanh Long, Trương Quốc Cường; đồng chí Ngô Văn Quý, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; đồng chí Nguyễn Văn Vinh, Phó Chủ tịch UNBD tỉnh Nghệ An.Đại diện lãnh đạo và chuyên viên các Vu, Cục, Tổng cục, Thanh tra, Văn phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế; các đơn vị liên quan.


Bắc Ninh khó khăn trong kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh (6/9)

Bắc Ninh hiện là 1 trong 5 tỉnh có tỉ lệ mất cân bằng giới tính cao nhất cả nước, với 113 bé trai/100 bé gái. (Mức chuẩn 105 bé trai trên 100 bé gái). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như việc lựa chọn giới tính thai nhi, định kiến giới, ưa thích con trai và xem thường giá trị phụ nữ đã ăn sâu trong quan niệm văn hóa của nhiều người. Ngoài ra, quy định xử lí vi phạm chưa đủ sức răn đe với người cung cấp dịch vụ liên quan đến sinh sản.

 


Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh 5/9/2018

Thời gian qua Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh luôn chú trọng nâng cao chất lượng chuyên môn, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh.


Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở Mường Mô (4/9)

Những năm qua, đội ngũ cán bộ, y, bác sỹ Trạm Y tế xã Mường Mô (huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu) không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, làm tròn vai trò của tuyến y tế cơ sở trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân.

 

 

 


Hòa Bình: Từng bước giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh (30/8)

Hòa Bình là 1 trong 10 tỉnh, thành phố có tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh cao nhất cả nước. Theo số liệu thống kê của Chi cục DS /KHHGĐ, năm 2016, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh ta là 115,3 nam/100 nữ. Năm 2017 là 115,1 nam/100 nữ. Tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh cao hơn mức trung bình của cả nước (toàn quốc là 112,4 nam/100 nữ).

 

 


Nhiệt tâm thiện nguyện (30/8/2018) 

Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam (đóng trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) ngày càng được tin tưởng không chỉ về chuyên môn, mà cũng là nơi làm cầu nối để những tấm lòng thiện nguyện đến với bệnh nhân nghèo điều trị tại đây.


Mai Sơn quan tâm việc cân bằng giới tính khi sinh (29/8)

Những năm qua, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là huyện có tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh cao so với các huyện khác trong tỉnh, năm 2017, tỷ số này là 126 bé trai/100 bé gái, tăng 6 điểm so với năm 2016. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ xảy ra ở các xã vùng sâu, vùng xa mà ở thị trấn, thị tứ cũng khá phổ biến. Để từng bước đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng, tự nhiên, Mai Sơn đã và đang thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.


Bệnh viện Đa khoa khu vực Yên Minh đẩy mạnh ứng dụng khoa học, kỹ thuật (29/8)

Nhằm không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh (KCB) cho nhân dân trên địa bàn, Bệnh viện (BV) Đa khoa Khu vực (ĐKKV) Yên Minh, tỉnh Hà Giang đã cải tiến lề lối làm việc, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, kỹ thuật (KHKT) vào KCB; từng bước đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tại địa phương và khu vực lân cận.

 


Nhân viên y tế cơ sở hoạt động lồng ghép (28/8)

Những năm qua, hiệu quả hoạt động lồng ghép vừa là nhân viên y tế ấp, cộng tác viên dân số - kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) và cộng tác viên chương trình mục tiêu quốc gia tại Trạm Y tế xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tạo được sự gần gũi với người dân.

 

 


Hội thảo tầm soát, chẩn đoán, điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh

Vừa qua, tại khách sạn Thiên Ý (TP Thanh Hóa), Tổng cục Dân số -KHHGĐ phối hợp Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hóa, Sở Y tế Thanh Hóa tổ chức hội thảo cung cấp thông tin về tầm quan trọng, lợi ích của tầm soát, chẩn đoán, điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh.

 

 

 


  Bạch Hạc vượt khó trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân (27/8)

So với các phường, xã của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì phường Bạch Hạc có nhiều đặc điểm khác biệt về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và trình độ dân trí. Đứng trước đòi hỏi về sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể nhằm từng bước cải thiện, nâng cao sức khỏe cho nhân dân, cán bộ của Trạm y tế phường đã có nhiều nỗ lực khắc phục khó khăn hoàn thành những mục tiêu về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn.

 


Hội nghị Tuyên truyền về DS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo & Tin lành.

Vừa qua tại xã Quang Trung (huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai), Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp cùng Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế) tổ chức Hội nghị Tuyên truyền về DS-KHHGĐ trong đồng bào Công giáo & Tin lành.

 

 

 

 


Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin kết nối mạng cơ sở cung ứng thuốc (24/8)

Ngày 24/8, tại Thành phố Hưng Yên (tỉnh Hưng Yên), Bộ Y tế tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) kết nối các cơ sở cung ứng thuốc tại 700 điểm cầu (63 điểm cầu tỉnh, thành phố và 637 điểm cầu quận, huyện, thành phố trên địa bàn toàn quốc). Đồng chí Vũ Đức Đam, Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đồng chí: Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; Nguyễn Thành Hưng, Thứ trưởng Bộ TT và TT; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành liên quan.


Sơ kết công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2018 (24/8)

Ngày 24/8 tại Nghệ An, Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2018.

 

 

 

 


Hội thảo khoa học Nâng cao năng lực nghiên cứu về dân số và phát triển giai đoạn 2018 – 2025

Ngày 24/8, tại Vĩnh Phúc, Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế) tổ chức Hội thảo khoa học Nâng cao năng lực nghiên cứu về dân số và phát triển giai đoạn 2018 – 2025.Tham dự Hội thảo có TS Lê Cảnh Nhạc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ; GS.TS Nguyễn Đình Cử, Viện nghiên cứu Dân số, Gia đình và Trẻ em; ông Nguyễn Văn Tân, nguyên Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ; các đại biểu là các chuyên gia dân số đến từ các Viện nghiên cứu, các trường đại học cùng lãnh đạo 11 Chi cục DS-KHHGĐ khu vực phía Bắc.


Ngành y tế bàn công tác phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu (23/8)

Ngày 23/8, tại Đà Nẵng, khai mạc Hội nghị công tác phòng, chống tham nhũng; triển khai Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về công tác đấu thầu và tập huấn công tác đấu thầu toàn quốc năm 2018, do Bộ Y tế tổ chức.

 

 

 

 


Hội nghị khoa học và triển lãm Răng Hàm Mặt Quốc tế lần thứ 11 (22/8)

Sáng 22/8 tại Hà Nội, Hội nghị khoa học và Triển lãm Răng Hàm Mặt Quốc tế lần thứ 11 chính thức khai mạc. Hội nghị có sự tham dự của đồng chí Trương Hoà Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ; đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Y tế; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và TP Hà Nội; các nhà khoa học trong nước và quốc tế.

 

 


Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tuyến xã (22/8)

Tỉnh Nam Định đã triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (KCB BHYT) ban đầu đến 229 trạm y tế xã, phường, thị trấn. Các trạm y tế trong tỉnh đều đã triển khai hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ KCB thanh toán BHYT. Do chính sách BHYT thời gian qua đã góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ tại trạm y tế, nâng cao ý thức của cán bộ, nhân viên y tế nên tỷ lệ người dân được tiếp cận dịch vụ y tế ngày càng tăng, quyền lợi của người tham gia BHYT được giải quyết đầy đủ, kịp thời.


Tập huấn phổ biến chính sách pháp luật về DS-KHHGĐ

Hai năm qua, Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về công tác Dân số trong tình hình mới nhằm đề ra đường lối, chủ trương, xây dựng nhiều chương trình hành động để thực hiện công tác quan trọng này.

 

 

 


Công tác vận động dân số ở nơi vùng Công giáo (22/8)

Minh Đức là xã miền núi của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Trong những năm qua, công tác DS-KHHGĐ được Đảng ủy, UBND xã quan tâm, chú trọng. Xã Minh Đức có dân số đông nhất huyện, chia thành 17 thôn, trong đó số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao, số người áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại còn thấp do đặc thù xã có 4 thôn là người Công giáo toàn tòng, việc vận động bà con giáo dân thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ rất khó khăn. Tuy nhiên, trong khó khăn đó, thôn Bãi Bằng từ năm 2000 đến nay không có người sinh con thứ ba trở lên và trở thành điểm sáng trong công tác DS-KHHGĐ của xã.


Mặt trận Tổ quốc các cấp tỉnh Vĩnh Phúc với công tác tuyên truyền về dân số, kế hoạch hoá gia đình trong đồng bào dân tộc và tôn giáo (22/8)

Xác định công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình là một trong những giải pháp quan trọng đưa đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa và đồng bào công giáo thoát khỏi đói nghèo, thời gian qua,...


Huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa):Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức báo động (21/8)

Trong những năm qua, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) của huyện Hoằng Hóa đã đạt được một số kết quả quan trọng, nhận thức của cán bộ và nhân dân đã có bước chuyển biến rõ rệt, tốc độ tăng dân số nhanh đã cơ bản được kiểm soát và khống chế, chất lượng dân số từng bước được nâng... Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính trên địa bàn huyện vẫn ở mức cao, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên tăng đột biến, sinh con thứ 3 có chiều hướng gia tăng, tình trạng cán bộ, đảng viên, công chức vi phạm chính sách dân số ngày càng nhiều...


Hội thảo “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế theo hướng hội nhập y tế” (16/8)

Chiều 16/8 tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Hội thảo Đổi mới đào tạo nhân lực y tế theo hướng hội nhập quốc tế. PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì Hội thảo. Tham dự có GS.TS.Lê Quang Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; đại diện lãnh đạo và chuyên viên một số Vụ, Cục, Văn phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế.

 


Hiệu quả từ mô hình CLB phụ nữ không sinh con thứ 3 (17/8)

“Sinh ít con để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” là phương châm hoạt động của các CLB phụ nữ không sinh con thứ 3 ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Sau nhiều năm hoạt động, các CLB đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định quy mô và nâng cao chất lượng dân số của địa phương.

 

 


Hợp tác tiên phong xây dựng mô hình y tế thông minh (16/8)

Ngày 16/8, Bộ Y tế và Công ty Cổ phần FPT vừa ký kết thỏa thuận hợp tác về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin y tế giai đoạn 2018-2028. Tham dự Lễ ký kết, về phía Bộ Y tế có: PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế; GS.TS.Lê Quang Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; đại diện Lãnh đạo và chuyên viên các Vụ, Cục, Tổng cục, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ, Viện Chiến lược và Chính sách y tế; một số bệnh viện, Sở Y tế. Về phía Tập đoàn FPT có: ông Trương Gia Bình, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn và một số đơn vị thành viên.


Bộ Y tế ra mắt trang thông tin điện tử 'Vì lá phổi khỏe' (16/8)

Chiều 16/8, tại Hà Nội, Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh (Bộ Y tế) và AstraZeneca đã tổ chức lễ ra mắt Trang thông tin điện tử 'Vì lá phổi khỏe' nhằm cung cấp thông tin và giáo dục sức khỏe về bệnh hô hấp, đặc biệt là hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) cho người dân và cán bộ y tế.

 

 

 


Nhân rộng các mô hình nâng cao chất lượng dân số (16/8)

Những năm qua, Chi cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) tỉnh Quảng Trị đã triển khai nhiều mô hình, đề án về công tác DS - KHHGĐ với cách làm hay, hiệu quả. Từ đó, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản từng bước được cải thiện, đáp ứng nhu cầu của người dân, góp phần nâng cao chất lượng dân số ở địa phương.
 


Mường Nhé (Điện Biên): Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tuyến cơ sở (14/8)

Bác sĩ Lò Văn Dũng, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên cho biết: Hiện nay, Trung tâm có 27 bác sĩ. Thời gian qua, công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đã được ngành Y tế huyện nỗ lực thực hiện với nhiều giải pháp đồng bộ. Mặc dù vậy, đối với các trạm y tế xã, nhất là các trạm y tế chưa có bác sĩ (7/11 trạm y tế chưa có bác sĩ) thì số lượng các ca bệnh phải chuyển tuyến còn nhiều, gây quá tải tuyến trên và khó khăn trong việc đi lại của bà con. 


Hướng tới sự hài lòng của người tham gia bảo hiểm y tế (13/8)

Thực hiện lộ trình BHYT toàn dân, bên cạnh việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách về BHYT, BHXH tỉnh Nam Định đã phối hợp với Sở Y tế có nhiều giải pháp giám định BHYT, góp phần nâng cao chất lượng KCB của người có thẻ BHYT.


Bộ trưởng Bộ Y tế: Không thể chấp nhận một bệnh nhân phải đợi đến 4 giờ chỉ để khám bệnh(13/8)

Một bệnh viện mà khám từ 8.000 đến 10.000 lượt mỗi ngày là không thể chấp nhận được, bởi trên thế giới không có bệnh viện nào có mức khám bệnh cao như thế.

Đó là chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến tại buổi làm việc với bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh ngày 13/8 về công tác khám chữa bệnh, cải tiến chất lượng khám chữa bệnh; phát triển nguồn nhân lực, đổi mới thái độ, phong cách phục vụ người bệnh…


Khắc phục cơ bản khó khăn trong đấu thầu thuốc khi có Thông tư mới (12/8)

Thông tư quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập mới sẽ khắc phục cơ bản được các khó khăn, bất cập trong công tác đấu thầu, mua sắm thuốc, giúp lựa chọn được thuốc tốt nhất với giá hợp lý.

 

 

 


Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân (10/8)

Thực hiện Nghị quyết 20-CT/TW, tỉnh Bắc Kạn đề ra mục tiêu nâng cao sức khoẻ của người dân cả về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống. Xây dựng hệ thống y tế chất lượng, hiệu quả, công bằng và hội nhập; đội ngũ cán bộ y tế có y đức, có năng lực chuyên môn vững vàng, nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh.

 

 


"Y đức, y thuật, y lý” của người thầy thuốc đông y (8/8/2018)

Hội Đông y thị xã Nghĩa Lộ là một trong những đơn vị vững mạnh của tỉnh Yên Bái, những năm qua, cán bộ, hội viên đã đoàn kết thống nhất, nêu cao "Y đức, y thuật, y lý” của người thầy thuốc đông y, chữa bệnh cứu người làm gốc, góp sức cùng ngành y tế tỉnh Yên Bái thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.


Hội thảo góp ý dự thảo Thông tư quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế (6/8)

Chiều 6/8, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức hội thảo đóng góp ý kiến vào dự thảo Thông tư quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến tham dự và chủ trì hội nghị. Tham dự còn có Thứ trưởng Trương Quốc Cường; Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn; lãnh đạo các Vụ, Cục, Sở Y tế, Bệnh viện, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế; lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Cục Quản lý Đấu thầu – Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đại diện của Hiệp hội, Hội và các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh và phân phối trong lĩnh vực Dược trong nước và quốc tế.


Khu dân cư 30 năm không có người sinh con thứ ba

Trong thực hiện dân số - kế hoạch hóa gia đình, việc giảm sinh con thứ ba luôn là bài toán khó đối với nhiều địa phương, đặc biết là thay đổi nhận thức của những gia đình sinh con một bề là gái. Tuy nhiên, có những địa phương như khu 16, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ lại là điểm sáng trong công tác dân số, khi 30 năm liền không có người sinh con thứ ba.  

 

 


Thanh Hóa: Hưởng ứng các hoạt động Đề án Kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển

Chi cục Dân số - KHHGĐ Thanh Hóa tổ chức Hội nghị tổ chức sự kiện, giao lưu chia sẻ kinh nghiệm truyền thông Đề án kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển (Đề án 52) trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

 

 

 

 


Đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết (2/8/2018)

Tính đến thời điểm hiện nay, số người mắc sốt xuất huyết (SXH) trong cả nước giảm 48,6%, so với cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, trong những tuần gần đây số người mắc SXH đang có xu hướng gia tăng tại một số địa phương. Do vậy, để phòng, chống SXH một cách chủ động và hiệu quả, nhất là tránh tâm lý chủ quan, lơ là, UBND các cấp cần tiếp tục chỉ đạo đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ với ngành y tế trong công tác phòng, chống dịch bệnh.


Kông Chro (Gia Lai): Phấn đấu giữ vững tiêu chí quốc gia về y tế xã (2/8)

Những năm qua, ngành Y tế huyện Kông Chro đã không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng khám-chữa bệnh cũng như duy trì các tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã.

 

 

 

 


Nỗ lực giảm thời gian chờ khám, chữa bệnh (1/8)

Tại các bệnh viện tuyến huyện, tỉnh, thời gian chờ khám bệnh đã rút ngắn khá nhiều so với trước đây. Nhưng ở bệnh viện tuyến trung ương, thời gian chờ vẫn còn dài, cho nên ngành y tế đã yêu cầu các bệnh viện thực hiện ngay những giải pháp cụ thể để rút ngắn thời gian chờ đợi của người bệnh.

 

 

 


Nhiều quy định mới trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện (31/7)

Tập trung thực hiện giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV), giám sát tuân thủ thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) nhằm giảm thiểu nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế là những nội dung mới trong Thông tư Quy định về KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) thay thế Thông tư số 18/2009/TT-BYT.

 

 


Trạm Y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế (30/7/2018)

Bác sỹ Giàng A Tăng, Trạm Trưởng Trạm Y tế xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La cho biết: Trong những năm qua, Trạm Y tế xã Lóng Luông đã thực hiện tốt nhiệm vụ, không để xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn, là địa chỉ khám, chữa bệnh tin cậy của bà con trong xã. Với những nỗ lực đó, năm 2017, Trạm được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế.


Sự sáng tạo trong hoạt động tuyên truyền vận động của các chức sắc trong công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ở Thái Bình và Hưng Yên

Qua các con số thống kê và ý kiến của người dân cho thấy, nhiều người dân quan tâm về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh và hưởng ứng việc triển khai các mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục tình trạng Mát cân bằng giới tính khi sinh”. Việc triển khai các mô hình là nhu cầu cấp thiết và biện pháp hữu hiệu cho việc giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức triển khai thí điểm tại địa bàn 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình là phù hợp.


Nghề y – nghề của niềm vinh dự và trách nhiệm (26/07)

Mỗi người khi trưởng thành thường ấp ủ những hoài bão và lựa chọn cho mình ngành nghề  yêu thích và đam mê. Mỗi ngành, mỗi nghề đều có những đặc thù riêng, nhưng đối với những người được công tác trong ngành y đều xác định đây là vinh dự lớn lao nhưng cũng là trọng trách không nhỏ bởi chính họ sẽ là người trực tiếp tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho mọi người, mọi nhà.

 

 


Ngành y tế An Giang với bước tiến đột phá (25/07)

Những năm qua, mạng lưới y tế (YT) được củng cố, hoàn thiện và phát triển theo hướng chuyên khoa hóa tuyến tỉnh và phát triển YT phổ cập tuyến cơ sở. Cùng với đó, mạng lưới YT dự phòng, YT cơ sở được nâng cao năng lực, đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nhất là ở vùng nông thôn.

 

 

 


Trạm Y tế Tân Thạnh cố gắng xây dựng đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã hàng năm (22/7/2018)

Đó là chia sẻ của Bác sĩ Lương Văn Ngoãn - Trưởng Trạm Y tế xã Tân Thạnh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng về công tác khám, chữa bệnh trên địa bàn xã trong thời gian vừa qua.


Bệnh viện Đa khoa khu vực Yên Minh – điểm sáng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân (20/7)

Uy tín, trách nhiệm, hiệu quả và hài lòng là nhận xét của đông đảo người bệnh sau khi đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực (BVĐKKV) Yên Minh. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành Y tế nói chung, BVĐKKV Yên Minh luôn khẳng định vai trò quan trọng và trở thành điểm sáng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

 


Nghĩa Hưng tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng dân số (18/7)

Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định có dân số trên 20,8 vạn người; trong đó có 35.300 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Thời gian qua huyện Nghĩa Hưng đã tập trung chỉ đạo, triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng dân số; trong đó tiếp tục giảm sinh nhằm đạt mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con); đưa tỷ số giới tính về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; nâng cao chất lượng dân số.


Bộ Y tế nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo các đơn vị (18/7)

Ngày 18/7/2018 tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Bế giảng khóa I và khai giảng khóa II Chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành y tế Việt Nam. PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì buổi lễ. Đối tượng tham dự các khóa học bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý đương nhiệm, cán bộ được quy hoạch chức danh giám đốc Sở Y tế, giám đốc bệnh viện; viện trưởng, phó viện trưởng các đơn vị y tế dự phòng; giám đốc, phó giám đốc Trung tâm kiểm soát dịch bệnh tỉnh.


Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.

Đại Đồng là một xã thuần nông, nhân dân chủ yếu làm ruộng, cách trung tâm huyện lị 7km, có số dân 9.400 nhân khẩu. Nhân dân đều theo Phật giáo, có 6 ngôi chùa, 1 ngôi chùa xếp di tích lịch sử, 5  chùa còn lại mới xây. 4 ngôi chùa có các nhà sư trụ trì.

 

 

 


Chi phí giải quyết tác hại của rượu bia đang tạo gánh nặng cho nền kinh tế và ngân sách Việt Nam (17/7)

Các chi phí của Nhà nước và người dân để giải quyết các hậu quả liên quan đến sức khỏe do tác hại rượu, bia mang lại là rất lớn - Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến khẳng định tại cuộc họp nhóm đối tác y tế chuyên đề 'Tham vấn Dự thảo Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia' diễn ra tại Hà Nội vào chiều 17/7.

 

 


Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 24/CT/TƯ của Ban bí thư về Triển khai nền đông y Việt Nam và Hội đông y Việt Nam trong tình hình mới (17/7)

Ngày 17/7/2018 tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 24/CT/TƯ của Ban bí thư về Triển khai nền đông y Việt Nam và Hội đông y Việt Nam trong tình hình mới. PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì Hội nghị.

 

 


11 tỉnh, thành phố được hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường

Với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ Quỹ Phòng chống THA-Resolve, Bộ Y tế Việt Nam và WHO bắt đầu khởi động dự án Tăng cường quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường tại trạm y tế xã và truyền thông giảm tiêu thụ muối. Quỹ Resolve sẽ hỗ trợ ban đầu cho 11 tỉnh, thành phố nâng cao năng lực cho các trạm y tế xã trong điều trị quản lý hai bệnh này.

 


Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh (16/7/2018)

Theo Phó Giám đốc Trung tâm y tế Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Nguyễn Thanh Tùng cho biết: “Trạm y tế thị trấn Bến Quan là địa chỉ tin cậy chăm sóc sức khỏe  cho nhân dân ở thị trấn Bến Quan mà còn cho cả người dân các xã Vĩnh Hà, Vĩnh Khê, Vĩnh Ô. Có thể khẳng định đây như một cơ sở khám chữa bệnh vệ tinh phía Tây của Trung tâm y tế huyện Vĩnh Linh”.


Trà Vinh: Đẩy mạnh truyền thông trong công tác Dân số - KHHGĐ

Thời gian qua, công tác  truyền thông, vận động và cung ứng dịch vụ DS - KHHGĐ trên địa bàn toàn tỉnh đã được chú trọng, thường xuyên với các nội dung và hình thức phong phú. Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh đã chỉ đạo các Trung tâm DS - KHHGĐ các huyện, thị xã, thành phố duy trì các hoạt động tuyên truyền, tư vấn, nói chuyện chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức của người dân về công tác DS - KHHGĐ trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là vấn đề nâng cao chất lượng dân số, giảm thiểu mất cân bằng  giới tính khi sinh...


Trực Ninh chăm lo xây dựng hạ tầng y tế cơ sở (12/07)

Được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, những năm qua hệ thống cơ sở hạ tầng y tế từ huyện đến cơ sở ở Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã từng bước được hoàn thiện. Toàn huyện có 21 trạm y tế xã, thị trấn thì có 10 trạm y tế được đầu tư xây dựng mới, 11 trạm y tế được cải tạo, nâng cấp. Các trạm y tế được xây mới đều là những công trình nhà kiên cố, có từ 10-13 phòng chức năng khang trang, sạch đẹp, tạo thuận lợi cho công tác khám chữa bệnh. Qua đó, các quy trình kỹ thuật chuyên môn tại trạm y tế được áp dụng thực hiện hiệu quả.


Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Nam Hải (Tiền Hải, Thái Bình) là xã có số dân 10.800 khẩu, được chia làm 9 thôn, cách trung tâm huyện 12 km, có 2 tôn giáo chính là Đạo Phật và Đạo Công giáo. Đạo Phật có 5 chùa, 3 đền, trong đó có 4 công trình được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Đạo Thiên chúa có: 2 giáo xứ và 3 nhà thờ họ lẻ, 01 đền khấn thánh Vixentê, chiếm 25% dân số cả xã, nhân dân trong xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lương giáo đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. 


Trạm Y tế phường Bình Định: Làm việc sáng tạo, phục vụ tận tâm (12/7)

Trong nhiều năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân ở phường Bình Ðịnh đã có những kết quả đáng ghi nhận, vươn lên hàng đầu ở TX An Nhơn. Kết quả này có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Trạm Y tế phường Bình Ðịnh.

 

 

 


Chức sắc tôn giáo xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh (12/7)

Xã Đông Cường có khu vực hành chính thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình với tổng diện tích đất tự nhiên là 770 ha có 7.348 khẩu, trong đó có 2.039 khẩu là tín hữu Công giáo, địa giới hành chính được chia làm 5 thôn; nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nghề phụ chậm phát triển. Kinh tế tuy có phát triển nhưng thu nhập bình quân đầu người còn thấp, đời sống của nhân dân còn  gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn chiếm 11,6%.


Ngày Dân số Thế giới: Tăng cường tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ

Nhân ngày Dân số thế giới (11/7), lãnh đạo Bộ Y tế đã tái khẳng định sự cam kết và tiếp tục hỗ trợ để đạt được tiếp cận phổ cập các dịch vụ KHHGĐ nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.

 

 

 

 


Trung tâm y tế huyện Hạ Hòa nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh (11/7)

Để tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, thời gian qua, Trung tâm Y tế huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã tập trung đổi mới toàn diện, nâng cấp cơ sở, hạ tầng, trang thiết bị y tế; phối hợp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho đội ngũ y, bác sĩ, từng bước hướng đến sự hài lòng của người bệnh.

 

 


MTTQ Hòa Vang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao kiến thức cho người dân về phòng, chống HIV/AIDS 10/7/2018.

Huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng là huyện duy nhất của thành phố, địa bàn rộng có những xã miền núi, giao thông đi lại khó khăn, song những năm qua, huyện Hòa Vang không ngừng nỗ lực triển khai các chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV và chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV/AIDS.

 

 

 


Chăm sóc sức khỏe sinh sản nâng cao chất lượng dân số

Nhằm nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, ngành Y tế tỉnh  Điện Biên đã có nhiều giải pháp trong thực hiện công tác truyền thông, phổ biến các chính sách về dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGÐ), nâng cao các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn.

 

 


Đẩy mạnh cai nghiện ma tuý tại gia đình, cộng đồng

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống ma túy được thực hiện tích cực đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn toàn tỉnh. Tuy nhiên, tình hình về tội phạm ma túy vẫn được các cơ quan chức năng nhận định diễn biến phức tạp, đặc biệt số người nghiện các dạng ma túy tổng hợp có xu hướng gia tăng gây khó khăn cho công tác quản lý và triển khai vận động tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng.

 

 


Bộ Y tế sơ kết công tác 6 tháng đầu năm triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2018 (9/7)

Ngày 9/7, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ đã chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2018. Đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế, đã dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có các đồng chí Ủy viên Ban Cán sự đảng Bộ, Thứ trưởng Bộ Y tế; đại diện Văn phòng Ban Cán sự đảng Bộ, Đảng ủy, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Bộ Y tế; tập thể lãnh đạo các Vụ/Cục/ Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ Y tế; Trung tâm mua sắm đấu thầu thuốc quốc gia.


Vĩnh Phúc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (9/7)

Xác định việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) là giải pháp quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu BHYT toàn dân, ngành Y tế đã phối hợp với BHXH tỉnh triển khai giải pháp nâng cao nâng cao chất lượng, tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh; cải tiến quy trình, thủ tục KCB BHYT...

 

 


60 y, bác sĩ được đào tạo nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh mạn tính

Ngày 9/7, tại Trung tâm Y tế huyện Đan Phượng (Hà Nội), Bộ Y tế đã khai mạc khóa đào tạo “Nâng cao chất lượng khám, chữa các bệnh mạn tính tại tuyến y tế cơ sở theo nguyên lý y học gia đình”.

 

 

 


Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên hướng đến sự hài lòng của người bệnh (9/7)

Mặc dù cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó khăn, song trong những năm qua, tập thể Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên luôn đoàn kết, nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, được người bệnh đánh giá cao về tinh thần, thái độ phục vụ. Bệnh viện luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, được Bộ Y tế, UBND tỉnh khen thưởng. Năm 2016, nhân kỷ niệm 15 năm ngày thành lập, bệnh viện vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.


Hội nghị trực tuyến Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) tuyến y tế cơ sở

Sáng 6/7, Bộ Y tế và Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) tuyến y tế cơ sở. Nhiều giải pháp đã được đại diện hai bên cùng đưa ra, đề xuất để tiến tới, y tế cơ sở thu hút người dân hơn nữa, giảm tải cho y tế tuyến trên.

 

 


Hội nghị triển khai Thông tư 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 của Bộ Y tế khu vực phía Bắc

Ngày 05/7 tại Hà Nội, Bộ Y tế phối hợp với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXH) triển khai Thông tư 15/2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT)giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp cho các tỉnh khu vực phía Bắc.


Khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính trong vùng giáo 05/07

Thái Bình là một trong những địa phương triển khai phong trào vận động người công giáo ở vùng biển và ven biển tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh mang lại hiệu quả thiết thực. Đây là một trong những điểm nhấn của Đề án kiểm soát dân số vùng biển, đảo (Đề án 52) ngay từ khi triển khai thực hiện tại Thái Bình.

 

 


Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình: Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT

Nhờ không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh nói chung và khám, chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) nói riêng, số người đến khám, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày, Bệnh viện đón tiếp trên dưới 1 nghìn người đến KCB, trong đó trên 90% bệnh nhân có thẻ BHYT.

 

 


Hội nghị triển khai Thông tư 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 của Bộ Y tế khu vực phía Nam

Ngày 04/7 tại TP.Hồ Chí Minh, Bộ Y tế phối hợp với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam triển khai Thông tư 15/2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp cho các tỉnh khu vực phía Nam.

 


Vĩnh Trung: Không có người sinh con thứ 3

Nhờ bám sát cơ sở, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nên nhiều năm liền xã Vĩnh Trung (TP. Nha Trang, Khánh Hòa) không có người sinh con thứ 3 trở lên, góp phần tích cực vào chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã.

 

 

 


  Các cơ sở y tế sẵn sàng xử lý trường hợp cấp cứu do nắng nóng

Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) vừa có công văn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; y tế các bộ, ngành theo dõi chặt chẽ diễn biến dự báo thời tiết của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, tăng cường chỉ đạo và thực hiện công tác khám, chữa bệnh.


Bộ Y tế khuyến cáo 7 cách để không 'đổ bệnh' mùa nắng nóng

Thời tiết nắng, nóng làm cơ thể ra nhiều mồ hôi, gây mất nước, điện giải, đặc biệt là ở trẻ em dễ dẫn đến mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa....

 

 

 


Phú Thọ: Chủ động phòng chống dịch bệnh mùa hè

Những năm gần đây diễn biến dịch bệnh có nhiều thay đổi và thất thường, không ít loại bệnh trước đây chỉ xuất hiện vào mùa đông - xuân như quai bị, thủy đậu, cúm, tay - chân - miệng thì nay xuất hiện cả vào mùa hè. Thời tiết nắng nóng như hiện nay dễ phát sinh các loại bệnh như tiêu chảy, thủy đậu, sốt xuất huyết, sởi...

 

 


Quan tâm chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới (3/7)

Tỉnh Quảng Trị đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Mục tiêu nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế...

 


Hiệu quả từ mô hình lồng ghép quản lý, cung cấp dịch vụ điều trị HIV và lao tại cơ sở

Bệnh lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội và là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở người nhiễm HIV trên toàn cầu. Nguy cơ mắc lao ở đối tượng nhiễm HIV cũng cao gấp 19 lần so với người không nhiễm HIV. Người nhiễm lao/HIV cũng là đối tượng nguy cơ cao trong kháng đa thuốc và siêu kháng thuốc. Nhằm tăng cường công tác quản lý và cung cấp dịch vụ toàn diện, thuận lợi cho bệnh nhân đồng mắc lao và HIV ở những địa bàn có tình hình dịch HIV và lao cao, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3957/QĐ-BYT ngày 23-9-2015 về mô hình lồng ghép quản lý và cung cấp dịch vụ HIV và lao tại tuyến huyện và tuyến xã. 


Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

Thực hiện Nghị quyết số 21, Hội nghị lần thứ 6, BCH Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa XII) về công tác dân số trong tình hình mới, tỉnh Nam Định đã đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về công tác Dân số - KHHGĐ năm 2018 và những năm tiếp theo là: Nâng cao chất lượng dân số; cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản; duy trì mức sinh hợp lý; giải quyết tốt các vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân.


Nghị lực vươn lên của những phụ nữ nhiễm HIV

Khi biết mình bị lây nhiễm virut HIV, không ít người dám đối mặt với thực tại, mà chọn cho mình lối thoát tiêu cực. Nhưng khi HIV/AIDS có sự hỗ trợ tích cực hơn từ cộng đồng thì đã có ngày càng nhiều người  lạc quan, tin tưởng vào tương lai, vượt qua bóng tối nghiệt ngã của cuộc đời để sống khỏe, có ích cho gia đình và xã hội. 

 

 

 


Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự tham mưu tích cực của ngành Y tế và Chi cục dân số, sự hưởng ứng tích cực của nhân dân, đến nay, tỉnh ta đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu chiến lược về Dân số. Tuy nhiên tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (tỷ lệ giới tính nam/nữ) có chiều hướng gia tăng.

 

 


Hội thảo Báo chí với chính sách dân số và phát triển giai đoạn 2017 - 2030

Ngày 29/6, tại Hà Nam, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức hội thảo Báo chí với chính sách dân số và phát triển giai đoạn 2017 - 2030.

 

 

 


Điểm mới của nghị định 15/2018/NĐ-CP (6/7)

Ngày 2-2-2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm, có hiệu lực ngay từ ngày 2-2-2018, thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25-4-2012.


Nam Định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế

Những năm trước nguồn nhân lực y tế của tỉnh Nam Định thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng, nhất là đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng và dược sĩ đại học. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy ngành Y tế liên tục có sự thay đổi, nhiều đầu mối dẫn đến lực lượng bác sĩ bị phân tán, biến động.

 

 


Thanh Hóa: Chuyển biến qua 3 năm thực hiện việc đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh

Tháng 9-2015, Sở Y tế - công đoàn ngành phối hợp tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai, phát động phong trào thi đua trong 3 tháng cuối năm 2015 và nhiệm vụ những năm tiếp theo thực hiện Quyết định số 2151/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”.

 

 


99% người dân tham gia Bảo hiểm y tế (6/11/2018)

Hướng tới mục tiêu tất cả vì sự hài lòng của người bệnh (4/11/2018)

Trạm Y tế Dân Chủ: Địa chỉ tin cậy của nhân dân đến khám và điều trị (24/10/2018)

Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ dân số 24 tỉnh, thành phố

Đoàn công tác của Bộ Y tế kiểm tra hoạt động quản lý các bệnh không lây nhiễm trên địa bàn tỉnh Nam Định

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự chương trình kỷ niệm 63 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam

Phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình

Truyền thông về công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình trong giai đoạn mới.

Tuyên truyền về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho các vị chức sắc, đồng bào Công giáo

Mô hình “Gia đình Phật tử, Công giáo khắc phục MCBGTKS” ở Thừa Thiên Huế (6/9)

Chuyển biến nhận thức về CSSKSS – KHHGĐ ở Nam Giang (5/9)

Phổ biến, giáo dục các quy định của pháp luật về dân số-KHHGĐ

Mô hình “Gia đình Công giáo tham gia khắc phục MCBGTKS” ở Nam Định (4/9)

Một cộng tác viên dân số tận tâm

Nam Đà nỗ lực giảm tỷ lệ sinh con thứ 3

Kết quả từ mô hình điểm "gia đình phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh"

Vĩnh Phúc kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Ninh Thuận: Thực trạng và giải pháp

Ngăn chặn mất cân bằng giới tính khi sinh

Nam Trực thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số

Nà Mường làm tốt công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình

Quảng Bình: Tập huấn kiến thức và kỹ năng kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Nâng cao chất lượng dân số

Chỉ thị của Bộ Y tế về việc tăng cường giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016 - 2025

Thông tư quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số giai đoạn 2016 – 2020

NGHỊ QUYẾT BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 21-NQ/TW NGÀY 25 THÁNG 10 NĂM 2017 CỦA HỘI NGHỊ LẦN THỨ SÁU BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII VỀ CÔNG TÁC DÂN SỐ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Kết quả mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh"

Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Nâng cao chất lượng dân số ở huyện vùng cao

Vụ Bản tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

TP Vinh (Nghệ An): Tập huấn chính sách dân số cho cán bộ lãnh đạo phường xã

Quảng Trị báo động tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Phát huy vai trò chức sắc tôn giáo trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình

Thành phố Yên Bái: Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Tân Hiệp thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình

Nghĩa Hưng tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

Tiền Giang: Mít tinh cổ động, diễu hành phát động chiến dịch truyền thông giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh năm 2018

Tây Ninh: Tuyên truyền Đề án “Mất cân bằng giới tính khi sinh”

Không sinh con thứ 3 ở vùng giáo dân Nam Trung

TP.Đà Nẵng: Tuyên truyền về cân bằng giới tính khi sinh và sức khỏe sinh sản vị thành niên

Hải Đông nâng cao chất lượng dân số

Mô hình thôn, xã không sinh con thứ 3 trở lên: Cần duy trì bền vững

Tăng cường kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Ba Chẽ: Tuyên truyền nội dung mất cân bằng giới tính khi sinh

Lạc Thịnh nâng cao chất lượng dân số

Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh: Phát huy vai trò của các dòng họ

Phong Điền(Thừa Thiên Huế): Diễn đàn về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh

Vĩnh Phúc: Mít tinh hưởng ứng Ngày Dân số thế giới

Các gia đình tín hữu công giáo Thái Bình: Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Lâm Đồng: Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Thái Bình:Truyền thông công tác dân số trong tình hình mới

Bộ trưởng Bộ Y tế:Hà Nội tuyệt đối không lơ là trong phòng chống dịch bệnh

Mít tinh hưởng ứng Ngày Thế giới không thuốc lá

Từ ngày 15/7, giá dịch vụ y tế giảm mạnh


Trang 1


Nâng cao chất lượng dân số

Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nhà nước có chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tại dự thảo Luật dân số, Bộ Y tế đã đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dân số. Cụ thể, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khơi dậy phong trào mọi người dân thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, thể lực người Việt Nam. Nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về cấm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

Bên cạnh đó, tăng cường bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giảm tỉ lệ bệnh tật, giảm tử vong, tăng tuổi thọ và số năm trung bình sống khỏe mạnh; thực hiện tốt các chương trình, biện pháp để nâng cao tầm vóc, thể lực người Việt Nam.

Hỗ trợ đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người dân tộc thiểu số rất ít người, người các dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật để nâng cao chất lượng dân số.

Dự thảo nêu rõ, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số, thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng hệ thống an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Bảo vệ sức khỏe, nâng cao tầm vóc, thể lực, trí tuệ, tinh thần

Tại dự thảo, Bộ Y tế cũng đề xuất các biện pháp bảo vệ sức khỏe, nâng cao tầm vóc, thể lực, trí tuệ, tinh thần như: Tuyên truyền, giáo dục, tư vấn về kiến thức, kỹ năng để người dân có năng lực lựa chọn, thực hiện các biện pháp, dịch vụ nâng cao chất lượng dân số; đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, tạo phong trào mọi người dân thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức khỏe, tầm vóc, thể lực người Việt Nam. Đa dạng hóa các loại hình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng, phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thông tin để tạo cơ hội cho người dân được lựa chọn và tiếp cận dịch vụ đa dạng, thuận tiện. Thực hiện chính sách, biện pháp hỗ trợ đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hỗ trợ các nhóm đối tượng theo quy định của pháp luật về ngành, lĩnh vực liên quan.

Theo dự thảo, các cơ quan, tổ chức trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác bảo vệ sức khỏe và rèn luyện thân thể, nâng cao trình độ giáo dục và phát triển trí tuệ, phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội, giữ gìn giá trị văn hóa, đạo đức, tinh thần và bảo vệ môi trường. Thủ tướng Chính phủ ban hành bộ chỉ số đánh giá chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần và phân công tổ chức thực hiện, đánh giá mức độ hoàn thành của các chỉ số đó.

Nhà nước hỗ trợ, ưu tiên đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, nâng cao chất lượng dân số và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, hỗ trợ cho người dân tộc thiểu số rất ít người, người các dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật thực hiện nâng cao chất lượng dân số.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

Theo Chinhphu.vn 

Về đầu trang


Thái Bình:Truyền thông công tác dân số trong tình hình mới

Vừa qua, Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Thái Bình phối hợp với UBND phường Đề Thám tổ chức hội nghị truyền thông công tác dân số trong tình hình mới tới các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, UBND, các ban ngành đoàn thể của phường; bí thư chi bộ, tổ trưởng tổ dân phố; Chi hội trưởng chi hội phụ nữ và cộng tác viên dân số…

 

Đồng chí Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Thái Bình truyền đạt các nội dung tại hội nghị.

Đồng chí Đặng Văn Hơn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh đã truyền đạt tới các đại biểu nội dung về đặc điểm công tác dân số qua các thời kỳ; thành tựu và thách thức của công tác dân số giai đoạn hiện nay; nguyên nhân, hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh; vấn đề già hóa dân số; tình trạng gia tăng ly hôn và tái hôn, bạo lực gia đình... Đặc biệt là những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 21/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân số trong tình hình mới, nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo của Đảng tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển; chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; đổi mới toàn diện và đa dạng hóa các hình thức, phương pháp truyền thông; phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ, các loại hình cung cấp dịch vụ phục vụ việc ổn định quy mô và nâng cao chất lượng dân số…

Sau hội nghị, các đại biểu sẽ là những hạt nhân tuyên truyền, triển khai thực hiện công tác dân số tại cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng công tác dân số - KHHGĐ, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

Dung

Về đầu trang


TP.Đà Nẵng: Tuyên truyền về cân bằng giới tính khi sinh

Nhằm nói lên thực trạng của mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam và tuyên truyền kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản. Ban Dân số KHHGĐ  phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng đã tổ chức buổi truyền thông các kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, cân bằng giới tính khi sinh cho các đồng chí là bí thư chi bộ, cộng tác viên dân số, đoàn viên thanh niên ở các khu dân cư

Tại buổi tuyền truyền, bà Phạm Thị Mai Hoa – Phòng Truyền thông thuộc Trung tâm dân số KHHGĐ thành phố đã báo cáo cho thấy, mất cân bằng giới tính khi sinh chủ yếu là do phong tục tập quán, tâm lý xã hội truyền thống, tư tưởng nho giáo phải có con trai nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên ăn sâu vào tiềm thức người dân. Do áp lực sinh, mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1-2 con nhưng các cặp vợ chồng mong muốn trong số đó nhất thiết phải có con trai vì vậy đã tìm các dịch vụ y tế, xã hội để lựa chọn giới tính khi sinh. Do tính chất công việc phải đòi hỏi lao động cơ bắp của con trai, trụ cột về lao động. Chính vì những hậu quả kinh tế, xã hội nặng nề của MCBGTKS cho nên Nghị quyết số 21 của Hội nghị T.Ư 6 (khóa XII) về “Công tác dân số trong tình hình mới” đã đề ra mục tiêu “đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên”, trước hết, “đến năm 2030, tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống”.

Bảo đảm cân bằng giới tính theo quy luật sinh sản tự nhiên là cần thiết, nhưng cũng rất nan giải, không thể thành công trong “một sớm, một chiều”. Vì vậy, các cấp ủy đảng, chính quyền cần nâng cao nhận thức về hệ lụy xã hội nặng nề và tác động tiêu cực đối với sự phát triển của việc MCBGTKS. Từ đó theo dõi sát sao và kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, đề xuất các giải pháp phù hợp tình hình thực tế của địa phương khi phát hiện có vấn đề MCBGTKS trên địa bàn.

N.B

Về đầu trang


Vĩnh Phúc: Mít tinh hưởng ứng Ngày Dân số thế giới

Vừa qua, UBND tỉnh - Sở Y tế  tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức lễ mít tinh phát động các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Dân số thế giới năm 2018 với chủ đề “Thành công của kế hoạch hóa gia đình là tiền đề cho phát triển bền vững”. Tới dự, có đồng chí Vũ Việt Văn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Ngày Dân số thế giới năm nay hướng tới mục tiêu tập trung vào công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ) nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và góp phần phát triển đất nước; thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho phụ nữ và thanh niên, vị thành niên.

Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về lợi ích của việc tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân; thực hiện tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh tật trước sinh, sơ sinh; tác hại của nạo phá thai, tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; phòng, chống các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản; giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; duy trì vững chắc mức sinh thay thế, tạo quy mô dân số ổn định, khoảng cách sinh con hợp lý giữa các lần sinh để đảm bảo sức khỏe và nuôi dạy con tốt.

Với sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền, những năm qua, công tác DS - KHHGĐ của tỉnh đã đạt nhiều kết quả. Tốc độ phát triển và quy mô dân số ổn định; cơ cấu dân số thay đổi theo hướng tích cực. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng; tỷ lệ phụ thuộc giảm. Tình trạng chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh dần được khắc phục. Từ năm 2010 - 2015, mức sinh giảm bình quân hàng năm là 0,25 ‰ . Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,18% vào năm 2017.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Việt Văn đề nghị các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông trên địa bàn tỉnh phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế thực hiện triển khai đồng bộ, toàn diện các hoạt động về dân số và phát triển trong tình hình mới; kịp thời khắc phục khó khăn về tình trạng dân trí không đồng đều, tỷ lệ tăng dân số cơ học cao; làm tốt công tác KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng; giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính.

Kết thúc lễ mít tinh là lễ ra quân cổ động, diễu hành, truyền thông hưởng ứng thông điệp của Ngày Dân số thế giới năm 2018 trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên.

Thu Hương

Về đầu trang


Lâm Đồng: Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2016 - 2020 đã xác định mục tiêu khống chế có hiệu quả tốc độ gia tăng tỉ số giới tính khi sinh, tiến tới đưa tỉ số giới tính khi sinh trở lại mức cân bằng tự nhiên. Cụ thể, giảm tốc độ tăng tỉ số giới tính khi sinh của toàn tỉnh từ 112,8 bé trai/100 bé gái (năm 2015) xuống còn 110 bé trai/100 bé gái vào năm 2020.

Tỉ số giới tính khi sinh ở mức bình thường dao động từ 102 - 106 bé trai/100 bé gái. Khi nhiều bé trai được sinh ra so với bé gái (cao hơn tỉ số bình thường) thì đó là dấu hiệu của lựa chọn giới tính. Tỉ lệ giới tính khi sinh cao hơn ở lần sinh thứ hai và thứ ba, đặc biệt xảy ra ở Việt Nam và Trung Quốc.

Theo Tổng cục DS-KHHGĐ, sau 1 năm thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016 - 2020, tỉ số giới tính khi sinh của nước ta giảm không đáng kể: 112,8 bé trai/100 bé gái (năm 2015) còn 112,2 bé trai/100 bé gái năm 2016. Tỉ số giới tính khi sinh của nước ta hiện nay còn cao hơn năm 2014, cả nước còn 45 tỉnh, thành phố có tỉ số giới tính khi sinh này tăng và ở mức cao đáng báo động (từ 115 bé trai/100 bé gái). Các chuyên gia dân số ước tính, nếu không can thiệp kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh thì đến 2050 nước ta sẽ có từ 2,3 - 4 triệu nam giới không lấy được vợ.

Chương trình mục tiêu Dân số - KHHGĐ của Lâm Đồng ghi nhận, hiện tỉ lệ giới tính khi sinh đã đạt 110,9 bé trai/100 bé gái, mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2017 đạt 109,5 bé trai/100 bé gái. 

Hoạt động can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh triển khai tại 12 huyện, thành phố với 100 xã, phường, thị trấn. Trong 6 tháng đầu năm 2017, mạng lưới DS-KHHGĐ trong tỉnh đã tổ chức 45 buổi cung cấp thông tin về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh cho 441 lượt lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể; truyền thanh 254 buổi với 1.270 phút chủ đề này; tổ chức 109 buổi nói chuyện chuyên đề về giới, giới tính khi sinh cho 3.177 lượt nam nữ thanh niên trước khi kết hôn, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, người cung cấp dịch vụ siêu âm; cấp phát 1.360 tờ rơi chuyển tải thông điệp này; xây dựng và duy trì 71 CLB “Phụ nữ không sinh con thứ ba giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” với 2.587 thành viên đã tổ chức 67 buổi sinh hoạt.

Theo kế hoạch triển khai Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh cho giai đoạn 2017 - 2020 có tổng kinh phí 10,578 tỷ đồng, trong đó nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ là 10,008 tỷ đồng, ngân sách địa phương từ nguồn sự nghiệp y tế 230 triệu đồng và nguồn xã hội hóa 340 triệu đồng. Đề án được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh, đối tượng tác động của đề án là lãnh đạo chính quyền, đoàn thể, các tổ chức; hộ gia đình, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ; vị thành niên và thanh niên; những người có liên quan đến cung cấp dịch vụ hướng dẫn sinh con theo ý muốn, liên quan đến chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi.

Đề án đưa ra chính sách khuyến khích hỗ trợ phụ nữ, trẻ em gái (thuộc đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào DTTS thuộc vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, phụ nữ có chồng chỉ có 2 con là gái) trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, phát triển sản xuất nhằm nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và xã hội. Mục tiêu đến năm 2020 có 90% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có 2 con là gái được khám, tư vấn theo dõi sức khỏe sinh sản; 80% phụ nữ ở nông thôn đã có 1 con gái đăng ký tham gia Đề án được hỗ trợ về chi phí sinh đẻ ở lần sinh thứ 2; có 60% phụ nữ trong độ tuổi lao động chỉ có 2 con là gái (cam kết không sinh thêm con) được hỗ trợ phát triển kinh tế (vay vốn ưu tiên từ ngân hàng chính sách). 

Các hoạt động nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân đối với công tác kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. Phấn đấu đến năm 2020 có 100% các cấp ủy đảng, chính quyền có văn bản chỉ đạo và trực tiếp tham gia các hoạt động truyền thông về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; 90% các chức sắc tôn giáo, lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội nghề nghiệp trên địa bàn tham gia hoạt động tuyên truyền về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; 80% các thôn, tổ dân phố, cơ quan tổ chức tuyên truyền các nội dung về bình đẳng giới, không phân biệt vai trò con trai hay con gái trong chăm sóc cha mẹ già, trong các công việc gia đình, họ tộc, ngăn cấm lựa chọn giới tính thai nhi, đưa các nội dung này vào tiêu chí “Gia đình văn hóa” trong hương ước, quy ước. Có 70% các dòng họ, các thôn, tổ dân phố thay đổi nội dung các quy định theo hướng không kỳ thị, phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái. Tổ trưởng dân phố, trưởng thôn tham gia tổ chức thực hiện các biện pháp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn. 

Đồng thời, biên soạn, cung cấp thông tin, tài liệu, sản phẩm truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh. Mục tiêu đến năm 2020 có 90% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ và 85% thanh niên chuẩn bị kết hôn hiểu biết các quy định pháp luật, tình hình và hậu quả của lựa chọn giới tính thai nhi. Đưa nội dung về mất cân bằng giới tính khi sinh vào các trường chính trị, trung học phổ thông, trường y với chỉ tiêu cần đạt được: 80% các trường học, giáo viên trực tiếp giảng dạy các môn sinh vật, giáo dục công dân được tập huấn về nội dung giảng dạy về giới và bình đẳng giới; 80% các trường học được cung cấp tài liệu tuyên truyền về giới và bình đẳng giới phù hợp với lứa tuổi học sinh và tổ chức các hoạt động ngoại khóa phù hợp.

Xây dựng và thử nghiệm các mô hình như: CLB “Các bạn gái tiêu biểu” nhằm động viên khuyến khích đối tượng các cháu gái là con của gia đình sinh con một bề là gái và có thành tích xuất sắc trong học tập tại các trường chính trị, THPT, THCS, trường y; duy trì hoạt động các CLB “Phụ nữ không sinh con thứ ba trở lên giúp nhau làm kinh tế giỏi”, CLB “Bình đẳng giới”, CLB “Nam nông dân 6 chuẩn mực”; nhân rộng CLB “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền” nhằm giúp ông bà hiểu được tác hại của mất cân bằng giới tính khi sinh, từ đó không tạo áp lực cho con cháu về vấn đề “Trọng nam khinh nữ”. Xây dựng mô hình đưa chính sách dân số vào quy ước thôn, khu phố, tổ dân phố nhằm duy trì mức sinh hợp lý, giảm tốc độ mất cân bằng giới tính khi sinh, tăng số người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, tăng tỉ lệ sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh, từng bước nâng cao chất lượng dân số.  

Đồng thời, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về cấm các hình thức lựa chọn giới tính thai nhi. Đảm bảo 100% cơ sở cung cấp dịch vụ siêu âm, xét nghiệm và phá thai cam kết không thực hiện phá thai do lựa chọn giới tính thai nhi. Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm các quy định về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi.

AN NHIÊN

Về đầu trang


Các gia đình tín hữu công giáo Thái Bình: Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (2/11/2018)

Ðể chung tay với ngành dân số giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh nan, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Ủy ban MTTQVN tỉnh Thái Bình đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải) và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau khi triển khai, mô hình đã góp phần làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói riêng và cả tỉnh nói chung.

Thái Bình vốn là tỉnh đất chật, người đông, ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, toàn tỉnh đã đẩy mạnh quyết tâm hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số, do đó công tác dân số của tỉnh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh lại có chiều hướng gia tăng. Ðể chung tay với ngành dân số giải quyết bài toán nan giải này, từ năm 2009, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Ủy ban MTTQVN tỉnh đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải) và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau 3 năm triển khai, mô hình đã góp phần làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói riêng và cả tỉnh nói chung.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh là do tư tưởng trọng nam, khinh nữ đã ăn sâu, bám rễ trong suy nghĩ, hành động của nhiều người, để thay đổi không phải một sớm, một chiều là có thể làm được. Sự can thiệp của y học hiện đại ngày nay trong việc xác định giới tính thai nhi vô tình lại càng khiến cho tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trở nên đáng lo ngại hơn…

Khó khăn thì vô vàn, nhưng nhờ có sự chỉ đạo thường xuyên của Ủy ban Trung ương MTTQVN, hỗ trợ kinh phí của Quỹ dân số Liên hiệp quốc (Văn phòng UNFA); MTTQ các cấp có ít nhiều kinh nghiệm trong việc lồng gắn chương trình dân số vào nội dung hoạt động; cán bộ mặt trận vốn gần gũi, thân thiết với các vị chức sắc, chức việc, quan trọng hơn cả là nội dung, ý nghĩa của mô hình phù hợp với giáo lý, giáo luật tôn giáo, thiết thực phục vụ xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo" của gia đình giáo dân nên việc tuyên truyền, vận động diễn ra tương đối thuận lợi, nhanh chóng tạo được sự đồng thuận. Ðảng ủy 2 xã làm điểm đã đưa việc tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh vào nội dung Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ xã, kêu gọi cán bộ, đảng viên, các vị chức sắc, gia đình tín hữu công giáo, lương giáo tích cực hưởng ứng.

Ngay sau khi 2 xã điểm thành lập ban điều hành, 4 nhóm sinh hoạt (mỗi xã 2 nhóm, mỗi nhóm 100 thành viên là người công giáo tuổi từ 18 đến 60) cũng được ra mắt. Ðể tranh thủ tiếng nói của các vị linh mục, trùm trưởng xứ họ đạo, chủ nhiệm các nhóm ít nhất phải có một vị chức sắc tôn giáo tham gia. Theo yêu cầu của cơ sở, mỗi xã tiến hành thành lập thêm 4 nhóm, thành phần là người lương giáo, trước là để thu hút nhiều người tham gia, sau là tránh sự phân biệt giữa các tổ chức giáo hội. Tiếp theo đó, tiến hành tổ chức cho các thành viên ký cam kết thực hiện mô hình và tham gia sinh hoạt định kỳ. MTTQ tỉnh thường xuyên hỗ trợ 2 xã tổ chức sinh hoạt nhóm, cử người xuống đôn đốc, kiểm tra, trực tiếp đứng lên mời các vị linh mục, báo cáo viên cấp tỉnh về truyền giảng tại các nhà thờ và hội trường UBND xã.

Trong 3 năm qua, mỗi nhóm tổ chức sinh hoạt được 9 kỳ. Nội dung sinh hoạt xoay quanh những chủ đề chính là: Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, kèm theo là những lời tham vấn, lời khuyên của Giáo hội, của những người làm công tác dân số, mặt trận với đồng bào giáo dân và lương dân hãy tham gia tích cực ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh để nâng cao chất lượng dân số. Các nội dung: Luật Bình đẳng giới, quy định của giáo luật về bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình, chính sách dân số, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, phương pháp xây dựng gia đình hạnh phúc, trách nhiệm của mỗi người trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư… cũng được truyền tải tới học viên.

Không chỉ có hình ảnh minh họa hấp dẫn, tại lớp truyền thông các học viên còn được trao đổi thẳng thắn, thân mật về nội dung bài giảng với linh mục và báo cáo viên, nên nhiều người không phải thành viên của nhóm cũng đến tham dự, có buổi lên tới 600 người. Các lớp về giáo lý hôn nhân được tiến hành thường xuyên, MTTQ in ấn, phát hàng nghìn tờ tài liệu giúp các học viên hiểu thêm về hậu quả của việc mất cân bằng giới tinh khi sinh và tham gia khắc phục.

Không dừng lại ở các giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thực hiện mô hình, MTTQ các cấp còn gắn kết mô hình với các phong trào "Dân vận khéo", xây dựng chùa cảnh, xứ, họ đạo "4 gương mẫu", cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"… đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu quả làm thay đổi nhận thức và hành vi sinh đẻ có kế hoạch của nhân dân nói chung, đồng bào theo đạo nói riêng. Bình quân trong 5 năm (2004- 2008), tỷ lệ giới tính khi sinh ở xã Nam Hải là 108,8 nam/100 nữ, đến cuối năm 2011, giảm xuống còn 106 nam/100 nữ. Còn ở Ðông Cường, nếu như năm 2007, cấp ủy, chính quyền, MTTQ lo lắng vì tỷ lệ sinh nam nhiều hơn nữ (48 nam/45 nữ), thì sau 3 năm cố gắng, nỗ lực thực hiện mô hình tình thế đã đảo ngược (26 nam/34 nữ). Với toàn tỉnh, tỷ lệ nam/nữ khi sinh cũng có chiều hướng giảm: từ 115/100 (năm 2008) xuống còn 114/100 (năm 2011). Với kết quả đáng mừng này, Trung ương MTTQVN đã chỉ đạo MTTQ tỉnh nhân rộng mô hình này để góp phần cùng ngành dân số khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số hơn nữa.

Thu Hiền

Về đầu trang


Phong Điền(Thừa Thiên Huế): Diễn đàn về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh

Vừa qua, UBND huyện Phong Điền tổ chức diễn đàn truyền thông về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tham dự diễn đàn có các thành viên Ban chỉ đạo công tác Dân số-KHHGĐ huyện, cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ 16 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.

Tại diễn đàn, các đại biểu được chia sẻ những thông tin về thực trạng, nguyên nhân và những hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh; các giải pháp giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh; đồng thời cung cấp những thông tin về mất cân bằng giới tính khi sinh, các văn bản pháp quy như Pháp lệnh dân số, Nghị định 104/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh dân số… Diễn đàn nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cũng như hành động từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận các đoàn thể và cộng đồng đối với công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình; tình trạng mất cân bằng giới tính hiện nay đồng thời ngăn chặn việc lựa chọn giới tính khi sinh và phân biệt đối xử về giới. Tầm quan trọng của vị thế phụ nữ và trẻ em gái, hướng đến một xã hội bình đẳng và bền vững. Huy động sự tham gia của cộng đồng, các cặp vợ chồng mới kết hôn, trẻ em gái vị thành niên là nhân tố tích cực làm thay đổi tư duy và thực hành của người dân không lựa chọn giới tính khi sinh và không phân biệt đối xử về giới, góp phần từng bước nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Phong Điền.

T.H

Về đầu trang


Lạc Thịnh nâng cao chất lượng dân số

Từ năm 2015 - 2017, xã Lạc Thịnh liên tiếp dẫn đầu huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình về việc thực hiện các chính sách dân số. Trong 7 tháng đầu năm 2018, tổng số trẻ sinh ra trên địa bàn là 41 trẻ, tỷ suất sinh thô 6,24%, tỷ số giới tính khi sinh là 105 bé trai/100 bé gái, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 2,89%.

Cán bộ dân số xã Lạc Thịnh, huyện Yên Thủy tuyên truyền, phổ biến các giải pháp nâng cao chất lượng dân số cho người dân.

 Trên địa bàn xã không xảy ra trường hợp tảo hôn. Tuy nhiên, tình trạng sinh con thứ 3 vẫn cao. Để nâng cao chất lượng dân số, xã Lạc Thịnh đã thực hiện đồng bộ các giải pháp, nỗ lực khắc phục khó khăn để ổn định các chỉ tiêu dân số, không ngừng nâng cao chất lượng dân số gắn với phát triển KT-XH của địa phương.

Đồng chí Nguyễn Văn Tùng, Trưởng trạm y tế xã Lạc Thịnh cho biết: Thực hiện Chương trình hành động của Huyện ủy về việc thực hiện Nghị quyết số 21 - NQ/TW (Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng khóa XII) "Về công tác dân số trong tình hình mới”, huyện Yên Thủy đã ban hành kế hoạch cụ thể, đề ra giải pháp ổn định quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số; nâng cao chất lượng dân số. Ngay từ đầu năm 2018, Ban Dân số - KHHGĐ xã tổ chức cho 18 cộng tác viên (CTV) dân số đi tập huấn về những điểm mới trong Nghị quyết số 21 - NQ/TW tại Trung tâm Dân số/ KHHGĐ huyện. Từ đó, CTV dân số nắm được những nội dung mới trong Nghị quyết. Tại các buổi tập huấn CTV dân số được tiếp thu một số nội dung: Quy mô dân số, thách thức về mức sinh; mối liên hệ giữa dân số và phát triển kinh tế; Dân số và lao động việc làm; những khó khăn trong công tác chăm sóc người cao tuổi; tình trạng lựa chọn giới tính khi sinh và hệ lụy… Ngoài ra, lực lượng CTV dân số không quản ngại trời nắng hay mưa đến từng gia đình tuyên truyền, vận động các hộ thực hiện chính sách dân số để nâng cao chất lượng dân số.

Bên cạnh đó, Ban Dân số - KHHGĐ xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các mô hình, đề án trong công tác dân số; phối hợp với các hội, đoàn thể tuyên truyền về vai trò, trách nhiệm của tập thể, cá nhân thực hiện chính sách dân số. Phối hợp với Hội Người cao tuổi tuyên truyền về nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi. Đẩy mạnh công tác truyền thông về dân số. Tổng số buổi truyền thông trên loa đài tại 15 xóm là 26 lượt; truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình 378 lượt; truyền thông tại trạm y tế 6 lần; truyền thông lồng ghép 26 lượt. Nội dung truyền thông về lợi ích của việc khám sức khỏe hôn nhân, lợi ích của sàng lọc trước sinh và sơ sinh, chăm sóc SKSS vị thành niên, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Truyền thông can thiệp giảm tỷ lệ mắc bệnh tan máu bẩm sinh; tác hại của việc nạo phá thai; hậu quả của tảo hôn, kết hôn cận huyết thống đối với sức khỏe bà mẹ, trẻ em… Đề án xã hội hóa các biện pháp tránh thai được triển khai tới từng xóm, từng hộ gia đình. Hiện số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai là 150 cặp.

Chị Bùi Thị ánh, cán bộ dân số - KHHGĐ xã Lạc Thịnh chia sẻ: Trong thời gian tới, Lạc Thịnh tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng dân số gắn với sự phát triển kinh tế bằng việc thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trước hết là huy động sự tham gia của xã hội vào việc thực hiện công tác dân số - KHHGĐ; xã hội hóa công tác dân số. Kiểm soát, khống chế mất cân bằng giới tính khi sinh; nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS. Tăng cường triển khai các loại hình cung cấp dịch vụ SKSS. Nhân rộng, phổ biến các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số như: Đề án "Kiểm tra sức khỏe và tư vấn tiền hôn nhân”, "Sàng lọc trước sinh và sơ sinh”, "Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh”, "Xã hội hóa các phương tiện tránh thai”. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tiến độ và hiệu quả việc thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các hành vi vi phạm chính sách dân số - KHHGĐ. Thường xuyên cử đội ngũ CTV dân số đi tập huấn nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ.

Thu Thủy

Về đầu trang


Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh: Phát huy vai trò của các dòng họ

Việc những người có uy tín trong dòng họ tham gia vào việc kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ làm giảm bớt áp lực cho thế hệ con cháu.

 

Dòng họ Nguyễn Bá ở xã Phương Hưng (Gia Lộc, Hải Dương) tích cực vận động con cháu thực hiện kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Từ lâu, quan niệm phải có con trai để thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường đã ăn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người, đặc biệt là với những người có uy tín trong các dòng họ. Nhưng dần dần, ở nhiều dòng họ, tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" không còn nặng nề như trước. Thậm chí, một số dòng họ còn tích cực tuyên truyền chính sách dân số nói chung, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh (GTKS) nói riêng.  

Dòng họ Nguyễn Bá ở thôn Tó, xã Phương Hưng (Gia Lộc) được chọn để triển khai mô hình dòng họ điểm về an ninh trật tự gắn với thực hiện dân số-KHHGĐ. Dòng họ đã vận động con cháu chấp hành chính sách dân số-KHHGĐ, đăng ký không có người sinh con thứ ba trở lên, không lựa chọn giới tính thai nhi tới từng thành viên. Trong các dịp giỗ chạp, Thanh minh, liên hoan…, dòng họ vận động con cháu xây dựng cuộc sống ấm no, bình đẳng, hạnh phúc, ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền. Nhiều năm qua trong dòng họ Nguyễn Bá không có người sinh con thứ ba. Dòng họ đối xử bình đẳng, không phân biệt trai gái khi xây dựng gia đình và trong việc khuyến học, khuyến tài. Thực tế cho thấy nhiều cặp vợ chồng trẻ đã sinh hai con một bề, tuy muốn dừng lại nhưng nhiều khi chịu sức ép từ ông bà, cha mẹ, buộc phải sinh thêm con. Do đó, việc thay đổi tư tưởng là rất quan trọng. Khi lớp người cao tuổi, có uy tín trong dòng họ  thay đổi tư tưởng sẽ tác động tích cực đến con cháu. Đó đơn giản chỉ là những lời căn dặn được khéo léo nhắc đến khi trao dâu, nhận rể ở đám cưới hoặc trong các buổi gặp mặt, liên hoan... Ở dòng họ này, nhiều gia đình sinh con một bề là gái tích cực đóng góp vào các hoạt động chung của địa phương, được người dân khen ngợi. UBND xã Phương Hưng đã tặng giấy khen cho họ Nguyễn Bá vì có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của địa phương. Chị Nguyễn Thị Hoàng Anh (24tuổi) cho biết: "Các ông, các chú bác trong dòng họ thường khuyên nhủ con cháu nên tập trung phát triển kinh tế, nuôi dạy con cho tốt. Vì thế, tôi cảm thấy hoàn toàn thoải mái, không nặng nề chuyện phải có bằng được con trai". 

Ông Hoàng Văn Kính (80 tuổi), Trưởng họ Hoàng Văn ở xã Minh Đức (Tứ Kỳ) cũng dành khá nhiều thời gian để tìm hiểu về các chính sách dân số-KHHGĐ, nhất là việc kiểm soát mất cân bằng GTKS. Theo ông, việc tuyên truyền về mất cân bằng GTKS cần khéo léo, nên thực hiện lồng ghép trong những cuộc gặp gỡ con cháu trong dịp Thanh minh, giỗ tổ hằng năm, trò chuyện thân mật, tại các cuộc họp trưởng chi. Mỗi khi phát biểu ý kiến tại các cuộc họp trong thôn, xã, ông lại lựa theo từng chủ đề họp mà chủ động lồng ghép một cách hợp lý những hệ lụy của việc mất cân bằng GTKS gây ra. Những hệ lụy này được ông cụ thể hóa bằng những câu chuyện rất sinh động, thuyết phục. Đó là những trường hợp điển hình về các gia đình sinh con một bề là gái nuôi dạy con tốt, ổn định về kinh tế; việc dư thừa nam giới sẽ khiến cho nhiều người khó có cơ hội kết hôn. Việc cố sinh con trai do sức ép sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ; kinh tế chậm phát triển; khó tìm việc làm; con cái thiếu sự chăm sóc của bố mẹ; bạo lực gia đình tăng; tình trạng xâm hại phụ nữ, trẻ em... Là một người đam mê thơ ca nên ông Kính còn sáng tác các bài thơ về chủ đề dân số rất dễ nhớ, dễ thuộc.

Ngoài 2 dòng họ trên, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều dòng họ khác quan tâm tuyên truyền, kiểm soát mất cân bằng GTKS. Vừa qua, Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh đã tổ chức 2hội nghị chia sẻ kinh nghiệm của các dòng họ trong tuyên truyền kiểm soát mất cân bằng GTKS tại huyện Tứ Kỳ và Gia Lộc. Dự hội nghị có các đại biểu là lãnh đạo UBND huyện, các ban, ngành, đoàn thể, Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện và đại diện một số dòng họ tại các huyện. Tại hội nghị, đại diện các dòng họ đã chia sẻ cách làm, kinh nghiệm hay trong việc thực hiện các chính sách dân số nói chung và kiểm soát mất cân bằng GTKS nói riêng. 

Theo Kế hoạch hành động thực hiện kiểm soát mất cân bằng GTKS trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020, trưởng các dòng họ cũng là một trong những đối tượng cần tập trung tuyên truyền về mất cân bằng GTKS nhằm tăng sức thuyết phục, tạo sự lan tỏa. Một trong những mục tiêu mà kế hoạch đặt ra là phấn đấu 100% các thôn, làng, tổ dân phố, cơ quan, tổ chức đưa các nội dung tuyên truyền về bình đẳng giới, không phân biệt vai trò con trai hay con gái trong chăm sóc cha mẹ già, trong các công việc của gia đình, họ tộc; tiếp tục tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề cho trưởng các dòng họ.

Khi những người có uy tín trong dòng họ tham gia vào việc kiểm soát mất cân bằng GTKS sẽ tạo sức thuyết phục đối với con cháu. Nếu như suy nghĩ của các thế hệ đi trước đã cởi mở thì thế hệ con cháu cũng giảm bớt áp lực, không còn tư tưởng phải có con trai để nối dõi tông đường. 

HUYỀN TRANG

Về đầu trang


Quảng Trị báo động tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh ở Quảng Trị ngày càng tăng và duy trì ở mức cao là đánh giá của những người làm công tác dân số trên địa bàn. Đây cũng là thách thức không nhỏ trong quá trình chuyển trọng tâm công tác dân số từ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) sang dân số và phát triển trong tình hình hiện nay.

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Quảng Trị bắt đầu xuất hiện vào năm 2010 với tỷ lệ 109 bé trai/100 bé gái, muộn hơn so với tình hình chung của cả nước nhưng tốc độ tăng tỷ suất ở Quảng Trị lại diễn ra khá nhanh, đến cuối năm 2017 tỷ số giới tính khi sinh trung bình toàn tỉnh ở mức 112,6 bé trai/100 bé gái (so với trung bình cả nước 112,2 bé trai/100 bé gái). Đáng lo ngại là mặc dù thời gian qua các đơn vị dân số đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp nhằm kiềm chế sự chênh lệnh giới tính khi sinh nhưng chỉ số này vẫn tiếp tục tăng cao. Đặc biệt, sự mất cân bằng giới tính trên địa bàn tỉnh đã xảy ra ngay từ những trường hợp sinh con đầu tiên. Theo cán bộ Chi cục Dân số KHHGĐ tỉnh cho biết, rất nhiều cặp vợ chồng mới cưới, trước có dự định sinh con là tìm hiểu các biện pháp sinh con theo ý muốn để có thể sinh được con trai ngay từ đứa con đầu lòng. Hiện có nhiều cách để lựa chọn giới tính trước khi mang thai như thay đổi chế độ ăn uống, sinh hoạt, tính ngày rụng trứng, siêu âm để biết thời điểm trứng rụng. Với sự tiến bộ của y học hiện đại, việc siêu âm để xác định giới tính cũng được phát hiện rất sớm từ những tháng đầu của thai kỳ. Bởi vậy, nhiều trường hợp siêu âm không phải là con trai thì đến các phòng khám sản tư nhân thực hiện các biện pháp nạo, phá thai. Tư tưởng phải có con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng ông bà tổ tiên đã hằn sâu vào nếp nghĩ của người Việt trong khi từ chính sách KHHGĐ và tâm lý các cặp vợ chồng trẻ hiện nay đều muốn vừa có ít con, vừa có con trai khiến họ tìm hiểu các biện pháp can thiệp để lựa chọn giới tính dẫn đến tình trạng chênh lệch giới tính khi sinh ngày càng tăng.

Theo ông Trương Hữu Thiện, Chi cục trưởng Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh, tỷ số giới tính khi sinh được xác định bằng số trẻ em trai/100 trẻ em gái được sinh ra. Tỷ số này thông thường là 105-107/100, bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số trên chệch khỏi mức sinh học bình thường đều phản ánh những can thiệp có chủ định ở các mức độ khác nhau đến sự cân bằng tự nhiên này. Nếu không đẩy lùi mất cân bằng giới tính thì sẽ có những hệ lụy cho dân số, đó là vấn đề bất bình đẳng giới và biến đổi xã hội theo chiều hướng xấu, những nguy cơ mà phụ nữ và trẻ em gái dễ bị tổn thương phải đối mặt như thiếu phụ nữ là làm gia tăng áp lực buộc họ phải kết hôn sớm hơn và nam giới khó khăn hơn trong việc tìm kiếm bạn đời, gia tăng nạn mua bán phụ nữ và trẻ em gái... Những năm qua, tỉnh Quảng Trị đã chủ động lồng ghép tuyên truyền các nội dung về mất cân bằng giới tính khi sinh vào các hoạt động của Chương trình mục tiêu quốc gia dân số - KHHGĐ nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng về thực trạng, hệ lụy mất cân bằng giới tính khi sinh và khống chế tốc độ tăng giới tính khi sinh tại địa phương. Tuy nhiên, tỷ số giới tính khi sinh hiện nay của tỉnh đang cao hơn mức bình quân của cả nước và có xu hướng tăng lên nếu không có sự can thiệp kịp thời. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định, bền vững của tỉnh. Trước tình trạng báo động này, cuối năm 2016 UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 5170/KH-UBND về thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh, trong đó tỉnh có ban hành các chính sách nhằm thực hiện các biện pháp từng bước khống chế có hiệu quả tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh tiến tới đưa tỷ số này trở lại mức cân bằng tự nhiên, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.

Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh của tỉnh có đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả đề án này trước hết cần thay đổi nhận thức của người dân về bình đẳng giới. Cần có sự thay đổi từ dư luận xã hội để lên án hành vi phân biệt, đối xử, phân biệt giới tính, khẳng định vai trò, con cái trong gia đình, không phân biệt nam hay nữ trong việc nuôi dưỡng, thờ cúng cha mẹ, ông bà tổ tiên, thừa kế cũng như có chế tài cụ thể nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Ngăn ngừa việc lạm dụng khoa học, công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi hỗ trợ việc lựa chọn giới tính thai nhi ở các cơ sở y tế.

Lâm Thanh

Về đầu trang


Nà Mường làm tốt công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình

Xác định công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, những năm gần đây, cấp ủy, chính quyền xã Nà Mường (Mộc Châu, Sơn La) luôn quan tâm đẩy mạnh tuyên truyền về Pháp lệnh dân số, tổ chức tốt các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình. Nhờ đó đã tạo sự chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động trong mọi tầng lớp nhân dân.

 

Cán bộ dân số xã Nà Mường (Mộc Châu) tuyên truyền các biện pháp KHHGĐ cho phụ nữ trong xã.

Nà Mường là xã vùng II của huyện Mộc Châu có 1.021 hộ, với trên 4.200 nhân khẩu. Nhiều năm trước đây do quan niệm “trọng nam khinh nữ”, nên nhiều cặp vợ chồng đã cố gắng sinh thêm con mong có con trai để nối dõi, khiến tình trạng sinh con thứ 3 thường xảy ra trên địa bàn. Để từng bước thay đổi nhận thức của người dân, Ban Dân số - KHHGĐ xã đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Trạm Y tế tăng cường tuyên truyền, vận động về KHHGĐ thông qua các buổi sinh hoạt hội, họp bản để xây dựng bản, tiểu khu đạt chuẩn “5 không” về dân số. Trạm Y tế xã cũng chú trọng xây dựng đội ngũ CTV dân số, hiện xã có 17 CTV dân số tại 13 bản, là người địa phương nên đội ngũ CTV dân số dễ dàng tiếp cận với người dân, được bà con tin tưởng, từ đó có cách tuyên truyền phù hợp và hiệu quả. Chỉ tính riêng trong năm 2017, Ban Dân số - KHHGĐ xã và đội ngũ CTV phối hợp cùng các tổ chức đoàn thể đã tổ chức trên 1.300 buổi tuyên truyền, thu hút đông đảo người dân tham gia; tổ chức dán tranh, ảnh, cấp phát tờ rơi, tài liệu về kiến thức sinh sản cho người dân. Bên cạnh việc tuyên truyền dân số - KHHGĐ, việc ngăn chặn, đẩy lùi nạn tảo hôn cũng được đặc biệt quan tâm. Để giúp các gia đình nhận thức được hậu quả của việc kết hôn sớm, cán bộ xã cùng đội ngũ cán bộ dân số đã xuống tận cơ sở và từng gia đình, để tuyên truyền, vận động các gia đình không cho con kết hôn cận huyết thống và khi chưa đủ tuổi theo quy định.

Cùng cán bộ Ban Dân số KHHGĐ xã, chúng tôi tới thăm nhiều gia đình sinh con một bề, nhưng chỉ dừng lại ở 2 con. Gia đình chị Đinh Thị Vi, tiểu khu 3, đã có 2 con gái, chị chia sẻ: Dù gái hay trai, gia đình vẫn chỉ dừng lại ở mức 2 con, để có thời gian để chăm sóc và dạy dỗ các con khôn lớn và có thời gian phát triển kinh tế, ổn định đời sống. Hiện nay, gia đình chị đã có một cuộc sống ổn định với việc kinh doanh hàng tạp hóa và mở dịch vụ tổ chức sự kiện, thu nhập gần 15 triệu đồng/tháng. Đồng thời, tạo việc làm cho 3 lao động với mức thu nhập ổn định 3 triệu đồng/người/tháng.

Hiện, toàn xã có trên 1.000 cặp vợ chồng, trong đó có 922 cặp sử dụng các biện pháp tránh thai như: Đặt vòng, đình sản, tiêm, uống thuốc tránh thai. Trong năm 2017, cả xã chỉ có 2 trường hợp tảo hôn, giảm hơn 80% so với năm 2016. Bên cạnh đó, nhờ duy trì sinh hoạt đều đặn các câu lạc bộ: Mất cân bằng giới tính khi sinh; sức khỏe sinh sản kế hoạch hóa gia đình; không sinh con thứ ba...  nên đã từng bước giảm tình trạng sinh con thứ 3 ở xã.
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở Nà Mường đã đạt được kết quả nhất định. Tuy nhiên hiện nay, việc sinh con thứ 3 vẫn còn ở một số gia đình sinh con một bề, đặc biệt tại các gia đình có thu nhập cao, gây ra tỷ lệ mất cân bằng giới tinh khi sinh ở xã. Thời gian tới, Nà Mường tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền Pháp lệnh dân số đến với người dân, để bà con thực sự thay đổi từ nhận thức đến hành động, qua đó, từng bước nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân.

Đức Anh 

Về đầu trang


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự chương trình kỷ niệm 63 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam

Tối 27/2, tại Cung Văn hóa hữu nghị Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức chương trình kỷ niệm 63 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2) với chủ đề 'Tăng cường y tế cơ sở- Hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân'. Chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Tuyên giáo TW Võ Văn Thưởng; Trưởng Ban Dân vận Trương Thị Mai; đồng chí Nguyễn Văn Bình - Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; đồng chí Nguyễn Văn Nên- Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; đồng chí Trần Thanh Mẫn- Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bà Nguyễn Thúy Anh- Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội; đồng chí Vũ Đức Đam- Phó Thủ tướng Chính phủ cùng lãnh đạo nhiều bộ, ban, ngành, đoàn thể, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cùng các lãnh đạo Bộ Y tế đương nhiệm, tiền nhiệm và nhiều thế hệ thầy thuốc tham dự chương trình.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, bộ, ban ngành... dự buổi lễ.

Xen giữa chương trình là các ca khúc viết về ngành y, về những hy sinh lặng thầm của người thầy thuốc và các phóng sự về những đổi thay của ngành trên các lĩnh vực; trong việc sáp nhập và tinh giản bộ máy y tế địa phương và TW để làm sao ngành y tế hoạt động hiệu quả nhất trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân...

Hãy thực hiện ngay các khuyến nghị của cơ quan y tế về rèn luyện thân thể

Phát biểu tại chương trình, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Phó Thủ tưởng Vũ Đức Đam gửi lời chúc mừng đến toàn thể cán bộ, nhân viên, y bác sĩ trong toàn ngành y tế và đánh giá cao, biểu dương những nỗ lực mà ngành y tế đã đạt được trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Tại chương trình này, Phó Thủ tướng bày tỏ sự trân trọng, tri ân tới các thế hệ thầy thuốc, cán bộ, nhân viên y tế - những người đang không quản ngại khó khăn, gian khổ chăm lo cho sức khỏe của người dân, của người bệnh. Ngay trong thời khắc này, biết bao bác sĩ, điều dưỡng viên đang thầm lặng dành giật lại mạng sống cho người bệnh. Và trong số ấy rất có thể có những người đang được người thân mong mỏi có mặt ở nhà, ở bên cạnh nhưng vấn ở bệnh viện vì người bệnh.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại buổi lễ.

“Tôi xin trân trọng gửi tới toàn thể các thế hệ thầy thuốc, các cán bộ, nhân viên ngành y tế, đặc biệt là các thầy thuốc, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm công tác y tế ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo lời lời chúc mừng tốt đẹp nhất”- Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Theo Phó Thủ tướng, trong giờ phút rất ý nghĩa này, chúng ta cùng nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, cùng nguyện quyết tâm phấn đấu thực hiện những lời căn dặn của Người đối với cán bộ y tế. Chúng ta cùng tưởng nhớ với lòng tự hào và quyết tâm phấn đấu noi gương những Thầy thuốc mà tên tuổi, sự nghiệp, nhân cách còn sáng mãi như các GS, BS Phạm Ngọc Thạch, Hồ Ðắc Di, Ðặng Văn Ngữ, Trần Hữu Tước, Tôn Thất Tùng, Tôn Thất Bách, Ðặng Văn Chung, Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm…

Theo Phó Thủ tướng, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo cho sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Suốt chặng đường phấn đấu trưởng thành, ngành y tế đã có bước phát triển toàn diện, mạnh mẽ với hệ thống các cơ sở y tế đều khắp từ trung ương tới cơ sở, nhiều BV, trung tâm y tế mới khang trang, hiện đại và đặc biệt là gần nửa triệu thầy thuốc, cán bộ y tế nắm chắc, tinh thông nghiệp vụ và tinh thần Hippocrates hết lòng trị bệnh cứu người. Trong số đó, nhiều thầy thuốc có uy tín được đồng nghiệp khu vực, quốc tế đánh giá rất cao. Có nhiều thầy thuốc là người dân tộc thiểu số mặc dù điều kiện công tác, sinh hoạt hết sức khó khăn nhưng vấn ngày đêm miệt mài, kiên nhẫn mang từng viên thuốc cùng những lời khuyên, lời thuyết phục tới từng người dân ở những nơi hẻo lánh nhất.

Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Nghị quyết TW 6 về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Để triển khai những nội dung quan trọng của Nghị quyết này, Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý ngành y tế quan tâm, phát triển y tế cơ sở vì đây là thế mạnh của y tế Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới. Đồng thời, cần tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực khám chữa bệnh ngay từ tuyến cơ sở.

“Việc phát triển y tế cơ sở hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là nhiệm vụ hết sức nặng nề và quan trọng. Đòi hỏi sự quyết tâm cao nhất của ngành y tế cũng như sự hỗ trợ vào cuộc của cả hệ thống chính trị”- Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Phó Thủ tướng cũng lưu ý ngành y tế tập trung đổi mới cơ chế tài chính y tế, nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh...

Phó Thủ tướng khẳng định chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân. Đầu tư cho sự nghiệp y tế là đầu tư cho phát triển bền vững, cho tầm vóc, cho tương lai của giống nòi. Do đó, Phó Thủ tướng đề nghị, các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm đầu tư cho công tác y tế, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác y tế cơ sở.

Phó Thủ tướng cũng kêu gọi toàn xã hội, từng người dân cùng ủng hộ, chung tay với các thầy thuốc, cán bộ y tế để mỗi người đều ý thức đầy đủ và hành động cụ thể để sức khỏe của mình, vốn quý nhất của mình, của người thân và của cả nước được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao một cách hiệu quả nhất. Hãy thực hiện ngay, thực hiện đúng các khuyến nghị của cơ quan y tế, của các sĩ về rèn luyện thân thể, sinh hoạt lành mạnh, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động, an toàn giao thông, kiểm tra sức khỏe định kỳ, dùng thuốc theo đơn v.v. và cuối cùng nhưng cũng rất quan trọng là tham gia BHYT.

“Đó cũng là cách thể hiện sự tri ân có ý nghĩa nhất đối với các thầy thuốc, những người đã, đang và sẽ tiếp tục hết lòng vì người bệnh; vì sự nghiệp chăm sóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân”- Phó Thủ tướng nêu rõ.

“Hạnh phúc là khi người dân hài lòng với chất lượng dịch vụ y tế”

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến phát biểu tại buổi lễ.

Theo Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, năm 2018 là năm khởi đầu thực hiện Nghị quyết số 20/NQ-TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và Nghị quyết số 21/NQ-TW về công tác dân số trong tình hình mới, vừa được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Ban chấp hành trung ương khóa XII ký ban hành. Theo Bộ trưởng, một trong những nội dung quan trọng mà toàn thể cán bộ y tế cần phải thấm nhuần là “Lương y phải như từ mẫu”.

Do vậy, nhiệm vụ hàng đầu mà trong thời gian qua toàn ngành y tế quyết tâm thực hiện đó là đổi mới toàn diện thái độ phong cách phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh.

“Kết quả này được người dân phấn khởi ghi nhận và đánh giá có những chuyển biến tích cực với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp như: giảm quá tải BV, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh theo bộ tiêu chí chuẩn quốc tế, xây dựng môi trường BV xanh sạch đẹp thân thiện, cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người bệnh, ứng dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến ngang tầm quốc tế để dự phòng, chẩn đoán và điều trị”- Bộ trưởng nêu rõ.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc cho Giám đốc BV Phụ sản TƯ và Giám đốc BV Chợ Rẫy

Một trong những giải pháp then chốt quan trọng để đạt được những kết quả trên là đổi mới cơ chế tài chính, đưa giá dịch vụ về giá trị thực gắn với lộ trình BHYT toàn dân vận hành theo đúng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước hỗ trợ khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, hoàn cảnh khó khăn, thể hiện tính ưu việt của các chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Do đó, nhấn mạnh tại chương trình, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, thực hiện quyết liệt việc tăng cường y tế cơ sở hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân là một nội dung quan trọng trong Nghị quyết TW 6 sẽ góp phần giải quyết câu hỏi trên. Bao phủ sức khỏe toàn dân là mơ ước không chỉ của Việt Nam mà của các quốc gia trên toàn thế giới. Đó là nâng cao chất lượng nhân lực, cơ sở hạ tầng, cơ chế tài chính và thực hiện BHYT toàn dân hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân.

Do đó, nhấn mạnh tại chương trình, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, thực hiện quyết liệt việc tăng cường y tế cơ sở hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân là một nội dung quan trọng trong Nghị quyết TW 6 sẽ góp phần giải quyết câu hỏi trên. Bao phủ sức khỏe toàn dân là mơ ước không chỉ của Việt Nam mà của các quốc gia trên toàn thế giới. Đó là nâng cao chất lượng nhân lực, cơ sở hạ tầng, cơ chế tài chính và thực hiện BHYT toàn dân hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân.

Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai và Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trao Bằng khen cho các cá nhân tiêu biểu đến từ các trạm y tế

Để làm được việc này, Bộ trưởng nêu rõ, cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và đầu mối là ngành y tế.

Trong Lễ kỷ niệm Ngày Truyền thống thiêng liêng của ngành, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cũng đã nhắn gửi đến tất cả các bạn đồng nghiệp thân thiết trên mọi miền của tổ quốc: Chúng ta cần thường xuyên trau dồi chuyên môn, tu dưỡng y đức để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Chỉ khi nào người dân bớt đau đớn và hài lòng với chất lượng dịch vụ y tế thì chúng ta mới bớt đau khổ và hạnh phúc. Với nghề Y của chúng ta, mang lại hạnh phúc cho người dân chính là mang lại hạnh phúc cho chính mình.

Tại chương trình kỷ niệm, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng lãnh đạo Bộ Y tế đã trao tặng Phiên bản Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hội nghị cán bộ y tế đầu năm 1955 cùng các bằng khen cho nhiều tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong chăm sóc sức khỏe nhân dân...

Thái Bình

 Về đầu trang


Đoàn công tác của Bộ Y tế kiểm tra hoạt động quản lý các bệnh không lây nhiễm trên địa bàn tỉnh Nam Định

Ngày 30-3-2018, Đoàn công tác của Bộ Y tế do đồng chí Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế làm trưởng đoàn đã về kiểm tra hoạt động quản lý các bệnh không lây nhiễm trên địa bàn tỉnh tại huyện Giao Thuỷ. Cùng đi với đồng chí Thứ trưởng có đại diện các cơ quan thuộc Bộ, các bệnh viện tuyến Trung tương. Tiếp và làm việc với Đoàn công tác có đồng chí Trần Lê Đoài, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Sở Y tế; lãnh đạo UBND huyện Giao Thuỷ.

Theo báo cáo của Sở Y tế, ngành Y tế tỉnh đã xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh không lây nhiễm của ngành để thực hiện chiến lược quốc gia theo Quyết định số 376/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp về phòng, chống các bệnh không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư, tâm thần phân liệt, tim mạch, phổi tắc nghẽn mãn tính, động kinh... Hiện tuyến tỉnh có 4.823 bệnh nhân đái tháo đường được quản lý điều trị; 2.021 bệnh nhân tăng huyết áp, tim mạch; 1.511 bệnh nhân phổi tắc nghẽn mãn tính; 10.385 bệnh nhân bị tâm thần phân liệt, động kinh và một số rối loạn tâm thần được quản lý điều trị. Tại tuyến huyện, Trung tâm y tế huyện là đầu mối tổ chức triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh không lây nhiễm và thực hiện kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật cho tuyến xã về chẩn đoán, điều trị, quản lý và dự phòng bệnh không lây nhiễm. Hiện 100% các huyện, thành phố đã triển khai hoạt động quản lý bệnh nhân tăng huyết áp, 4/10 huyện triển khai quản lý bệnh nhân phổi tắc nghẽn mãn tính và hen phế quản, chưa có trung tâm y tế huyện, thành phố nào thực hiện khám sức khoẻ tâm thần. Tại tuyến xã, trạm y tế xã mới chỉ thực hiện quản lý và cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân tăng huyết áp, rối loạn tâm thần, chưa thực hiện quản lý và cấp thuốc điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và hen phế quản, đái tháo đường… Khó khăn hiện nay là các thông tin, số liệu về bệnh không lây nhiễm đang được thu thập riêng lẻ tuỳ theo từng chương trình, dự án, chưa kịp thời và đầy đủ, chưa có ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý bệnh không lây nhiễm gây khó khăn cho việc theo dõi, quản lý điều trị bệnh. Các chương trình hoạt động mới tập trung chủ yếu vào quản lý và điều trị người bệnh, chưa chú trọng tới dự phòng phục hồi chức năng và giám sát theo dõi...

Tại huyện Giao Thuỷ, đồng chí Thứ trưởng Bộ Y tế và Đoàn công tác đã kiểm tra công tác quản lý bệnh không lây nhiễm tại xã Giao Phong.

Đối với huyện Giao Thủy, từ 1-1-2018, Trung tâm Y tế huyện được thành lập mới trên cơ sở sáp nhập Trung tâm Y tế và Bệnh viện Đa khoa huyện thành Trung tâm Y tế 2 chức năng. Trong công tác quản lý, điều trị các bệnh không lây nhiễm, bước đầu đã khám, sàng lọc, quản lý và điều trị hoặc chuyển tuyến. Công việc chủ yếu đang triển khai là truyền thông về phòng, chống các bệnh không lây nhiễm, cung cấp thông tin để người dân hiểu, tự giác phòng bệnh và chủ động đến các cơ sở y tế để được khám, phát hiện, điều trị. Tại tuyến xã, chương trình phòng chống các bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản đã làm được các việc như khám sàng lọc, phát hiện điều trị và giới thiệu đi điều trị tuyến trên. Với bệnh nhân mắc bệnh ung thư, sau khi đã điều trị ở các tuyến sẽ được quản lý, tư vấn, chăm sóc tại gia đình. Trung tâm Y tế huyện cũng đã triển khai, phát hiện và điều trị các bệnh nhân thuộc nhóm bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, bướu cổ đơn thuần, rối loạn chuyển hóa lipit, gút… Tuy nhiên, chương trình phòng chống các bệnh không lây nhiễm cần được quan tâm hơn nữa về công tác đào tạo chuyên môn cho các tuyến; tăng cường kinh phí, trang thiết bị, vật tư tiêu hao phục vụ công tác khám phát hiện bệnh…

Tại buổi làm việc, đồng chí Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long yêu cầu các bệnh viện tuyến Trung ương như: Bệnh viện Nội tiết, Bệnh viện Bạch Mai, Viện Dịch tễ Trung ương, Bệnh viện K, Bệnh viện Tâm thần, Trung tâm Y tế huyện Giao Thủy, Trạm Y tế xã Giao Phong làm rõ một số vấn đề về công tác quản lý bệnh nhân mắc các bệnh không lây nhiễm, việc cấp phát thuốc, thực hiện cơ chế tài chính và thanh toán BHYT cho bệnh nhân với mục tiêu là: tại đơn vị thí điểm thực hiện mô hình, trạm y tế sẽ tổ chức khám, phát hiện sớm và cung cấp các dịch vụ như đánh giá tư vấn cho các trường hợp thừa cân, béo phì, rối loạn lipit máu; tư vấn, quản lý, điều trị và theo dõi các trường hợp tăng huyết áp, đái tháo đường, khám phát hiện sớm những trường hợp nghi ngờ mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, thừa cân, béo phì, rối loạn đường máu và tăng cholesterol tại cộng đồng. Từ đó, lập hồ sơ sổ sách quản lý và theo dõi, tư vấn, chăm sóc liên tục suốt quá trình.

Đại diện các cục, vụ, viện thuộc Bộ Y tế đã phát biểu nêu rõ sau buổi làm việc sẽ khẩn trương tổ chức các buổi tập huấn theo từng chuyên ngành, xây dựng kế hoạch hỗ trợ về trang bị, kỹ thuật, về cơ chế tài chính, hình thức thanh toán BHYT để mô hình quản lý bệnh không lây nhiễm sớm được triển khai tại huyện Giao Thủy và xã Giao Phong là đơn vị tiếp nhận.

Phát biểu kết luận, đồng chí Thứ trưởng Bộ Y tế ghi nhận những kết quả đạt được trong công tác quản lý các bệnh không lây nhiễm trên địa bàn huyện Giao Thủy và tỉnh Nam Định. Đồng chí cũng yêu cầu các đơn vị của Bộ Y tế tăng cường hỗ trợ tỉnh Nam Định trong thực hiện quản lý các bệnh không lây nhiễm, hướng tới mục tiêu hạn chế sự gia tăng tỷ lệ người có nguy cơ mắc bệnh, sớm triển khai mô hình thí điểm, tạo thuận lợi cho bệnh nhân khi khám, điều trị bệnh, góp phần giảm biến chứng, tử vong sớm do bệnh và giảm tải cho bệnh viện tuyến trên.

Đồng chí Trần Lê Đoài, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tiếp thu những ý kiến chỉ đạo của Đoàn công tác. Đồng chí giao Sở Y tế thời gian tới xúc tiến các công việc được giao, góp phần đẩy mạnh các hoạt động phát triển ngành Y tế tỉnh nhà, phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân./.

Duy Cảnh 

 Về đầu trang


Thanh Hóa:Chuyển biến qua 3 năm thực hiện việc đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh

Đón tiếp bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

Tháng 9-2015, Sở Y tế - công đoàn ngành phối hợp tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai, phát động phong trào thi đua trong 3 tháng cuối năm 2015 và nhiệm vụ những năm tiếp theo thực hiện Quyết định số 2151/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”.

 Thực hiện phong trào thi đua, đến hết năm 2017 ngành y tế đã có đổi mới, tiến bộ trong công tác khám, chữa bệnh (KCB); áp dụng nhiều kỹ thuật y học mới, tiên tiến trong nước cũng như khu vực Đông Nam Á vào lĩnh vực chẩn đoán bệnh, điều trị bệnh, giảm tải  lưu lượng bệnh nhân chuyển lên tuyến Trung ương, giảm chi phí đi lại, chi phí KCB cho bệnh nhân, gia đình người bệnh và nhân dân.

Phong trào thi đua thực hiện tốt y đức, quy tắc ứng xử, hướng tới sự hài lòng của người bệnh luôn được khắc phục như quy chế chuyên môn, phát huy tính năng động sáng tạo trong điều trị, chăm sóc, phục vụ người bệnh... Từ những phong trào này đã nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lao động y tế trong các đơn vị đồng thời khắc phục tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu người bệnh tại các khoa, phòng bệnh viện, thủ tục hành chính trong khám, đón tiếp người bệnh được cải tiến nhanh chóng và kịp thời hơn. Theo khảo sát, kết quả  thực hiện phong trào thi đua “Đổi mới phong cách, thái độ, phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” của 38 bệnh viện công lập trong toàn tỉnh, cụ thể: 100% bệnh viện bố trí nơi đón tiếp bệnh nhân thông thoáng, lịch sự, có biển báo hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, sắp xếp khoa, phòng hợp lý; 100% bệnh viện tổ chức tập huấn nâng cao các kỹ năng giao tiếp, thái độ phục vụ cho cán bộ nhân viên  y tế, thể hiện niềm nở, thân thiện hơn, người bệnh cảm thấy hài lòng hơn; 100% bệnh viện đã thành lập bộ phận tuyên truyền, giáo dục sức khỏe kết hợp hướng dẫn, chỉ dẫn chu đáo cho người bệnh; 100% bệnh viện  triển khai đội “Tiếp sức người bệnh trong bệnh viện” và tổ chăm sóc khách hàng tại bệnh viện, thực hiện nhiệm vụ: Đón tiếp, chỉ dẫn, giới thiệu, cung cấp thông tin, tư vấn về dịch vụ KCB trong suốt quá trình KCB hoặc có chỉ định chuyển viện, ra viện. Một số bệnh viện có tổ chăm sóc khách hàng tận nhà, như Bệnh viện Nội tiết; 100% các cơ sở KCB đã xây dựng kế hoạch và thành lập ban chỉ đạo tại đơn vị; 100%  cán bộ y tế trong bệnh viện có tác phong gọn gàng, trang phục đúng quy định; 100% các bệnh viện đã đầu tư sửa chữa nhà vệ sinh của người bệnh và nhân viên y tế không mùi hôi, luôn sạch sẽ và khô ráo; 100% bệnh viện tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất các hành vi ứng xử của cán bộ, nhân viên y tế với người bệnh. Lãnh đạo Sở Y tế kiểm tra đột xuất việc thực hiện các quy chế chuyên môn tại bệnh viện. 100% bệnh viện thiết lập đường dây nóng tiếp nhận ý kiến đóng góp, phản ánh của người bệnh và thân nhân. Theo thống kê của ngành, tỷ lệ ý kiến phản ánh sự phàn nàn về thái độ, phong cách phục vụ của nhân viên y tế từ cuối năm 2015 đến nay có chiều hướng giảm nhiều.

Theo đánh giá độc lập nhanh bằng phương pháp cắt ngang về việc ảnh hưởng của việc triển khai Quyết định 2151/QĐ-BYT của các bệnh viện theo hình thức phát phiếu thăm dò sự hài lòng của người bệnh điều trị nội trú và điều trị ngoại trú năm 2017, có 92,1% bệnh nhân được phỏng vấn cho biết đã được nhân viên y tế hướng dẫn các thủ tục KCB tận tình hơn trước; 80,5% được giải thích về tình trạng sức khỏe rõ ràng hơn trước; 93% được dặn dò cách phòng và điều trị bệnh chu đáo hơn trước; 83% được nhân viên y tế đáp ứng kịp thời hơn; 95% người bệnh nhận xét nhân viên y tế có thái độ cử chỉ ân cần, thân thiện hơn; 91,2% nhận thấy tác phong làm việc của nhân viên y tế nghiêm túc hơn; 98,3% cho rằng nhân viên y tế đã tôn trọng người bệnh hơn; 96,2% cho rằng nhân viên y tế có kỹ năng giao tiếp tốt hơn và trang phục gọn gàng, sạch sẽ hơn...

Về cải tiến quy trình KCB, đã điều chỉnh giảm từ 8 bước xuống còn 5 bước. Về mức độ hài lòng của người bệnh với kết quả KCB, có 88,9% khảo sát đã biểu thị thái độ hài lòng đối với dịch vụ KCB, trong đó tuyến huyện đạt tỷ lệ 82,3% và tuyến tỉnh đạt 95,6%.

Tuy nhiên, về vấn đề quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của một bộ phận nhỏ trong các cơ sở KCB, các bệnh viện như bộ phận hành chính, bảo vệ, lái xe và bộ phận dịch vụ trông, giữ xe ô tô, xe đạp, xe máy cần được quan tâm hơn. Vì vậy phải tiếp tục tuyên truyền, chấn chỉnh nội dung quy tắc ứng xử của cán bộ, nhân viên trong các cơ sở y  tế là việc làm thường xuyên, hằng ngày góp phần chăm sóc, nâng cao sức khoẻ nhân dân, đáp ứng sự  kỳ vọng và tin tưởng của bệnh nhân, gia đình bệnh nhân và nhân dân, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”. 

P.Nga

 Về đầu trang


Nam Định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế

Những năm trước nguồn nhân lực y tế của tỉnh Nam Định thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng, nhất là đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng và dược sĩ đại học. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy ngành Y tế liên tục có sự thay đổi, nhiều đầu mối dẫn đến lực lượng bác sĩ bị phân tán, biến động. Năm 2004, mô hình tổ chức ngành Y tế thực hiện theo Nghị định 171, 172 và đến năm 2008 được thay đổi theo Nghị định 13, 14 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND huyện. Năm 2006, thực hiện Thông tư liên tịch số 11/2005/TTLT-BYT-BNV của liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội vụ: Thành lập Phòng Y tế thuộc UBND huyện, thị, thành phố, chia tách Trung tâm Y tế huyện thành Bệnh viện Đa khoa và Trung tâm Y tế dự phòng trực thuộc Sở Y tế. Năm 2008, thực hiện Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25-4-2008 của liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội vụ: Sáp nhập chức năng dân số về y tế, tiếp nhận quản lý trạm y tế xã, thành lập các Chi cục Dân số - KHHGĐ, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện và đơn vị sự nghiệp khác thuộc Sở Y tế. Đến tháng 10-2010, Trung tâm y tế dự phòng các huyện đổi tên thành Trung tâm y tế huyện. Tháng 12-2017, thực hiện Thông tư liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV của liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội vụ: Thành lập Trung tâm y tế huyện trên cơ sở sáp nhập bệnh viện đa khoa huyện và trung tâm y tế huyện. Trước nhu cầu khám, chữa bệnh chất lượng cao của nhân dân ngày càng tăng, so với quy định và mục tiêu của Bộ Y tế là phấn đấu đến năm 2020 có 9 bác sĩ, 2 dược sĩ đại học/1 vạn dân, thì nguồn nhân lực y tế tỉnh Nam Định thiếu về số lượng ở tất cả các tuyến, nhất là bác sĩ và dược sĩ đại học. Về chất lượng nguồn nhân lực, chưa có nhiều cán bộ giỏi, chuyên gia đầu ngành. Sự phân bố các tuyến đối với bác sĩ và dược sĩ đại học trên địa bàn không đồng đều, tập trung chủ yếu ở tuyến tỉnh và cơ sở điều trị. Tình trạng mất cân đối về nhân lực y tế còn xảy ra giữa các chuyên ngành như truyền nhiễm, tâm thần, xét nghiệm, y tế dự phòng… dẫn đến thực trạng là tại các bệnh viện, các chuyên ngành trên và các trung tâm y tế huyện, trạm y tế xã thiếu bác sĩ...

Từ thực trạng trên, thời gian qua, tỉnh Nam Định đã triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo, thu hút nguồn nhân lực y tế. Được sự quan tâm của tỉnh, Sở Y tế đã tăng cường công tác đào tạo cán bộ y tế như: cử bác sĩ đi đào tạo sau đại học, đào tạo đại học theo địa chỉ sử dụng… từng bước khắc phục khó khăn về nguồn nhân lực cho y tế các tuyến. Từ năm 2013-2016 Sở Y tế đã cử 63 cán bộ đi học và tốt nghiệp bác sĩ. Năm 2017, Sở Y tế đã xây dựng khung năng lực vị trí việc làm theo Quyết định số 2041/QĐ-BNV ngày 31-12-2015 trình UBND tỉnh phê duyệt; hoàn thành việc tuyển dụng 1.355 cán bộ y tế xã, phường, thị trấn đang hợp đồng trong định biên theo Quyết định 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành viên chức y tế theo Nghị định 117/2014/NĐ-CP ngày 8-12-2014; hoàn thành việc tuyển dụng bác sĩ, dược sĩ đại học theo Văn bản 549/UBND-VP8 ngày 24-11-2016 của UBND tỉnh. Kết quả đã tuyển 7 dược sĩ đại học, 60 bác sĩ, trong đó 34 bác sĩ đa khoa, 15 bác sĩ y học dự phòng, 8 bác sĩ y học cổ truyền, 3 bác sĩ liên thông hệ 4 năm công tác tại trạm y tế xã. Cũng trong năm 2017, Sở Y tế đã xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức về chuyên môn, chính trị, cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch đã được phê duyệt; thực hiện việc đào tạo liên tục cho cán bộ chuyên môn theo Thông tư 22 của Bộ Y tế về Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế. Các đơn vị y tế tuyến tỉnh đã được Bộ Y tế cấp mã đào tạo, làm cơ sở để triển khai đào tạo liên tục cho cán bộ y tế các tuyến, bao gồm cả y tế ngoài công lập. Đến nay, ngành Y tế đã có 4.395 cán bộ y tế ở cả 3 tuyến (đạt tỷ lệ 23,74/1 vạn dân), trong đó có 1.290 bác sĩ (đạt tỷ lệ 6,69 bác sĩ/1 vạn dân). 75 người có trình độ dược sĩ đại học, đạt 0,4 dược sĩ/1 vạn dân. Theo Quy hoạch phát triển ngành Y tế đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt, đến năm 2015-2020, phấn đấu 9 bác sĩ/1 vạn dân; 2,5 dược sĩ đại học/1 vạn dân; 100% trạm y tế xã có bác sĩ. Tính đến thời điểm hiện tại tỉnh Nam Định mới có 6,69 bác sĩ/1 vạn dân và 204/229 trạm y tế xã có bác sĩ (đạt tỷ lệ 89%). Như vậy, dự tính đến năm 2020 tỉnh Nam Định cần bổ sung thêm 762 bác sĩ. Tuy nhiên việc tuyển dụng một số vị trí kỹ thuật cao như bác sĩ, dược sĩ đại học, kỹ thuật viên y tế đặc biệt khó khăn do không có nguồn nên tình trạng thiếu nguồn nhân lực, đặc biệt là bác sĩ xảy ra ở hầu hết các đơn vị y tế.

Để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, ngành Y tế cần tiếp tục tăng cường đào tạo mới, đào tạo lại cán bộ chuyên khoa, định hướng đào tạo chuyên sâu, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cập nhật kiến thức chuyên môn cho cán bộ, duy trì thường xuyên công tác chỉ đạo tuyến. Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Phụ sản tỉnh, Bệnh viện Nhi tỉnh, Trung tâm Y tế các huyện Xuân Trường, Giao Thuỷ, Ý Yên thực hiện tốt kế hoạch đào tạo, chuyển giao kỹ thuật của các bệnh viện Trung ương trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ y tế các tỉnh Đông Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng, sử dụng vốn vay Ngân hàng Thế giới. Bệnh viện Phụ sản tỉnh, Bệnh viện Nội tiết tỉnh, Bệnh viện Nhi tỉnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh tiếp tục triển khai dự án bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Trung ương, đảm bảo đủ cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để tiếp nhận việc đào tạo và chuyển giao kỹ thuật. Tiếp tục triển khai Dự án “Giáo dục và Đào tạo nhân lực y tế phục vụ cải cách hệ thống y tế” tỉnh Nam Định giai đoạn 2016-2020 tại Trường Trung cấp Y, Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Phụ sản tỉnh, Bệnh viện Hải Hậu, Trung tâm y tế các huyện Hải Hậu, Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng, Vụ Bản, Ý Yên và 229/229 trạm y tế xã, phường, thị trấn. Để khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, tỉnh cần tăng cường các chính sách thu hút các bác sĩ, dược sĩ mới ra trường về công tác. Tạo điều kiện cho bác sĩ đi học chuyên khoa cấp I, II, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành theo hướng dẫn của Bộ Y tế và các trường đại học, không khống chế thời gian. Giành nguồn kinh phí đào tạo thích hợp cho ngành Y tế, nhằm đào tạo đủ nguồn nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát triển hình thức đào tạo theo địa chỉ, đi đôi với việc khuyến khích học sinh, sinh viên tham gia học tại một số ngành còn thiếu nhân lực như: dược, y tế dự phòng, khám chữa bệnh chuyên khoa HIV/AIDS, nhi… đáp ứng yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới./.

Tuyết Mai

 Về đầu trang


Bộ trưởng Bộ Y tế:Hà Nội tuyệt đối không lơ là trong phòng chống dịch bệnh

Chiều 3/4, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã chủ trì Hội nghị công tác phối hợp giữa Bộ Y tế và UBND TP Hà Nội. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo Bộ Y tế, các vụ/cụ/văn phòng/thanh tra Bộ Y tế, các đơn vị trực thuộc Bộ và các đồng chí lãnh đạo UBND TP Hà Nội, đại diện Thành ủy, HĐND, Đoàn ĐBQH và các sở, ban, ngành, liên quan.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến phát biểu tại hội nghị làm việc giữa Bộ Y tế và UBND TP Hà Nội

Dự phòng dịch bệnh bằng vắc xin

Thừa ủy quyền của lãnh đạo UBND TP, TS Nguyễn Khắc Hiền- Giám đốc Sở Y tế Hà Nội đã báo cáo về công tác y tế của Hà Nội tại buổi làm việc. Theo đó, báo cáo của Sở Y tế Hà Nội cho biết, trong 3 tháng đầu năm 2018, hầu hết các dịch bệnh có số mắc giảm so với cùng kỳ năm 2017… Tuy nhiên, một số dịch bệnh có số mắc tăng so với cùng kỳ năm 2017 như: Tay chân miệng ghi nhận 70 trường hợp, sởi 41 trường hợp với số mắc tản phát, chưa có ổ dịch.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho rằng, ngay từ những tháng đầu năm 2018, Hà Nội đã chủ động tập trung các biện pháp phòng chống dịch bệnh.  Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long qua điều tra cho thấy, 35% bà mẹ và 76% trẻ sinh ra không có kháng thể phòng bệnh sởi. Do đó, thành phố nên tập trung dự phòng bệnh chủ động bằng vắc xin như triển khai tiêm vắc xin phòng bệnh sởi cho các phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, cần tiêm một số loại vắc xin phòng một số bệnh khác (như: quai bị, rubella, bại liệt, tiêu chảy…); tiêm vắc xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung cho trẻ… để tạo miễn dịch cho thế hệ tương lai.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Long cũng đề nghị TP Hà Nội đẩy mạnh hoạt động dự phòng bệnh không lây nhiễm, quản lý sức khỏe toàn dân và tập trung triển khai các chương trình nâng cao sức khỏe thể hiện qua cải thiện dinh dưỡng, nâng cao thể lực...

Nhiều BV của Hà Nội đã làm chủ được các kỹ thuật cao của tuyến TW

Về công tác khám, chữa bệnh, Sở Y tế TP Hà Nội cho biết, trong năm 2017, số lượt khám bệnh hằng năm trên địa bàn thành phố là 5,8 triệu đến 6,4 triệu lượt. Cũng trong năm 2017, Sở Y tế TP Hà Nội đã tiến hành khảo sát 67 bệnh viện trong và ngoài công lập để đánh giá sự hài lòng của người bệnh, nhân viên y tế. Kết quả, tỷ lệ người bệnh ngoại trú hài lòng và rất hài lòng là 84,2%, người bệnh nội trú hài lòng và rất hài lòng là 91,36%.

Ông Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cho rằng, trong 5 năm qua, chất lượng các BV trên địa bàn thành phố đã được nâng lên. Bên cạnh đó, các kỹ thuật cao được triển khai tại một số bệnh viện (như: BV Phụ sản Hà Nội, BVĐK Xanh Pôn…) cũng đã ngang tầm các bệnh viện trung ương .

Tại Hội nghị, Hà Nội đã đưa ra 11 đề xuất, kiến nghị đối với Bộ Y tế, trong đó mong muốn tăng chỉ tiêu đào tạo bác sĩ nội trú cho Hà Nội từ 25 chỉ tiêu/năm lên 50 chỉ tiêu/năm, cho phép bệnh viện hạng I là cơ sở đào tạo bác sĩ nội trú. Mặt khác, Bộ Y tế chỉ đạo các BV trung ương hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến huyện của thành phố thông qua mô hình BV vệ tinh và luân phiên người hành nghề khám chữa bệnh. Xem xét cho Hà Nội triển khai thí điểm cấp phép hành nghề y, dược trực tuyến (mức độ 3,4) khi người hành nghề có đủ các thủ tục giấy tờ theo quy định. Sau đó, tổ chức hậu kiểm, thu hồi giấy phép nếu vi phạm.

Ngoài ra, ngành Y tế Thủ đô cũng kiến nghị Bộ Y tế ban hành quy định về việc thu hồi vĩnh viễn Giấy phép hành nghề y dược trong một số trường hợp cơ sở vi phạm, tái phạm nhiều lần nhằm trục lợi, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân.

Hà Nội đẩy mạnh xây dựng 4 trạm y tế xã phường đạt chuẩn

Lắng nghe báo cáo của UBND TP Hà Nội và ý kiến phát biểu của các thành viên Đoàn công tác Bộ Y tế, phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế đánh giá cao những kết quả Hà Nội đã làm được trong công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân trên địa bàn.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến về công tác bộ máy tổ chức, Hà Nội nên đi đầu trong việc sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy của các đơn vị y tế theo tinh thần của các văn bản pháp quy về vấn đề này. Về công tác đào tạo nhân lực chất lượng cao của Hà Nội để đáp ứng nhu cầu của người dân về y tế chuyên sâu, Bộ trưởng Bộ Y tế gợi ý Hà Nội nên có đề án phối hợp với ĐH Y Hà Nội để bàn hướng đào tạo BSNT BV và do BV cấp bằng. Đồng thời Hà Nội nên xây dựng đề án đào tạo nhân lực theo hướng đào tạo bác sĩ y học gia đình.

Về công tác phòng chống dịch, TP Hà Nội cần tổ chức tiêm phòng sởi triệt để nhằm tránh bỏ sót trẻ không được tiêm trong cộng đồng. Riêng về phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết, theo Bộ trưởng các yếu tố nguy cơ để bệnh bùng phát là môi trường, lượng mưa và yếu tố dân cư. Do đó Bộ trưởng vẫn lo ngại dịch bệnh sẽ bùng phát nếu Hà Nội không quyết liệt triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cũng cho biết, ngành y tế sẽ quyết liệt đổi mới và điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng, tính đủ. Tuy nhiên khó khăn nhất của vấn đề này hiện vẫn là đổi mới tài chính trong y tế dự phòng. Do đó, Hà Nôi cần nghiên cứu đi tiên phong trong việc đổi mới tài chính y tế ở lĩnh vực này thông qua việc thành lập các Trung tâm nâng cao súc khỏe và tiêm chủng chất luọng cao; Hướng dẫn sư dụng dinh dưỡng; Triển khai tư vấn các chương trình tình dục an toàn…

Về vấn đề hạ tầng, Bộ trưởng cho rằng Hà Nội có rất nhiều tiềm năng, do đó Hà Nội cần đổi mới và đẩy mạnh kết hợp công tư trong khám chữa bệnh ngay tại tuyến cơ sở.

Bộ trưởng cũng đề nghị Hà Nội xây dựng chuẩn 4 trạm y tế theo đề án xây mới trạm y tế hiện đại của Bộ Y tế để người dân có bệnh tìm đến trạm y tế khám, không phải vượt tuyến.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cũng đề nghị Hà Nội cần xây dựng trung tâm phân phối thuốc đạt chuẩn và chọn để xây dựng 1 BV mẫu xứng tầm với các BV hiện đại. Ngoài ra, Hà Nội cũng cần đẩy mạnh chương trình sữa học đường, dinh dưỡng cho trẻ để nâng cao thể trạng của trẻ trong tương lai…

Trong tháng 5.2018, Hà Nội sẽ hoàn thành việc sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy y tế

Chủ tịch UBND TP phát biểu tại hội nghị giữa Bộ Y tế và UBND TP Hà Nội

Phát biểu đáp từ, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung bày tỏ cảm ơn đến sự quan tâm của cá nhân Bộ trưởng và các đồng chí lãnh đạo Bộ Y tế, các đơn vị của Bộ Y tế đã quan tâm và tạo nhiều điều kiện cho y tế Hà Nội phát triển.

Đồng chí Chủ tịch cũng nhấn mạnh: Hà Nội xác định công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho người dân là một trong những vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của TP. Đối với các chỉ đạo khác của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội tiếp thu và sẽ lên kế hoạch triển khai phù hợp. Riêng về sắp xếp bộ máy y tế, Chủ tịch Nguyễn Đức Chung cho biết trong tháng 5.2018 sẽ hoàn thành việc sắp xếp này và phân công rõ trách nhiệm của các đơn vị.

Đồng chí Nguyễn Đức Chung cũng đề nghị Bộ Y tế hỗ trợ Hà Nội xây dựng 4 trạm y tế xã, phường mẫu. Ngoài ra, Hà Nội đang hướng đến xây dựng BVĐK Xanh Pôn trở thành BV mẫu.

Đồng chí Nguyễn Đức Chung đề ra 6 nhiệm vụ trọng tâm mà thành phố tập trung triển khai, trong đó là việc xây dựng chương trình sữa học đường, lập hồ sơ quản lý bệnh án điện tử cho 7,5 triệu dân, mở rộng thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm và các điểm kinh doanh thực phẩm sạch có kiểm soát, bảo đảm cung cấp đủ nước sạch cho người dân thành thị và nông thôn, cải tạo ô nhiễm môi trường, tập trung triển khai tiêm vắc xin phòng bệnh cho trẻ em và phụ nữ mang thai…

Liên quan đến các nội dung về xây dựng cơ sở 2 của các BV tuyến TW và Trung tâm y tế Quốc tế của BV Nhi, Chủ tịch Nguyễn Đức Chung cho biết, trước ngày 15.4, Hà Nội sẽ có quy hoạch chi tiết gửi Bộ Y tế liên quan đến việc xây dựng cơ sở 2 của BV Phụ sản TW và BV Nhi TW tại Quốc Oai. Liên quan đến dự án Trung tâm quốc tế, bãi đỗ xe ngầm, khu khám và điều trị ban ngày tại khu đất BV Nhi TW, UBND TP ủng hộ dự án nhưng Bộ Y tế nên xem xét để điều chỉnh cho BV Nhi TW xây dựng dự án cao hơn 8 tầng so với đề xuất hiện nay.

Liên quan đến công tác đảm bảo an toàn cho các BV, Chủ tịch UBND TP Hà Nội cho biết, UBND TP tiếp tục yêu cầu Công an TP duy trì các tổ công an đảm bảo an ninh, an toàn cho các BV hoạt động tất cả vì mục tiêu nâng cao để công tác y tế hoạt động hiệu quả, đảm chất lượng khám chữa bệnh cho người bệnh.

Thu Hà

 Về đầu trang


Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Nam Hải (Tiền Hải, Thái Bình) là xã có số dân 10.800 khẩu, được chia làm 9 thôn, cách trung tâm huyện 12 km, có 2 tôn giáo chính là Đạo Phật và Đạo Công giáo. Đạo Phật có 5 chùa, 3 đền, trong đó có 4 công trình được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Đạo Thiên chúa có: 2 giáo xứ và 3 nhà thờ họ lẻ, 01 đền khấn thánh Vixentê, chiếm 25% dân số cả xã, nhân dân trong xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lương giáo đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm vừa qua, cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận thường xuyên quan tâm đến vận động nhân dân thực hiện chính sách dân số, đã đạt kết quả góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số. Nhưng việc thực hiện chính sách dân số là rất khó khăn, đòi hỏi phải có sự cố gắng, bền bỉ, kiên quyết và rất dân chủ phát huy tính tự giác của người dân vì đây chính là thực hiện chính sách đối với con người, thực tế trong nhiều thập kỷ qua chúng ta mới cơ bản thực hiện được tỷ lệ giảm sinh, đạt mức sinh thay thế. Nhưng cơ cấu dân số, chất lượng dân số và gần đây xuất hiện mất cân bằng giới tính khi sinh đang là vấn đề rất đáng lo ngại. Nhận thức được vấn đề này, được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, Nam Hải phấn khởi tổ chức thực hiện xây dựng mô hình. Ngay sau khi có chỉ đạo của MTTQ tỉnh và được dự hội thảo của Trung ương ở Đà Nẵng, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã đã báo cáo cấp uỷ, thống nhất với chính quyền và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện . Thành lập Ban điều hành của xã, Ban chủ nhiệm các nhóm, mới đầu thành lập 2 nhóm là đồng bào Công giáo sau đó theo đề nghị của cơ sở được MTTQ Trung ương, tỉnh nhất trí tiếp tục thành lập thêm 4 nhóm là lương dân. Quý II/2009 Ban điều hành đã triển khai cho thành viên nhóm ký cam kết tham gia mô hình và tổ chức cho các nhóm vào sinh hoạt đến nay tổ chức được 7 kỳ (mỗi quý 1 kỳ/nhóm), giảng viên do MTTQ mời, 02 nhóm là đồng bào Công giáo được cụ linh mục quản xứ thuyết giảng, 04 nhóm còn lại là báo cáo viên cấp tỉnh, nội dung mỗi kỳ 1 chuyên đề đều gắn với việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh. Các buổi sinh hoạt học viên tham dự khá đông đủ, cùng với nội dung thuyết giảng học viên được nhận tài liệu để tham khảo. Trước mỗi kỳ Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh triển khai, ban điều hành đã tiến hành họp với Ban chủ nhiệm nhóm bàn kế hoạch và tổ chức lớp sau mỗi kỳ có họp rút kinh nghiệm. Kết quả của việc xây dựng mô hình, tuy mô hình mới được triển khai ngắn nhưng đã góp phần nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành ,tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc, chức việc và nhân dân trong xã và có ảnh hưởng tốt đến các xã lân cận. Đảng uỷ xã đã đưa công tác dân số kế hoạch hoá gia đình vào nội dung trong báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2010 – 2015 và có chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện  cho từng quý, từng năm và mục tiêu cho cả nhiệm kỳ giảm sinh bằng mức sinh thay thế, coi trọng chất lượng sinh, bình đẳng giới khi sinh là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình trong cộng đồng dân cư trong xã, đưa mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội để mỗi gia đình có từ 1-2 con, có sức khoẻ tốt có đủ điều kiện học tập lao động thoát khỏi đói nghèo, cải thiện cuộc sống nuôi dạy con thành đạt. Các vị chức sắc, chức việc tích cực tham gia, nhân dân đến học tập đông đủ. Ngoài việc thuyết giảng tại lễ Chúa nhật theo lời mời của Mặt trận, cụ Linh mục còn thuyết giảng nội dung này ở lễ Hôn phối của các đôi vợ chồng đến làm lễ cưới tại nhà thờ, có tác dụng rất tích cực.

Đạt được những kết quả trên có sự chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQVN, hướng dẫn của Uỷ ban MTTQ tỉnh, có sự hỗ trợ tạo điều kiện của chính quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của cán bộ đảng viên và nhân dân và những người có chức sắc, chức việc tôn giáo đồng tình ủng hộ.

Công tác tuyên truyền tổ chức thực hiện mô hình đã gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, cuộc vận động xây dựng “Chùa cảnh 4 gương mẫu”, “Xứ họ đạo 4 gương mẫu”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, cuộc vận động “Học tập va làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động thực hiện Pháp lệnh Dân số Kế hoạch hoá gia đình, không còn gnười sinh con thứ 3, sinh con có trách nhiệm và thực hiện bình đẳng giới khi sinh, các cuộc vận động có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, làm chuyển biến nhận thức trong nhân dân và đồng bào có đạo tăng thêm truyền thống kính chúa yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo.

Thúy Hằng

 Về đầu trang


Điểm mới của nghị định 15/2018/NĐ-CP

Ngày 2-2-2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm, có hiệu lực ngay từ ngày 2-2-2018, thay thế Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25-4-2012.

Nghị định mới này được xây dựng theo hướng cắt giảm một số thủ tục hành chính, như: đăng ký, công bố, kiểm tra chuyên ngành về thực phẩm, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Việc điều chỉnh nhằm tạo hành lang thông thoáng và điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp trên cơ sở lấy việc bảo đảm sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu.

Điểm mới đầu tiên trong nghị định này là doanh nghiệp được tự công bố sản phẩm của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công bố đó, thay vì gửi bản hồ sơ công bố tới các cơ quan Nhà nước để xác nhận. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực hiện tự công bố thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Tổ chức, cá nhân tự công bố sản phẩm trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc trang thông tin điện tử của mình hoặc niêm yết công khai tại trụ sở của tổ chức, cá nhân và nộp 1 bản qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ định.

Ngay sau khi tự công bố sản phẩm, tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn của sản phẩm đó. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận bản tự công bố của tổ chức, cá nhân để lưu trữ hồ sơ và đăng tải tên tổ chức, cá nhân và tên các sản phẩm tự công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan tiếp nhận. Các sản phẩm được miễn thủ tục tự công bố gồm: sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ sản xuất nội bộ. Căn cứ công bố của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước sẽ tăng cường hậu kiểm, kiểm tra, xử phạt nếu phát hiện sai phạm.

Điểm mới thứ hai của nghị định là quy định tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chỉ phải đăng ký bản công bố sản phẩm đối với 3 nhóm sản phẩm gồm: thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt; sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi; phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, phụ gia thực phẩm không thuộc trong danh mục phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định.

Điểm mới thứ ba là thay đổi quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh để bảo đảm an toàn thực phẩm, tiếp cận với các phương thức quản lý chung trên toàn cầu. Đó là mở rộng diện các doanh nghiệp không cần phải có giấy chứng nhận cơ sở  đủ điều kiện an toàn thực phẩm cũng như mở rộng đối tượng các cơ sở được miễn cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

Các cơ sở không thuộc diện cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm bao gồm: sản xuất ban đầu nhỏ lẻ; sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có địa điểm cố định; sơ chế nhỏ lẻ; kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ; kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn; sản xuất, kinh doanh dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm; nhà hàng trong khách sạn; bếp ăn tập thể không có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm; kinh doanh thức ăn đường phố; cơ sở đã được cấp một trong các giấy chứng nhận: thực hành sản xuất tốt (GMP), hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP), hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000, tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (IFS), tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực phẩm (BRC), chứng nhận hệ thống an toàn thực phẩm (FSSC 22000) hoặc tương đương còn hiệu lực. Các cơ sở này phải tuân thủ các yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng.

Điểm mới thứ tư là sự thay đổi căn bản trong quy định kiểm tra Nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu. Trước đây, 100% mặt hàng thực phẩm nhập khẩu khi thông quan đều phải kiểm tra chuyên ngành thì nay sẽ mở rộng diện không cần kiểm tra...

Điểm mới thứ năm là việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Nghị định 15/2018/NĐ-CP phân công rõ trách nhiệm quản lý của 3 bộ gồm: Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo  nguyên tắc một cửa, một sản phẩm, một cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan quản lý nhà nước. Đối với cơ sở sản xuất nhiều loại sản phẩm thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 cơ quan quản lý chuyên ngành trở lên thì cơ quan quản lý sản phẩm có sản lượng lớn nhất trong các sản phẩm của cơ sở sản xuất là cơ quan quản lý. Đối với cơ sở không thực hiện công đoạn sản xuất nhưng kinh doanh nhiều loại sản phẩm thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 cơ quan quản lý chuyên ngành trở lên do ngành Công Thương quản lý, trừ trường hợp là chợ đầu mối, đấu giá nông sản. Đối với cơ sở vừa sản xuất vừa kinh doanh nhiều loại sản phẩm thuộc thẩm quyền quản lý của từ 2 cơ quan quản lý chuyên ngành trở lên thì tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan quản lý chuyên ngành về an toàn thực phẩm để thực hiện các thủ tục hành chính.

Sau khi tham dự hội thảo triển khai Nghị định 15/2018/NĐ-CP do Bộ Y tế tổ chức, ngành Y tế sẽ tham mưu cho Ban chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm tỉnh, UBND tỉnh phổ biến, triển khai nghị định; đồng thời phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương tham mưu cho UBND tỉnh cử cơ quan đầu mối chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tiếp nhận và quản lý hồ sơ, cấp giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm, giấy xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm buộc phải đăng ký bản công bố sản phẩm và tổ chức tiếp nhận bản tự công bố sản phẩm, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo phân cấp. 

Trong giai đoạn chuyển tiếp, các sản phẩm đã được cấp giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy và giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm trước ngày nghị định này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến khi hết thời hạn ghi trên giấy và hết thời hạn sử dụng của sản phẩm.

Sau khi có các thông tư hướng dẫn cụ thể, ngành Y tế sẽ tiếp tục cập nhật để tham mưu triển khai thực hiện kịp thời.

 Về đầu trang


Mít tinh hưởng ứng Ngày Thế giới không thuốc lá

27/5/2018

Ngày 27-5, tại Thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế, UBND Thành phố Đà Nẵng phối hợp với Văn phòng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, tổ chức Lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Thế giới không thuốc lá 31-5 và Tuần lễ quốc gia không thuốc lá từ ngày 25 đến 31-5.

Với chủ đề Ngày thế giới không thuốc lá năm 2018 là “Thuốc lá và bệnh tim mạch,” đại diện Bộ Y tế, Văn phòng đại diện Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam… đã đưa ra những thông số đáng giật mình, khi tỷ lệ gây bệnh và tử vong của các bệnh như tim mạch, tắc nghẽn phổi mạn tính, xơ vữa động mạch… phần lớn nguyên nhân từ tác hại của thuốc lá. Nạn dịch thuốc lá toàn cầu hiện đang giết chết hơn 7 triệu người mỗi năm.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho biết sức khỏe là điều kiện tiên quyết để mỗi người học tập, lao động và xây dựng đất nước. Tuy vậy, tình trạng hút thuốc lá của người trong độ tuổi lao động là khá lớn. Thuốc lá đã gây ra bệnh tật và khiến cho khoảng 40 nghìn người tại Việt Nam tử vong mỗi năm. Bên cạnh đó, các căn bệnh liên quan do thuốc lá gây ra cũng không phải là ít, tác hại của nó là vô cùng to lớn nhưng nhiều người vẫn còn chủ quan.

Chính vì vậy, Bộ Y tế mong muốn các cá nhân, cộng đồng cùng chung tay đẩy mạnh tuyên truyền, ngăn ngừa thuốc lá trong thanh, thiếu niên nói riêng và trong nhân dân nói chung. Góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác động của việc hút thuốc chủ động và thụ động đối với sức khỏe tim mạch. Đồng thời truyền thông điệp đến với thanh niên, sinh viên là hãy kiên quyết nói “không” với thuốc lá.

Cùng hưởng ứng với những hành động của Việt Nam về Ngày Thế giới không thuốc lá, ông Ki-dông Pắc, đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam cho rằng: Theo thống kê, hiện tỷ lệ hút thuốc lá của nam giới trưởng thành tại Việt Nam chiếm khoảng 45%. Đây là một tỷ lệ người hút thuốc cao hơn so với trung bình thế giới. Với những quyết sách của Chính phủ Việt Nam cũng như các bộ, ngành liên quan, đang phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ hút thuốc ở nam giới trưởng thành tại Việt Nam giảm xuống còn 39%.

Để đạt được chỉ tiêu nêu trên, các ngành chức năng cần quy định cụ thể về môi trường không khói thuốc; tăng thuế đối với thuốc lá cao hơn nữa để hạn chế người hút thuốc; đẩy mạnh tuyên truyền đến đông đảo quần chúng nhân dân biết tác hại to lớn của thuốc lá để không hút thuốc lá và cai bỏ thuốc lá… Bên cạnh đó, kêu gọi cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp cũng như các cơ quan, đơn vị có quy định về cấm hút thuốc cũng như có biện pháp quản lý đối với người hút thuốc, nhất là nơi công cộng. Tổ chức Y tế thế giới cam kết luôn đồng hành cùng với Việt Nam trong nỗ lực điều giảm tỷ lệ hút thuốc đến mức thấp nhất.

Theo điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá (GATS 2015), Việt Nam nằm trong số 15 nước có số người hút thuốc lá nhiều nhất thế giới. Mỗi năm người Việt Nam chi khoảng 31 nghìn tỷ đồng cho việc mua thuốc lá./.

T.H

 Về đầu trang


Hội thảo Báo chí với chính sách dân số và phát triển giai đoạn 2017 - 2030

Vừa qua, tại Hà Nam, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức hội thảo Báo chí với chính sách dân số và phát triển giai đoạn 2017 - 2030.

Các đại biểu dự hội thảo.

Đến dự có các đồng chí: Lê Cảnh Nhạc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch gia đình; nhà báo Trần Bá Dung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Nghiệp vụ, Hội Nhà báo Việt Nam.

Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ chiến lược vừa cấp thiết vừa lâu dài, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Nhiệm vụ từ nay đến năm 2030, tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ DS - KHHGD sang dân số và phát triển, chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số, bảo đảm cân bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân, giữa việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật.

Với mục đích để các phóng viên, cộng tác viên hiểu rõ hơn cơ sở và quán triệt yêu cầu chuyển hướng chính sách dân số từ trọng tâm DS - KHHGD sang trọng tâm dân số và phát triển, tại hội thảo, Ban Tổ chức đã phổ biến những nội dung chính của Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới và Nghị quyết 137/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số 21. Trong đó, đi sâu vào các nội dung truyền thông cụ thể như: duy trì mức sinh thay thế, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, cơ cấu dân số vàng, điều chỉnh phân bố dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số...

Đặng Anh

 Về đầu trang


Vụ Bản tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

Năm 2017, Trung tâm Dân số - KHHGĐ Vụ Bản (Nam Định) phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, các địa phương trong huyện đẩy mạnh truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; tiếp tục triển khai có hiệu quả các mô hình nâng cao chất lượng dân số.

Đồng chí Lương Quốc Tuấn, Chủ tịch UBND huyện Vụ Bản cho biết: Trong giai đoạn “già hóa dân số” hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng dân số đang đặt ra nhiều thách thức. Trong đó, tỷ lệ sinh con thứ 3 có chiều hướng gia tăng, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh diễn biến phức tạp; nhóm đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ cao dẫn đến những thách thức không nhỏ trong việc thực hiện mục tiêu giảm sinh ở các địa phương trong huyện. Để nâng cao chất lượng dân số, UBND huyện đã ban hành kế hoạch “Thực hiện chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản huyện Vụ Bản giai đoạn 2016-2020”. Đồng thời, chỉ đạo 18 xã, thị trấn và các cơ quan, đơn vị lồng ghép xây dựng chỉ tiêu về dân số vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả các đề án, mô hình nâng cao chất lượng dân số, huy động nhiều nhóm đối tượng tham gia. Cụ thể, triển khai tích cực Kế hoạch 118 của UBND tỉnh về Đề án “Tăng cường tư vấn và cung cấp dịch vụ dân số - KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên”; Kế hoạch 48 của UBND tỉnh về “Truyền thông chuyển đổi về hành vi dân số và phát triển”; Kế hoạch số 47 của UBND tỉnh về thực hiện Đề án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tỉnh giai đoạn 2017-2025. Nhằm đáp ứng nhu cầu dịch vụ KHHGĐ tại chỗ, thuận lợi và an toàn cho người dân, hệ thống dân số - KHHGĐ các cấp phối hợp chặt chẽ với các đơn vị y tế trên địa bàn thực hiện kỹ thuật dịch vụ cho các đối tượng có nhu cầu. Toàn huyện hiện có 38.548 trẻ dưới 16 tuổi, chiếm trên 25% dân số, trong đó có 16.800 trẻ em dưới 6 tuổi. Tháng hành động nhân Ngày Dân số Việt Nam năm 2017, hoạt động sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh được duy trì tại 18 xã, qua đó, phát hiện sớm trẻ nghi ngờ thiếu men G6PD, kịp thời tư vấn cho gia đình cách chăm sóc, điều trị tại cơ sở y tế. Mô hình tư vấn và chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi dựa vào cộng đồng tiếp tục được duy trì; lồng ghép với các hoạt động truyền thông tại các địa phương nhân Ngày quốc tế Người cao tuổi (1-10) và Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam. Hằng năm, huyện mở 2 đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép với dịch vụ chăm sóc SKSS - KHHGĐ tại các xã, thị trấn. Xã Trung Thành có trên 1.800 hộ với trên 6.100 khẩu. Xác định công tác dân số - KHHGĐ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Đảng ủy, UBND xã Trung Thành đã tập trung chỉ đạo, triển khai có hiệu quả các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số. Các tổ chức đoàn thể như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên… ở 13 xóm đều thành lập và duy trì hoạt động “CLB tiền hôn nhân”, “CLB gia đình hạnh phúc”, “CLB không có người sinh con thứ 3”... Chị Lê Thị Hà, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã cho biết: Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Dân số xã, Hội Phụ nữ xã xây dựng các chỉ tiêu và tiêu chí, tổ chức ký giao ước thi đua và ký cam kết “Không sinh con thứ 3 trở lên, không lựa chọn giới tính thai nhi” với hội viên ở 13 chi hội và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Năm 2017, toàn xã có 752 chị em ký cam kết không sinh con thứ 3 trở lên và thực hiện tốt chính sách dân số. Thời gian qua, các Chi hội Phụ nữ cùng với đội ngũ cộng tác viên dân số ở địa phương hoạt động có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng công tác dân số - SKSS/KHHGĐ; nhất là giảm thiểu tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh; hạn chế tỷ lệ sinh con thứ 3. Hiện tại, sức khỏe của người dân trong xã đã được cải thiện đáng kể; 100% bà mẹ và trẻ em được chăm sóc sức khỏe sau sinh; 100% trẻ em được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ giới tính khi sinh đạt mục tiêu đề ra là 110 cháu trai/100 cháu gái; quy mô gia đình nhỏ từ 1-2 con được đông đảo các cặp vợ chồng trẻ thực hiện. Tại Thị trấn Gôi, thời gian qua, Ban Dân số - KHHGĐ thị trấn xây dựng kế hoạch hành động với mục tiêu: Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng SKSS, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân. Các hoạt động hưởng ứng được tổ chức thiết thực, tập trung vào tổ chức chiến dịch truyền thông về công tác dân số - KHHGĐ, thực trạng già hoá dân số, kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh; 100% tổ dân phố đã đưa nội dung dân số - KHHGĐ vào quy ước, hương ước tổ dân phố; tuyên truyền nhóm nhỏ, tư vấn trực tiếp tại hộ gia đình trong độ tuổi sinh đẻ và vị thành niên, thanh niên. Các nội dung tuyên truyền, tư vấn đa dạng, phong phú tập trung vào các biện pháp tránh thai, kiến thức về làm mẹ an toàn, các bệnh lây qua đường tình dục, phương pháp tránh thai ngoài ý muốn. Thị trấn đã thành lập 4 CLB “Các bà mẹ có con tuổi vị thành niên” với tổng số trên 530 thành viên; 5 CLB “Xây dựng gia đình hạnh phúc” thu hút hơn 300 thành viên. Quy mô gia đình nhỏ (từ 1-2 con) được đông đảo các cặp vợ chồng trẻ chấp nhận; 100% các bà mẹ mang thai được cán bộ, nhân viên y tế thị trấn chăm sóc, theo dõi theo quy định. Toàn thị trấn có 100% trẻ em được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm còn 11%; tỷ lệ giới tính khi sinh đạt mục tiêu đề ra là 112 cháu trai/100 cháu gái. Trẻ em dưới 60 tháng tuổi đều có biểu đồ và sổ theo dõi sức khỏe tại trạm y tế thị trấn.

Năm 2018, để nâng cao chất lượng dân số huyện Vụ Bản đề ra 9 mục tiêu cụ thể và 6 nhóm giải pháp cơ bản là: Duy trì tốc độ giảm sinh trung bình mỗi năm đạt 0,1%; giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 xuống còn 10%; tổng tỷ suất sinh đạt 2,1 con; phấn đấu đến năm 2020 quy mô dân số không quá 140 nghìn người; tăng tỷ lệ sàng lọc trước sinh lên 50%, tỷ lệ sản phụ được cán bộ y tế chăm sóc đạt 100%. Trên 80% phụ nữ có kiến thức về sàng lọc trước sinh, sơ sinh; 80% số người cao tuổi có kiến thức về chăm sóc sức khỏe một số bệnh thường gặp ở người cao tuổi; 90% nam, nữ độ tuổi sinh đẻ có kiến thức về nguyên nhân, hậu quả mất cân bằng giới tính khi sinh. Cải thiện SKSS của vị thành niên và thanh niên. Đẩy mạnh tuyên truyền, tư vấn để mọi người gắn quyền sinh sản với nghĩa vụ công dân trong việc thực hiện KHHGĐ, xây dựng gia đình ít con, ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc./.

Việt Thắng

 Về đầu trang


Từ ngày 15/7, giá dịch vụ y tế giảm mạnh

1/7/2018

Theo thông tư số 15/2018/TT-BYT, từ ngày 15/7, giá khám bệnh và giá chữa bệnh của nhiều dịch vụ y tế do bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả sẽ giảm mạnh.

Bộ Y tế vừa ban hành thông tư số 15/2018/TT-BYT quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp.

Theo thông tư này, giá dịch vụ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc sẽ được thống nhất, áp dụng với các cơ sở y tế, đơn vị, tổ chức và cá nhân có tham gia vào quá trình khám, chữa bệnh và thanh, quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế.

Các dịch vụ khám, chữa bệnh không thanh toán từ quỹ bảo hiểm y tế thì khung giá và thẩm quyền quy định mức giá thực hiện theo Luật giá, Luật khám bệnh, chữa bệnh, và các bộ luật khác có liên quan.

Trong thông tư này, có tổng cộng 88 dịch vụ y tế được điều chỉnh giảm giá, áp dụng tại tất cả các cơ sở y tế công lập. Ví dụ như, giá khám bệnh ở bệnh viện (BV) hạng đặc biệt và BV hạng 1 từ 39 nghìn đồng nay chỉ còn 33 nghìn đồng/lượt, BV hạng 2 từ 35 nghìn đồng nay chỉ còn 29,6 nghìn đồng/lượt, BV hạng 3 từ 31 nghìn đồng xuống 26 nghìn đồng/lượt, BV hạng 4 và trạm y tế xã từ 29 nghìn đồng còn 23,3 nghìn đồng/lượt.

Bên cạnh đó, giá giường bệnh hồi sức tích cực, ghép tạng, ghép tế bào gốc... tại BV hạng đặc biệt điều chỉnh tăng 677,1 nghìn đồng lên 687 nghìn đồng/ngày; tại BV hạng 1 điều chỉnh lên thành 615,6 nghìn đồng/ngày; với giường bệnh hồi sức cấp cứu tại BV hạng đặc biệt là 401,3 nghìn đồng/ngày và BV hạng 4 thì giảm từ 226 nghìn đồng xuống 221 nghìn đồng/ngày.

Đồng thời, các dịch vụ cận lâm sàng như phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện, phẫu thuật nội soi khâu thủng dạ dày, dịch vụ nội soi tai mũi họng,... cũng được điều chỉnh giảm giá.

Cụ thể, các dịch vụ nội soi tai mũi họng giảm hơn 100 nghìn đồng, siêu âm giảm 8 nghìn đồng, chụp X-quang số hóa 1 phim giảm 5 nghìn đồng; chụp CT scanner đến 32 dãy không có thuốc cản quang từ 536 nghìn đồng xuống còn 512 nghìn đồng, chụp cộng hưởng từ (MRI) có thuốc cản quang từ 2,336 triệu đồng xuống 2,2 triệu đồng…

Thông tư điều chỉnh này áp dụng với những người điều trị nội trú hoặc ngoại trú từ thời điểm thông tư có hiệu lực.

Chi Lê

 Về đầu trang


Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

1/7/2018

Thực hiện Nghị quyết số 21, Hội nghị lần thứ 6, BCH Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa XII) về công tác dân số trong tình hình mới, tỉnh Nam Định đã đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về công tác Dân số - KHHGĐ năm 2018 và những năm tiếp theo là: Nâng cao chất lượng dân số; cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản; duy trì mức sinh hợp lý; giải quyết tốt các vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Theo số liệu của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Nam Định, năm 2017, công tác dân số tỉnh Nam Định cơ bản đạt chỉ tiêu đề ra: Tỷ suất sinh giảm 0,1o/o­ so với năm 2016; tỷ số giới tính khi sinh là 114,5 bé trai/100 bé gái, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm 2016. Tuy nhiên mức sinh có xu hướng tăng trong những năm gần đây và cao hơn mức sinh thay thế (mức sinh thay thế là 2,1 con). Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng tăng. Bên cạnh đó, công tác nâng cao chất lượng dân số còn nhiều thách thức. Về quy mô dân số, toàn tỉnh hiện có 2.008.241 người, là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 7 so với toàn quốc, mật độ dân cư đông (1.204 người/km2); mức sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn cao, mất cân bằng giới tính khi sinh đang ở mức nghiêm trọng. Tư tưởng trọng nam còn khá nặng nề ở một bộ phận nhân dân; mặt khác số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cao. Chất l­ượng dân số chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc lồng ghép công tác dân số - KHHGĐ với các nhiệm vụ khác mới chỉ dừng lại ở hình thức; việc xử lý vi phạm chính sách dân số - KHHGĐ ở một số địa phương, đơn vị chưa nghiêm túc, chưa kịp thời. Tổng tỷ suất sinh tỉnh là 2,5 con (trung bình mỗi người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,5 con), là tỉnh có mức sinh cao, trong khi vẫn còn nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức sinh con thứ 3 trở lên. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho các chương trình còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra; kinh phí địa phương chưa được hỗ trợ nhiều cho công tác dân số - KHHGĐ; kinh phí hằng năm từ nguồn Chương trình mục tiêu quốc gia dân số bị cắt giảm mạnh, vì vậy chưa đáp ứng nhu cầu triển khai thực hiện cho công tác dân số - KHHGĐ. Hệ thống tổ chức làm công tác dân số - KHHGĐ trên địa bàn các huyện, thành phố trong thời gian qua chưa ổn định, tạo nên khó khăn, vướng mắc khi chỉ đạo, triển khai thực hiện. Hiện nay, 229 cán bộ chuyên trách xã đều chưa được tuyển dụng thành viên chức. Số cộng tác viên dân số là 3.707 người (đã thay đổi 308 người), trong đó chi hội trưởng phụ nữ kiêm nhiệm có 2.194 người (59,2%); y tế thôn kiêm nhiệm có 738 người (19,9%); cán bộ ngành khác kiêm nhiệm có 293 người (7,9%); còn lại là không kiêm nhiệm có 482 người (13%). Mặt khác, dân số bước sang giai đoạn “già hóa” có sự chuyển đổi nhanh chóng. Điều này đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và công tác dân số - KHHGĐ. Toàn tỉnh hiện có 243.700 người cao tuổi (NCT), chiếm khoảng 12,1% dân số; có 80% NCT sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. Hiện tại tuổi thọ trung bình của người dân trong tỉnh tuy tăng (73,5 tuổi) nhưng chất lượng dân số chưa cao (tuổi thọ bình quân khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi). Việc chăm sóc người già và vấn đề trợ cấp xã hội, an sinh xã hội... là thách thức lớn đặt ra từ thực tiễn. Theo khảo sát của Chi cục Dân số - KHHGĐ, tại các địa phương trong tỉnh, công tác khám, chữa bệnh cho NCT với chi phí khám, chữa bệnh đang là gánh nặng cho NCT và gia đình. Bên cạnh đó, việc già hóa dân số nhanh sẽ tác động tới nhiều lĩnh vực như hệ thống an sinh xã hội, việc làm, tuổi về hưu, quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống và hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Trong khi đó, khoảng 70% số NCT ở tỉnh Nam Định sống ở nông thôn là nông dân và làm nông nghiệp; hơn 70% số NCT không có tích lũy vật chất và chỉ có dưới 30% số NCT sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội, khiến cơ hội điều trị bệnh tật càng khó khăn. Điều kiện tiếp cận nhanh chóng của NCT với các cơ sở khám, chữa bệnh còn nhiều hạn chế; theo thống kê, ở tỉnh Nam Định còn 49,7% NCT vẫn phải lao động để kiếm sống, trong đó, 27% NCT đang tham gia trực tiếp sản xuất, kinh doanh; 38% NCT tham gia các công việc gia đình phụ giúp con cháu làm kinh tế; 6,7% NCT làm người giúp việc và chăm sóc người ốm; 28,3% NCT làm nội trợ và các công việc gia đình khác. Điều này tạo ra những thách thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương.

Thực hiện Nghị quyết số 21, Hội nghị lần thứ sáu, BCH Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược Dân số trong tình hình mới, Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 21-CTr/TU ngày 14-12-2017; UBND tỉnh xây dựng Kế hoạch 48 về truyền thông chuyển đổi hành vi về dân số và phát triển tỉnh Nam Định giai đoạn 2017-2020; Kế hoạch 47 về thực hiện Đề án chăm sóc sức khỏe NCT tỉnh Nam Định giai đoạn 2017-2025. Trong đó xác định rõ công tác dân số ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn tới phải chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang giải quyết toàn diện các vấn đề dân số theo định hướng giải quyết tốt quan hệ dân số và phát triển. Thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, liên quan đến các khía cạnh như: chuyển đổi chính sách dân số từ việc điều chỉnh số lượng dân số sang chú trọng nâng cao chất lượng dân số; từ việc tập trung chủ yếu vào KHHGĐ hướng đến mục tiêu giảm sinh sang giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số... Các mục tiêu cụ thể về công tác dân số - KHHGĐ ở tỉnh Nam Định đến năm 2020 là: Duy trì tốc độ giảm sinh trung bình mỗi năm là 0,1%; giảm tỷ suất tử vong ở trẻ em dưới 1 tuổi còn 6,5%, dưới 5 tuổi còn 10%; tăng tỷ lệ sản phụ được cán bộ y tế chăm sóc lên 100%, giảm tỷ suất tử vong mẹ xuống dưới 40 ca/100 ca đẻ sống; tỷ lệ người dân sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 78%; cải thiện sức khỏe sinh sản vị thành niên; tăng cường chăm sóc sức khỏe NCT; tăng cường lồng ghép các yếu tố về dân số vào việc triển khai chính sách xây dựng, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các cấp. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc thực hiện công tác dân số - KHHGĐ. Hoàn thiện, kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác dân số - KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cộng tác viên dân số bằng việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm đủ số lượng, mạnh về chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới. Triển khai hiệu quả các hoạt động truyền thông giáo dục với những nội dung, hình thức và cách tiếp cận phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng; đặc biệt chú trọng tới khu vực khó khăn, khu vực chưa đạt các chỉ tiêu về dân số, đối tượng khó tiếp cận nhằm nâng cao nhận thức, thái độ thực hành dân số, sức khỏe sinh sản. Đa dạng hóa các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, điều kiện trang thiết bị và phương tiện phục vụ công tác dân số - KHHGĐ. Tiếp tục mở rộng việc triển khai các đề án, mô hình nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng dân số như: Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, Đề án sàng lọc trước sinh, sơ sinh, Đề án “kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển tỉnh Nam Định”, Mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, Mô hình chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng, Mô hình hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái… Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm tại các cơ sở siêu âm, cơ sở sử dụng kỹ thuật cao hướng dẫn sinh con theo ý muốn, cơ sở nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính thai nhi. Tiếp tục phát huy sự phối hợp hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội trong công tác truyền thông chuyển đổi hành vi về dân số, sức khỏe sinh sản/KHHGĐ để nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chương trình./.

Việt Thắng

 Về đầu trang


Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (3/7)

Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự tham mưu tích cực của ngành Y tế và Chi cục dân số, sự hưởng ứng tích cực của nhân dân, đến nay, tỉnh ta đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu chiến lược về Dân số. Tuy nhiên tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (tỷ lệ giới tính nam/nữ) có chiều hướng gia tăng.

Nguyên nhân chủ yếu là do tư tưởng trọng nam, khinh nữ, thích có con trai để nối dõi tông đường; do các chính sách về an sinh xã hội chưa bảo đảm; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên lĩnh vực y học; việc khen thưởng, kỷ luật trên lĩnh vực dân số chưa thỏa đáng... Nếu không có những biện pháp kịp thời, hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng thừa nam thiếu nữ trong tương lai, tạo ra những vấn đề xã hội bức xúc, thách thức lâu dài đối với ngành dân số, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, gia đình và sự phát triển bền vững của đất nước.

Ðể chung tay góp sức cùng với ngành dân số giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, trong những năm qua, Ủy ban Mặt trận tổ quốc (MTTQ) các cấp đã phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ, tuyên truyền vận động toàn dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chủ trương, chính sách về dân số - KHHGĐ; đã phối hợp chặt chẽ với hệ thống cán bộ làm công tác dân số từ tỉnh đến cơ sở và các tổ chức thành viên, tuyên truyền sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân thông qua nhiều hình thức, nhiều kênh tuyên truyền khác nhau như: Lồng ghép trong các hội nghị tập huấn cho cán bộ Mặt trận, thông qua các hội thi, các buổi hội thảo, nói chuyện chuyên đề, truyền thông nhóm nhỏ, họp thôn, tổ dân phố, tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua đài phát thanh, truyền thanh, tài liệu, sách báo, tờ rơi, tờ gấp, panô, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu; kết hợp việc thuyết giảng giáo lý kinh sách của các vị chức sắc tôn giáo; tổ chức các đợt tuyên truyền mạnh nhân dịp kỷ niệm Ngày Dân số thế giới, Ngày Dân số Việt Nam, Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3... góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận và toàn xã hội về thực hiện công tác dân số - KHHGĐ.

Hàng năm, MTTQ các cấp đã triển khai lồng ghép các nội dung của công tác dân số - KHHGĐ gắn với thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và hai phong trào thi đua xây dựng "Chùa cảnh 4 gương mẫu", "Xứ họ đạo 4 gương mẫu" trong đồng bào tôn giáo; chỉ đạo đến từng khu dân cư, từng ban công tác Mặt trận, phối hợp với các tổ chức thành viên, ban chỉ đạo công tác dân số - KHHGĐ tham mưu với cấp ủy đảng, chính quyền ban hành nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động và xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện sát với tình hình thực tế của địa phương; phối hợp với các ngành Y tế, Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Tư pháp hướng dẫn việc đưa chính sách dân số - KHHGĐ vào hương ước, quy ước của thôn làng, tổ dân phố. Trong đó, lấy tiêu chí "Không có người sinh con thứ 3 trở lên" là một trong những tiêu chí bắt buộc để bình xét, công nhận danh hiệu "Gia đình văn hóa", "Khu dân cư văn hóa".

Những năm qua, Ủy ban MTTQ tỉnh phối hợp cùng Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh xây dựng điểm mô hình "Gia đình tín hữu Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải) và Ðông Cường (Ðông Hưng). Ủy ban MTTQ 2 xã đã tham mưu để Đảng ủy đưa nội dung này vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã, kêu gọi cán bộ, đảng viên, các vị chức sắc, gia đình tín hữu Công giáo tích cực hưởng ứng. Hai xã đã thành lập ban điều hành và 4 nhóm (mỗi nhóm 100 thành viên là người Công giáo tuổi từ 18 đến 60) tham gia. Ban chủ nhiệm các nhóm đều có chức sắc tôn giáo. Sau 1 năm, mỗi xã nhân rộng thêm 4 nhóm, thành phần mở rộng thêm cả đồng bào lương giáo, nhằm thu hút và tránh sự phân biệt giữa các tôn giáo. Các nhóm đã ký cam kết thực hiện mô hình và tham gia sinh hoạt định kỳ. Nhiều người không phải thành viên của nhóm cũng đến tham dự, có buổi thu hút hàng trăm người tham gia, góp phần nâng cao nhận thức thay đổi nếp nghĩ, hủ tục lạc hậu để các cặp vợ chồng thực hiện sinh đẻ có trách nhiệm.

Các mô hình khu dân cư, dòng họ, họ giáo không có người sinh con thứ 3 trở lên đã được đưa thêm các tiêu chí không để xảy ra mất cân bằng giới tính khi sinh. Vận động các cặp vợ chồng không lựa chọn giới tính thai nhi; người cao tuổi, ông bà không kỳ thị cháu gái; không ép con dâu, con gái phải sinh thêm con trai; nêu gương người tốt việc tốt ở địa phương, dòng họ, xứ họ; lồng gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, gia phong gia đạo ở mỗi nếp nhà, tạo ra những chuyển biến tích cực về công tác dân số.

Để nâng cao vai trò của MTTQ tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và hạn chế người sinh con thứ 3 trở lên, MTTQ đã tổ chức 8 cuộc tọa đàm cấp xã và 1 cuộc tọa đàm cấp tỉnh, thu hút hàng nghìn cán bộ Mặt trận tham gia, tạo ra diễn đàn trao đổi thẳng thắn, cởi mở, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để tuyên truyền, vận động nhân dân tổ chức thực hiện. Công tác dân số - KHHGĐ được lồng gắn chặt chẽ với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Hàng năm, trong ngày hội đại đoàn kết toàn dân, các khu dân cư biểu dương các  gia đình văn hóa tiêu biểu có 2 con gái nhưng không sinh con thứ 3.

Đồng thời, MTTQ kiến nghị các cấp chính quyền có các hình thức biểu dương, khen thưởng kịp thời động viên nhân dân trong công tác dân số, kiến nghị với cấp ủy đảng xử lý đảng viên vi phạm, các đoàn thể nhắc nhở đoàn viên, hội viên trong các cuộc họp chi hội, chi đoàn, làm cho công tác dân số được tiến hành bằng nhiều kênh, nhiều giải pháp, mọi lúc, mọi nơi, bước đầu tạo ra những chuyển biến tích cực.

Để tiếp tục khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trong thời gian tới, MTTQ tỉnh Thái Bình tập trung chỉ đạo thực hiện một số giải pháp sau:

- Đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, chú trọng vận động trực tiếp cho các nhóm đối tượng, nhất là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nhóm đối tượng có nguy cơ lựa chọn giới tính khi sinh và sinh con thứ 3 trở lên.

- Phát huy vai trò của các vị chức sắc tôn giáo, trưởng các dòng họ, những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư để tuyên truyền sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân về nội dung của Pháp lệnh Dân số và các văn bản, nghị quyết, chỉ thị của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác dân số - KHHGĐ; nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền, những người có uy tín trong cộng đồng tham gia công tác dân số - KHHGĐ.

- Thường xuyên tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng vận động cho đội ngũ cán bộ Mặt trận về công tác dân số - KHHGĐ, lồng gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và các chương trình công tác Mặt trận.

Để khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh là một cuộc cách mạng lâu dài, bền bỉ và còn gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn, rất cần sự chung tay, góp sức của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Hải Yến

 Về đầu trang


Khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính trong vùng giáo 05/07

Thái Bình là một trong những địa phương triển khai phong trào vận động người công giáo ở vùng biển và ven biển tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh mang lại hiệu quả thiết thực. Đây là một trong những điểm nhấn của Đề án kiểm soát dân số vùng biển, đảo (Đề án 52) ngay từ khi triển khai thực hiện tại Thái Bình.

Năm 2008-2009, tại Thái Bình, tỷ lệ giới tính khi sinh là 115 nam/100 nữ. Để khắc phục tình trạng mất cân bằng này, Thái Bình đã có hướng dẫn liên ngành về việc đưa chính sách dân số, gia đình, trẻ em vào hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố. Đặc biệt, đối với đồng bào công giáo, tỉnh đã triển khai thí điểm mô hình "Đồng bào công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" tại huyện Tiền Hải.

Bà Nguyễn Thị Huê, Chi cục trưởng Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) tỉnh Thái Bình cho biết: Tiền Hải là một huyện ven biển mật độ dân số khá đông, có nhiều đồng bào công giáo sinh sống, tỷ lệ sinh con thứ 3 cao nhất tỉnh. Ban đầu, công tác tuyên truyền, vận động về các chính sách DS-KHHGĐ ở đây gặp nhiều khó khăn bởi người dân theo đạo Thiên chúa, việc nạo phá thai, đặt dụng cụ tử cung, kế hoạch hóa gia đình... là điều cấm kỵ. Bà con công giáo coi chuyện sinh đẻ là tự nhiên, là do chúa trời ban cho.

Để giải quyết vướng mắc trên, tại xã Nam Hải, địa phương được chọn làm điểm tại Tiền Hải, Đảng ủy xã Nam Hải đã đưa việc tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh vào nội dung lãnh đạo của Đảng bộ. Trên cơ sở đó, Đảng ủy, chính quyền xã kêu gọi cán bộ, đảng viên, các vị chức sắc, gia đình tín hữu công giáo cùng người dân tích cực hưởng ứng. Xã đã thành lập Ban điều hành và 2 nhóm sinh hoạt về khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (mỗi nhóm 100 thành viên là người công giáo tuổi từ 18 đến 60). Ít nhất phải có một vị chức sắc tôn giáo tham gia nhóm. Sau đó, xã tiến hành thành lập thêm 4 nhóm, thành phần là người lương nhằm thu hút thêm nhiều người tham gia, tránh sự phân biệt giữa các tín ngưỡng. Các thành viên nhóm đã ký cam kết thực hiện mô hình và tham gia sinh hoạt định kỳ. Ủy ban MTTQ tỉnh thường xuyên hỗ trợ xã tổ chức sinh hoạt nhóm, cử người xuống đôn đốc, kiểm tra và trực tiếp mời các vị linh mục, báo cáo viên cấp tỉnh về giảng tại nhà thờ và hội trường UBND xã.

Nội dung các buổi truyền thông trực tiếp, sinh hoạt nhóm xoay quanh những chủ đề như: Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, kèm theo là những lời tham vấn, lời khuyên của linh mục, của những người làm công tác dân số, mặt trận với giáo dân và lương dân. Qua các lớp truyền thông và các buổi sinh hoạt, các học viên, thành viên nhóm dần thay đổi tư tưởng trọng nam khinh nữ và cùng tuyên truyền để người khác tham gia tích cực ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh nâng cao chất lượng dân số. Các học viên được phổ biến về Luật Bình đẳng giới, quy định của Giáo luật công giáo về gia đình, hôn nhân công giáo, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, phương pháp xây dựng gia đình hạnh phúc, trách nhiệm của mỗi người trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Các học viên đã trao đổi thẳng thắn, thân mật về nội dung bài giảng với giảng viên và linh mục, nên các buổi truyền thông đều sinh động hấp dẫn và sát với thực tế. Nhiều người không phải thành viên của nhóm cũng đến tham dự, có buổi thu hút hàng trăm người tham gia.

Bên cạnh triển khai mô hình "Đồng bào công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh", xã Nam Hải còn gắn chính sách DS-KHHGĐ vào nội dung xây dựng "Xứ, họ đạo 4 gương mẫu" và hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố. Đến nay, hầu hết các thôn, làng ở Tiền Hải đã xây dựng được hương ước, quy ước, trong đó có những quy định cụ thể về chính sách DS-KHHGĐ, được nhân dân đồng tình và tích cực hưởng ứng.

Qua thực hiện mô hình và cuộc vận động về chính sách dân số nói trên, các gia đình công giáo ở vùng biển Tiền Hải đã nhận thức được chính sách DS-KHHGĐ và đạt được những kết quả tích cực trong quá trình khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Đến cuối năm 2011, tỷ lệ giới tính khi sinh ở xã Nam Hải còn 106 nam/100 nữ (trước là 108 nam/100 nữ). Hiện, 100% xứ, họ đạo đăng ký phấn đấu xây dựng "Xứ, họ đạo 4 gương mẫu". Những kết quả trên khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của mô hình "Đồng bào công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh", góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các gia đình và ổn định dân số để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Thái Bình.

Mai Anh

 Về đầu trang


Phú Thọ:Chủ động phòng chống dịch bệnh mùa hè

Ngày 8/7/2018

Những năm gần đây diễn biến dịch bệnh có nhiều thay đổi và thất thường, không ít loại bệnh trước đây chỉ xuất hiện vào mùa đông - xuân như quai bị, thủy đậu, cúm, tay - chân - miệng thì nay xuất hiện cả vào mùa hè. Thời tiết nắng nóng như hiện nay dễ phát sinh các loại bệnh như tiêu chảy, thủy đậu, sốt xuất huyết, sởi...

Năm 2017, toàn tỉnh ghi nhận 250 trường hợp chân- tay- miệng, 32 trường hợp sốt phát ban nghi sởi/rubella. Một số bệnh mới nổi và có tính nguy hiểm như: Cúm A/H5N1, H7N9, Mers-CoV, tả… thường xuyên được giám sát chặt chẽ theo quy định và hướng dẫn của Bộ Y tế. Tới thời điểm hiện tại, chưa phát hiện ca nghi ngờ trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, năm vừa qua là năm bùng phát dịch sốt xuất huyết. Toàn tỉnh ghi nhận 1.607 trường hợp mắc sốt xuất huyết lâm sàng (tại 255 xã, phường, thị trấn/13 huyện, thị, thành), tăng rất mạnh so với năm 2016 (24 trường hợp). Tại tỉnh có 111 trường hợp mắc bệnh và khởi phát tại địa phương; ghi nhận 35 ổ dịch sốt xuất huyết tại 21 xã, phường, thị trấn thuộc 6 huyện, thành phố. Có 1.422 trường hợp mắc sốt xuất huyết khởi phát từ nơi khác chuyển về tỉnh điều trị và 74 trường hợp điều trị tại các cơ sở y tế ngoại tỉnh phản hồi về trên hệ thống phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm; trong đó có 831 ca được xét nghiệm chẩn đoán xác định sốt xuất huyết.

Trẻ em là đối tượng dễ mắc các bệnh truyền nhiễm vào mùa hè

Qua điều tra cho thấy nguyên nhân khiến nhiều người mắc bệnh sốt xuất huyết xuất phát từ khí hậu diễn biến thất thường tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi - tác nhân chính gây bệnh sinh sôi, phát triển. Cùng với đó việc vệ sinh môi trường của người dân còn kém; khi bệnh xảy ra người dân chủ quan không đi viện mà tự điều trị ở nhà khiến cho bệnh tình kéo dài, lây lan. Nhiều lao động đi làm ăn xa ở các thành phố lớn khi mắc bệnh quay về địa phương điều trị.  Bác sĩ Lê Thị Bích Nguyệt- Trạm trưởng trạm y tế phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì chia sẻ: “Địa bàn phường là trung tâm của thành phố tập trung đông dân cư, với 4 trường mầm non, 2 trường tiểu học, trường THCS 1 trường trung học phổ thông và đặc biệt là có trường Cao đẳng y, dược với số lượng lớn sinh viên từ các tỉnh thành trên cả nước tạo điều kiện cho dịch bệnh lây lan, phát tán. Năm qua trên địa bàn phường ghi nhận 18 ca sốt xuất huyết, trong đó có tới 15 ca ngoại lai, chủ yếu là lao động đi làm ăn xa, di chuyển từ vùng có ổ dịch về hoặc khi nhiễm bệnh về địa phương điều trị”.

Theo dự báo của ngành Y tế, mùa hè năm nay thời tiết tiếp tục diễn biến thất thường gây khó khăn cho công tác dự đoán, phòng chống dịch bệnh. Bác sĩ Hà Hải Việt - Phó Trưởng khoa Kiểm soát dịch bệnh truyền nhiễm - Trung tâm Y tế Dự phòng, Sở Y tế khẳng định: “Mọi người đều có thể mắc các bệnh truyền nhiễm, nhưng đối tượng dễ mắc nhất là trẻ em. Đơn cử như bệnh tiêu chảy thường gặp ở trẻ từ 6-12 tháng tuổi; tay-chân-miệng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi (chiếm 91%); quai bị thường gặp ở lứa tuổi thanh-thiếu niên; thủy đậu thường gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi (chiếm 90%); viêm não Nhật Bản thường gặp ở trẻ từ 3-5 tuổi. Nguyên nhân là do cơ thể trẻ đang lớn, hệ thống miễn dịch đang từng bước hình thành, chưa có ý thức để tự giác phòng bệnh, khi mắc bệnh dễ lây cho người khác nhất là trong cùng độ tuổi. Trẻ trong các trường học mắc bệnh rất dễ lây lan cho các bạn cùng lớp, vì vậy người lớn cần chủ động phòng bệnh cho trẻ”.
Để chủ động phòng, chống các bệnh truyền nhiễm bùng phát trong mùa hè, Sở Y tế đã xây dựng kế hoạch phòng, chống bệnh dịch và chỉ đạo hệ thống y tế dự phòng các cấp chủ động giám sát để có biện pháp dự phòng tích cực, phối hợp công tác điều trị, khống chế không để lây lan thành dịch. Đồng thời tăng cường truyền thông bằng nhiều hình thức để người dân hình thành ý thức vệ sinh phòng, chống dịch bệnh. Cán bộ y tế làm công tác dự phòng tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến cho người dân cách phát hiện các loại dịch bệnh và biện pháp dự phòng tại cộng đồng, vận động nhân dân ở các địa phương thực hiện vệ sinh môi trường xung quanh nhà ở, khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm quanh nhà, tạo không gian sinh hoạt thoáng đãng.

Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe được chú trọng bằng việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng về phòng, chống dịch bệnh mùa hè và tổ chức nhiều đợt truyền thông lưu động tại các xã, phường trọng điểm. Công tác tập huấn cho đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên truyền thông, y tế thôn bản được quan tâm; kết hợp truyền thông vận động nhân dân đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch, đủ mũi tiêm, thực hiện tốt vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng và thực hiện ăn chín, uống sôi, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó, đảm bảo tốt công tác tiêm chủng mở rộng và tổ chức chiến dịch phun hóa chất tại các vùng trọng điểm, đồng thời, tăng cường các hoạt động giám sát vệ sinh môi trường.

Cán bộ y tế huyện Thanh Sơn hướng dẫn bà con vệ sinh môi trường, không để nước đọng dễ tạo điều kiện muỗi phát triển, tăng nguy cơ dịch sốt xuất huyết

Bác sĩ Chu Thị Lâm - Trưởng khoa Truyền nhiễm, kiểm soát dịch bệnh -  HIV/AIDS, Trung tâm Y tế huyện Thanh Thủy cho biết: “Nhận thức rõ việc phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngay từ đầu năm chúng tôi đã lập kế hoạch phòng chống dịch bệnh mùa hè và triển khai nhiều hoạt động cụ thể trên địa bàn toàn huyện. Công tác tiêm chủng được đặc biệt chú trọng; không chỉ đảm bảo các mũi tiêm cho trẻ trong chương trình mà chúng tôi tuyên truyền, vận động toàn thể nhân dân tiêm phòng, nhắc lại các mũi nhằm tăng kháng thể chống lại bệnh tật của cơ thể; phối hợp với các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn tiêm phòng cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ”.
Chị Nguyễn Thị Mai Dung, phụ huynh của bé Đào Mai Chi 21 tháng tuổi, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì chia sẻ: Tiêm phòng vắc xin là một trong những biện pháp hữu hiệu phòng chống bệnh truyền nhiễm, nên tôi luôn cho con đi tiêm đầy đủ những mũi tiêm trong chương trình tiêm chủng mở rộng, ngoài ra tiêm một số mũi dịch vụ nhằm tăng khả năng miễn dịch, phòng bệnh cho bé.
Tuy nhiên, hiện nay công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn còn gặp không ít khó khăn do đội ngũ cán bộ còn thiếu trong khi tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp, người dân lại chủ quan, nhận thức về phòng dịch bệnh còn hạn chế. Thói quen vệ sinh cá nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt đặc biệt là tại các thôn bản vùng sâu, vùng xa còn tập quán chăn thả gia súc, gia cầm cạnh nhà, sử dụng nước sông, suối trong sinh hoạt dễ phát sinh các loại bệnh truyền nhiễm. Bác sĩ Đinh Văn Thạch - Trạm trưởng Trạm y tế xã Khả Cửu, huyện Thanh Sơn cho hay: “Do đặc thù địa bàn xã miền núi, phần lớn bà con đồng bào dân tộc Mường, Dao, tập quán sinh hoạt nhiều khi chưa đảm bảo vệ sinh nên nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, tiêu hóa là rất lớn”.
Thiết nghĩ, để phòng chống dịch bệnh có hiệu quả ngoài sự vào cuộc của ngành Y tế, mỗi người dân cần tích cực tham gia bằng những hành động, việc làm thiết thực, nhất là thực hiện tiêm chủng cho con em, bản thân đối với những bệnh có thể phòng được bằng vắc xin tiêm chủng và thực hiện tốt những khuyến cáo của ngành Y tế; trong đó chú ý vệ sinh cá nhân và rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, nhất là trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; tổ chức khơi thông cống, rãnh, phát quang bụi rậm, diệt bọ gậy, ngủ màn và vệ sinh môi trường chung quanh nơi sinh sống. Ngoài ra, cha mẹ cũng cần nâng cao sức đề kháng cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn uống đủ chất dinh dưỡng, thường xuyên cho trẻ vận động, luyện tập thể thao. Khi bản thân và người thân trong gia đình nghi bị bệnh, cần đến ngay các cơ sở y tế nơi gần nhất để được tư vấn và điều trị kịp thời... Có như vậy mới có thể chủ động phòng, chống dịch bệnh, giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm thường xảy ra vào mùa hè.

Thu Hằng

 Về đầu trang


Hiệu quả từ mô hình lồng ghép quản lý, cung cấp dịch vụ điều trị HIV và lao tại cơ sở 2/07/2018

Bệnh lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội và là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở người nhiễm HIV trên toàn cầu. Nguy cơ mắc lao ở đối tượng nhiễm HIV cũng cao gấp 19 lần so với người không nhiễm HIV. Người nhiễm lao/HIV cũng là đối tượng nguy cơ cao trong kháng đa thuốc và siêu kháng thuốc. Nhằm tăng cường công tác quản lý và cung cấp dịch vụ toàn diện, thuận lợi cho bệnh nhân đồng mắc lao và HIV ở những địa bàn có tình hình dịch HIV và lao cao, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3957/QĐ-BYT ngày 23-9-2015 về mô hình lồng ghép quản lý và cung cấp dịch vụ HIV và lao tại tuyến huyện và tuyến xã. 

Triển khai thực hiện mô hình tỉnh Nam Định có thuận lợi là luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Quỹ Toàn cầu, CDC, LifeGap, URC… trong các hoạt động. Mặt khác tổ chức mạng lưới chống lao được duy trì, hoạt động hiệu quả: Hiện nay chương trình chống lao đã được triển khai trên toàn tỉnh với tổng số 305 giường bệnh, trong đó tuyến tỉnh 160 giường (25 giường bệnh phổi ngoài lao), tuyến huyện 145 giường (mỗi huyện có 15-20 giường); mỗi huyện có 1 tổ chống lao nằm trong khoa Truyền nhiễm của Trung tâm Y tế huyện. Tổng số cán bộ tham gia công tác phòng chống lao toàn tỉnh có 419 người, trong đó tuyến tỉnh có 115 người, tuyến huyện có 75 người, tuyến xã, phường, thị trấn có 229 cán bộ chuyên trách. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế về phối hợp phòng chống lao/HIV, tỉnh Nam Định đã thành lập Ban điều phối lao/HIV tuyến tỉnh và tuyến huyện, hằng năm đều xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch phối hợp phòng chống lao/HIV. Tại Bệnh viện Phổi tỉnh và khoa Truyền nhiễm của Trung tâm Y tế các huyện đều thành lập phòng Tư vấn xét nghiệm tự nguyện. Các đơn vị duy trì định kỳ 6 tháng 1 lần tổ chức giao ban giữa hai bên lao và HIV các tuyến để đánh giá kết quả hoạt động và đưa ra giải pháp cho thời gian tới. Bệnh viện Phổi tỉnh phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, Trung tâm Y tế các huyện, các phòng khám ngoại trú tuyên truyền, làm xét nghiệm HIV cho bệnh nhân lao, khám sàng lọc lao cho người bệnh HIV tại Bệnh viện Phổi tỉnh và các cơ sở chống lao huyện, thành phố; triển khai điều trị dự phòng mắc lao bằng INH cho người nhiễm HIV. Các cơ sở chăm sóc, điều trị HIV/AIDS khám sàng lọc và chuyển những bệnh nhân có dấu hiệu nghi mắc lao sang cơ sở chống lao để chẩn đoán và điều trị. Các cơ sở chống lao tư vấn, xét nghiệm tự nguyện HIV cho bệnh nhân mắc lao để phát hiện bệnh nhân lao nhiễm HIV và chuyển gửi sang cơ sở điều trị HIV/AIDS để bệnh nhân được điều trị ARV. Các cơ sở cập nhật và báo cáo kết quả chuyển gửi trong từng tháng về Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh theo mô hình hỗ trợ chuyển gửi thành công bệnh nhân HIV dương tính đã được tập huấn. Thực hiện kiểm soát lây nhiễm lao tại các cơ sở chăm sóc, điều trị HIV/AIDS, phòng Tư vấn xét nghiệm tự nguyện (VCT). Mỗi năm tỉnh Nam Định có trên 1.800 người mắc lao mới, số bệnh nhân lao/HIV phát hiện trung bình mỗi năm khoảng 30-40 bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV hằng năm đạt trên 95%. Số lượt bệnh nhân HIV được gửi khám sàng lọc lao khi phát hiện đều được thu nhận điều trị lao/HIV. Số bệnh nhân lao/HIV đều được điều trị ARV đạt tỷ lệ trên 91%. 

Sau 3 năm thực hiện mô hình lồng ghép quản lý và cung cấp dịch vụ HIV và lao tại tuyến cơ sở, việc chủ động phát hiện bệnh lao cho người nhiễm HIV được cải thiện rõ rệt. Trước khi thực hiện mô hình, bệnh nhân phải đi lại ít nhất 3 lần thì sau khi lồng ghép chỉ trong một lần người bệnh đã được chẩn đoán; thời gian được chẩn đoán và điều trị lao giảm từ ít nhất một tuần xuống 2-3 ngày. Việc triển khai mô hình lồng ghép còn góp phần làm tăng tỷ lệ người bệnh lao được xét nghiệm HIV; tăng tỷ lệ người bệnh đồng nhiễm lao/HIV được điều trị cả 2 bệnh; giảm tỷ lệ người bệnh bị mất dấu trong quá trình điều trị. Chất lượng dịch vụ cũng được tăng cường. Địa bàn triển khai mô hình cũng giảm được nhân lực, chi phí và cơ sở vật chất đầu tư cho triển khai các dịch vụ lao và HIV so với trước khi lồng ghép. Đặc biệt, mô hình kết hợp này vừa tạo thuận lợi cho người bệnh tiếp cận cả hai loại dịch vụ tại cùng một địa điểm, vừa giảm chi phí gián tiếp trong sử dụng dịch vụ lao/HIV.

Thời gian tới Bệnh viện Phổi tỉnh, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, các Trung tâm Y tế huyện, thành phố tăng cường phối hợp trong quản lý điều trị bệnh nhân lao/HIV và chỉ đạo tuyến. Thực hiện tốt kế hoạch phối hợp lao/HIV tuyến tỉnh do Sở Y tế ban hành giữa Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Bệnh viện Phổi tỉnh, Trung tâm Y tế các huyện, thành phố. Tiếp tục triển khai các phòng tư vấn PICT thuộc Quỹ Toàn cầu phòng chống lao, tiến tới mở rộng khắp toàn tỉnh hướng tới các mục tiêu 100% số huyện, thành phố duy trì và tích cực triển khai các hoạt động phối hợp HIV/lao trên địa bàn; 90% số người bệnh lao được tư vấn và xét nghiệm HIV; 90% người nhiễm HIV đang được chăm sóc, quản lý tại các cơ sở chăm sóc điều trị chưa dự phòng được dự phòng mắc lao bằng INH; 90% bệnh nhân đồng nhiễm HIV/lao được điều trị đồng thời lao và ARV; 100% cơ sở chăm sóc, điều trị HIV/AIDS, phòng VCT có thực hiện biện pháp kiểm soát lây nhiễm lao./.

Minh Thuận

 Về đầu trang


Bộ Y tế khuyến cáo 7 cách để không 'đổ bệnh' mùa nắng nóng

02/07/2018

Thời tiết nắng, nóng làm cơ thể ra nhiều mồ hôi, gây mất nước, điện giải, đặc biệt là ở trẻ em dễ dẫn đến mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa....

Trong những ngày gần đây, do ảnh hưởng của thời tiết, nhiệt độ ở các tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội đang ở mức rất cao, có nơi lên đến trên 40 độ C, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của người dân.

Thời tiết nắng, nóng làm cơ thể ra nhiều mồ hôi, gây mất nước, điện giải, đặc biệt là ở trẻ em dễ dẫn đến mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa. Thời tiết nắng nóng làm cho thức ăn, thực phẩm dễ bị ôi, thiu, dễ nhiễm nấm và vi khuẩn là nguyên nhân gây bệnh tiêu đường tiêu hóa.

Bên cạnh đó, khi chống nóng bằng biện pháp bật quạt gió mạnh trực tiếp vào người hoặc để nhiệt độ điều hòa quá thấp gây nên nhiễm lạnh, viêm phổi…

Nắng nóng khiến nhiều trẻ đổ bệnh. Ảnh minh hoạ.

Để chủ động phòng bệnh mùa nắng nóng, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện các biện pháp sau:

- Hạn chế đi ra ngoài đường, ngoài trời nóng khi không thật cần thiết. Nếu bắt buộc phải đi ra đường, ngoài trời nóng thì phải đội mũ, mặc quần áo, đeo kính, khẩu trang… chống nóng.

- Uống nhiều nước, đặc biệt là những người lao động ngoài trời, mất nước nhiều nên uống bổ sung nước chanh hoặc nước pha muối loãng, nước pha Oresol…, tuy nhiên, không nên uống nhiều nước đá hoặc nước quá lạnh dễ gây viêm họng.

- Không để nhiệt độ điều hòa trong phòng quá thấp; không để gió quạt thổi trực tiếp gần vào người.

- Thực hiện ăn chín, uống chín; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường dinh dưỡng, ăn thêm hoa quả để đảm bảo đủ vitamin, tăng cường sức đề kháng của cơ thể.

- Tăng cường vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; vệ sinh mũi, họng hàng ngày bằng nước muối.

- Thường xuyên lau sạch các bề mặt, vật dụng tiếp xúc hằng ngày, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà, đồ chơi trẻ em, dụng cụ học tập… bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.

- Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân, chất thải của trẻ phải được thu gom, đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.

T.S

 Về đầu trang


Nghị lực vươn lên của những phụ nữ nhiễm HIV

02/07/2018

Khi biết mình bị lây nhiễm virut HIV, không ít người dám đối mặt với thực tại, mà chọn cho mình lối thoát tiêu cực. Nhưng khi HIV/AIDS có sự hỗ trợ tích cực hơn từ cộng đồng thì đã có ngày càng nhiều người  lạc quan, tin tưởng vào tương lai, vượt qua bóng tối nghiệt ngã của cuộc đời để sống khỏe, có ích cho gia đình và xã hội. 

Chị N.T.H (người ngồi bên phải) chia sẻ, tâm sự với phóng viên Báo Phú Thọ về quá trình chiến đấu với HIV/AIDS.

Theo số liệu của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Phú Thọ, trong tổng số hơn 1.700 bệnh nhân nhiễm HIV đang được quản lý và điều trị ARV thì có trên 20% là phụ nữ. Hầu hết trong số họ đều bị lây nhiễm HIV thụ động từ chồng mà trường hợp của chị N.T.H. sinh năm 1970 (phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì) là một ví dụ. Năm 2000 chị kết hôn và sau 7 năm chung sống, chị H mới phát hiện chồng bị nhiễm HIV. Đau đớn hơn do không biết nên cả chị và đứa con trai sinh năm 2003 đều bị lây nhiễm. Nỗi đau chồng chất nỗi đau đã khiến chị H gần như  suy sụp hoàn toàn và mất niềm tin vào cuộc sống. Chị H tâm sự “Năm 2014, tôi được biết đến chương trình điều trị bằng ARV là thuốc kháng virut, có thể kéo dài sự sống cho người nhiễm HIV. Vì thế tôi tìm đến Trung tâm phòng chống HIV/AIDS của tỉnh Phú Thọ để được các bác sĩ tư vấn và điều trị, nhờ thế sức khỏe tôi dần hồi phục”. Nhiều người biết tình trạng bệnh của chị đã tỏ ra cảm thông và tạo cơ hội cho chị có việc làm, tăng thu nhập từ bưng bê, rửa bát ở quán ăn đến thợ phụ hồ, ai thuê gì chị đều không nề hà. Vượt qua tất cả, giờ đây chị đã chứng minh được với mọi người rằng người bị HIV vẫn có thể hòa nhập, sống khỏe mạnh và có ích như bao người bình thường khác... Dù số tiền ít ỏi mà chị kiếm được mỗi ngày chỉ đủ để nuôi hai con ăn học nhưng chị vẫn nỗ lực hết mình để mơ về một tương lai tốt đẹp hơn cho các con. Ngoài việc nuôi dạy các con học tập thật tốt chị H còn  hướng dẫn con trai cách phòng tránh việc lây truyền bệnh cho các bạn cũng như mọi người xung quanh. 

Vượt qua chính mình, sống hòa đồng tại cộng đồng chính là động lực để những người có HIV sống tốt hơn, tự tin vào bản thân và nỗ lực hơn trong cuộc sống.  Chị N.T.D sinh năm 1979, ở khu 8, thị trấn Sông Thao, huyện Cẩm Khê từ hơn chục năm trước, đã  phát hiện mình bị lây nhiễm HIV từ chồng. “Hàng xóm truyền tai nhau nói nhà nó bị AIDS đến gần cũng lây; đi chân đất sang nhà nó cũng lây; uống nước cũng lây. Tôi nghe thấy buồn và mặc cảm lắm, thậm chí khi nhà mình có chuyện vui, buồn không có một ai dám đến hỏi thăm, chia sẻ. Những lúc mọi người trong gia đình đau ốm, tôi cũng không nhờ được sự giúp đỡ của ai”, chị D chia sẻ. Để giúp chị em nhiễm HIV như chị H, chị D lấy lại niềm tin trong cuộc sống, thời gian qua Hội LHPN tỉnh Phú Thọ đã mở nhiều buổi tọa đàm, truyền thông vận động hội viên nhiễm HIV tham gia để được nghe những chia sẻ của các nhóm cộng đồng về HIV. Từ đó giúp các chị em xóa tan mặc cảm và mạnh dạn công khai với cộng đồng về tình trạng sức khỏe của mình. Là người được lắng nghe những chia sẻ tại các buổi tuyên truyền chị D đã tự tin đăng ký là thành viên của câu lạc bộ “Nối những vòng tay”, tổ “Khâu nón lá”, đội công tác xã hội tình nguyện do Hội LHPN thị trấn Sông Thao phát động nhằm giúp đỡ phụ nữ yếu thế hòa nhập cộng đồng. Từ thực tế bản thân, chị D đã chia sẻ những kinh nghiệm của mình trong ứng xử với các tình huống khi gặp phải trong cuộc sống để các chị em trong tổ, nhóm, câu lạc bộ hiểu và có cách điều trị, uống thuốc đúng định kỳ. Đồng thời, chị D đã tạo được niềm tin và động lực để những thành viên trong các câu lạc bộ tự tin dần công khai căn bệnh nan y mà họ là nạn nhân, từng bước nỗ lực sống, để cho mọi người thấy nhiễm HIV không còn là con đường chỉ dẫn đến cái chết như mọi người từng nghĩ. Giờ nhắc đến chị D người dân trong khu đều hết lời khen về những nỗ lực của chị trong cuộc sống hàng ngày. Thấy hoàn cảnh chị còn nhiều khó khăn Hội phụ nữ đã giúp vay vốn để chị phát triển kinh tế, thành lập tổ “Khâu nón lá” giúp chị D và các hội viên nhiễm HIV khác có thêm thu nhập.

Không chỉ nỗ lực vượt qua sự mặc cảm, kỳ thị của bản thân, xã hội để sống khỏe, lao động tốt mà chị H và chị D còn là những tuyên truyền viên đồng đẳng tích cực trong phòng chống HIV/AIDS. Với đội ngũ gồm hơn 600 nhân viên tiếp cận cộng đồng đang hàng ngày giúp đỡ, cảm hóa các đối tượng lầm lỡ, hướng dẫn người dân, nhất là nhóm có hành vi nguy cơ cao thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc, điều trị ARV. Bên cạnh đó, để động viên chị em nhiễm HIV có thêm nghị lực vượt qua khó khăn phải nói đến sự đồng hành của Hội LHPN các cấp. Cán bộ Hội đã quan tâm, thường xuyên gặp gỡ và trao đổi với các chị để chia sẻ và trang bị kiến thức, hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, các cấp hội còn tích cực đẩy mạnh truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ trong phòng chống HIV/AIDS. Nhiều mô hình truyền thông phòng chống HIV/AIDS được xây dựng tại các chi Hội phụ nữ trong tỉnh như  mô hình câu lạc bộ: “phòng chống HIV/AIDS”, “phòng chống tệ nạn xã hội”, “Cành cọ xanh”, “Hoa sim tím”... Từ sự hỗ trợ đó, nhiều hội viên đã vượt qua được những khó khăn ban đầu, sức khỏe dần ổn định, góp sức mình tham gia công tác tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương, góp phần giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS và giảm sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS trong cộng đồng.

T.H

 Về đầu trang


Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình: Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT

5/7/2018

Nhờ không ngừng nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh nói chung và khám, chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) nói riêng, số người đến khám, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày, Bệnh viện đón tiếp trên dưới 1 nghìn người đến KCB, trong đó trên 90% bệnh nhân có thẻ BHYT.

Ông Phạm Văn Bắc là bệnh nhân chạy thận tại Khoa Thận nhân tạo – Bệnh viện Đa khoa tỉnh hơn 5 năm nay. Mỗi tuần 3 lần, ông Bắc chạy xe từ xã Kim Định (huyện Kim Sơn) lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh để tiến hành lọc máu. “Nhờ có tấm thẻ BHYT tôi mới có điều kiện chữa bệnh, được điều trị bệnh lâu dài tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh và có thể sống khỏe mạnh đến ngày hôm nay. Bởi thực sự nếu không có thẻ BHYT hỗ trợ, mỗi tháng tôi phải chi trả trên dưới 3 triệu đồng thì không thể có điều kiện chữa bệnh lâu dài như vậy được. Không chỉ được điều trị bệnh kịp thời, mỗi người điều trị bệnh tại Khoa Thận nhân tạo còn được các y, bác sĩ quan tâm động viên, tận tình, chu đáo hỏi han, chia sẻ nên chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh để cố gắng điều trị bệnh và sống vui, sống khỏe…” – ông Bắc cho biết thêm.

Bác sĩ Nguyễn Văn Tuyên, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh cho biết: Bệnh viện Đa khoa tỉnh hiện có trên 17 nghìn người đăng ký KCB BHYT ban đầu, trong đó chủ yếu là đối tượng hưu trí, đối tượng gia đình chính sách, người có công, người cao tuổi, mắc các bệnh mãn tính, bệnh nặng, chi phí điều trị lớn… Trong đó, số lượng bệnh nhân điều trị các bệnh mãn tính có khoảng trên 10 nghìn người, chiếm một phần trong tổng số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện. Đơn cử như bệnh mãn tính về thận, nếu không có thẻ BHYT, mỗi bệnh nhân điều trị chạy lọc máu thận nhân tạo một đợt điều trị có thể lên tới trên 30 triệu đồng; bệnh nhân viêm gan virus, mỗi đợt điều trị chi phí trên 10 triệu đồng; bệnh nhân tăng huyết áp và nội tiết, mỗi tháng khám và lấy thuốc định kỳ cũng tiêu tốn trên 1 triệu đồng… Đặc biệt, với bệnh nhân phải can thiệp mạch, phẫu thuật tim, xạ trị ung thư…, chi phí một đợt điều trị có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Đã có nhiều đối tượng, nhiều gia đình không tham gia BHYT, không được BHYT chi trả chi phí KCB khi không may ốm đau, mắc bệnh mãn tính, bệnh hiểm nghèo đã trở nên khánh kiệt, không thể tiếp tục điều trị bệnh tại các cơ sở y tế. Ngoài ra, nếu có thẻ BHYT, người dân có thêm nhiều quyền lợi khác, như được kiểm tra sức khỏe định kỳ, thường xuyên để nắm được thực trạng sức khỏe của mình; được hỗ trợ chi trả thêm chi phí KCB nếu tham gia đủ 5 năm trở lên…

Đối với Bệnh viện đa khoa tỉnh, để không ngừng nâng cao chất lượng KCB BHYT, Bệnh viện đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó tập trung vào cải tiến quy trình KCB; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực; nâng cao y đức, quy tắc ứng xử cho đội ngũ y, bác sĩ…, từng bước đáp ứng nhu cầu KCB theo hạng bệnh viện, tạo thuận lợi cho nhân dân, không có sự phân biệt giữa khám BHYT và khám dịch vụ.

Trong quá trình KCB, thông qua Đề án nâng cao chất lượng bệnh viện, thực hiện mô hình bệnh viện vệ tinh, Đề án 1816 về chuyển giao các kỹ thuật cao trong khám và điều trị…, Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã được các Bệnh viện tuyến Trung ương chuyển giao nhiều kỹ thuật chuyên sâu, từ đó chất lượng KCB được nâng lên, tạo niềm tin, sự hài lòng cho người bệnh. Cùng với đó, Bệnh viện luôn chú trọng đến việc ứng dụng các kỹ thuật lâm sàng, cận lâm sàng mới, hiện đại; đầu tư nâng cấp, cải tiến chất lượng bệnh viện và triển khai các dịch vụ y tế tiên tiến; thực hiện đầy đủ, nhanh chóng, chính xác chính sách BHYT cho người dân đến khám và điều trị. Thêm vào đó, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, kết nối, liên thông dữ liệu KCB BHYT, đáp ứng tốt việc thanh toán chi phí KCB BHYT cho người bệnh. Đồng thời, các kỹ thuật cao trong khám và điều trị như: Can thiệp tim mạch, mổ tim hở, thay ổ khớp nhân tạo, chạy thận nhân tạo, các loại thuốc thuộc nhóm thuốc điều trị ung thư… đã được BHYT chi trả, góp phần giảm số người bệnh phải chuyển tuyến Trung ương điều trị, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho người bệnh, góp phần thúc đẩy và mở rộng đối tượng tham gia BHYT.

Bác sĩ Nguyễn Văn Tuyên, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh cho biết thêm: Để thực hiện tốt công tác KCB cho người có thẻ BHYT, Bệnh viện thực hiện tốt các quy trình KCB BHYT theo quy định của Bộ Y tế về chuyển tuyến, đăng ký KCB BHYT; không giữ bệnh nhân khi vượt quá khả năng chuyên môn kỹ thuật; thường xuyên thực hiện công tác giáo dục y đức cho cán bộ y tế; thực hiện nghiêm các quy chế chuyên môn, đặc biệt là quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức... Cùng với đó, Bệnh viện cũng phối hợp chặt chẽ với Phòng giám định BHYT của BHXH tỉnh thường xuyên trao đổi thông tin, giải quyết những vướng mắc, thực hiện tốt hợp đồng KCB BHYT, đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân có thẻ BHYT. Bệnh viện cũng làm tốt việc cung ứng, tư vấn sử dụng thuốc, đảm bảo đủ thuốc, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế để điều trị cho người bệnh đạt kết quả cao nhất. 6 tháng đầu năm 2018, Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã KCB cho gần 200 nghìn lượt bệnh nhân có thẻ BHYT, đáp ứng yêu cầu KCB BHYT của người dân trên địa bàn.

Mỹ Hạnh

 Về đầu trang


Hội nghị triển khai Thông tư 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 của Bộ Y tế khu vực phía Nam (4/7)

Ngày 04/7 tại TP.Hồ Chí Minh, Bộ Y tế phối hợp với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam triển khai Thông tư 15/2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp cho các tỉnh khu vực phía Nam.

Tham dự Hội nghị có PGS.TS.Phạm Lê Tuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Phạm Lương Sơn, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đại diện lãnh đạo và chuyên viên một số Vụ, Cục, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế; Bộ Tài chính; Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Phát biểu tại Hội nghị Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn cho biết: Thông tư 15/2018/TT-BYT cụ thể bắt đầu từ ngày 15/7/2018, 88 giá dịch vụ y tế sẽ được điều chỉnh, trong đó đáng chú ý là giảm giá 70 dịch vụ, gồm: 6 giá khám bệnh (của 5 hạng bệnh viện và trạm y tế xã) bình quân giảm 17%; 34 giá ngày giường bệnh (của 5 hạng bệnh viện và các loại giường) bình quân giảm 6% và 30 dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm, bình quân giảm 24%. Điều chỉnh tăng 9 dịch vụ, gồm: 7 giá ngày giường chủ yếu là giường hồi sức tích cực và giường hồi sức cấp cứu, bình quân điều chỉnh tăng 5% và 2 dịch vụ xét nghiệm.

Bổ sung giá của 9 dịch vụ kỹ thuật: người bệnh sử dụng các dịch vụ này sẽ được BHXH thanh toán. Điều chỉnh 12 dịch vụ (chủ yếu là các dịch vụ chụp CT, nội soi) theo nguyên tắc không tính chi phí thuốc, vật tư tiêu hao đặc thù trong giá dịch vụ do thuốc và các loại vật tư này có nhiều loại và mỗi người bệnh sử dụng khác nhau. BHXH sẽ thanh toán theo số lượng thực tế sử dụng và giá trúng thầu.

Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn cho biết thêm: “Thông tư 15/2018/TT-BYT được ban hành sau khi đã được liên Bộ Y tế, Tài chính cùng với BHXH Việt Nam rà soát điều chỉnh và thống nhất. Việc tăng, giảm giá phụ thuộc vào chi phí đầu vào như điện, nước, vật tư, hóa chất... hiện có một số chi phí tăng lên, một số loại lại giảm do đấu thầu. Do đó, mức giá viện phí được xây dựng từ năm 2012, 2015 theo Thông tư 37 hiện không còn phù hợp. Thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tiếp tục sắp xếp lại 18.000 dịch vụ y tế thành nhóm từ 2.000- 3.000 dịch vụ y tế/nhóm để xây dựng giá cho các dịch vụ này

Việc điều chỉnh giá lần này sẽ làm giảm chi phí góp phần tăng khả năng cân đối quỹ BHYT đến năm 2020 trong điều kiện chưa điều chỉnh mức đóng BHYT. Trước mắt, Bộ Y tế sẽ có chỉ đạo các bệnh viện tăng cường tiết kiệm chi phí để nâng cao chất lượng dịch vụ đồng thời đối với các chi phí để bảo đảm hoạt động thường xuyên của đơn vị nếu nguồn thu không bảo đảm thì đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp quản lý ngân sách hiện hành.

Về phía người bệnh, giá dịch vụ giảm nên số tiền chi trả của người bệnh giảm, việc điều chỉnh cũng làm tăng quyền lợi của người có thẻ BHYT.

Phát biểu tại Hội nghị, ông Phạm Lương Sơn, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho rằng: trong bối cảnh các cơ sở y tế đang phải thực hiện lộ trình tự chủ tài chính thì việc điều chỉnh Thông tư 15 này sẽ khiến các cơ sở y tế gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, khi Chính phủ chưa cho phép thay đổi mệnh giá thu BHYT đến năm 2020 thì Thông tư 15 sẽ giúp cho Quỹ Khám chữa bệnh BHYT bền vững hơn. Do đó, các bệnh viện cần cân đối, điều tiết làm sao để hài hòa lợi ích giữa các bên bởi nếu Quỹ Khám chữa bệnh BHYT không cân đối được thì sẽ có nhiều khó khăn phát sinh hơn trong nội tại các bệnh viện.

Từ ngày 15/7/2018, các cơ sở khám chữa bệnh trên cả nước sẽ chính thức triển khai việc thực hiện Thông tư 15/2018/TT-BYT./.

Tuấn Quang

 Về đầu trang


Vĩnh Trung: Không có người sinh con thứ 3

Nhờ bám sát cơ sở, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nên nhiều năm liền xã Vĩnh Trung (TP. Nha Trang, Khánh Hòa) không có người sinh con thứ 3 trở lên, góp phần tích cực vào chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã.

Tuyên truyền sát cơ sở
Xã Vĩnh Trung có 9.121 dân, đa số người dân sinh sống bằng nghề nông, lao động tự do nên nhận thức về chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) còn nhiều hạn chế. Vì vậy, những năm gần đây, chính quyền xã đã quan tâm đẩy mạnh công tác truyền thông, rà soát địa bàn để vận động người dân nâng cao ý thức về sinh đẻ có kế hoạch.

 

Cụ thể, hàng năm, Ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ xã đều thực hiện kiện toàn ban chỉ đạo. Trong đó, trưởng ban năm 2015 - 2016 là Chủ tịch UBND xã, đến năm 2017 - 2018 là Phó Chủ tịch UBND xã, phó trưởng ban là trưởng Trạm Y tế xã nhằm sâu sát hơn trong chỉ đạo, điều hành công tác DS. Ngoài cán bộ chuyên trách, đội ngũ cộng tác viên DS được chọn đa phần là phó trưởng thôn, chi hội trưởng phụ nữ, thanh niên trong thôn, y tế thôn bản nhằm tăng tính hiệu quả trong hoạt động. Ban chỉ đạo công tác DS hàng năm tích cực phối hợp với Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tổ chức kiểm tra tình hình sinh con thứ 3 trở lên và việc thực hiện Pháp lệnh DS ở tất cả 5 thôn. Công tác truyền thông qua loa đài, truyền thông trực tiếp cho người dân tại những cuộc họp của các ban, ngành, đoàn thể cũng được chú trọng. Đội ngũ cán bộ phụ trách công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân hàng năm được tập huấn nâng cao tay nghề và chuyên môn về cung cấp dịch vụ KHHGĐ, từ đó tạo thuận lợi và niềm tin cho người dân tiếp cận với các dịch vụ y tế tại địa bàn.
Bà Hồ Thị Mỹ Chi - cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã cho biết, trưởng ban phân công cho cán bộ chuyên trách hàng tháng phải phối hợp với chính quyền, đoàn thể 5 thôn để rà soát danh sách các đối tượng có nguy cơ sinh con thứ 3 trở lên, rồi đến từng nhà người dân vận động dừng sinh ở 2 con và ký cam kết không sinh con thứ 3 trở lên. Gia đình nào vận động khó thì sẽ tìm cách tiếp cận tại Trạm Y tế, các cuộc họp dân để thuyết phục dần. Đội ngũ cộng tác viên đều là cán bộ kiêm nhiệm, có kỹ năng truyền thông, vận động tốt nên đã giúp người dân dần nâng cao nhận thức.

Nhận thức được nâng cao
Chị Lê Thị Thúy Phương ở thôn Võ Cang cho biết, cách đây 4 năm, sau khi sinh cháu thứ 2 được 3 tháng, cán bộ và cộng tác viên DS thường xuyên đến nhà tư vấn cho chị về thực hiện KHHGĐ. Ban đầu, chị được tư vấn về dùng thuốc tránh thai dành cho giai đoạn nuôi con bằng sữa mẹ. Sau khi cai sữa, chị lại được tư vấn về dùng loại thuốc tránh thai phù hợp với sức khỏe. “Được các chị tư vấn cặn kẽ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhờ vậy, tôi hiểu biết hơn, biết cách chăm sóc bản thân và quan trọng hơn là chọn được phương pháp KHHGĐ phù hợp”, chị Phương nói.
Một người dân lớn tuổi ở thôn Võ Dõng cho hay: “Nhờ cộng tác viên DS thường xuyên tư vấn nên tôi cũng hiểu biết dần. Tôi có 3 người con đều đã đến tuổi trưởng thành. Trước đây, bản thân tôi kiến thức hạn chế nên sinh đông. Bây giờ, tôi thường xuyên khuyên các con chỉ sinh 2 con để nuôi dạy cho tốt. Con dâu, con gái khi mang thai, tôi đều nhắc nhở các con nên quan tâm thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh để chăm sóc con trẻ cho tốt”…
Bà Hồ Thị Mỹ Chi cho biết, nhờ người dân nâng cao nhận thức nên công tác DS trên địa bàn xã đã chuyển biến tích cực. Từ năm 2014 đến nay, xã không có trường hợp nào sinh con thứ 3 trở lên. Năm 2015, tỷ suất sinh 10,74‰, đến 2017 giảm còn 10,6‰. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên từ năm 2015 đến nay là 0%. Tỷ lệ áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại năm 2015 là 77,5%, đến nay tăng lên 77,9%. Toàn xã chưa phát hiện trường hợp nào lựa chọn giới tính thai nhi. Phần lớn người dân đã thay đổi nhận thức, đồng thuận và tự giác thực hiện KHHGĐ theo hướng tiếp thị xã hội.

Minh Thiết

 Về đầu trang


Các cơ sở y tế sẵn sàng xử lý trường hợp cấp cứu do nắng nóng

4/7/2018

Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) vừa có công văn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; y tế các bộ, ngành theo dõi chặt chẽ diễn biến dự báo thời tiết của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, tăng cường chỉ đạo và thực hiện công tác khám, chữa bệnh.
Theo đó, các cơ sở y tế bảo đảm bố trí đủ cơ số thuốc cấp cứu, giường bệnh, sẵn sàng các phương tiện cấp cứu để xử lý kịp thời các trường hợp cấp cứu thường gặp do thời tiết nắng nóng bất thường gây ra như các bệnh: tim mạch, tai biến mạch máu não, đột quỵ do nóng hô hấp, tiêu hóa... Các đơn vị chủ động lên kế hoạch tiếp nhận, xử trí, điều trị các bệnh mùa hè như: sốt xuất huyết, tay chân miệng, viêm màng não do não mô cầu và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thường gặp và mới nổi.
Công văn cũng nêu rõ, trong quá trình triển khai, nếu có các diễn biến đặc biệt, báo cáo về Bộ Y tế (Cục Quản lý Khám, chữa bệnh) để được xem xét, giải quyết kịp thời.

P.C

 Về đầu trang


Hội nghị trực tuyến Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) tuyến y tế cơ sở

6/7/2018

Sáng 6/7, Bộ Y tế và Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) tuyến y tế cơ sở. Nhiều giải pháp đã được đại diện hai bên cùng đưa ra, đề xuất để tiến tới, y tế cơ sở thu hút người dân hơn nữa, giảm tải cho y tế tuyến trên.

Chi KCB BHYT tại tuyến y tế cơ sở quá thấp

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, thời gian qua, y tế cơ sở có vai trò tích cực, có mô hình mạng lưới rộng lớn và thực hiện tốt vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu. Những thành tựu của y tế cơ sở Việt Nam triển khai thời gian qua được tổ chức quốc tế đánh giá là điểm sáng trên thế giới vì chúng ta có mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp đến tận xã/phường, thậm chí tới cả y tế thôn bản, đạt nhiều mục tiêu thiên nhiên kỷ.

Tuy nhiên, Quỹ KCB BHYT hiện giao cho TYT thấp (không quá 20% quỹ KCB BHYT ngoại trú – quy định tại Thông tư 41/2014/TT-BYT-BTC) không đủ để chi cho KCB BHYT, dẫn đến một số loại bệnh TYT xã có khả năng điều trị, cấp thuốc nhưng phải chuyển lên tuyến trên gây nên tình trạng quá tải ở tuyến trên, tốn kém chi phí và không thuận lợi cho người bệnh, nhất là người cao tuổi mắc bệnh không lây nhiễm. Quy định này làm hạn chế phạm vi và phát triển chuyên môn kỹ thuật của TYT xã. Đặc biệt, từ khi có chính sách thông tuyến, KCB BHYT tại TYT xã giảm.

Bộ trưởng Y tế phân tích một nghịch lý: tại tuyến Trung ương, tỷ lệ người đến khám chỉ 3,1% nhưng chi phí 20% tổng chi quỹ KCB BHYT. Tại tuyến tỉnh/thành phố chiếm 25% bệnh nhân nhưng chiếm 25,6% tổng chi quỹ KCB BHYT. “Chỉ riêng tại tuyến Trung ương và tỉnh/thành phố, số người đến khám chỉ 28,7% nhưng chi phí lên tới 67,3% tổng chi quỹ KCB BHYT. Trong khi đó, tuyến huyện khám tới 51,4% số lượt bệnh nhân nhưng chi phí chỉ 29,8% và con số này tại tuyến xã chi phí còn thấp hơn nữa, chỉ 2,7% tổng chi quỹ KCB BHYT trong khi tỷ lệ người dân đến khám chiếm gần 20%”, Bộ trưởng nói.

Y tế cơ sở đang phải đối mặt với nhiều khó khăn cả về cơ sở vật chất, chất lượng cán bộ y tế cũng như việc thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân tại tuyến cơ sở. Hiện nay, có 41,9% số TYT đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; 6,5% số trạm có đủ cơ số phòng theo chuẩn. Có 25,9% số TYT xã đủ trang thiết bị; 42,9% ở mức chấp nhận được; 31,2% thiếu số TYT thiếu trang thiết bị cơ bản theo yêu cầu. Hầu hết các TYT đều thiếu các thuốc trong danh mục, kể cả các thuốc cho điều trị các bệnh mạn tính, thông thường, thuốc y học cổ truyền. “Tỷ lệ trạm y tế thiếu thuốc tại Cao Bằng là 71,9%; Điện Biên là 33,7%; Bình Định là 41,7%...”, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh Lương Ngọc Khuê cho hay.

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến chỉ đạo nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở.

Theo bà Nguyễn Thị Minh, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, tổng số TYT xã KCB BHYT đến nay là 9.821 với số thẻ đăng ký BHYT ban đầu là 21,5 triệu, chiếm khoảng ¼ số người tham gia BHYT (86,9%).

Tuy nhiên, chính sách thông tuyến đang tạo ra thực trạng số người KCB BHYT tại tuyến xã có xu hướng giảm. Năm 2014, tỷ lệ KCB BHYT tại tuyến xã chiếm 28,3% nhưng đến 2017 chỉ còn 19,9% và giảm xuống 18,5% trong sáu tháng đầu năm 2018. Trong khi đó, KCB BHYT tại tuyến huyện gia tăng, từ 43,2% (2015) lên 52% (6 tháng đầu năm 2018). “Với tình trạng này, nếu TYT xã không được đầu tư tốt thì người dân sẽ lên tuyến trên để điều trị và TYT sẽ không phát triển được”, bà Minh nói.

Mạnh dạn phân cấp cho y tế cơ sở

Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam cho rằng, để nâng cao chất lượng KCB BHYT tại tuyến y tế cơ sở, cần thực hiện gói dịch vụ y tế cơ bản; quản lý các bệnh mãn tính tại TYT xã; gắn hoạt động quản lý sức khỏe tại TYT xã với hoạt động của bác sĩ gia đình. Đặc biệt, cần có cơ chế linh hoạt đối với y tế cơ sở theo năng lực cung cấp dịch vụ y tế, số lượng người bệnh BHYT đến KCB, bỏ quy định giao quỹ KCB cho TYT tối đa bằng 20% quỹ KCB BHYT ngoại trú.

Bên cạnh đó, cần hạn chế khám, chữa bệnh thông thường tại các tuyến tỉnh, Trung ương bằng cách tăng mức đồng chi trả với người bệnh tại tuyến này, giảm giá thanh toán đối với các bệnh viện tuyến trên khi KCB thông thường.

Chia sẻ thêm về nội dung này, ông Lê Văn Phúc, Phó Trưởng ban phụ trách Ban thực hiện chính sách BHYT (BHXH Việt Nam) nhận định, hiện y tế cơ sở đang chỉ nặng về “kê đơn, cấp thuốc” dẫn tới có những nơi thực hiện khám, cấp phát thuốc theo ngày trong tháng, chủ yếu rơi vào đầu tháng. “Cần phải đào tạo cho cán bộ y tế tại TYT xã dự trù thuốc, phân bổ nguồn kinh phí trong tháng tránh tình trạng giữa, cuối tháng hết thuốc”, ông Phúc nói.

Với vai trò là cơ quan quản lý, Cục trưởng Lương Ngọc Khuê cho biết, để y tế cơ sở phát huy vai trò là người "gác cổng" cho sức khỏe người dân tại tuyến đầu, Bộ Y tế đang thực hiện cập nhật tài liệu chuyên môn, hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và quy trình kỹ thuật áp dụng tại TYT xã. Bộ đang đầu tư trang thiết bị phù hợp với năng lực chuyên môn của TYT xã, bảo đảm cung cấp dịch vụ xét nghiệm cơ bản, đáp ứng các bệnh thông thường tại xã theo gói dịch vụ y tế cơ bản, đặc biệt là bệnh không lây nhiễm; Tăng cường tiếp cận thuốc thiết yếu cho TYT xã, đào tạo cập nhật kiến thức cho TYT xã, hỗ trợ kỹ thuật từ xa và luân phiên đưa bác sĩ từ huyện về xã và từ xã lên tuyến trên để bảo đảm tăng cường năng lực KCB tại xã. Bộ tiến tới nâng cao chất lượng dịch vụ KCB, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý KCB, xây dựng hồ sơ sức khỏe cá nhân và đánh giá sự hài lòng của người bệnh với dịch vụ KCB tại xã.

Bà Nguyễn Thị Minh đề xuất, tới đây, ngoài thực hiện tăng cường thêm bác sĩ cho tuyến y tế cơ sở, nếu cơ sở nào thực hiện được các dịch vụ thì nên mạnh dạn phân cấp. “Khi đã phân cấp cần phải có cơ chế đồng bộ hỗ trợ. Nếu dịch vụ đó tuyến xã làm được, BHXH không thanh toán ở tuyến huyện nữa. Người dân muốn vượt lên tuyến trên thì phải bỏ tiền túi ra. Nếu dich vụ nào phân cấp trong danh mục của Bộ Y tế cho tuyến xã làm được thì kết quả đó phải được liên thông dù đi đến tuyến tỉnh, Trung ương, để không phải chi hai lần”, bà Minh nói.

THIÊN LAM

 Về đầu trang


Hội nghị triển khai Thông tư 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 của Bộ Y tế khu vực phía Bắc (5/7)

Ngày 05/7/2018 tại Hà Nội, Bộ Y tế phối hợp với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXH) triển khai Thông tư 15/2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT)giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp cho các tỉnh khu vực phía Bắc.

Tham dự Hội nghị có PGS.TS.Phạm Lê Tuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Phạm Lương Sơn, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Đại diện lãnh đạo và chuyên viên một số Vụ, Cục, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế; Bộ Tài chính; Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Theo Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn, Thông tư 15 là bước tiến quan trọng trong lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế; làm tăng quyền lợi của người có thẻ bảo hiểm y tế, góp phần làm tăng tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế; đồng thời khuyến khích các cơ sở tuyến dưới phát triển kỹ thuật, tăng số đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, hạn chế chỉ định kỹ thuật, thủ thuật không cần thiết… 

Lý giải về việc ban hành thông tư này, Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn cho rằng, cần có sự điều chỉnh giá dịch vụ y tế nhằm bảo đảm sự cân đối Quỹ bảo hiểm y tế. Bên cạnh đó, những năm gần đây, việc đấu thầu tập trung các vật tư y tế và thuốc đã làm giảm đáng kể giá một số vật tư, hóa chất, thuốc so với trước, trong khi một số chi phí khác lại tăng lên, do vậy, việc điều chỉnh này là để phù hợp với tình hình thực tế.

Tuy nhiên, Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn cũng nhìn nhận, khi Thông tư 15 đi vào thực tiễn sẽ có ảnh hưởng nhất định đến các cơ sở y tế, cụ thể là giảm nguồn thu dịch vụ y tế của các đơn vị này. “Các bệnh viện cần cân đối chi phí của đơn vị mình, cắt giảm những chi phí không cần thiết để bảo đảm hoạt động nhưng tuyệt đối không được bớt xén quyền lợi của người bệnh”, Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn yêu cầu.
Cùng chung quan điểm, ông Phạm Lương Sơn, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh các cơ sở y tế đang phải thực hiện lộ trình tự chủ tài chính, việc điều chỉnh Thông tư 15 sẽ khiến các cơ sở y tế gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, khi mà Chính phủ chưa cho phép thay đổi mệnh giá thu bảo hiểm y tế đến năm 2020, về căn bản, Thông tư 15 sẽ giúp cho Quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bền vững hơn. 

Trước đó, ngày 30-5-2018, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 15/2018/TT-BYT thay thế Thông tư 37/2015/TTLT-BYT-BTC, trong đó điều chỉnh giá một số dịch vụ khám chữa bệnh, trong đó có 70 dịch vụ được điều chỉnh giảm trung bình từ 5 đến 24% gồm: Giá khám bệnh, giá ngày giường và giá các loại xét nghiệm; có 9 dịch vụ điều chỉnh tăng khoảng 5% là giá giường hồi sức tích cực, giường hồi sức cấp cứu. Thông tư 15 bổ sung giá của 9 loại dịch vụ kỹ thuật mới giúp những bệnh nhân tham gia bảo hiểm y tế được thanh toán. Thông tư 15/2018/TT-BYT bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 15-7-2018.

T.H

 Về đầu trang


Chăm sóc sức khỏe sinh sản nâng cao chất lượng dân số (10/7)

Nhằm nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, ngành Y tế tỉnh  Điện Biên đã có nhiều giải pháp trong thực hiện công tác truyền thông, phổ biến các chính sách về dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGÐ), nâng cao các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn.

Hiện nay mạng lưới cán bộ làm công tác dân số, sức khỏe sinh sản được kiện toàn và ổn định từ tỉnh đến cơ sở; chất lượng cán bộ các tuyến ngày càng được nâng cao. Ðối với tuyến xã, hiện nay 100% xã trên địa bàn có cán bộ DS - KHHGÐ và nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi thực hiện nhiệm vụ công tác DS - KHHGÐ và chăm sóc sức khỏe sinh sản thường xuyên. 100% số thôn, bản có y tế thôn bản và cộng tác viên DS - KHHGÐ; hơn 30% số thôn bản khó khăn có cô đỡ thôn, bản hoạt động thực hiện nhiệm vụ DS - KHHGÐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Cùng với việc đẩy mạnh công tác truyền thông lồng ghép với các hoạt động của từng đơn vị theo chức năng nhiệm vụ; hoạt động truyền thông nhóm, nói chuyện chuyên đề và tư vấn tại gia đình là nội dung tuyên truyền đặc thù được cán bộ dân số xã và cộng tác viên dân số thôn bản áp dụng rất hiệu quả.

 

Phụ nữ xã Pa Thơm (huyện Ðiện Biên) tìm hiểu các chính sách, dịch vụ  DS - KHHGD.

Trong đợt I/2018 của chiến dịch “Tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGÐ đến vùng đông dân có mức sinh cao và vùng khó khăn” có 60 xã thuộc 8 huyện (đạt 100% kế hoạch) được triển khai 3 gói dịch vụ. Tại các xã triển khai chiến dịch, cán bộ y tế đã tổ chức tư vấn, cung cấp các gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGÐ kết hợp siêu âm phụ khoa miễn phí cho phụ nữ. Không chỉ làm tốt công tác tuyên truyền tư vấn hộ gia đình, sinh hoạt nhóm, phát tờ rơi, cán bộ y tế còn tích cực vận động phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đến trạm y tế xã để tư vấn chăm sóc sức khỏe, khám phụ khoa… Nhờ đó, việc thực hiện gói dịch vụ KHHGÐ đạt 59%; gói phòng chống viêm nhiễm đường sinh sản đã khám phụ khoa cho 2.953 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, điều trị cho 768 người và khám thai cho 976 người. Thời gian qua, ngành Y tế đã tiếp nhận và cấp phát đảm bảo đáp ứng đủ các phương tiện tránh thai cung ứng đến đối tượng sử dụng thường xuyên và trong chiến dịch. Ðiều đó góp phần tạo điều kiện cho hơn 94% số phụ nữ mang thai được quản lý thai nghén (tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2017); tỷ lệ phụ nữ được khám thai 3 lần/3 kỳ đạt 68,5% (tăng 6,9%); tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ tại cơ sở y tế đạt 57,7% (tăng 4,3%); tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ được cán bộ y tế chăm sóc đạt 83,2%; 6 tai biến sản khoa đều giảm…

Nỗ lực của ngành Y tế trong công tác truyền thông, phổ biến các chính sách về DS - KHHGÐ, đặc biệt là việc đưa chiến h truyền thông lồng ghép dịch vụ sức khỏe sinh sản - KHHGÐ đến vùng sâu, vùng xa đã góp phần nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn. Ước thực hiện trong 6 tháng đầu năm, tổng số trẻ sinh ra là 7.420 trẻ; tỷ số giới tính khi sinh là 106,8 trẻ trai/100 trẻ gái (giảm 1,2 điểm so với cùng kỳ); tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 65%... Công tác giám sát hỗ trợ kỹ thuật của tuyến tỉnh về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho tuyến cơ sở; hoạt động truyền thông về làm mẹ an toàn cho các cấp chính quyền và phụ nữ có thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được tăng cường.

Thực hiện mục tiêu giảm sinh trên cơ sở tăng dần số người áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, đảm bảo đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGÐ cho người thân, hàng năm, các cơ quan chuyên môn tổ chức cung cấp phương tiện tránh thai hiện đại luôn kịp thời, đáp ứng tương đối đầy đủ đối tượng có nhu cầu sử dụng. Số cặp vợ chồng mới áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại duy trì mỗi năm khoảng 25.000 người. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGÐ đã được mở rộng và nâng cao. Ðến nay có gần 97% trạm y tế xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh thực hiện được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thường xuyên tại trạm. Cùng với đó, chủ trương đa dạng hóa các phương tiện tránh thai được quán triệt, triển khai có hiệu quả tạo cơ hội cho người sử dụng lựa chọn cho mình những phương tiện tránh thai phù hợp. Ðến nay đã hình thành ổn định các kênh cung cấp dịch vụ KHHGÐ miễn phí. Các kênh này đều do các cơ sở y tế cung cấp.

Thu Hương

 Về đầu trang


Bộ Y tế sơ kết công tác 6 tháng đầu năm triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2018 (9/7)

Ngày 9/7, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ đã chức Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2018. Đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế, đã dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có các đồng chí Ủy viên Ban Cán sự đảng Bộ, Thứ trưởng Bộ Y tế; đại diện Văn phòng Ban Cán sự đảng Bộ, Đảng ủy, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Bộ Y tế; tập thể lãnh đạo các Vụ/Cục/ Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ Y tế...

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến phát biểu chỉ đạo Hội nghị

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh, Hội nghị Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và đề ra một số chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện những nhiệm vụ của 6 tháng cuối năm 2018 là cuộc họp quan trọng, trong điều kiện Bộ Y tế được giao khối lượng công việc lớn cũng như Bộ đang tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết 20 và Nghị quyết 21.

Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Minh Lợi, Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ đã Báo cáo kết quả công tác 6 tháng đầu năm, phương hướng nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm 2018 với những nội dung cơ bản về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị (gồm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, công tác y tế dựu phòng và phòng chống HIV/AIDS, công tác an toàn thực phẩm, môi trường y tế, công tác khám chữa bệnh, công tác quản lý dược, trang thiết bị; công tác dân số KHHGĐ chăm sóc sức khỏe bà mẹ-trẻ em; công tác kế hoạch tài chính BHYT; công tác tổ chức cán bộ; công tác truyền thông, thi đua khen thưởng, công tác hợp tác quốc tế; công tác khoa học công nghệ đào tạo, công nghệ thông tin và công tác thanh tra..; công tác lãnh đạo chính trị, tư tưởng; công tác tổ chức, xây dựng đảng; công tác kiểm tra, giám sát và công tác lãnh đạo đoàn thể quẩn chúng. Trong đó Đảng ủy Bộ và Ban Cán sự Đảng đã bám sát thực hiện nghiêm túc nội dung Quy chế số 409-QC/BCSĐ-ĐUB để tăng cương phối hợp công tác giữa Ban Cán sự Đảng và Đảng ủy Bộ; thường xuyên trao đổi thông báo, xin ý kiến, góp ý những nội dung về công tác xây dựng Đảng, Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và các công tác quan trọng khác. Đồng thời tích cực chủ động lãnh đạo, chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ trực thuộc thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm của ngành Y tế về bảo vệ chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và công tác xây dựng Đảng; tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, chương trình đề án theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 của Ban Chấp hành Trung ương.

Về phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2018: Đảng ủy Bộ Y tế  tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra giám sát, công tác đoàn thể quần chúng.

Tại Hội nghị các đại biểu cũng đã được nghe báo cáo sơ kết 02 năm thực hiện Chỉ thị số 05-TC/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng như báo cáo sơ kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành ký luật đảng 6 thàng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2018. Từ đó các đại biểu đã cùng trao đổi thảo luận các ý kiến.

Kết luận tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến ghi nhận biểu dương các đơn vị trong Bộ và lãnh đạo đơn vị đã quan tâm, chỉ đạo quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ được giao trong 6 tháng đầu năm đạt kết quả tốt,  đồng thời đề nghị các đồng chí trong Ban chấp hành, các đồng chí bí thư đảng bộ, chi bộ trực thuộc hết sức tập trung trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị trong 6 tháng cuối năm 2018 với những nhiệm vụ đã được phân công, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao./. 

Ngọc Bích

 Về đầu trang


Đẩy mạnh cai nghiện ma tuý tại gia đình, cộng đồng 10/7/2018

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống ma túy được thực hiện tích cực đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn toàn tỉnh. Tuy nhiên, tình hình về tội phạm ma túy vẫn được các cơ quan chức năng nhận định diễn biến phức tạp, đặc biệt số người nghiện các dạng ma túy tổng hợp có xu hướng gia tăng gây khó khăn cho công tác quản lý và triển khai vận động tự nguyện cai nghiện tại cộng đồng.

Từ năm 2016, việc cai nghiện tại gia đình, cộng đồng được tỉnh quan tâm, chỉ đạo đổi mới theo tinh thần Nghị quyết 98/NĐ-CP của Chính phủ. Đến nay, toàn tỉnh đã thành lập và duy trì thường xuyên 11 điểm tư vấn, chăm sóc hỗ trợ người nghiện ma túy tại cộng đồng với nòng cốt là cán bộ lao động - thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH), công an các địa phương, các tình nguyện nguyên và do Phó Chủ tịch UBND các xã, phường làm chủ nhiệm. Người nghiện ma túy khi đến với các điểm tư vấn sẽ được cung cấp đầy đủ thông tin về các chính sách hỗ trợ người nghiện; lựa chọn các dịch vụ điều trị và hỗ trợ sau điều trị; chăm sóc phục hồi, phòng ngừa tái nghiện, hướng dẫn sử dụng thuốc thay thế Methadone… Trong năm 2018, dự kiến các điểm tư vấn sẽ được nhân rộng thêm từ 8 đến 10 địa phương.

Lãnh đạo Ủy ban MTTQ xã An Khang (TP Tuyên Quang) và Ban công tác Mặt trận
 khu dân cư thôn An Lộc B tuyên truyền cho người dân về phòng chống ma túy. Ảnh Minh họa

Ông Nguyễn Tiến Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội  (Sở LĐ-TB&XH) cho biết: “Công tác điều trị và cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh đang triển khai theo hướng đa dạng hóa các biện pháp và mô hình điều trị nghiện; tăng dần điều trị tự nguyện tại gia đình và cộng đồng, giảm dần điều trị bắt buộc. Năm 2017, Sở LĐ-TB&XH đã phối hợp với các địa phương tổ chức 3 lớp tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng về phòng, chống ma túy cho 520 người là cán bộ phòng LĐTBXH và tình nguyện viên Đội công tác xã hội tình nguyện các xã, phường, thị trấn, tạo bước đệm cho việc triển khai cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Theo lộ trình, bắt đầu từ quý III năm 2018, các địa phương toàn tỉnh sẽ thí điểm tổ chức cai nghiện tại cộng đồng đối với khoảng 100 đối tượng nghiện ma túy”.

Quá trình tổ chức cho người nghiện cai nghiện tại gia đình, cộng đồng gồm 5 nội dung: Tiếp cận tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, vận động đối tượng tự giác cai nghiện, tư vấn lập hồ sơ cai nghiện; điều trị cắt cơn giải độc; giáo dục phục hồi hành vi nhân cách; kết nối các dịch vụ dạy nghề, tạo việc làm. Tùy từng trường hợp cụ thể, tổ công tác tại địa phương sẽ phân công thành viên tiếp cận lần đầu, đưa ra cách giải quyết vấn đề của người nghiện, thuyết phục gia đình họ đồng thuận với cách giải quyết và cam kết hợp tác thực hiện. Trong quá trình cai nghiện, cán bộ tổ tư vấn và các hội, đoàn thể phân công có mặt thường xuyên để động viên người cai và gia đình; đồng thời sau khi người nghiện phục hồi sức khỏe sẽ có trách nhiệm tư vấn chọn nghề bảo đảm yêu cầu quản lý, giám sát và cách ly họ với môi trường có ma túy. Tỉnh sẽ trích ngân sách hỗ trợ tiền thuốc và các trang thiết bị phục vụ công tác cai nghiện cho người nghiện.

Cũng theo ông Nguyễn Tiến Dũng, vấn đề đáng lo nhất trong công tác phòng, chống ma túy hiện nay là tình trạng thanh, thiếu niên sử dụng ma túy tổng hợp ngày càng gia tăng, gây khó khăn cho công tác triển khai tổ chức cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Thống kê của Công an tỉnh cho thấy trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 1.154 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, khoảng hơn 600 người  nghi nghiện phân bổ ở 115/126 xã, phường, thị trấn. Đáng chú ý là nhiều đối tượng lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự (nhà nghỉ, karaoke...) để chứa chấp, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đặc biệt là ma tuý tổng hợp. Đây là loại ma tuý đặc biệt nguy hiểm có khả năng khiến người sử dụng bị loạn thần, ảo thanh, ảo giác, không kiểm soát được hành vi của mình, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Số người nghiện ma túy tổng hợp rất khó để thống kê cụ thể, do đó ở các xã, phường, thị trấn cũng gặp khó trong việc đưa ra các biện pháp quản lý, giáo dục, chữa trị cai nghiện phù hợp.

Trong tháng hành động về phòng, chống ma túy năm 2018 với chủ đề “Hãy bảo vệ thế hệ trẻ trước hiểm họa ma túy”, cùng với tổ chức các đợt cao điểm đấu tranh tội phạm, công tác tuyên truyền về tác hại, hệ lụy của tệ nạn ma túy, nhất là tác hại của các loại ma túy tổng hợp, cần sa, chất hướng thần mới sẽ được đẩy mạnh nhằm nâng cao ý thức tự phòng ngừa cho cộng đồng, đặc biệt đối với thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên… Đây sẽ là tiền đề để việc chuyển đổi cai nghiện bắt buộc sang hình thức cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng, gia đình đạt hiệu quả tốt. Mục tiêu đến năm 2020, toàn tỉnh sẽ có trên 80% người nghiện cai nghiện tại cộng đồng, tỷ lệ cai nghiện bắt buộc giảm chỉ còn từ 10% đến 20%.

Hoài Phương

 Về đầu trang


Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên hướng đến sự hài lòng của người bệnh 9/07/2018

Mặc dù cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó khăn, song trong những năm qua, tập thể Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên luôn đoàn kết, nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, được người bệnh đánh giá cao về tinh thần, thái độ phục vụ. Bệnh viện luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, được Bộ Y tế, UBND tỉnh khen thưởng. Năm 2016, nhân kỷ niệm 15 năm ngày thành lập, bệnh viện vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.

Tiến sĩ Hoàng Văn Chiến, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên cho biết: Những thành tích trên là kết quả của sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ, y bác sĩ, nhân viên, người lao động bệnh viện vì một mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, hướng đến sự hài lòng của người bệnh.

Để đạt được mục tiêu đó, ngoài việc đổi mới toàn diện công tác khám, chữa bệnh; đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, tăng cường trang thiết bị hiện đại, nâng cao trình độ, chuyên môn của đội ngũ y, bác sĩ.

Hàng năm, bệnh viện phát động cán bộ, nhân viên, người lao động tích cực thực hiện các phong trào thi đua như: Học tập gương Anh hùng liệt sĩ -Bác sĩ Đặng Thùy Trâm; phong trào thầy thuốc như mẹ hiền; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thi đua thực hiện tốt 12 điều y đức, quy tắc ứng xử của cán bộ y tế, nâng cao đạo đức nghề nghiệp và các phong trào thi đua do tỉnh, ngành Y tế phát động dưới nhiều hình thức với nội dung phong phú, phù hợp với điều kiện của từng khoa phòng.

Các y, bác sỹ Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên luôn tận tình, chu đáo trong khám và điều trị cho bệnh nhân.

Qua đó tạo động lực mạnh mẽ, tạo không khí thi đua phấn đấu của mỗi cá nhân, mỗi đơn vị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Nhờ thực hiện phong trào thi đua yêu nước, chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện ngày càng được nâng cao. Mỗi ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên tiếp đón từ 400 đến 500 lượt bệnh nhân tới khám và điều trị.

Mặc dù lượng bệnh nhân tới điều trị nội trú tại bệnh viện tăng cao, số giường bệnh chưa đáp ứng được yêu cầu nhưng bệnh viện đã chủ động sắp xếp các khoa phòng, cải tạo, mở rộng khu điều trị, bố trí thêm giường bệnh, lắp đặt các trang thiết bị cần thiết để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.

Để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, bệnh viện đã xây dựng kế hoạch đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ bác sỹ, đặc biệt là các bác sỹ trẻ.

Bệnh viện đã cử nhiều lượt cán bộ, bác sỹ đi đào tạo chuyên sâu các chuyên khoa mũi nhọn như: Ngoại Sản, Tim mạch, Nội tiết, Thận tiết niệu, Ung bướu… tại Trường đại học Y Hà Nội và các bệnh viện uy tín của Trung ương; liên kết đào tạo ngắn hạn cho hàng chục lượt bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ tại các bệnh viện tuyến trên; thường xuyên lồng ghép công tác giao ban chuyên môn, chuyên đề nhằm rút kinh nghiệm trong công tác KCB.

Đồng thời chủ động đầu tư trang bị nhiều trang thiết bị hiện đại như: Hệ thống máy chạy thận nhân tạo; hệ thống máy siêu âm 3D, 4D; máy điện tim; máy xét nghiệm huyết học…

Hiện nay, các bác sĩ của bệnh viện đã áp dụng được một số kỹ thuật chuyên môn cao như: Tán sỏi nội soi ngược dòng, phẫu thuật cắt thận nội soi, cắt Amydal gây mê, nội soi nạo VA bằng Hummer, phẫu thuật cắt đoạn dưới xương hàm, phẫu thuật u vùng hàm mặt và thực hiện thành công 15 kỹ thuật mới trong lâm sàng và cận lâm sàng như mổ lấy máu tụ nội sọ, mổ nội soi ngoại khoa, nội soi sản phụ khoa, mổ nội soi mũi xoang, phẫu thuật ghép giác mạc, lọc máu cấp cứu, chạy thận nhân tạo theo chu kỳ, phẫu thuật dị tật bẩm sinh bàn tay trẻ em, phẫu thuật mổ lấy răng, nạo nang răng ngầm trong xương, Atline động mạch, Holter huyết áp...

Cùng với đó, bệnh viện chú trọng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đổi mới phong cách khám chữa bệnh của đội ngũ cán bộ, y bác sỹ đối với bệnh nhân. Người bệnh đến khám, chữa bệnh được đón tiếp, phân loại, hướng dẫn chu đáo.

Bệnh viện duy trì “Đường dây nóng” và hòm thư góp ý để tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về các vấn đề của bệnh viện; kiên quyết xử lý những cán bộ, nhân viên có biểu hiện sách nhiễu, gây phiền hà, vòi vĩnh bệnh nhân...

Thúy Hường

 Về đầu trang


60 y, bác sĩ được đào tạo nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh mạn tính

Ngày 9-7, tại Trung tâm Y tế huyện Đan Phượng (Hà Nội), Bộ Y tế đã khai mạc khóa đào tạo “Nâng cao chất lượng khám, chữa các bệnh mạn tính tại tuyến y tế cơ sở theo nguyên lý y học gia đình”.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến phát biểu khai mạc

Khóa đào tạo diễn ra từ ngày 9 đến 13-7 dành cho 60 bác sĩ, y sĩ của 15 trạm y tế và Trung tâm Y tế huyện Đan Phượng, với 10 chuyên đề, như: Hướng dẫn lập hồ sơ quản lý sức khỏe cá nhân; chẩn đoán bệnh đái tháo đường và các biến chứng hay gặp; xử trí hạ đường huyết cho người bệnh đái tháo đường; cập nhật các bệnh thông thường chuyên ngành lão khoa...

Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh, tăng cường y tế cơ sở là một trong những việc được Bộ ưu tiên và quan tâm hàng đầu với giải pháp là nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên y tế. Bộ Y tế cũng đề nghị các địa phương nghiên cứu, đề xuất chính sách nhằm tăng thu nhập và thu hút người có trình độ cao về công tác tại tuyến y tế cơ sở.

Thu Trang

 Về đầu trang


Vĩnh Phúc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế

09/07/2018

Xác định việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) là giải pháp quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu BHYT toàn dân, ngành Y tế đã phối hợp với BHXH tỉnh triển khai giải pháp nâng cao nâng cao chất lượng, tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh; cải tiến quy trình, thủ tục KCB BHYT...

 

Bác sĩ Trung tâm Y tế huyện Tam Đảo nội soi dạ dày cho người bệnh.

Công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều kết quả tích cực, tỷ lệ bao phủ BHYT tăng qua các năm. Tính đến tháng 6/2018, toàn tỉnh có hơn 913.000 người tham gia BHYT, đạt 86,7% dân số. Có được kết quả trên là nhờ tỉnh đã có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với việc thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, trong đó, phải kể đến những nỗ lực nâng cao chất lượng, cải tiến quy trình KCB BHYT nhằm đảm bảo quyền lợi, tạo dựng niềm tin đối với người dân khi đi KCB bằng thẻ BHYT.

Mạng lưới cơ sở KCB BHYT trên địa bàn tỉnh được mở rộng, năm 2018, BHXH tỉnh đã ký hợp đồng KCB BHYT trực tiếp với 31 cơ sở y tế (8 cơ sở y tế tư nhân; 23 cơ sở công lập); ngoài ra, các Trung tâm Y tế tuyến huyện tiếp tục ký hợp đồng KCB BHYT với các cơ sở y tế tuyến dưới, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận với các dịch vụ y tế ngay từ tuyến cơ sở.

Quyền lợi BHYT của người dân ngày càng được bảo đảm, thể hiện rõ qua việc số lượt bệnh nhân KCB BHYT, chi phí KCB được chi từ Quỹ BHYT của tỉnh liên tục tăng qua các năm. Riêng 6 tháng đầu năm 2018, quỹ BHYT đã chi hơn 578 tỷ đồng cho hơn 692.000 lượt người KCB BHYT.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực tại các cơ sở KCB trên địa bàn tỉnh được quan tâm tăng cường, do đó, chất lượng KCB từng bước được nâng cao. Một số kỹ thuật chuyên môn cao của tuyến trung ương hiện đã được triển khai thành công tại các bệnh viện tuyến tỉnh như siêu lọc máu, đo áp lực nội sọ liên tục, thẩm tách siêu lọc máu, phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo, phẫu thuật nội soi khớp gối, phẫu thuật đa tạng trong ung thư…

Qua đó, góp phần giảm tỷ lệ bệnh nhân chuyển tuyến, giảm tải áp lực cho các bệnh viện tuyến trên; giúp bệnh nhân, người nhà giảm chi phí điều trị và được hưởng chi trả BHYT ở mức cao hơn.

Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa quy trình tiếp nhận, khám bệnh, quản lý người nằm viện, quản lý hồ sơ bệnh án, quản lý tốt việc KCB BHYT, đảm bảo không để xảy ra tình trạng trục lợi quỹ BHYT, lạm dụng kỹ thuật, xét nghiệm thuốc chữa bệnh... đảm bảo quyền lợi của người bệnh và cân đối quỹ BHYT.

Thực hiện chỉ đạo của Sở Y tế, các cơ sở KCB trên địa bàn tỉnh đã củng cố, sắp xếp lại các khoa, phòng; tăng cường nhân lực tại các khâu tiếp đón, khám bệnh, lấy mẫu xét nghiệm, thu viện phí, cấp phát thuốc; công khai thời gian, quy trình khám bệnh, bảng giá viện phí, đối tượng ưu tiên; áp dụng công nghệ thông tin trong KCB và thanh, quyết toán BHYT... tạo điều kiện thuận lợi, giúp người bệnh giảm thời gian chờ đợi.

Từ năm 2013 đến nay, BHXH tỉnh đã cắt thực hiện giảm 87 thủ tục hành chính (từ 115 giảm còn 28 thủ tục) và cắt giảm số ngày giải quyết của tất cả các TTHC. Đồng thời, từng bước chuẩn hóa phương pháp làm việc, đổi mới phương thức điều hành của hệ thống theo hướng hiện đại hóa; chấn chỉnh lề lối, tác phong làm việc, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của cán bộ, viên chức toàn ngành.

BHXH tỉnh phối hợp với Sở Y tế thực hiện công tác giám định chi phí KCB BHYT chặt chẽ; tăng cường thanh, kiểm tra việc sử dụng quỹ KCB BHYT. Đặc biệt, BHXH tỉnh chú trọng tổ chức giám định chuyên đề theo hướng dẫn, cảnh báo của Trung tâm Thanh toán đa tuyến khu vực phía Bắc, qua đó, kịp thời chấn chỉnh tình trạng chỉ định dịch vụ kỹ thuật, thuốc, vật tư y tế chưa đúng quy định tại các cơ sở KCB; từ chối chi phí không thuộc phạm vi thanh toán của quỹ KCB BHYT theo đúng quy định.

Thực hiện chỉ đạo của BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh đã phối hợp với Sở Y tế tỉnh đưa hệ thống thông tin giám định BHYT đi vào hoạt động, giúp cho các cơ sở y tế khai thác thông tin, tra cứu thẻ BHYT, lịch sử KCB của người bệnh BHYT và quản lý thông tuyến trong phạm vi toàn tỉnh, đảm bảo việc thanh toán chi phí KCB BHYT hiệu quả, kịp thời; ngăn ngừa hiện tượng lạm dụng quỹ BHYT.

Để không ngừng nâng cao chất lượng KCB BHYT, ngành Y tế tiếp tục chú trọng việc củng cố, tăng cường cơ sở vật chất, phát triển dịch vụ kỹ thuật tại các cơ sở KCB; thực hiện đổi mới phong cách phục vụ với phương châm “Lấy người bệnh làm trung tâm”...

Lê Minh

 Về đầu trang


Trung tâm y tế huyện Hạ Hòa nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh

11/07/2018

Để tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, thời gian qua, Trung tâm Y tế huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã tập trung đổi mới toàn diện, nâng cấp cơ sở, hạ tầng, trang thiết bị y tế; phối hợp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn cho đội ngũ y, bác sĩ, từng bước hướng đến sự hài lòng của người bệnh.

Trung tâm y tế huyện Hạ Hòa hiện có 13 khoa, 5 phòng chức năng và 33 trạm y tế cơ sở. Đảng ủy, Ban Giám đốc Trung tâm đã đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Trong đó, Trung tâm chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, cử nhiều cán bộ tham gia đào tạo các kỹ thuật chuyên sâu, vừa giảm tải cho tuyến trên, đồng thời tiết kiệm chi phí chữa trị cho người bệnh vì không phải đi xa. Đến nay, Trung tâm Y tế huyện đã có 11 bác sĩ sau đại học. Tất cả các chuyên khoa đều có chuyên khoa cấp I; 100% Trạm Y tế có bác sĩ làm việc tại trạm. Năm 2017, 2018 Trung tâm tiếp tục cử 6 bác sĩ đi học chuyên khoa I; 9 bác sĩ học chuyên khoa sơ bộ, định hướng. Ngoài việc đào tạo chuyên môn, Trung tâm còn triển khai các chính sách hỗ trợ về kinh tế, nhà ở, điều kiện làm việc để thu hút bác sĩ có chuyên môn về công tác lâu dài. Tính từ năm 2015 đến nay, Trung tâm đã thu hút được 18 bác sĩ chính quy từ các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Sơn La về làm việc. 

Để phục vụ tốt cho nhiệm vụ chuyên môn, Trung tâm còn huy động mọi nguồn lực để mua sắm, lắp đặt trang thiết bị mới phục vụ công tác khám chữa bệnh như: Hệ thống phẫu thuật nội soi ổ bụng; máy đo độ loãng xương; máy nội soi, tán sỏi laze; máy siêu âm tim mạch… đồng thời, triển khai nhiều kỹ thuật mới, hiện đại góp phần nâng cao năng lực khám chữa bệnh. Từ năm 2017 đến nay, Trung tâm đã đưa vào triển khai gần 40 kỹ thuật mới để phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị bệnh hiệu quả. Trong đó, phải kể đến các kỹ thuật mới như: Phẫu thuật lấy sỏi ống mật chủ; nội soi lấy sỏi qua da, chọc hút tế bào. Ngoài ra, Trung tâm còn làm tốt công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ về chuyên môn cho các trạm y tế xã, thị trấn trong: Siêu âm, điện tim và một số kỹ thuật trong ngoại khoa, cấp cứu sản nhi…

Hướng đến sự hài lòng của người bệnh, Trung tâm còn tổ chức nhiều hoạt động như: Họp hội đồng người bệnh mỗi tuần một lần; hỗ trợ người bệnh đến điều trị nội trú một số đồ dùng cá nhân như: chăn, màn, gối, xe lăn cho người bệnh không tự đi được. Cùng với những hoạt động trên, Trung tâm còn lập Tổ chăm sóc khách hàng có nhiệm vụ chỉ dẫn, đón tiếp người bệnh đến khám. Tại các khoa lâm sàng đều có không gian thoáng mát, sạch, đẹp, hiện đại tạo sự thân thiện cho người bệnh. 

Bằng nhiều giải pháp đồng bộ, năm 2017, 6 tháng đầu năm 2018 các chỉ tiêu kế hoạch công tác khám chữa bệnh của Trung tâm đều đạt và vượt, trong đó một số chỉ tiêu tăng cao như: Khám bệnh vượt 40%; điều trị nội trú vượt 104%. Trong 6 tháng đầu năm đã có 54.600 lượt người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện; các Trạm Y tế có 29.650 lượt người bệnh khám và điều trị. Trung tâm đã thực hiện được các danh mục chuyên môn kỹ thuật được quy định tại bệnh viện hạng II và xấp xỉ 15% kỹ thuật của bệnh viện hạng I; 33/33 trạm có đủ trang thiết bị theo quy định. 

Ông Lương Duy Đông, Phó Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Hạ Hòa cho biết: “Trong thời gian tới, Trung tâm sẽ tập trung nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ y, bác sĩ, có chính sách thu hút bác sĩ có trình độ cao về công tác tại bệnh viện. Cùng với đó, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hệ thống các trạm y tế cơ sở, phấn đấu để đến năm 2020, 100% xã, thị trấn của huyện Hạ Hòa được công nhận đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế”.

Huy Thắng

 Về đầu trang


Quan tâm chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới

03/07/2018

Tỉnh Quảng Trị đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Mục tiêu nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế...

 

Bác sĩ Bệnh viên Đa khoa tỉnh khám bệnh cho người dân

Giám đốc Sở Y tế Trần Văn Thành cho biết, sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, 12 năm thực hiện Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 02-NQ/ TU ngày 26/7/2006 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV và các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh có nhiều tiến bộ, đạt được những kết quả tích cực, góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh có nhiều cơ chế, chính sách, chương trình hành động để tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Nhờ đó mạng lưới y tế được quy hoạch phù hợp, hệ thống y tế cơ sở được đầu tư xây dựng củng cố và phát triển từ tỉnh đến cơ sở. Các điều kiện cần thiết về cơ sở, vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ cơ bản đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngân sách nhà nước hỗ trợ cho người bệnh được chuyển dần từ cấp qua các bệnh viện sang hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh thông qua bảo hiểm y tế.

Năm 2017, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 91,2% (toàn quốc là 83%). Năng lực và chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên, một số kỹ thuật cao, kỹ thuật mới được triển khai thực hiện thành công như phẫu thuật nội soi, can thiệp tim mạch, điều trị ung thư…Nhiều trang thiết bị hiện đại, gắn với công nghệ, phương pháp điều trị tiên tiến được đầu tư như cộng hưởng từ, CT Scanner, máy chụp mạch DSA…được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Nhiều bệnh viện chủ động thực hiện đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng với sự hài lòng của người bệnh, xây dựng cơ sở y tế “Xanh, sạch, đẹp.”. Hệ thống y tế dự phòng được quan tâm theo hướng dự phòng tích cực, chủ động toàn diện, kiểm soát được một số dịch bệnh nguy hiểm, không để xảy ra dịch lớn. Công tác tiêm chủng được củng cố vững chắc, triển khai bền vững tại 100% thôn bản. Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em đạt trên 95%. Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng đa dạng. Ý thức của mỗi người dân tự chăm lo và bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng được nâng lên một bước. Mô hình kết hợp quândân y ở vùng sâu, vùng xa, biên giới được đẩy mạnh và phát huy hiệu quả.

Tuy nhiên, ông Trần Văn Thành cũng thừa nhận bên cạnh những kết quả đạt được như trên thì công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân ở tỉnh thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là cơ sở vật chất thiết bị y tế chưa được đồng bộ, nhất là các trạm y tế tuyến xã. Đội ngũ y, bác sĩ, cán bộ, viên chức ngành y phân bố không đều, tỷ lệ dược sĩ trên 1 vạn dân còn thấp. Cơ chế, chính sách thu hút sử dụng cán bộ của ngành y của tỉnh chưa phù hợp nên việc thu hút đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn sâu mà tỉnh đang thiếu, gặp nhiều khó khăn. Chất lượng dịch vụ, nhất là ở tuyến dưới chưa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng của nhân dân…

Mục tiêu tổng quát của chương trình mà Tỉnh ủy đề ra là nâng cao sức khỏe về thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống nhân dân trong tỉnh. Xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Phát triển nền y học khoa học dân tộc và đại chúng. Bảo đảm mọi người đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe. Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế có năng lực chuyên môn vững vàng, tiếp cận trình độ quốc tế. Phấn đấu đến năm 2025 nâng tuổi thọ trung bình của người dân trong tỉnh đạt khoảng 74,5 tuổi, số năm sống khỏe đạt 67 năm. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số. Tỷ lệ tiêm chủng mở rộng đạt tối thiểu 97% với 12 loại vắc-xin. Giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi còn 7,59%, dưới 1 tuổi còn 5,95%. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi dưới 20%. Tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành dưới 12%... Phấn đấu trên 90% dân số được quản lý sức khỏe, 95% trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện dự phòng, quản lý điều trị một số bệnh không lây nhiễm. Đặc biệt phải đạt tỷ lệ 35 giường bệnh viện, 11 bác sĩ, 2 dược sĩ đại học, 30 điều dưỡng viên trên 10 ngàn người dân. Ít nhất có một bệnh viện ngoài công lập với quy mô từ 50 đến 100 giường bệnh. Tỷ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 85%.

Theo ông Trần Văn Thành, để thực hiện được các mục tiêu trên cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và của toàn xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tập trung hoàn thiện hệ thống y tế của tỉnh đến năm 2020 và những năm tiếp theo theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW và Nghị quyết 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Thông tư 51, Thông tư 26 của Bộ Y tế. Nâng cấp các cơ sở điều trị từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện, trong đó tập trung nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh lên 1.000 giường sau năm 2020. Xây dựng lộ trình để nâng cấp Trung tâm Mắt tỉnh thành Bệnh viện Mắt khi có điều kiện. Bổ sung chức năng khám chữa bệnh theo phương pháp y học cổ truyền cho Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh. Đặc biệt cần phải quan tâm hơn nữa việc xây dựng cơ sở vật chất bệnh viện cũng như trang thiết bị hiện đại cho các bệnh viện. Có bệnh viện đủ lớn, đủ máy móc thiết bị hiện đại thì các y, bác sĩ mới có thêm điều kiện để chăm sóc, khám, chữa bệnh ngày càng tốt hơn cho nhân dân.

Trên cơ sở đó phải chú trọng đổi mới toàn diện nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, lấy sự hài lòng của người bệnh làm thước đo, nâng cao năng lực và kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế, chủ động tích cực hội nhập và hợp tác quốc tế. Đẩy mạnh phát triển ngành dược và trang thiết bị y tế. Thực hiện việc kiểm soát an toàn thực phẩm dựa trên đánh giá nguy cơ. Sản xuất kinh doanh theo chuỗi để truy xuất nguồn gốc. Tổ chức tốt bộ máy cán bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra, kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm theo hướng thu gọn đầu mối, gắn với trách nhiệm cụ thể trong kiểm soát an toàn thực phẩm…Có làm được như vậy thì nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực, vững chắc.

Tú Linh

 Về đầu trang


Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Nam Hải (Tiền Hải, Thái Bình) là xã có số dân 10.800 khẩu, được chia làm 9 thôn, cách trung tâm huyện 12 km, có 2 tôn giáo chính là Đạo Phật và Đạo Công giáo. Đạo Phật có 5 chùa, 3 đền, trong đó có 4 công trình được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Đạo Thiên chúa có: 2 giáo xứ và 3 nhà thờ họ lẻ, 01 đền khấn thánh Vixentê, chiếm 25% dân số cả xã, nhân dân trong xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lương giáo đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm vừa qua, cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận thường xuyên quan tâm đến vận động nhân dân thực hiện chính sách dân số, đã đạt kết quả góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số. Nhưng việc thực hiện chính sách dân số là rất khó khăn, đòi hỏi phải có sự cố gắng, bền bỉ, kiên quyết và rất dân chủ phát huy tính tự giác của người dân vì đây chính là thực hiện chính sách đối với con người, thực tế trong nhiều thập kỷ qua chúng ta mới cơ bản thực hiện được tỷ lệ giảm sinh, đạt mức sinh thay thế. Nhưng cơ cấu dân số, chất lượng dân số và gần đây xuất hiện mất cân bằng giới tính khi sinh đang là vấn đề rất đáng lo ngại. Nhận thức được vấn đề này, được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, Nam Hải phấn khởi tổ chức thực hiện xây dựng mô hình. Ngay sau khi có chỉ đạo của MTTQ tỉnh và được dự hội thảo của Trung ương ở Đà Nẵng, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã đã báo cáo cấp uỷ, thống nhất với chính quyền và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện . Thành lập Ban điều hành của xã, Ban chủ nhiệm các nhóm, mới đầu thành lập 2 nhóm là đồng bào Công giáo sau đó theo đề nghị của cơ sở được MTTQ Trung ương, tỉnh nhất trí tiếp tục thành lập thêm 4 nhóm là lương dân. Quý II/2009 Ban điều hành đã triển khai cho thành viên nhóm ký cam kết tham gia mô hình và tổ chức cho các nhóm vào sinh hoạt đến nay tổ chức được 7 kỳ (mỗi quý 1 kỳ/nhóm), giảng viên do MTTQ mời, 02 nhóm là đồng bào Công giáo được cụ linh mục quản xứ thuyết giảng, 04 nhóm còn lại là báo cáo viên cấp tỉnh, nội dung mỗi kỳ 1 chuyên đề đều gắn với việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh. Các buổi sinh hoạt học viên tham dự khá đông đủ, cùng với nội dung thuyết giảng học viên được nhận tài liệu để tham khảo. Trước mỗi kỳ Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh triển khai, ban điều hành đã tiến hành họp với Ban chủ nhiệm nhóm bàn kế hoạch và tổ chức lớp sau mỗi kỳ có họp rút kinh nghiệm. Kết quả của việc xây dựng mô hình, tuy mô hình mới được triển khai ngắn nhưng đã góp phần nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành ,tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc, chức việc và nhân dân trong xã và có ảnh hưởng tốt đến các xã lân cận. Đảng uỷ xã đã đưa công tác dân số kế hoạch hoá gia đình vào nội dung trong báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2010 – 2015 và có chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện  cho từng quý, từng năm và mục tiêu cho cả nhiệm kỳ giảm sinh bằng mức sinh thay thế, coi trọng chất lượng sinh, bình đẳng giới khi sinh là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình trong cộng đồng dân cư trong xã, đưa mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội để mỗi gia đình có từ 1-2 con, có sức khoẻ tốt có đủ điều kiện học tập lao động thoát khỏi đói nghèo, cải thiện cuộc sống nuôi dạy con thành đạt. Các vị chức sắc, chức việc tích cực tham gia, nhân dân đến học tập đông đủ. Ngoài việc thuyết giảng tại lễ Chúa nhật theo lời mời của Mặt trận, cụ Linh mục còn thuyết giảng nội dung này ở lễ Hôn phối của các đôi vợ chồng đến làm lễ cưới tại nhà thờ, có tác dụng rất tích cực.

Đạt được những kết quả trên có sự chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQVN, hướng dẫn của Uỷ ban MTTQ tỉnh, có sự hỗ trợ tạo điều kiện của chính quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của cán bộ đảng viên và nhân dân và những người có chức sắc, chức việc tôn giáo đồng tình ủng hộ.

Công tác tuyên truyền tổ chức thực hiện mô hình đã gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, cuộc vận động xây dựng “Chùa cảnh 4 gương mẫu”, “Xứ họ đạo 4 gương mẫu”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, cuộc vận động “Học tập va làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động thực hiện Pháp lệnh Dân số Kế hoạch hoá gia đình, không còn gnười sinh con thứ 3, sinh con có trách nhiệm và thực hiện bình đẳng giới khi sinh, các cuộc vận động có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, làm chuyển biến nhận thức trong nhân dân và đồng bào có đạo tăng thêm truyền thống kính chúa yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo.

Thúy Hằng 

 Về đầu trang


Trực Ninh chăm lo xây dựng hạ tầng y tế cơ sở 12/07/2018

Được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, những năm qua hệ thống cơ sở hạ tầng y tế từ huyện đến cơ sở ở Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã từng bước được hoàn thiện. Toàn huyện có 21 trạm y tế xã, thị trấn thì có 10 trạm y tế được đầu tư xây dựng mới, 11 trạm y tế được cải tạo, nâng cấp. Các trạm y tế được xây mới đều là những công trình nhà kiên cố, có từ 10-13 phòng chức năng khang trang, sạch đẹp, tạo thuận lợi cho công tác khám chữa bệnh. Qua đó, các quy trình kỹ thuật chuyên môn tại trạm y tế được áp dụng thực hiện hiệu quả.

Cán bộ Trạm Y tế xã Trực Hưng khám bệnh cho người dân.

Đạt được kết quả trên, thực hiện Quyết định số 3447/2011/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia (BTCQG) về y tế xã giai đoạn 2011-2020, huyện Trực Ninh đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng xã đạt BTCQG về y tế giai đoạn 2011-2020 từ huyện đến các xã, thị trấn; xây dựng kế hoạch thực hiện; phân công nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị, các ngành và UBND các xã, thị trấn. Trung tâm Y tế huyện phối hợp với Phòng Y tế, Trung tâm Dân số - KHHGĐ chỉ đạo các xã, thị trấn xây dựng BTCQG; gắn việc xây dựng xã, thị trấn đạt BTCQG về y tế với việc xây dựng xã, thị trấn đạt chuẩn NTM, đồng thời huy động mọi nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất trạm y tế. Đến nay toàn huyện có 10/21 trạm y tế được xây mới bằng nguồn kinh phí từ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM và nguồn ngân sách địa phương. Các địa phương có trạm y tế được xây mới gồm các xã: Trung Đông, Trực Chính, Trực Tuấn, Trực Đạo, Trực Khang, Trực Hưng, Trực Thuận, Trực Hùng, Trực Cường và Thị trấn Cổ Lễ. Ngoài ra 11 trạm y tế gồm Liêm Hải, Phương Định, Việt Hùng, Cát Thành, Trực Thanh, Trực Nội, Trực Mỹ, Trực Đại, Trực Thắng, Trực Thái, Thị trấn Ninh Cường cũng được cải tạo nâng cấp theo đúng quy chuẩn BTCQG về y tế xã. Các trạm y tế đều có khu vực nhà sảnh, nơi đón tiếp người bệnh, nơi đăng ký khám chữa bệnh, cấp phát thuốc rộng rãi; có phòng truyền thông, phòng dược, phòng khám bệnh, phòng điều trị và lưu bệnh nhân, phòng sản; phòng cấp cứu, tiểu phẫu, tiêm… Hệ thống các công trình phụ trợ như nhà kho, nhà tắm, nhà vệ sinh cũng được đầu tư khang trang. Trạm Y tế Thị trấn Cát Thành là đơn vị tiêu biểu về công tác khám chữa bệnh. Thực hiện xã hội hóa, trạm y tế đã huy động được nguồn kinh phí từ cán bộ, nhân viên để đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân như máy siêu âm, máy chụp X.quang, máy nội soi, máy xét nghiệm máu, nước tiểu… đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Tại Trạm Y tế xã Trực Thanh, ngoài cơ sở vật chất được cải tạo, nâng cấp, còn đầu tư máy siêu âm phục vụ công tác khám chữa bệnh. Hằng năm 98% trẻ em trên địa bàn xã được tiêm chủng đầy đủ, trên 98% phụ nữ mang thai được quản lý thai nghén, khám thai định kỳ, tiêm phòng uốn ván sơ sinh, uống bổ sung viên sắt phòng thiếu máu, chăm sóc và uống Vitamin A sau sinh, đặc biệt không để xảy ra tai biến sản khoa. Cùng với nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, định kỳ, hằng năm, Trung tâm Y tế huyện rà soát nhân lực tại các trạm y tế để có giải pháp phù hợp cho công tác khám chữa bệnh. Hiện tại, 16/21 trạm y tế xã, thị trấn có bác sĩ trong đó 6 trạm y tế có 2 bác sĩ gồm: Trung Đông, Phương Định, Cát Thành, Trực Nội, Trực Hùng, Thị trấn Ninh Cường. Hiện tại 100% số trạm y tế trên địa bàn huyện đảm nhiệm việc khám chữa bệnh BHYT, khám chữa bệnh cho người nghèo và các đối tượng chính sách.

Việc huy động các nguồn lực xây dựng mới và nâng cấp cơ sở vật chất trạm y tế ở Trực Ninh đã góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn ở tuyến y tế cơ sở, tạo thuận lợi cho nhân dân được khám chữa bệnh ban đầu ngay tại địa phương, góp phần đạt BTCQG về y tế giai đoạn 2011-2020. Qua việc xây dựng mới, các trạm y tế đã có đủ phòng chức năng, góp phần hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Trong đó, với việc xây dựng phòng truyền thông, các trạm y tế đã làm tốt công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ để người dân có nhận thức và hành động đúng trong vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, giữ sạch đường làng ngõ xóm, tổ chức thực hiện và chỉ đạo tốt công tác giám sát, phát hiện dịch và phòng chống dịch. Thời gian tới huyện Trực Ninh tập trung duy trì và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của trạm y tế các xã, thị trấn. Đặc biệt, tập trung huy động nguồn lực và kinh phí từ các nguồn xã hội hóa, nguồn của địa phương và hỗ trợ của Nhà nước để đầu tư trang thiết bị cho các trạm y tế; bổ sung cán bộ y tế tại các trạm y tế theo đúng nhu cầu, chủng loại, góp phần thực hiện tốt mục tiêu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh cho nhân dân./.

Minh Thuận

 Về đầu trang


Trạm Y tế phường Bình Định: Làm việc sáng tạo, phục vụ tận tâm 12/7/2018

Trong nhiều năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân ở phường Bình Ðịnh đã có những kết quả đáng ghi nhận, vươn lên hàng đầu ở TX An Nhơn. Kết quả này có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Trạm Y tế phường Bình Ðịnh.

Thăm khám cho bệnh nhân ở Trạm Y tế phường Bình Định

Công tác tại phường Bình Định, TX An Nhơn đã lâu, bác sĩ Võ Sanh Tùng - Trưởng Trạm Y tế phường Bình Định hiểu rất rõ về cuộc sống của người dân nơi đây. Bác sĩ Tùng cho biết: “Phường Bình Định là phường có địa bàn rất rộng, dân số đông, trình độ dân trí không đồng đều, do đó sự nhận thức trong công tác phòng chống dịch bệnh, một số bộ phận nhân dân chưa cao… Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các cán bộ các chương trình y tế đã đạt được những kết quả khả quan”.

Để triển khai hiệu quả các chương trình y tế, ví dụ như trong công tác phòng chống suy dinh dưỡng, Trạm Y tế phường Bình Định chú trọng công tác truyền thông nhằm thay đổi nhận thức, hành vi có hại cho sức khỏe trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ cho các bậc cha, mẹ, người chăm sóc; đặc biệt là các bà mẹ và phụ nữ mang thai; đưa bài truyền thông lên sóng của đài truyền thanh phường, lồng ghép tuyên truyền vào các buổi họp dân tại thôn, tổ chức đến thăm hộ gia đình có con bị suy dinh dưỡng nhằm giúp các bà mẹ thay đổi những thói quen cho trẻ ăn không đúng cách, không đầy đủ chất.

Cùng với truyền thông tác động và làm thay đổi nhận thức, Trạm còn tổ chức nhiều buổi thực hành dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi trong toàn phường, trực tiếp hướng dẫn cho bà mẹ cách tận dụng những thực phẩm có sẵn tại nhà để nấu cho trẻ ăn mà vẫn đảm bảo chất dinh dưỡng; tư vấn cho các bà mẹ về cách cho trẻ ăn đúng cách như cho trẻ ăn từ loãng đến đặc, ăn từ ít đến nhiều. Với một số trường hợp đặc biệt, cán bộ Trạm khuyến nghị bà mẹ không thúc ép trẻ ăn, cho trẻ ăn phải đảm bảo đầy đủ bốn nhóm thực phẩm như chất đạm có thịt, cá, trứng, sữa; chất béo như dầu, mỡ; chất tinh bột như gạo, ngô, khoai; chất vitamin như rau ngót, rau dền, rau má… Chính vì vậy, trong năm 2017 tỉ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 9,39%, giảm 0,5% so với năm 2016. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là vị trí của cán bộ y tế trạm trong suy nghĩ của các bà mẹ khởi sắc hẳn, sự tin cậy cũng  ngày càng nhiều hơn.

Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, 67 tuổi, phường Bình Định tâm sự: “Mỗi khi đau ốm, đầu tiên là tôi đến Trạm khám, các bác sĩ ở Trạm rất tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, tập thể dục và uống thuốc đúng giờ. Đều đặn như thế nhiều năm, các bác sĩ hiểu rõ đặc điểm sức khỏe của tôi và tôi cũng hiểu rõ các chỉ dẫn của bác sĩ”.

Là đơn vị y tế cấp trạm, Trạm Y tế phường Bình Định hiểu rõ vai trò quan trọng của mình trong vấn đề truyền thông các chương trình y tế quốc gia, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Điển hình như trong công tác tuyên truyền phòng chống dịch sốt xuất huyết, xác định truyền thông là quan trọng, đối tượng có khả năng làm lan tỏa thông tin mạnh nhất là học sinh, Trạm tăng cường kết hợp với Đài Truyền thanh thị xã, truyền thanh phường thường xuyên phổ biến thông tin phòng bệnh đến dân. Đồng thời tập trung tuyên truyền các dấu hiệu nhận dạng về bệnh, cách phòng bệnh cơ bản với đối tượng học sinh. Nhờ vậy, việc kiểm soát và hạn chế dịch bệnh sốt xuất huyết trên địa bàn phường luôn đạt ở mức tốt.

“Nhân lực tại Trạm ít mà công việc thì nhiều, nhiều chương trình, nhân viên làm việc hết mình, nhiệt tình mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Điều này có được là nhờ sự nỗ lực tận tâm của các cán bộ y tế trạm, y tế thôn đã đến từng nhà tư vấn, hướng dẫn người dân thay đổi hành vi trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe…” bác sĩ Tùng cho biết thêm.

THU PHƯƠNG 

 Về đầu trang


Chức sắc tôn giáo xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Xã Đông Cường có khu vực hành chính thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình với tổng diện tích đất tự nhiên là 770 ha có 7.348 khẩu, trong đó có 2.039 khẩu là tín hữu Công giáo, địa giới hành chính được chia làm 5 thôn; nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nghề phụ chậm phát triển. Kinh tế tuy có phát triển nhưng thu nhập bình quân đầu người còn thấp, đời sống của nhân dân còn  gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn chiếm 11,6%.

Tôn giáo có 2 đạo. Đạo Phật có 5 chùa; Đạo Công giáo có 8 họ, 7 nhà thờ (7 họ trên bờ, một họ dưới sông), một họ giáo dưới sông có  124 khẩu, giáo dân làm nghề chài lưới, lấy thuyền làm nhà ngày đêm lênh đênh sông nước. Tuy là địa phương có đồng bào lương giáo sống xen kẽ song luôn có truyền thống đoàn kết tình làng nghĩa xóm gắn bó keo sơn bà con lương giáo đều sống tốt đời, đẹp đạo, luôn có tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau phát triển kinh tế xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và quy định của địa phương.

Trong nhiều năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đông Cường tích cực thực hiện chính sách dân số và gia đình, đã góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh và từng bước nâng cao chất lượng dân số. Tuy nhiên, đối với công tác dân số, nhất là chất lượng dân số vẫn là vấn đề cần được quan tâm thường xuyên, đó là việc sinh con thứ 3 trở lên, cân bằng tỷ lệ nam, nữ khi sinh hiện nay đang có xu hướng tăng, một phần do mặt trái của việc thực hiện mô hình gia đình ít con( mỗi gia đình nên có từ 1 đến 2 con), cùng với nhận thức lạc hậu từ xưa có con trai để nối dõi tông đường vẫn còn in sâu trong suy nghĩ của nhân dân, đa số cặp vợ chồng mong muốn, thậm chí là bắt buộc phải có con trai nên gia đình nào đã có một trai một gái hoặc 2 con trai rồi thì yên tâm, nhưng nếu 2 con gái  thì tìm mọi cách để phải đẻ thêm con trai nữa. Từ nhận thức như vậy, cùng với khoa học hiện đại đang hỗ trợ hành động cho họ như dùng máy siêu âm để xác định thai nhi rất nhiều, nên một số cặp vợ chồng khi đã phát hiệ thai nhi không được như ý muốn đã huỷ thai nhi đó đi (chủ yếu là huỷ thai nhi là giới tính nữ) và phương pháp bắt mạch, chọn khẩu phần ăn, tính ngày thụ thai để đẻ con trai... cho nên hiện nay tình trạng bé trai sinh ra nhiều hơn bé nữ. Đó là nhận thức cục bộ của mỗi gia đình, trong khi đó, do hạn chế của công tác tuyên truyền nhân dân chưa nhận thức được về tác hại của việc mất cân bằng giới tính trong phạm vi quốc gia, khu vực, chưa có tầm nhìn xa mà chỉ nghĩ trước mắt là phải có con trai theo ý muốn của mình, của gia đình, dòng họ. Chính vì lẽ đó ở tầm vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách cần có định hướng tuyên truyền cho nhân dân về chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình, chú trọng  quan tâm đến mất cân bằng giới tính khi sinh là rất đúng, rất phù hợp. Trong công tác tuyên truyền sẽ có nhiều kênh, nhưng theo sáng kiến của Văn phòng UNFA Hà Nội và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQVN chọn mô hình “Chức sắc tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh” để thực hiện là rất hiệu quả.

Từ nhận thức trên, được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, MTTQ xã Đông Cường, sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự phối hợp của các tổ chức, các đoàn thể đã tạo thành một phong trào sôi nổi trong nhân dân, các tổ chức các đoàn thể đều vào cuộc và coi đây là một trong những nhiệm vụ của mình.

Mô hình có nhiều điểm tương đồng và phù hợp với phong tục tập quán của địa phương và phù hợp với giáo lý, giáo luật của giáo hội Công giáo như việc sinh sản một cách tự nhiên, không có sự phân biệt giới tính, không trọng nam, khinh nữ nên nhận được sự tham gia tích cực của các vị chức sắc, chức việc và nhân dân.

Công tác tuyên truyền về chính sách dân số chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã được triển khai tích cực trong những năm qua, giúp cho mỗi người dân đều hiểu rõ được và có hành động tích cực và nội dung tuyên truyền về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và hậu quả của nó trong thời gian tới do mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra rất phù hợp với chính sách dân số và nguyện vọng của nhân dân. Từ đó đã thu hút được sự tham gia tích cực của nhân dân, giúp cho nhân dân từ chỗ chưa biết trở thành hiểu và biết để thảo luận bàn bạc tìm ra những giải pháp khắc phục hữu hiệu.

T.L 

 Về đầu trang


Ngày Dân số Thế giới: Tăng cường tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ

Nhân ngày Dân số thế giới (11/7), lãnh đạo Bộ Y tế đã tái khẳng định sự cam kết và tiếp tục hỗ trợ để đạt được tiếp cận phổ cập các dịch vụ KHHGĐ nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.

Lễ mít tinh hưởng ứng Ngày Dân số thế giới 11/7.

Tại lễ mít tinh kỷ niệm ngày Dân số thế giới tổ chức hôm nay (11/7), lãnh đạo Tổng cục Dân số và KHHGĐ nhấn mạnh, KHHGĐ là một vấn đề liên quan mật thiết tới thanh niên vì đối tượng này đang bước vào giai đoạn trưởng thành và rất nhiều người trong số đó sẽ kết hôn và sinh con.

Các biện pháp tránh thai hiện đại là phương tiện tốt nhất giúp họ thực hiện quyền được tự đưa ra quyết định về số con và khoảng cách giữa các lần sinh con mà họ mong muốn. Tuy nhiên, ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương hiện vẫn có tới 140 triệu phụ nữ vẫn chưa được đáp ứng nhu cầu về KHHGĐ.

Ở Việt Nam, trong một vài năm gần đây, các dịch vụ và các thông tin về KHHGĐ tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đã tăng từ 37% (năm 1988) lên 67% năm 2016. Tỉ lệ tử vong mẹ trên toàn quốc giảm từ 233/100.000 ca sinh sống xuống còn 58/100.000 ca. Tổng tỉ suất sinh giảm hơn một nửa.

Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ Y tế thừa nhận, nhu cầu về các biện pháp tránh thai hiện đại trong nhóm dân số trẻ chưa kết hôn hiện vẫn đang ở mức cao. Thậm chí còn nhiều khoảng trống trong công tác cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho thanh niên và vị thành niên, bao gồm cả chương trình giáo dục giới tính toàn diện và có chất lượng.

Chính vì vậy, xóa bỏ những khoảng trống này để có thể mang lại lợi ích cho mọi người dân, đặc biệt là cho đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào đang sinh sống tại các vùng sâu vùng xa.

Ông Bjorn Andersson, Giám đốc Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhấn mạnh, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, gần 700 triệu phụ nữ và trẻ em gái vị thành niên tại các nước đang phát triển, hiện đang được sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại – đây được coi là phương tiện tốt nhất giúp một cá nhân thực hiện quyền của mình.

Hiện nay, thực hiện KHHGĐ được nhiều người thừa nhận là cơ sở cho việc thực hiện rất nhiều quyền khác. Khi phụ nữ tiếp cận được với KHHGĐ tự nguyện, họ sẽ có cơ hội giãn khoảng cách giữa các lần sinh con và điều này mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe của bà mẹ và con cái của họ. Thực hiện KHHGĐ cũng góp phần giảm nguy cơ tử vong và khuyết tật liên quan tới mang thai hoặc sinh con quá sớm/quá muộn cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.

Các biến chứng có thể xảy ra trong giai đoạn mang thai và khi sinh nở là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở trẻ em gái lứa tuổi từ 15-19 tại các nước đang phát triển. Chính vì thế tiếp cận được với các thông tin và các phương tiện tránh thai có thể góp phần bảo vệ cuộc sống của thanh niên và vị thành niên. Khi thanh niên và vị thành niên tiếp cận được với càng nhiều thông tin, họ sẽ có nhiều cơ hội đưa ra những sự lựa chọn tốt hơn và có thể mang lại cho chính mình một tương lai tốt đẹp hơn.

Phạm Cường

 Về đầu trang


Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 24/CT/TƯ của Ban bí thư về Triển khai nền đông y Việt Nam và Hội đông y Việt Nam trong tình hình mới (17/7)

Ngày 17/7/2018 tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 24/CT/TƯ của Ban bí thư về Triển khai nền đông y Việt Nam và Hội đông y Việt Nam trong tình hình mới. PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì Hội nghị.

Tham dự Hội nghị có GS. TS. Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế; TS. Phạm Lương Sơn, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; đồng Nguyễn Duy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế; đại diện lãnh đạo và chuyên viên một số Vụ, Cục, Văn phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế; Văn phòng Chính phủ; Ban Tuyên giáo Trung ương.

Báo cáo tại hội nghị  ông Phạm Vũ Khánh, Cục trưởng Cục Y dược cổ truyền- Bộ Y tế cho biết , sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 24-CT/TW, hệ thống pháp luật, chính sách về y dược cổ truyền (YDCT) dần được hoàn thiện đã khẳng định chính sách của nhà nước đối với lĩnh vực YDCT, vai trò của YDCT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân và hệ thông y tế. Hệ thống chăm sóc sức khỏe YDCT đã được mở rộng và phát triển ở tất cả các tuyến. Đến năm 2018, đã có 58/63 có bệnh viện YHCT.

Hệ thống khoa và tổ YHCT trong bệnh viện đa khoa, chuyên khoa cũng tăng lên (năm 2008 là 77,4%, năm 2013 là 84,44%, năm 2017 là 82,3%). Tại tuyến y tế cơ sở, công tác YDCT dần được củng cố. Đến năm 2017, tỷ lệ các trạm y tế xã triển khai khám chữa bệnh YHCT tăng 23,99% so với năm 2008. Tỷ lệ các xã đã triển khai khám chữa bệnh YHCT được thanh toán bảo hiểm y tế đạt 70,18%, các trạm y tế xã có vườn thuốc mẫu đạt 88,87%… Công tác khám chữa bệnh YHCT kết hợp với y học hiện đại tăng ở tất cả các tuyến.

Tuy nhiên, ông Khánh cũng thừa nhận tỷ lệ khám chữa bệnh YHCT, kết hợp YHTC với y học hiện đại riêng ở tuyến tỉnh giảm (năm 2008 là 10,68%, giảm còn 8,86% năm 2017). Tỷ lệ này ở các tuyến chưa đạt chỉ tiêu đề ra… Số giường bệnh cho YHCT  tăng gấp hai lần so với năm 2008, tuy nhiên tỷ lệ giường bệnh cho YHCT so với tổng số giường bệnh chung của tuyến tỉnh có xu hướng giảm đi.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế đã gợi mở một số vấn đề để các đại biểu tập trung thảo luận như : Cấp ủy Đảng trong ngành y tế có nhận thức đúng về vai trò của y dược cổ truyền trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân hay không; việc triển khai công tác khám chữa bệnh y học cổ truyền, sử dụng thuốc cổ truyền có bất cập gì, cần cơ chế đặc thù như thế nào; hệ thống văn bản quy phạm lĩnh vực y dược cổ truyền đã phù hợp chưa, có hỗ trợ cho sự phát triển của y dược cổ truyền không; nguồn nhân lực y dược cổ truyền hiện có đáp ứng với nhu cầu và thực tiễn hay không; nguồn kinh phí dành cho y học cổ truyền hiện nay như thế nào...?

Bộ trưởng cũng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận vì sao tỷ lệ nhân lực có chuyên môn về YHCT có trình độ đại học, sau đại học rất thấp? Rồi vì sao tỷ lệ giường bệnh YHCT lại có xu hướng giảm đi? Các nguyên nhân này có phải là lý do khiến tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT chưa cao, tính trung bình chỉ chưa đến 10%?

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã thẳng thắn chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế về sự phát triển nền YHCT của Việt Nam. Đó là mặc dù việc thực hiện Chỉ thị 24-CT/TW đã có những tác động nhất định làm thay đổi nhận thức của toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí và vai trò của YDCT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là đối với tự chăm sóc và chữa bệnh tại cộng đồng. Tuy nhiên vẫn còn bộ phận nhỏ cán bộ chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò của YDCT  trong phòng bệnh, chữa bệnh…

Chính vì vậy, Bộ trưởng yêu cầu công tác tuyên truyền, quán triệt Chỉ thị cần được tiếp tục triển khai thường xuyên, liên tục, sâu rộng đến đông đảo đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm củng cố nhận thức đúng đắn về vai trò và giá trị của nền y dược cổ truyền Việt Nam trong hệ thống dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân. Bên cạnh đó, việc đầu tư nguồn lực cho YDCT chưa tương xứng với vai trò và tầm quan trọng của YDCT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân; các quy định hiện hành đã xuất hiện những hạn chế nhất định đối với sự phát triển của YDCT Việt Nam.…

Bộ trưởng Bộ Y tế cũng cho biết, sau Hội nghị này, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế sẽ tiếp thu và hoàn thiện báo cáo chính thức gửi Ban Tuyên giáo Trung ương để tổng hợp trình Ban Bí thư về kết quả triển khai thực hiên Chỉ thị số 24-CT/TW.

Cũng tại Hội nghị, 51 tập thể và 12 cá nhân đã được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế vì có thành tích xuất sắc trong công tác thực hiện Chỉ thị 24-CT/TƯ và phát triển y dược cổ truyền./.

Thu Hiền

 Về đầu trang


Chi phí giải quyết tác hại của rượu bia đang tạo gánh nặng cho nền kinh tế và ngân sách Việt Nam (17/7)

Các chi phí của Nhà nước và người dân để giải quyết các hậu quả liên quan đến sức khỏe do tác hại rượu, bia mang lại là rất lớn - Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến khẳng định tại cuộc họp nhóm đối tác y tế chuyên đề 'Tham vấn Dự thảo Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia' diễn ra tại Hà Nội vào chiều 17/7.

Tham dự cuộc họp trên còn có Bà Nguyễn Thúy Anh, Ủy viên Trung ương đảng, Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội; TS.Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam, đại diện lãnh đạo một số Vụ Cục, Văn phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế; Ủy Ban của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các Bộ Ban/Ngành, Hiệp hội; Tổ chức Liên Hợp quốc; Tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam…

Phát biểu tại Hội nghị, PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh: “Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trở thành một điểm sáng của thế giới trong thực hiện thành công các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, gánh nặng bệnh tật trong đó có các bệnh không lây nhiễm vẫn đang là thách thức lớn cho Ngành Y tế cũng như sự phát triển đất nước. Một trong những nguyên nhân hàng đầu của tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm cao là do hành vi, lối sống không lành mạnh như hút thuốc lá, uống rượu bia, ít vận động thể lực, dinh dưỡng không cân đối…. Do đó, giải pháp căn bản để ngăn chặn bệnh không lây nhiễm chính là loại trừ các yếu tố nguy cơ này. Sử dụng rượu, bia là thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển con người mang tính bền vững bởi những ảnh hưởng tiêu cực đến cả ba khía cạnh xã hội, môi trường và kinh tế. Với những tác động đến sức khỏe cộng đồng, xã hội và tài chính; rượu, bia thực sự là trở ngại lớn đối với 13/17 mục tiêu và 52/169 chỉ tiêu trong các Mục tiêu Phát triển Bền vững mà Liên Hợp quốc đã đưa ra”.

Uống rượu bia được ghi nhận là gây ra các hậu quả cấp tính hoặc mạn tính, tác hại với cả người uống, người xung quanh cũng như cộng đồng xã hội nói chung. Một số tác hại có thể xảy ra ngay sau khi uống như chấn thương, gây tai nạn giao thông hay ngộ độc rượu bia.... Một số tác hại khác diễn ra từ từ và kéo dài như gây các tổn thương mạn tính đối với sức khỏe như mắc bệnh ung thư, tim mạch, xơ gan, rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ, ngộ độc bào thai do bà mẹ sử dụng rượu bia… hay các vấn đề xã hội lâu dài như tác hại đối với gia đình, suy giảm chất lượng nhân lực, chất lượng dân số, phá vỡ các mối quan hệ gia đình, xã hội. Bên cạnh đó, tỷ lệ dân số sử dụng rượu, bia ngày càng trẻ hóa với tỷ lệ có uống rượu, bia trong độ tuổi pháp luật không cho phép (14-17 tuổi) rất cao là 47,5% và trong độ tuổi 18-21 là 67%, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai, đặc biệt là chất lượng giống nòi. Đồng thời, phụ nữ và trẻ em là những người chịu ảnh hưởng nặng nề của tác hại do sử dụng rượu, bia. Tỷ lệ phụ nữ chịu hậu quả từ người thân trong gia đình sử dụng rượu bia (50%) nhiều hơn gấp 7 lần so với nam giới (14,9%), 21% trẻ em đã chịu tác hại từ việc sử dụng rượu bia của người xung quanh và 14%. Trẻ em đã chịu ít nhất một trong năm tác hại liên quan.

Trong khi đó, chi phí chi cho giải quyết các tác hại của rượu bia cũng đã tạo gánh nặng cho nền kinh tế và ngân sách của nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Theo thống kê của WHO, phí tổn kinh tế do rượu, bia chiếm từ 1,3% -3,3% GDP của mỗi quốc gia, trong đó chi phí gián tiếp để giải quyết hậu quả do rượu bia thường cao hơn so với chi phí trực tiếp. Nếu phí tổn kinh tế do rượu, bia tại Việt Nam ở mức thấp nhất của thế giới (1,3% GDP) thì thiệt hại ước tính khoảng 65 nghìn tỷ đồng. Chi phí kinh tế của người dân cho tiêu thụ chỉ riêng đối với bia của Việt Nam năm 2017 tương đương gần 4 tỷ USD. Bên cạnh đó, các chi phí của Nhà nước và người dân để giải quyết các hậu quả liên quan đến sức khỏe là rất lớn.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhận định rằng cần có nguồn lực để giải quyết, phòng và chống các tác hại do rượu, bia gây nên. Bà Tiến nêu ví dụ thành công của việc thành lập quỹ phòng chống tác hại của thuốc lá. Việc thành lập Quỹ này đã mở rộng các cơ chế tài trợ bền vững và dành riêng cho các chương trình nâng cao sức khỏe sẽ làm giảm nhu cầu chi tiền cho các dịch vụ khám chữa bệnh, đem lại không chỉ lợi ích sức khỏe cho người dân mà còn cả lợi ích kinh tế cho quốc gia. Bà Tiến mong muốn có nguồn lực tương tự để giải quyết các tác hại mà rượu, bia đem lại, giảm thiểu gánh nặng cho nền kinh tế và ngân sách Việt Nam đang phải gánh chịu bởi vấn nạn này.

Phát biểu tại Hội nghị, bà Nguyễn Thúy Anh, Ủy viên Trung ương đảng, Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết: Do những ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và gây ra các vấn đề xã hội nghiêm trọng nên rượu, bia là loại hàng hóa được hầu hết các quốc gia đưa vào kiểm soát chặt chẽ và không khuyến khích tiêu dùng. Tổ chức Y tế thế giới đã phê chuẩn Chiến lược toàn cầu nhằm giảm tác hại của việc sử dụng đồ uống có cồn vào năm 2010. Tại Việt Nam, ngày 12/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 244/QĐ-TTg phê duyệt Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020. Đồng thời, Quốc hội cũng đã đồng ý đưa dự án Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia vào chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2018 của Quốc hội. Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Liên quan đến phòng, chống tác hại của rượu, bia, Nghị quyết đã nêu rõ các giải pháp phải thực hiện trong thời gian tới, trong đó phải "Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá". Các giải pháp này phải được thể chế vào Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Trong khuôn khổ cuộc họp, đại diện của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cập nhật tình hình thực hiện chiến lược toàn cầu về giảm tác hại của việc sử dụng đồ uống có cồn ở mức có hại và kiến nghị cho Việt Nam. Cụ thể, Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam TS.Kidong Park nhấn mạnh: "Sử dụng rượu, bia ở mức nguy hại đang tước đi các nguồn lực giá trị để đáp ứng các nhu cầu cấp bách về chăm sóc sức khỏe và phát triển ở Việt Nam. Tổng thiệt hại về mặt xã hội do sử dụng rượu, bia ở Việt Nam tương đương khoảng 1,3 – 3,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)”. Do vậy, trưởng đại diện WHO khuyến nghị một loạt các biện pháp hiệu quả chính để giải quyết vấn đề sử dụng rượu, bia như Áp dụng chính sách giá đối với đồ uống có cồn, Hạn chế tính dễ dàng tiếp cận với rượu, bia và tính sẵn có của rượu, bia; Thắt chặt quy định về tiếp thị, quảng cáo rượu, bia đặc làm giảm tiêu thụ, đặc biệt là trong nhóm thanh thiếu niên, và qua đó làm giảm bạo lực và tai nạn giao thông đường bộ; Đầu tư vào các hoạt động phòng ngừa tác hại do rượu, bia sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho xã hội. Theo một ước tính trong năm 2018 của WHO, với mỗi 1 USD chi để thực hiện các biện pháp hiệu quả về phòng ngừa tác hại do sử dụng rượu, bia gây ra, sẽ thu được lợi ích tương đương 9,13 USD.

Hà Anh

 Về đầu trang


Bộ Y tế nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo các đơn vị (18/7)

Ngày 18/7/2018 tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Bế giảng khóa I và khai giảng khóa II Chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành y tế Việt Nam. PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì buổi lễ. Đối tượng tham dự các khóa học bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý đương nhiệm, cán bộ được quy hoạch chức danh giám đốc Sở Y tế, giám đốc bệnh viện; viện trưởng, phó viện trưởng các đơn vị y tế dự phòng; giám đốc, phó giám đốc Trung tâm kiểm soát dịch bệnh tỉnh.

 

Bộ trưởng Bộ Y tế trao chứng nhận hoàn thành khóa học cho học viên thuộc lớp lãnh đạo Bệnh viện

Theo bà Bùi Thị Thu Hà- Hiệu trưởng trường Đại học Y tế công cộng, chương trình đào tạo, bồi dưỡng được ứng dụng các nguyên lý và phương pháp đào tạo dựa trên năng lực để trang bị cho học viên những kiến thức và các kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong hệ thống y tế, chính sách, định hướng chiến lược phát triển ngành y tế, quản lý các nguồn lực, quản lý các hoạt động và cung cấp dịch vụ y tế.

“Để xây dựng Chương trình đào tạo này, Bộ Y tế giao cho Trường Đại học Y tế công cộng phối hợp với các chuyên gia trong nước và đặc biệt là các chuyên gia của Trường Đại học Y tế công cộng Rennes – Pháp để xây dựng 3 chương trình đào tạo bồi dưỡng về quản lý y tế cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành y tế. Chương trình đã được Bộ Y tế thẩm định và cho phép triển khai tháng 8/2017”- bà Hà cho biết.

Với phương pháp đào tạo dựa trên năng lực, chương trình đào tạo được cấu trúc thành 4 giai đoạn gồm: Giai đoạn 1 học tập trung trên lớp kéo dài 3 tuần cung cấp kiến thức và kỹ năng tổng hợp, đồng thời thông qua thảo luận tình huống để cập nhật và nâng cao các năng lực cần thiết cho công tác lãnh đạo quản lý; Giai đoạn 2 đi tìm hiểu thực tế 1 tuần tại địa phương nhằm đối chiếu và so sánh kiến thức đã học với thực tiễn tại các cơ sở y tế; Giai đoạn 3 ứng dụng thực hành trong công tác lãnh đạo, quản lý tại cơ quan công tác của học viên trong 8 tuần; Giai đoạn 4 cập nhật và báo cáo chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng trong 1 tuần.

Phát biểu tại lễ bế giảng khóa I và khai giảng khóa II, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến chúc mừng và trao Chứng chỉ tốt nghiệp cho hơn 100 học viên khóa I gồm Lớp dành cho học viên là lãnh đạo Sở Y tế, Lớp dành cho học viên là lãnh đạo Bệnh viện và Lớp dành cho học viên thuộc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và Y tế dự phòng.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý y tế: “Trước đây, trong điều kiện nền kinh bao cấp, y tế chủ yếu do Nhà nước chi trả. Hiện nay, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Ngành Y tế đã có sự thay đổi về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính, chi trả dịch vụ y tế... Do đó Việt Nam rất cần các nhà quản lý y tế giỏi, có trình độ, kỹ năng quản lý chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhân dân về nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.”

Theo Bộ trưởng, quản lý y tế không đơn thuần chỉ là quản lý về chuyên môn mà phải quản lý toàn diện, trong đó có quản lý các nguồn lực bao gồm quản lý tài chính, quản lý nhân lực, vật lực và cơ sở hạ tầng y tế.

Tuy nhiên, hiện nay phần lớn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý y tế ở các cấp đều là cán bộ chuyên môn y tế chưa được đào tạo bài bản về quản lý y tế như kỹ năng lãnh đạo quản lý, quản lý nhân lực, quản lý tài chính, trang thiết bị đặc thù trong ngành y tế...

Sự thiếu hụt kiến thức và kỹ năng quản lý y tế đã phần nào làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung của ngành y tế. Do vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý y tế là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của ngành y tế.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến hy vọng với những kiến thức và kỹ năng thu được từ khóa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sẽ thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành tốt hơn để góp phần thực hiện tốt lộ trình đổi mới toàn diện Ngành Y tế, từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ngành Y tế.

Bộ trưởng Bộ Y tế trao chứng nhận hoàn thành khóa học cho học viên thuộc lớp lãnh đạo các Sở Y tế

Trước đó, ngày 15/3/2018, Bộ Y tế đã tổ chức khai giảng 3 khóa đào tạo, bồi dưỡng về quản lý y tế đầu tiên cho hơn 100 học viên thuộc khối Y tế dự phòng, khối Bệnh viện, khối Sở Y tế. Các học viên đã hoàn thành các nội dung lý thuyết và thảo luận trên lớp, đi thực tế tại các cơ sở y tế của tỉnh Thái Bình, thực hiện áp dụng tại cơ quan công tác và chia sẻ kết quả áp dụng với giảng viên và học viên toàn khóa.

Kết quả đánh giá cuối khóa học cho thấy 100% học viên cho rằng khóa học đã giúp họ hiểu được cách ứng dụng kiến thức về quản lý vào công việc; 99% học viên thấy quyết định tham gia khóa học là đúng đắn; 99% học viên mong muốn được hỗ trợ tiếp tục để có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn; 95% học viên tin nội dung khóa học sẽ giúp họ thành công trong công việc và 97% học viên tin rằng nên áp dụng những kiến thức học được vào công việc.

Khóa II của chương trình sẽ kéo dài từ tháng 7 - 10 /2018, gồm 2 lớp cho lãnh đạo các Vụ, Cục, văn phòng Bộ Y tế và lãnh đạo Sở Y tế; 1 lớp cho lãnh đạo bệnh viện và 1 lớp cho lãnh đạo các đơn vị y tế dự phòng/kiểm soát bệnh tật; với tổng số 150 học viên đến từ khắp các tỉnh thành trong toàn quốc.

Dựa trên kết quả đánh giá cuối khóa I, các nội dung học tập của khóa II sẽ được điều chỉnh và cập nhật nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập và ứng dụng kỹ năng lãnh đạo, quản lý của các cán bộ quản lý ngành y tế, góp phần không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Thu Hiền

 Về đầu trang


Nghĩa Hưng tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định có dân số trên 20,8 vạn người; trong đó có 35.300 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Thời gian qua huyện Nghĩa Hưng đã tập trung chỉ đạo, triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng dân số; trong đó tiếp tục giảm sinh nhằm đạt mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con); đưa tỷ số giới tính về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; nâng cao chất lượng dân số.

Trạm y tế xã Nghĩa Thái được đầu tư hơn 5 tỷ đồng, đi vào hoạt động năm 2017,

đáp ứng công tác triển khai Đề án sàng lọc sơ sinh.

Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện đã triển khai các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số. Trong đó, triển khai chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động, hỗ trợ nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSS-KHHGĐ tới các đối tượng, giáo dục về Dân số - KHHGĐ tại cộng đồng. Đến nay bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ được củng cố, kiện toàn, hoạt động hiệu quả, cơ sở vật chất, các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác Dân số - KHHGĐ được quan tâm, đầu tư. Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục pháp luật về dân số được đẩy mạnh. Năm 2017 Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện tổ chức thực hiện chiến dịch truyền thông dân số, tăng cường đưa dịch vụ CSSKSS-KHHGĐ đến các xã có mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao; đa dạng các hình thức truyền thông các loại hình như: Cấp phát trên 15 nghìn tờ rơi có nội dung về CSSKSS-KHHGĐ, sàng lọc trước sinh, sơ sinh, bình đẳng giới... cho cơ sở. Treo băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về các chính sách Dân số - KHHGĐ trên các trục đường chính, nơi tập trung đông dân cư, tăng cường các hoạt động truyền thông trong chiến dịch tuyên truyền, vận động, lồng ghép dịch vụ CSSKSS-KHHGĐ đến vùng đông dân, có mức sinh cao. Phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong hoạt động công tác Dân số - KHHGĐ; từng đơn vị đều có chương trình, kế hoạch phối hợp cụ thể với Trung tâm Dân số - KHHGĐ, từng bước đẩy mạnh xã hội hoá công tác Dân số - KHHGĐ. Đối với cơ sở xã, thị trấn, tổ chức truyền thông trực tiếp, nói chuyện chuyên đề, tư vấn về KHHGĐ, về chương trình sàng lọc trước sinh và sơ sinh thông qua tuyên truyền, vận động, phát hiện can thiệp sớm tật bệnh ở thai nhi và sơ sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Tiếp tục duy trì hoạt động của đề án “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận động, phát hiện can thiệp sớm tật, bệnh ở thai nhi và sơ sinh” cho 25 xã, thị trấn trong toàn huyện. Triển khai Đề án “Kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân” trên địa bàn 3 xã Nghĩa Trung, Nghĩa Thái, Nghĩa Bình. Tăng cường cung cấp thông tin về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cho người dân, trước hết là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, những người cung cấp dịch vụ siêu âm và dịch vụ nạo phá thai, những người có uy tín trong cộng đồng nhằm hạn chế các hành vi không phù hợp với việc sinh đẻ theo quy luật tự nhiên. Tổ chức 16 hội nghị tuyên truyền Đề án 818/BYT về xã hội hóa các phương tiện tránh thai và hàng hóa SKSS cho trên 1.000 đối tượng, cung cấp trên 900 sản phẩm đến tay người tiêu dùng, góp phần vào việc nâng cao chất lượng CSSKSS-KHHGĐ cho nhân dân trong huyện. Năm 2017 toàn huyện có trên 87,86% số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, số người đặt vòng tránh thai, uống thuốc tránh thai, dùng bao cao su... đạt tỷ lệ cao. Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp, năm 2017, tổng số trẻ sinh ra trong toàn huyện là 2.753 cháu (giảm 31 cháu so với năm 2016), tỷ suất sinh 13,23o/oo (giảm 0,2o/oo so với năm 2016), số sinh con thứ 3 trở lên là 359 cháu (giảm 32 cháu so với năm 2016). Tỷ số giới tính khi sinh là 109 cháu trai/100 cháu gái.

Để góp phần thực hiện tốt Chiến lược Dân số trong tình hình mới, năm 2018 và những năm tiếp theo huyện Nghĩa Hưng xây dựng mục tiêu: Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 2/3 số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn. Tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 cháu trai/100 cháu gái; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 10,5%; tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 40%. Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; trên 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất. Tuổi thọ bình quân đạt 75,8 tuổi, 100% người cao tuổi có thẻ BHYT, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung. Chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi đối với nam đạt 168,5cm, nữ đạt 157,5cm. Để thực hiện mục tiêu đề ra, huyện đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác Dân số - KHHGĐ đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm chuyển đổi hành vi nhận thức của người dân về công tác Dân số - KHHGĐ. Vận động các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại nhằm giảm mức sinh. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao sự hiểu biết của mọi người dân về mất cân bằng giới tính khi sinh và hậu quả của việc mất cân bằng giới tính khi sinh. Đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ đầy đủ, kịp thời, an toàn, thuận tiện dịch vụ KHHGĐ và các phương tiện tránh thai, thuốc thiết yếu, vật tư y tế tiêu hao có chất lượng cho đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ. Tập huấn chuyên môn về công tác Dân số - KHHGĐ cho đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ tại cơ sở. Duy trì và triển khai các hoạt động sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh trên địa bàn huyện. Triển khai các Đề án: “Tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân”, “Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh” trên địa bàn toàn huyện. Tăng cường tuyên truyền, vận động trực tiếp đến các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, đề cao vai trò trách nhiệm của gia đình làm cho mọi người tự nguyện chấp nhận mô hình gia đình ít con./.

Việt Thắng

 Về đầu trang


Bệnh viện Đa khoa khu vực Yên Minh – điểm sáng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân (20/7/2018)

Uy tín, trách nhiệm, hiệu quả và hài lòng là nhận xét của đông đảo người bệnh sau khi đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực (BVĐKKV) Yên Minh. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành Y tế nói chung, BVĐKKV Yên Minh luôn khẳng định vai trò quan trọng và trở thành điểm sáng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

Bác sỹ Bệnh viện ĐKKV Yên Minh tận tình chăm sóc bệnh nhân

Xác định nâng cao chất lượng khám chữa bệnh (KCB) là tiêu chí hàng đầu, vì thế Ban Giám đốc Bệnh viện đã chỉ đạo các khoa, phòng chức năng thực hiện tốt các chỉ tiêu, kế hoạch được giao; tăng cường công tác quản lý, cải tiến lề lối làm việc, thực hiện tốt quy trình khám bệnh theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Chú trọng nâng cao chất lượng cấp cứu, khám, điều trị chăm sóc người bệnh; lấy các tiêu chuẩn, đạo đức, các quy định về kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hóa với người bệnh làm yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, nhân viên. Xây dựng phong cách thái độ phục vụ văn minh, thân thiện, không tiêu cực, thực hiện đúng nguyên tắc "Người bệnh làm trung tâm”. Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của bệnh viện.

Nhận thức rõ con người là yếu tố quyết định đối sự phát triển của bệnh viện, do vậy lãnh đạo bệnh viện đã sớm định hướng công tác tạo nguồn và đào tạo cán bộ chuyên môn, thực hiện tốt việc kết hợp giữa đào tạo tại chỗ và đào tạo chuyên sâu tại các trường Y- Dược, các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương thông qua nhiều hình thức đào tạo ngắn hạn, dài hạn. Bên cạnh đó, bệnh viện còn đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học. Trung bình mỗi năm có từ 8 đến 10 đề tài được nghiên cứu và ứng dụng vào KCB giúp cho việc điều trị bệnh chính xác, an toàn hơn. Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu khoa học còn là cơ hội để cán bộ y, bác sỹ thể hiện sự sáng tạo, phát huy trí tuệ để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn, giảm chuyển tuyến và tạo điều kiện để người bệnh được tiếp cận với những dịch vụ kỹ thuật cao, bệnh viện đã tích cực triển khai có hiệu quả nhiều kỹ thuật lâm sàng và cận lâm sàng, ứng dụng KHKT vào công tác chẩn đoán và điều trị như: Đơn nguyên sơ sinh; ứng dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật; mổ đường ngang trong sản khoa, mổ longo; Phẫu thuật nội soi các bệnh lý ở ổ bụng trong ngoại khoa, phụ khoa; Phẫu thuật nội soi tiết niệu, tán sỏi ngoài cơ thể; Tán sỏi Laser ngược dòng và các kỹ thuật như phẫu thuật chấn thương, kết hợp xương đều được tiến hành thành công. Trong cận lâm sàng đã triển khai các kỹ thuật: Chụp CT Scanner; Xét nghiệm; Siêu âm 4D; X-quang vi tính, giải phẫu bệnh lý. Cùng với việc triển khai kỹ thuật chuyên môn tại bệnh viện, đơn vị còn chú trọng triển khai đồng bộ tại 3 Phòng khám Đa khoa khu vực như siêu âm, X-quang, labo xét nghiệm. Từng bước cải thiện cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng điều trị tại các Phòng khám Đa khoa khu vực qua đó đã giảm tải cho bệnh viện huyện, đáp ứng nhu cầu về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển.

Song song với công tác KCB, phòng bệnh cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Bệnh viện. Do đó Bệnh viện đã chú trọng tới công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, phối hợp với Trung tâm Y tế huyện thực hiện thường xuyên công tác phòng bệnh, phòng dịch. Ngoài ra, các phong trào thi đua cũng đã được bệnh viện triển khai bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú, gắn với nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị, tạo động lực mạnh mẽ và không khí thi đua phấn đấu của mỗi cá nhân, mỗi đơn vị.

Bằng sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ bệnh viện và những thành tựu đạt được đã đưa Yên Minh trở thành huyện biên giới đầu tiên trong tỉnh xây dựng thành công mô hình Bệnh viện huyện với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt, mang lại những kết quả điều trị cao không chỉ cho nhân dân đang sinh sống trên địa bàn huyện mà còn là địa chỉ tin cậy đối với người dân một số huyện lân cận. Không những thế, năm 2017 BVĐKKV Yên Minh còn được UBND tỉnh chọn làm điển hình về "Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh" và được cử tham gia báo cáo điển hình tại Hội nghị tổng kết cụm thi đua 7 tỉnh miền núi biên giới phía Bắc. Nhiều năm liền, Bệnh viện đã được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh và Bộ Y tế.

Với những thành tựu cũng như nhiều tiến bộ KHKT hiện đại được triển khai và ứng dụng có hiệu quả trong thời gian qua, chúng ta có thể tin tưởng tập thể đội ngũ cán bộ, y, bác sỹ BVĐKKV Yên Minh sẽ tiếp tục đưa sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn huyện Yên Minh nói riêng và sự nghiệp của ngành Y tế tỉnh Hà Giang nói chung ngày càng phát triển hơn nữa.

Ngọc Ánh 

 Về đầu trang


11 tỉnh, thành phố được hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường

Với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ Quỹ Phòng chống THA-Resolve, Bộ Y tế Việt Nam và WHO bắt đầu khởi động dự án Tăng cường quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường tại trạm y tế xã và truyền thông giảm tiêu thụ muối. Quỹ Resolve sẽ hỗ trợ ban đầu cho 11 tỉnh, thành phố nâng cao năng lực cho các trạm y tế xã trong điều trị quản lý hai bệnh này.

Sáng 17-7, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị triển khai dự án tăng cường quản lý tăng huyết áp, đái tháo đường tại trạm y tế xã và truyền thông giảm ăn muối.

TS Trương Đình Bắc, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng cho biết, ước tính Việt Nam có 12 triệu người tăng huyết áp, nhưng mới phát hiện được 43% và chỉ 14% được quản lý điều trị, còn 56,9% không được phát hiện. Với bệnh đái tháo đường, Việt Nam có hơn 3 triệu người mắc, mới phát hiện được 31% và quản lý điều trị khoảng 29%. Còn lại 68,9% không được phát hiện, đồng nghĩa với không được kiểm soát, điều trị.

Một trong những nguyên nhân cơ bản là do thiếu các dịch vụ dự phòng, phát hiện, quản lý bệnh không lây nhiễm tại tuyến xã. Các bệnh không lây nhiễm chủ yếu được chẩn đoán, điều trị tại tuyến trên. Chỉ 12% xã thực hiện quản lý tăng huyết áp, hầu như chưa quản lý đái tháo đường tại xã. Cùng đó là thiếu cơ chế, chính sách về tài chính, BHYT hỗ trợ cho việc quản lý bệnh không lây nhiễm lại trạm y tế xã, tại cộng đồng; năng lực cán bộ y tế tại tuyến y tế cơ sở còn hạn chế.

TS Kidong Park, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam cho biết, tăng huyết áp và đái tháo đường là hai nguyên nhân quan trọng của bệnh tim mạch, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại Việt Nam, chịu trách nhiệm cho 1/3 số ca tử vong ở Việt Nam hằng năm. Tiêu thụ nhiều muối là yếu tố nguy cơ rất quan trọng đối với tăng huyết áp. Tại Việt Nam, ước tính tiêu thụ muối trung bình là 9,4g, gần gấp đôi mức khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dưới 5g/người/ngày. Lượng tiêu thụ muối hàng ngày ở nam là 10,5g/ngày; ở nữ là 8,3g/ngày/người.

“Có một khoảng trống điều trị rất lớn với bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường tại Việt Nam. Một trong hai bệnh nhân tăng huyết áp không biết tình trạng tăng huyết áp của họ. Hai trong ba bệnh nhân đái tháo đường không biết tình trạng đường huyết của họ. Chỉ có 1/8 bệnh nhân tăng huyết áp và ít hơn 1/3 bệnh nhân đái tháo đường đang nhận được dịch vụ quản lý bệnh tại các cơ sở y tế. Một lý do quan trọng cho khoảng trống điều trị lớn của bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường là dịch vụ hầu như không có sẵn tại các trạm y tế xã”, TS Kidong Park cho biết.

Trong nhiều năm qua, WHO đã và đang hỗ trợ Việt Nam giảm gánh nặng bệnh tật và tử vong do các bệnh không lây nhiễm. WHO và Tổ chức Resolve đã và đang hỗ trợ cho 11 tỉnh trong việc nâng cao năng lực và tăng cường triển khai các hoạt động quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường tại trạm y tế xã lồng ghép với can thiệp giảm muối tại cộng đồng; và sẽ mở rộng hỗ trợ thêm khoảng 10 tỉnh nữa trong thời gian tới.

"Để giảm ăn muối, WHO sẽ hỗ trợ để xây dựng các khuyến nghị về lượng muối tối đa trong một số thực phẩm chế biến sẵn và tiến hành một chiến dịch truyền thông về giảm muối để nâng cao nhận thức của người dân", TS Kidong Park nói.

Trong giai đoạn tới, nhiệm vụ của y tế dự phòng là tăng cường dự phòng, quản lý điều trị một số bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã và tại cộng đồng, trước mắt ưu tiên quản lý điều trị tăng huyết áp, đái tháo đường. Theo đó, mục tiêu đến năm 2018, 100% trạm y tế được đào tạo điều trị quản lý tăng huyết áp và đái tháo đường, đến năm 2019, ít nhất 70% trạm y tế điều trị quản lý tăng huyết áp và 40% trạm y tế điều trị quản lý đái tháo đường. Năm 2020 cũng sẽ có ít nhất 40% người trưởng thành từ 40 tuổi được đo huyết áp và đánh giá nguy cơ đái tháo đường.

TRẦN NGUYÊN 

 Về đầu trang


Ngành y tế An Giang với bước tiến đột phá (25/07/2018)

Những năm qua, mạng lưới y tế (YT) được củng cố, hoàn thiện và phát triển theo hướng chuyên khoa hóa tuyến tỉnh và phát triển YT phổ cập tuyến cơ sở. Cùng với đó, mạng lưới YT dự phòng, YT cơ sở được nâng cao năng lực, đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nhất là ở vùng nông thôn.

Bệnh viện (BV) Sản - Nhi An Giang được tách ra từ BV Đa khoa Trung tâm An Giang, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 10-4-2016, là BV chuyên khoa hạng II, tự chủ hoàn toàn về kinh phí hoạt động thường xuyên, quy mô 310 giường bệnh. TS.BS Trần Quang Hiền, Giám đốc BV, cho biết: BV có đầy đủ các khoa, như: Khám bệnh, Cấp cứu nhi, ICU nhi, Phẫu thuật - Gây mê hồi sức, Hậu phẫu - Hậu sản, Sanh - Cấp cứu, Nội nhi, Liên chuyên khoa, Dinh dưỡng, Kiểm soát nhiễm khuẩn… Mỗi khoa đều được trang bị hệ thống thiết bị YT đồng bộ, hiện đại phục vụ chuyên môn, nâng cao chất lượng khám, điều trị bệnh.

Nổi bật nhất là BV đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học- kỹ thuật hiện đại, nhiều kỹ thuật khám, chữa bệnh (KCB) được ứng dụng có hiệu quả cao, như: phẫu thuật nội soi cắt tử cung, siêu âm đàn hồi mô tuyến vú - tuyến giáp, chụp X quang tử cung vòi trứng cản quang (HSG), xét nghiệm ThinPrep Pap test (phát hiện sớm tiền ung thư cổ tử cung), tầm soát tim bẩm sinh bằng phương pháp đo SpO2 (máy đo nồng độ Oxy trong máu)...

Một trong những nội dung đổi mới của BV là thực hiện đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ, nhân viên hướng tới sự hài lòng của người bệnh; lấy các tiêu chuẩn, đạo đức cán bộ YT, các quy định về kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hóa với người bệnh làm yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, nhân viên.

BV Sản - Nhi An Giang là một trong những đơn vị rất đáng tự hào của ngành YT tỉnh trong việc đảm bảo chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Giám đốc Sở YT Từ Quốc Tuấn cho biết: hiện nay, mạng lưới KCB toàn tỉnh gồm 16 cơ sở YT công lập, với quy mô 3.580 giường bệnh, trong đó có 6 BV tuyến tỉnh, với 2.360 giường bệnh, 10 BV tuyến huyện (với 1.220 giường bệnh), 11 phòng khám đa khoa khu vực (250 giường bệnh), 156 trạm YT xã (1.560 giường bệnh)…

Bên cạnh đầu tư hệ thống YT cơ sở, nhiều công trình tuyến tỉnh cũng được đầu tư, như: BV Đa khoa Trung tâm An Giang (900 giường), BV Đa khoa Khu vực tỉnh tại TP. Châu Đốc (600 giường), mở rộng và đầu tư thiết bị BV Tim mạch và xây dựng trụ sở 4 đơn vị YT (YT dự phòng, Kiểm nghiệm Dược phẩm - Mỹ phẩm, Truyền thông giáo dục sức khỏe, Giám định y khoa)…

Ngành YT đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị ngày càng hiện đại, đồng bộ theo hướng hiện đại hóa, chuyên khoa hóa tuyến tỉnh và phổ cập tuyến cơ sở. Các BV tuyến tỉnh đã triển khai thực hiện nhiều kỹ thuật cao, như: kỹ thuật tim mạch can thiệp, phẫu thuật sọ não, nội soi, phẫu thuật chấn thương chỉnh hình, phẫu thuật mắt bằng máy Phaco, cấy ghép răng…

Đặc biệt, năm 2017, đã triển khai phẫu thuật tim hở tại BV Tim mạch An Giang; các BV tuyến huyện đảm bảo thực hiện được các kỹ thuật KCB đa khoa theo tuyến và phát triển thêm một số kỹ thuật tuyến tỉnh… Qua đó, góp phần nâng cao năng lực YT cơ sở, giải quyết tình trạng quá tải BV, nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe Nhân dân.     

Một trong những kết quả nổi bật là hệ thống YT dự phòng được đầu tư nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh, thực hiện tốt các chương trình mục tiêu YT và dân số. Ông Từ Quốc Tuấn cho biết: ngành YT tỉnh luôn chủ động trong công tác dự phòng nói chung và phòng, chống dịch bệnh nói riêng nên khống chế tốt các dịch bệnh lưu hành, không để phát sinh các dịch bệnh mới.

Cùng với đó, các dịch vụ YT ngày càng phát triển, phục vụ tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe Nhân dân, qua đó cải thiện các chỉ tiêu về sức khỏe. Tuổi thọ trung bình hiện là 74 tuổi, tỷ suất tử vong mẹ giảm từ 22/100.000 trẻ đẻ sống (năm 2008) xuống còn 18,2/100.000 trẻ đẻ sống (năm 2017), tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi giảm dần…

Đặc biệt, ngành YT tỉnh thường xuyên giáo dục tăng cường thi đua thực hiện y đức, củng cố việc thực hiện quy chế chuyên môn tại các cơ sở điều trị. Qua đó, tạo được niềm tin của Nhân dân, tăng sức hút điều trị tại cơ sở YT Nhà nước ngày càng cao.

HỮU HUYNH

 Về đầu trang


Nghề y – nghề của niềm vinh dự và trách nhiệm (26/07/2018)

Mỗi người khi trưởng thành thường ấp ủ những hoài bão và lựa chọn cho mình ngành nghề  yêu thích và đam mê. Mỗi ngành, mỗi nghề đều có những đặc thù riêng, nhưng đối với những người được công tác trong ngành y đều xác định đây là vinh dự lớn lao nhưng cũng là trọng trách không nhỏ bởi chính họ sẽ là người trực tiếp tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho mọi người, mọi nhà.

Người dân được khám bệnh và phát thuốc tại Phường Minh Khai, TP Hà Giang

Cùng với dòng chảy thời gian, đã 63 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu viết thư gửi Hội nghị cán bộ ngành Y tế ngày 27/2/1955 và căn dặn:  "...cán bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. Lương y  như từ mẫu".Thực hiện lời dạy của Người, trong thời gian qua, ngành Y tế tỉnh nhà đã kế thừa và phát huy những thành tựu của thế hệ đi trước, khắc phục mọi khó khăn thách thức, lớp lớp thế hệ cán bộ y tế không ngừng học tập và tu dưỡng, tận tụy, nỗ lực phấn đấu với mong muốn được hiến dâng công sức và trí tuệ của mình để đóng góp cho sự nghiệp y tế ngày càng phát triển. Đến nay, ngành Y tế đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật: Luôn đổi mới phương thức lãnh đạo, cải tiến lề lối làm việc, đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh, cũng như thực hiện tốt Quy tắc ứng xử, Quy chế dân chủ tại các đơn vị; kiện toàn, ổn định hệ thống y tế từ tỉnh đến xã, định hướng phát triển các bệnh viện, trung tâm chuyên sâu theo quy hoạch phát triển của ngành và phù hợp với địa phương; chú trọng tới công tác đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ cho cán bộ y tế các tuyến; ngành cũng quan tâm đào tạo công tác quản lý, chính trị gắn với quy hoạch đội ngũ công chức lãnh đạo, viên chức quản lý; triển khai hiệu quả các Chương trình mục tiêu y tế quốc gia; thực hiện có chất lượng Chuẩn quốc gia về y tế xã; đẩy mạnh các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng. Các bệnh viện đã tiến hành cải tiến chất lượng bệnh viện, ứng dụng nhiều kỹ thuật mới hiện đại trong khám, chữa bệnh, phối hợp với các bệnh viện trung ương thực hiện có hiệu quả Đề án Bệnh viện vệ tinh; thông tuyến khám, chữa bệnh BHYT tạo điều kiện thuận lợi cho người dân; đảm bảo cung ứng đủ thuốc phòng dịch và thuốc chữa bệnh; triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư cho ngành Y tế, nhiều công trình y tế đã hoàn thành, nhiều trang thiết bị đã được đưa vào sử dụng; đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý điều hành, quản lý chuyên môn...

Một cái áo không lành có thể bỏ, đi sai đường chúng ta có thể đi lại, nhưng với sức khỏe và tính mạng của con người thì không. Nhận thức được điều đó nên cũng dễ hiểu tại sao những cán bộ y tế thường giữ im lặng hoặc ít biện hộ cho những hành động và việc làm của mình khi người bệnh hoặc người nhà phản ánh. Bởi với họ không gì quan trọng hơn là sức khỏe người bệnh. Họ cần mẫn, lặng lẽ làm việc bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và trái tim của người thầy thuốc. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một cách thẳng thắn, tuy không nhiều nhưng vẫn còn những cán bộ chưa thực sự niềm nở, nhẹ nhàng, giải thích và tư vấn rõ ràng, cụ thể cho người bệnh, người nhà người bệnh khiến gây nên những hiểu lầm và tạo không khí căng thẳng, bức xúc từ phía người bệnh. Cần nghiêm khắc và lên án đối với những thầy thuốc có việc làm trái với đạo đức nghề nghiệp.

Đáp ứng sự hài lòng của người bệnh là mục tiêu mà ngành Y tế luôn xác định là vấn đề ưu tiên, vô cùng quan trọng và được thực hiện bằng nhiều cách thức nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Thiết nghĩ, mỗi cán bộ y tế khi đã lựa chọn và quyết tâm gắn bó với nghề cũng đồng nghĩa với việc họ sẽ chấp nhận những gian khổ, hiểm nguy, thậm chí cả những tai nạn nghề nghiệp, những rủi ro có thể xảy ra. Nhưng một khi đã đam mê, được cống hiến với sự nghiệp đã lựa chọn và theo đuổi, những chiến sĩ áo trắng sẽ làm việc bằng tất cả công sức và trí tuệ để thực hiện tốt trọng trách lớn lao nhưng cũng đầy vinh dự này bởi với họ - hạnh phúc chỉ đơn giản là làm cho người bệnh hài lòng.

Ngọc Ánh 

Về đầu trang


Kông Chro (Gia Lai): Phấn đấu giữ vững tiêu chí quốc gia về y tế xã (2/8)

Những năm qua, ngành Y tế huyện Kông Chro đã không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng khám-chữa bệnh cũng như duy trì các tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế xã.

Còn nhiều khó khăn 

Huyện Kông Chro hiện có 1 bệnh viện, 1 ban y tế dự phòng, 1 phòng khám đa khoa khu vực và 13 trạm y tế xã, thị trấn. Trong quá trình thực hiện các tiêu chí chuẩn quốc gia về y tế, ngành Y tế huyện gặp khá nhiều khó khăn. Địa hình đồi núi, các thôn làng trải rộng, dân cư thưa thớt khiến cho công tác tuyên truyền, thực hiện các chiến dịch y tế khá vất vả. Hầu hết trạm y tế xã vẫn chưa đảm bảo được cơ sở vật chất theo quy định, diện tích chật hẹp. Một số trạm y tế đã bắt đầu xuống cấp mà chưa được đầu tư, sửa chữa kịp thời. Ngoài ra, các trạm y tế đều chưa có hệ thống xử lý rác thải y tế đúng quy định, chỉ có hầm xử lý rác thải sinh hoạt; rác thải rắn phải vận chuyển về Trung tâm Y tế huyện để xử lý.

Bác sĩ Phan Thị Hoa-Phó Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Kông Chro, chia sẻ: “Vấn đề nhân lực cũng là một trong những trở ngại. Hiện tại, huyện có 23 bác sĩ, trong đó chỉ có 2 bác sĩ định biên cho Trạm Y tế xã Yang Nam và Yang Trung, các trạm khác thì bác sĩ ở Trung tâm phải thường xuyên luân chuyển để đảm bảo công tác khám-chữa bệnh tuyến cơ sở”. Ngoài ra, ý thức chăm sóc sức khỏe của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn nhiều hạn chế, gây khó khăn cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Phấn đấu giữ vững tiêu chí quốc gia về y tế xã

Dù còn nhiều khó khăn, trở ngại nhưng ngành Y tế huyện Kông Chro vẫn nỗ lực triển khai các chương trình, dự án quốc gia về y tế; tăng cường phòng-chống dịch bệnh và nâng cao chất lượng khám-chữa bệnh. Hiện có 12/13 trạm y tế xã, thị trấn đã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Công tác tiêm chủng mở rộng được các trạm y tế triển khai thực hiện khá hiệu quả. Số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm, uống đủ 8 loại vắc xin luôn đạt từ 95% trở lên. Chị Đinh Thị Khol-nhân viên y tế làng Kpil (xã Đak Tơ Pang) bày tỏ: “Trước đây, mỗi lần đến lịch tiêm chủng, tôi thường phải đến từng nhà để nhắc nhở mọi người đưa con đi tiêm. Tuy nhiên, nhận thức của bà con còn chưa cao nên ít người nghe theo lắm. Thấy con mình sau mỗi lần tiêm về hay bị nóng sốt nên lần sau họ không cho con đi nữa. Nhờ chú trọng tuyên truyền, giải thích nên dần dần bà con cũng hiểu và tự giác đưa con đi tiêm chủng đúng lịch”.

Trong năm 2017, toàn huyện có 1.196 trẻ dưới 1 tuổi được tiêm, uống đủ 8 loại vắc xin (đạt 95,8% kế hoạch); có 1.126 phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván (đạt 140,8% kế hoạch). Bên cạnh đó, Trung tâm Y tế huyện cũng tổ chức lớp tập huấn phần mềm quản lý tiêm chủng mở rộng cho các nhân viên y tế thực hiện công tác tiêm chủng tại bệnh viện và 13 trạm y tế xã, thị trấn.

Công tác y tế dự phòng cũng được ngành Y tế huyện triển khai đồng bộ. Trong năm 2017, số ca sốt rét, sốt xuất huyết, cúm, tiêu chảy, quai bị đều được kéo giảm. Bác sĩ Phan Thị Hoa cho hay: “Để không xảy ra dịch bệnh, đặc biệt là sốt rét và sốt xuất huyết, Trung tâm Y tế huyện đã triển khai giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh tại các xã trọng điểm và các ổ dịch cũ, tăng cường công tác vệ sinh môi trường, đẩy mạnh tuyên truyền phòng-chống”. Cũng theo bác sĩ Hoa, trong thời gian tới, để nâng cao hơn nữa chất lượng khám-chữa bệnh, phòng-chống dịch bệnh và phấn đấu giữ vững tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020, ngành Y tế huyện sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các kế hoạch và giải pháp, đặc biệt là việc phòng-chống dịch bệnh trong thời gian cao điểm mùa mưa và thời điểm giao mùa, phát hiện và dập tắt dịch kịp thời đi đôi với chú trọng công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn.

Phương Linh

Về đầu trang


Nỗ lực giảm thời gian chờ khám, chữa bệnh (1/8)

Tại các bệnh viện tuyến huyện, tỉnh, thời gian chờ khám bệnh đã rút ngắn khá nhiều so với trước đây. Nhưng ở bệnh viện tuyến trung ương, thời gian chờ vẫn còn dài, cho nên ngành y tế đã yêu cầu các bệnh viện thực hiện ngay những giải pháp cụ thể để rút ngắn thời gian chờ đợi của người bệnh.

 

Triển khai Ðề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013 - 2020 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã tập trung thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, trong đó có giảm quá tải khu vực ngoại trú bằng việc cải tiến quy trình khám bệnh. Toàn ngành thống nhất quy trình khám bệnh tại tất cả các bệnh viện đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế và người bệnh khám, chữa bệnh theo yêu cầu theo quy trình cơ bản gồm 4 đến 8 bước (tùy theo tính chất của bệnh và yêu cầu của bác sĩ đối với các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán), giảm khoảng 50% so với quy trình từ 10 đến 15 bước trước đây. Ðồng thời, cắt giảm một số thủ tục hành chính như: bệnh viện phải phô-tô giấy tờ cần thiết thay vì yêu cầu người bệnh phải tự phô tô; sau khi làm xét nghiệm, người bệnh không phải chờ để tự lấy kết quả xét nghiệm (trừ kết quả chẩn đoán hình ảnh); cắt giảm hai trong năm chữ ký trong phiếu thanh toán viện phí khi ra viện. Bộ Y tế cũng yêu cầu bệnh viện tăng số bàn khám để giảm số lượng khám trên mỗi bàn khám và giúp bác sĩ có thể tăng thời gian khám, tư vấn cho người bệnh.

Sau 5 năm thực hiện Quyết định 1313/QÐ-BYT hướng dẫn quy trình khám bệnh tại bệnh viện, các cơ sở y tế cũng đã tích cực triển khai nhiều hoạt động cải thiện môi trường khoa phòng, khu vực khám bệnh; cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian chờ khám bệnh; thực hiện cải tiến môi trường vệ sinh chung của bệnh viện theo hướng khang trang, thuận tiện, tiện nghi, sạch đẹp hơn... Nhờ đó, kết quả khảo sát sự hài lòng cho thấy yếu tố hài lòng nhất của người bệnh là khả năng tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh.

Báo cáo của Cục Quản lý chất lượng khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cho thấy: thời gian khám lâm sàng chung của cả ba tuyến bình quân là 66,5 phút (giảm 53,5 phút); tuy nhiên thời gian chờ vẫn rất dài, với 45,4 phút. Khám lâm sàng theo hai kỹ thuật phối hợp cả xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh là 200 phút (giảm so với quy định 40 phút), tuy nhiên thời gian chờ là 92,6 phút... Bình quân giảm thời gian khám bệnh trên một lượt khám so với trước khi có cải tiến là 48,5 phút, qua đó tiết kiệm được tới hơn 27 triệu ngày công lao động mỗi năm.

Theo Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, hiện nay tại các bệnh viện tuyến huyện, tỉnh, thời gian chờ khám của người dân đã giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, tại các bệnh viện tuyến trung ương, người bệnh vẫn phải chờ rất lâu. Người bệnh đi khám nhịn ăn sáng, xếp hàng lấy số từ 5 - 6 giờ sáng nhưng phải đến 8 - 9 giờ mới được khám. Những trường hợp phải làm thêm các xét nghiệm sinh hóa, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng… thì có thể kéo đến chiều. Chính vì vậy, người đứng đầu ngành y tế đưa ra mục tiêu: Không thể để người bệnh chờ khám cả buổi, bằng mọi giải pháp quyết liệt để người bệnh không phải đợi quá lâu. Các bệnh viện phải quyết tâm, phải đặt quyền lợi của người bệnh lên trước để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tăng giờ khám, bàn khám, khám sớm và có thể tính đến giải pháp khám sau 17 giờ và hẹn khám theo giờ. 

Thống kê của nhiều bệnh viện, kể cả bệnh viện tuyến trung ương cho thấy, có tới 80% số người bệnh tới khám vào buổi sáng, trong khi buổi chiều lại vắng vẻ. Vì thế, giải pháp đơn giản nhất là hẹn thời gian khám bệnh. Ở nhiều nước trên thế giới đã thực hiện đặt lịch hẹn khám, khi họ đến khám chỉ cần chờ từ 5 đến 10 phút. Tuy nhiên, khi đã đặt lịch thì phải bố trí người khám cẩn thận, chu đáo, sau một lần sẽ thành thói quen, người bệnh đỡ phải chờ đợi. Với những người bệnh chỉ đến tái khám, không phải làm xét nghiệm thì nên chuyển sang buổi chiều. 

Theo kinh nghiệm của nhiều nước, muốn giảm thời gian chờ khám bệnh, phải đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin. Người bệnh đặt lịch online; giới hạn số lượt khám bệnh từng ngày; thống kê sự tăng giảm số lượng người bệnh theo từng ngày để bố trí đội ngũ bác sĩ và đầu tư trang thiết bị vào những khu vực có nhu cầu. Ngoài ra, nên triển khai hệ thống thông báo tin nhắn SMS khi gần đến lượt khám của người bệnh. Giảm tối đa dùng giấy, tất cả thông tin đều được liên kết bằng hệ thống máy tính. Người bệnh khi khám sẽ được cấp mã số thông suốt trong suốt quá trình khám, chữa bệnh ở các bệnh viện. 

Để rút ngắn thời gian chờ đợi, các bệnh viện cần cải cách hơn nữa các thủ tục hành chính, nhất là những hạn chế trong quy trình nhận diện thẻ bảo hiểm y tế; tăng cường dịch vụ đặt lịch khám qua điện thoại, có sự phối hợp tích cực của cơ quan bảo hiểm xã hội để quản lý người bệnh, hỗ trợ máy lấy số thứ tự cho một số bệnh viện. 

Giải pháp về lâu dài mà ngành y tế cũng đang tích cực triển khai là nâng cao chất lượng y tế cơ sở để đưa người mắc các bệnh mạn tính như: tăng huyết áp, tiểu đường… về khám định kỳ, nhận thuốc tại tuyến y tế cơ sở, không cần phải lên tuyến trên, vừa tránh tình trạng quá tải, vừa giúp người bệnh không phải chờ lâu và giảm chi phí đi lại.

Thúy Hằng

Về đầu trang


Nhiều quy định mới trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện (31/7)

Tập trung thực hiện giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV), giám sát tuân thủ thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) nhằm giảm thiểu nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế là những nội dung mới trong Thông tư Quy định về KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) thay thế Thông tư số 18/2009/TT-BYT.

Để khắc phục những hạn chế trong KSNK và định hướng phát triển công tác KSNK trong các cơ sở KBCB, bảo đảm an toàn cho người bệnh và nhân viên y tế, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư Quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở KBCB thay thế Thông tư số 18/2009/TT-BYT. Ngày 31-7, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị triển khai Thông tư này với sự tham gia của đại diện các Sở Y tế, bệnh viện trực thuộc Trung ương, tỉnh.

Gánh nặng bệnh tật vì nhiễm khuẩn bệnh viện

Thứ trưởng Y tế Nguyễn Viết Tiến cho biết, NKBV đã và đang là gánh nặng cho người bệnh, các cơ sở KBCB trên toàn cầu, đặc biệt ở các nước chậm và đang phát triển do làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng sử dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn và tăng chi phí điều trị.

Tỷ lệ NKBV ở các nước phát triển khác nhau dao động trong khoảng 3,5% - 12%. Phân tích gần đây của WHO cho thấy các ca NKBV ở các nước đang phát triển thường xảy ra với tần suất cao hơn do hạn chế nguồn lực so với các nước phát triển.

ThS Trần Hữu Luyện, Phó Chủ tịch Hội KSNK Thừa - Thiên Huế cho biết, NKBV tại Việt Nam làm tăng gấp 2-3 lần thời gian nằm viện và tăng gấp 2 lần chi phí điều trị trực tiếp. Đáng báo động là nhiễm khuẩn do vi khuẩn đa kháng A.baumannii, K.pneumoniae... gặp ở 19%-31% NK ở bệnh nhân có phẫu thuật, trong đó là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong ở 5%-10% người bệnh mắc NKBV. "Tỷ lệ nhân viên y tế tuân thủ các quy trình KSNK trong chăm sóc người bệnh nói chung và người bệnh phẫu thuật nói riêng thường chỉ đạt tỷ lệ 50%-70%. Tỷ lệ người bệnh được sử dụng liều kháng sinh dự phòng đúng trước phẫu thuật chỉ đạt 10-20%", BS Luyện cho hay.

Bên cạnh đó, tỷ lệ NK tiết niệu chiếm khoảng 25% số người bệnh mắc NKBV, trong đó 80% liên quan đến đặt thông tiểu dẫn lưu bàng quang. Tỷ lệ vệ sinh tay ở nhân viên y tế dù đã tốt hơn trước nhưng cũng chỉ dao động từ 30-40%.

Tháng 3 vừa qua, 200 đơn vị đã ký cam kết triển khai thực hiện các giải pháp tăng cường KSNK, phòng ngừa lây nhiễm bệnh trong bệnh viện. Công tác KSNK đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về chính sách; về tổ chức hệ thống; hoạt động KSNK được triển khai thực hiện với chất lượng ngày càng cao tại hầu hết các cơ sở KBCB. “Bước đầu các bệnh viện thực hiện giám sát ca bệnh NKBV, giám sát tuân thủ vệ sinh tay, giám sát tuân thủ các quy trình KSNK, giám sát vi sinh vật gây NKBV và kháng kháng sinh, từng bước chuẩn hóa công tác khử khuẩn, tiệt khuẩn, tăng cường vệ sinh bệnh viện, chủ động phòng chống bệnh dịch...”, Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến nói.

Tuy nhiên công tác KSNK của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều thách thức. Trong đó, vai trò của người làm công tác y tế cũng chưa được quy định rõ về trách nhiệm trong thực hiện KSNK. Một số người đứng đầu cơ sở KBCB hiện nay vẫn chưa thật sự hiểu hết vai trò, tầm quan trọng của công tác KSNK, do vậy việc đầu tư nguồn lực cho hoạt động KSNK chưa phù hợp và hiệu quả. Nhân lực giám sát chuyên trách KSNK thiếu ở hầu hết các bệnh viện. Đa số nhân viên phụ trách công tác giám sát NKBV chưa được đào tạo do vậy chưa thực hiện được giám sát chủ động, liên tục các loại NKBV thường gặp và giám sát các vi khuẩn đa kháng kháng sinh.

Bên cạnh đó, nguồn lực cho KSNK còn hạn hẹp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác KSNK tại nhiều bệnh viện chưa được quan tâm đầu tư đúng quy định. Công tác KSNK tại các bệnh viện tập trung nhiều vào giặt là, hấp sấy, quản lý chất thải mà chưa chú trọng vào công tác giám sát bao gồm giám sát tuân thủ thực hành KSNK và giám sát tỷ lệ NKBV.

Thông tư mới kiểm soát chặt nhiễm khuẩn bệnh viện

Tới đây, ngành y tế sẽ tiếp tục tăng cường ứng dụng nhiều kỹ thuật cao trong chẩn đoán, điều trị như phát triển nội soi, phẫu thuật tim mạch, ghép bộ phận cơ thể người, ghép tế bào gốc…. Các chuyên khoa hệ nội, ngoại, sản, nhi, truyền nhiễm nay đã có sự phát triển thành các lĩnh vực chuyên môn sâu, triển khai nhiều kỹ thuật đòi hỏi phải vô khuẩn cao. Sự phát triển đó đòi hỏi công tác KSNK phải được tăng cường, phát triển tương xứng, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất NKBV, bảo đảm an toàn cho người bệnh và nhân viên y tế.

PGS.TS Nguyễn Viết Tiến nhấn mạnh, Thông tư Quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở KBCB thay thế Thông tư số 18/2009/TT-BYT sẽ có nhiều nội dung đổi mới, quy định cụ thể về công tác KSNK tại các bệnh viện.

Theo đó, về hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn, các cơ sở KBCB có từ 150 giường bệnh trở lên phải có đầy đủ Hội đồng, khoa/bộ phận và mạng lưới KSNK; các cơ sở KBCB có dưới 150 giường bệnh tối thiểu phải có bộ phận KSNK thuộc phòng kế hoạch tổng hợp, có mạng lưới KSNK và có người phụ trách KSNK làm việc toàn thời gian; cơ sở KBCB không có giường bệnh nội trú tối thiểu phải phân công một người phụ trách KSNK.

Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở KBCB. Thông tư cũng đưa ra các yêu cầu đào tạo của Lãnh đạo khoa/người phụ trách KSNK, người làm giám sát chuyên trách, khử khuẩn, tiệt khuẩn.

Về nhiệm vụ chuyên môn, Bộ Y tế yêu cầu các bệnh viện đẩy mạnh vai trò kiểm tra, giám sát NKBV, Giám sát tuân thủ thực hành KSNK. Trao quyền hạn và trách nhiệm cho bộ phận giám sát chuyên trách trong việc thực hiện giám sát NKBV, giám sát tuân thủ thực hành KSNK của tất cả người hành nghề, sinh viên, học sinh, người bệnh, người nhà người bệnh. Một số nhiệm vụ khác về vệ sinh môi trường (vệ sinh bề mặt, diệt côn trùng…), nhà vệ sinh, phòng chống bệnh dịch cũng đã được bổ sung vào Thông tư.

Theo Thông tư mới này, các bệnh viện được phép xã hội hóa công tác vệ sinh bệnh viện, xử lý chất thải, đồ vải và dụng cụ y tế dưới sự kiểm soát chuyên môn của KSNK và tuân thủ các quy định hiện hành.

“Thông tư KSNK là một bước tiến quan trọng trong việc định hướng KSNK vào những nhiệm vụ trọng tâm đó là thực hiện giám sát NKBV, giám sát tuân thủ thực hành KSNK nhằm giảm thiểu nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế cho người bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng”, Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến nói.

THIÊN LAM

Về đầu trang


Khu dân cư 30 năm không có người sinh con thứ ba

Trong thực hiện dân số - kế hoạch hóa gia đình, việc giảm sinh con thứ ba luôn là bài toán khó đối với nhiều địa phương, đặc biết là thay đổi nhận thức của những gia đình sinh con một bề là gái. Tuy nhiên, có những địa phương như khu 16, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ lại là điểm sáng trong công tác dân số, khi 30 năm liền không có người sinh con thứ ba.  

Mặc dù sinh hai con gái, nhưng gia đình anh Trần Đức Anh và chị Nguyễn Thị Nga quyết không sinh thêm để có điều kiện chăm sóc các con và tập trung phát triển kinh tế gia đình. Gia đình hòa thuận, cuộc sống khá giả, vợ chồng anh chị nhiều năm liền đạt danh hiệu gia đình văn hóa của xã. Hai con của anh chị là Trần Hải Ánh (8 tuổi), và cháu Trần Ánh Linh (6 tuổi) được sự chăm sóc, dạy dỗ của ông bà, cha mẹ nên đều chăm ngoan học giỏi, là niềm hạnh phúc của cả gia đình. Anh Trần Đức Anh chia sẻ: Được cán bộ phụ trách dân số của khu dân cư vận động chỉ nên sinh hai con, dù trai hay gái cũng đều được chăm sóc, nuôi dạy như nhau và bản thân vợ chồng cũng đồng thuận nên hai con của chúng tôi được chăm sóc rất chu đáo, đầy đủ.

Cũng ở khu 16 có gia đình chị Hà Thị Thúy Điệp cũng sinh được hai con gái.Anh chị đều làm trong nhà máy Z4, con cái đã lớn, kinh tế gia đình ngày càng khá giả nên anh chị không có ý định sinh con thứ 3. Chị Điệp tâm sự: Ngày xưa cũng mong muốn sinh thêm một cậu con trai cho có “nếp” có “tẻ” nhưng rồi được cán bộ dân số xã động viên, hai vợ chồng thống nhất làm kinh tế rồi tính tiếp. Giờ con cái đã lớn, nghĩ đến việc sinh thêm con thứ ba thấy ngại lắm, vừa vất vả sớm hôm, lại vừa không có thời gian bảo ban hai cháu lớn...”

Khu 16, xã Phú Hộ hiện có 181 hộ, 691 nhân khẩu, chủ yếu là cán bộ công nhân viên chức nên cơ bản có ý thức chấp hành tốt chính sách dân số của đảng và nhà nước. Có rất nhiều cặp vợ chồng dù sinh con một bề vẫn quyết không sinh con thứ ba. Bên cạnh việc lồng ghép các chương trình tuyên truyền chính sách dân số -  kế hoạch hóa gia đình trong các buổi sinh hoạt ở khu dân cư, các cộng tác viên dân số đến từng nhà vận động các ông bố bà mẹ chỉ sinh hai con, hướng dẫn họ cách dạy dỗ và chăm sóc con cái. Sự nỗ lực cố gắng vận động, tuyên truyền công tác dân số - KHHGĐ của các cán bộ dân số đã làm thay đổi nhận của người dân về vấn đề không sinh con thứ ba. Bà Nguyễn Thị Khuê- cộng tác viên dân số khu 16, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ cho biết: “Lúc đầu cũng khó khăn vì có những gia đình, ông bà, bố mẹ, đến người chồng cũng rất muốn sinh thêm con thứ ba để có con nối dõi. Chúng tôi đã đến trực tiếp tư vấn, động viên, tuyên truyền và giải thích cho các gia đình nhiều lần rằng ở thời hiện đại việc chăm con, nuôi dạy đầy đủ sẽ cần thiết hơn là đông con vừa vất vả về kinh tế, vừa chia sẻ tình cảm nhiều cho các cháu.... Cuối cùng các hộ gia đình đó đã đồng ý không sinh con thứ ba”. 

Toàn xã Phú Hộ hiện có 19 cộng tác viên dân số - gia đình và trẻ em phụ trách 19 khu dân cư, với 3562 hộ và 13588 nhân khẩu, trong đó có 3370 nữ và 2242 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Hàng năm, các ngành, đoàn thể lồng ghép tuyên truyền, vận động về chính sách dân số - KHHGĐ thông qua các cuộc họp nhóm, sinh hoạt chi, tổ hội. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động, các cặp vợ chồng nhận thức và quyết tâm dừng lại ở hai con để nuôi dạy tốt. Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Phó Chủ tịch UBND xã Phú Hộ cho biết: Phát huy kết quả đã đạt được, địa phương tiếp tục tuyên truyền vận động các khu dân cư, cũng như các hộ dân thực hiện chính sách dân số, phối hợp với các ban ngành đoàn thể lồng ghép các chương trình tuyên truyền về dân số - KHHGĐ, đặc biệt bám sát các nghị quyết của Đảng về chính sách dân số để nâng cao chất lượng dân số trong thời gian tới, duy trì, giữ vững danh hiệu địa phương nhiều năm liền không có người sinh con thứ ba.

30 năm liền không có người sinh con thứ ba, khu 16, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ là một điểm sáng về chính sách dân số - KHHGĐ. Khu nhiều năm được Tổng cục dân số - KHHGĐ và Sở Y tế biểu dương, khen thưởng. Để thực hiện tốt công tác dân số của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 21 của Ban Chấp hành TW Đảng về công tác dân số - KHHGĐ trong tình hình mới, những mô hình điển hình như khu 16,xã Phú Hộ rất cần được nhân rộng ở các địa phương. 

 Ngọc Bích

Về đầu trang


Hội thảo góp ý dự thảo Thông tư quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế (6/8)

Chiều 6/8, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức hội thảo đóng góp ý kiến vào dự thảo Thông tư quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến tham dự và chủ trì hội nghị. Tham dự còn có Thứ trưởng Trương Quốc Cường; Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn; lãnh đạo các Vụ, Cục, Sở Y tế, Bệnh viện, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế; lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Cục Quản lý Đấu thầu – Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đại diện của Hiệp hội, Hội và các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh và phân phối trong lĩnh vực Dược trong nước và quốc tế.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến chủ trì Hội nghị

Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh: Công tác đấu thầu thuốc là một nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế nhằm đảm bảo việc lựa chọn được các thuốc có chất lượng tốt để phục vụ công tác điều trị bệnh cho nhân dân, nhưng đồng thời phải đảm bảo có giá hợp lý để tiết kiệm chi phí tiền thuốc cho người bệnh, cho quỹ BHYT và ngân sách Nhà nước.

Hội thảo nhằm lắng nghe ý kiến của các đối tượng trực tiếp chịu sự điều chỉnh của văn bản, cũng như trực tiếp triển khai các quy định về đấu thầu mua sắm thuốc nhằm giúp Bộ Y tế ban hành Thông tư mới khắc phục cơ bản được các khó khăn, bất cập trong công tác đấu thầu, mua sắm thuốc hiện nay, đảm bảo cung ứng kịp thời, đủ thuốc có chất lượng tốt với giá hợp lý để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Theo Cục Quản lý Dược, dự thảo lần này có các điểm mới nổi bật là việc xác định các tiêu chí kỹ thuật của các nhóm thuốc tại Ðiều 5 Chương II về phân chia gói thầu, nhóm thuốc gồm: gói thầu thuốc generic, gói thầu thuốc biệt dược gốc và tương đương điều trị, gói thầu thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền và gói thầu dược liệu, gói thầu vị thuốc cổ truyền. Mỗi gói thầu thuốc đều có tiêu chí cụ thể đối với các nhóm thuốc.

Cụ thể, tại gói thầu thuốc generic xác định các tiêu chí kỹ thuật chi tiết, rõ ràng với việc mỗi danh mục thuốc generic được phân chia thành 5 nhóm thuốc. Nhà thầu có thuốc đáp ứng tiêu chí kỹ thuật của nhóm nào thì được dự thầu vào nhóm đó. Các nhóm thuốc trên đều phải đáp ứng các tiêu chí có nguồn gốc, nguồn cung cấp nguyên liệu rõ ràng; có cùng công thức bào chế; quy trình sản xuất phải giám sát được tiêu chuẩn chất lượng đối với cả sản phẩm thuốc của nước ngoài hay do Việt Nam sản xuất. Ðặc biệt, các tiêu chí đưa ra một mặt đảm bảo chất lượng thuốc tốt nhất, một mặt nhằm hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp dược trong nước tham gia...

Các đại biểu tham dự Hội thảo

Thứ trưởng Bộ Y tế Trương Quốc Cường nhấn mạnh, thuốc đã được đấu thầu đưa vào bệnh viện thì phải là thuốc tốt. Các cơ sở y tế cần đặt ưu tiên trong mọi trường hợp phải sử dụng nhóm thuốc cao nhất (nhóm thuốc generic) và chỉ khi nào nhóm thuốc generic không có thì mới sử dụng nhóm thuốc thấp hơn. Ðiều này nhằm đảm bảo nguồn cung ứng chất lượng thuốc tốt nhất trong điều trị khám chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho người dân.

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Dược Việt Nam Trần Ðức Chính cho rằng, dự thảo Thông tư đã đề cập đầy đủ các nội dung xung quanh việc quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập, các nội dung Thông tư không xung đột với các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành. Tuy nhiên, Ban soạn thảo cần xác định chi tiết, rõ ràng quy định ghi dạng bào chế đối với gói thầu generic vì mỗi 1 dạng bào chế là một kỹ thuật khác nhau...

Tiếp thu các ý kiến đóng góp của các đơn vị, doanh nghiệp dược trong nước và quốc tế tại cuộc họp, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đề nghị các đại biểu tiếp tục gửi ý kiến góp ý về Cục Quản lý Dược, Ban soạn thảo dự thảo Thông tư sẽ tiếp thu, tổng hợp và hồi đáp tất cả các ý kiến góp ý để hướng đến việc hoàn thiện dự thảo Thông tư đạt kết quả cao nhất./.

Phạm Cường

Về đầu trang


Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân(10/8)

Thực hiện Nghị quyết 20-CT/TW, tỉnh Bắc Kạn đề ra mục tiêu nâng cao sức khoẻ của người dân cả về thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống. Xây dựng hệ thống y tế chất lượng, hiệu quả, công bằng và hội nhập; đội ngũ cán bộ y tế có y đức, có năng lực chuyên môn vững vàng, nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh.

 Khám chữa bệnh cho người cao tuổi tại Trung tâm Y tế TP. Bắc Kạn.

Để triển khai, thực hiện hiệu quả Nghị quyết 20-NQ/TW, UBND tỉnh Bắc Kạn yêu cầu các ngành chức năng triển khai sâu rộng, toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, từng địa phương, đơn vị trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; cụ thể hóa để thực hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết.

Trên tinh thần Nghị quyết đề ra công tác triển khai thực hiện trên địa bàn cần quyết liệt, đầy đủ, toàn diện và gắn với thực tiễn đơn vị, địa phương. Các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ về bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và dân số được đưa vào chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương. Cùng với đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.

Với các mục tiêu cụ thể, từ nay đến năm 2025 tuổi thọ trung bình khoảng 74,5 tuổi, số năm sống khoẻ đạt tối thiểu 67 năm.  Người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số. Tỉ lệ chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho y tế giảm còn 35%. Tiêm chủng mở rộng đạt tối thiểu 95% với 12 loại vác-xin. Giảm tỉ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi dưới 18‰; dưới 1 tuổi dưới 12,5‰. Trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi dưới 5 tuổi ở mức dưới 26,7%. Phấn đấu trên 90% dân số được quản lý sức khoẻ. 95% trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm. Tỉ lệ giường bệnh tư nhân đạt 5%. Tỉ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 80%...

Mục tiêu đến năm 2030 tuổi thọ trung bình khoảng 75 tuổi, số năm sống khoẻ đạt tối thiểu 68 năm. Tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế trên 95% dân số. Tỉ lệ chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho chăm sóc y tế giảm còn 30%. Bảo đảm tỉ lệ tiêm chủng mở rộng đạt 95% với 14 loại vắc xin. Giảm tỉ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi còn 15‰; dưới 1 tuổi còn 10‰. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi dưới 25%. Phấn đấu trên 95% dân số được quản lý sức khoẻ; 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm. Tỉ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 90%. Cơ bản chấm dứt các dịch bệnh AIDS, lao và loại trừ sốt rét.

Để thực hiện các nội dung trên, UBND tỉnh đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và cung cấp dịch vụ y tế thuận lợi về mặt địa lý. Tiếp tục mở rộng, nâng cấp, Bệnh viện Đa khoa tỉnh lên bệnh viện hạng I. Xây dựng đề án thực hiện thống nhất trong toàn tỉnh mô hình mỗi huyện, thành phố chỉ có một trung tâm y tế đa chức năng, bao gồm y tế dự phòng, dân số, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác. Tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở y tế và phát triển kỹ thuật mới...

Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các hình thức đào tạo nâng cao. Thu hút các bác sĩ, dược sĩ về làm việc tại tuyến huyện và xã, vùng khó khăn. Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và mỗi người dân nhằm thay đổi hành vi, lối sống để phòng bệnh và nâng cao sức khỏe. Xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh, vệ sinh.

Thực hiện đồng bộ các đề án, chương trình về nâng cao sức khỏe và tầm vóc người dân. Chủ động phòng, chống dịch bệnh. Từng bước triển khai thực hiện lập hồ sơ, khám, quản lý sức khoẻ đến từng người dân trong tỉnh. Tập trung chỉ đạo các hoạt động dự phòng gắn với y tế cơ sở. Triển khai các chương trình bổ sung vi chất cần thiết cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em, người cao tuổi. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại các tuyến. Phát huy hiệu quả Đề án bệnh viện vệ tinh. Củng cố hệ thống tổ chức mạng lưới và tăng cường năng lực cấp cứu ở cả 3 tuyến tỉnh, huyện, xã.

Đẩy mạnh cải cách hành chính. Thực hiện tốt lộ trình thông tuyến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng bệnh viện, phấn đấu tất cả cơ sở khám, chữa bệnh nâng điểm chất lượng theo tiêu chí của Bộ Y tế. Từng bước triển khai thực hiện kiểm định độc lập, đánh giá chất lượng dịch vụ, xếp hạng bệnh viện theo chất lượng.

Tăng cường công tác quản lý chất thải y tế, bảo đảm các điều kiện vệ sinh môi trường trong các cơ sở y tế. Khuyến khích phát triển y tế tư nhân. Tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ y tế. Đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc thiết yếu cho nhu cầu khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Đẩy mạnh công tác phát triển y dược cổ truyền, đẩy mạnh kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong phòng bệnh, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe. Tăng cường công tác vận động, kêu gọi đầu tư, huy động các nguồn lực hợp tác quốc tế cho công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và tài chính của các nước, các tổ chức quốc tế. Sử dụng các nguồn lực hợp lý, hiệu quả.../.

Bích Ngọc 

Về đầu trang


Khắc phục cơ bản khó khăn trong đấu thầu thuốc khi có Thông tư mới (12/8)

Thông tư quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập mới sẽ khắc phục cơ bản được các khó khăn, bất cập trong công tác đấu thầu, mua sắm thuốc, giúp lựa chọn được thuốc tốt nhất với giá hợp lý.

Bộ Y tế đang soạn thảo Thông tư mới thay thế Thông tư số 11/2016/TT-BYT ngày 11-5-2016 quy định về việc đấu thầu mua thuốc tại các cơ sở y tế công lập, và lấy ý kiến của các đơn vị liên quan để hoàn thiện Thông tư.

Ông Nguyễn Tất Đạt, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược, đại diện cho Ban soạn thảo cho biết, điểm mới nổi bật trong việc sửa đổi tại Thông tư mới này là việc xác định các tiêu chí kỹ thuật của các nhóm thuốc tại Điều 5, Chương II về phân chia gói thầu, nhóm thuốc gồm: gói thầu thuốc generic; gói thầu thuốc biệt dược gốc và tương đương điều trị; gói thầu thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền; gói thầu dược liệu; gói thầu vị thuốc cổ truyền.

“Mỗi gói thầu thuốc đều có tiêu chí cụ thể đối với các nhóm thuốc. Cụ thể, tại gói thầu thuốc generic xác định các tiêu chí kỹ thuật chi tiết, rõ ràng với việc mỗi danh mục thuốc generic được phân chia thành 5 nhóm thuốc. Nhà thầu có thuốc đáp ứng tiêu chí kỹ thuật của nhóm nào thì được dự thầu vào nhóm đó. Nhưng các nhóm thuốc trên đều phải đáp ứng các tiêu chí: phải có nguồn gốc, nguồn cung cấp nguyên liệu rõ ràng; có cùng công thức bào chế; quy trình sản xuất phải giám sát được tiêu chuẩn chất lượng đối với cả sản phẩm thuốc của nước ngoài hay do Việt Nam sản xuất”, ông Nguyễn Tất Đạt nói.

Các tiêu chí này được đưa ra một mặt bảo đảm chất lượng thuốc cao nhất, một mặt nhằm hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp dược trong nước tham gia vào đáp ứng các tiêu chí đối với nhóm thuốc generic chất lượng tốt nhất theo đúng chủ trương do Chính phủ đề ra trong việc thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp dược liệu quốc gia.

Nhấn mạnh mục tiêu của việc sửa đổi Thông tư lần này, Thứ trưởng Y tế Trương Quốc Cường cho biết, thuốc đã được đấu thầu đưa vào bệnh viện thì phải là thuốc tốt. Các cơ sở y tế cần đặt ưu tiên trong mọi trường hợp phải sử dụng nhóm thuốc cao nhất (nhóm thuốc generic) và chỉ khi nào nhóm thuốc generic không có thì mới sử dụng nhóm thuốc thấp hơn. Điều này nhằm để bảo đảm nguồn cung ứng chất lượng thuốc tốt nhất trong điều trị khám, chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho người dân.

Theo Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, công tác đấu thầu thuốc là một nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế nhằm bảo đảm việc lựa chọn được các thuốc có chất lượng tốt để phục vụ công tác điều trị bệnh cho nhân dân, nhưng đồng thời phải bảo đảm có giá hợp lý để tiết kiệm chi phí tiền thuốc cho người bệnh, cho quỹ bảo hiểm y tế và ngân sách nhà nước. Thông tư mới này sẽ khắc phục cơ bản những khó khăn, bất cập trong công tác đấu thầu thuốc như phân nhóm thuốc theo tiêu chí kỹ thuật để bảo đảm lựa chọn thuốc trúng thầu có chất lượng tốt để cung ứng cho các cơ sở y tế, đồng tăng cường giám sát chất lượng thuốc cung ứng cho các cơ sở y tế thông qua các tiêu chí kỹ thuật của cơ sở sản xuất và sản phẩm thuốc.

Bên cạnh đó, Thông tư sẽ bổ sung các quy định để ưu tiên cho các thuốc trong nước có chất lượng như: các thuốc sản xuất tại các nhà máy đạt EU-GMP; thuốc biệt dược gốc chuyển giao sản xuất tại Việt Nam; thuốc được gia công, chuyển giao công nghệ từ các nước ICH… Thông tư cũng bổ sung làm rõ một số quy định nhằm tăng cường cạnh tranh, công bằng, minh bạch trong lựa chọn nhà thầu, tránh việc chủ đầu tư đưa ra các quy định, điều kiện làm hạn chế sự tham gia của nhà thầu, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của gói thầu.

“Để công bằng trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng thuốc, cần quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ sở y tế, các nhà thầu khi ký kết hợp đồng cung ứng thuốc trúng thầu để ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp trúng thầu nhưng không gọi hàng hoặc trúng thầu nhiều nhưng gọi hàng ít để bảo đảm công bằng với trách nhiệm của nhà thầu trong việc bảo đảm cung ứng thuốc trúng thầu”, Bộ trưởng Y tế nói.

Hiện nay, dự thảo đang nhận được nhiều ý kiến đóng góp để ban soạn thảo hoàn chỉnh Thông tư. Trong đó, ông Trần Đức Chính, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Dược Việt Nam đề nghị “Ban soạn thảo cần xác định chi tiết, rõ ràng quy định ghi dạng bào chế đối với gói thầu generic vì mỗi một dạng bào chế là một kỹ thuật khác nhau...". Có ý kiến đề xuất bỏ vaccine ra khỏi đối tượng phạm vi điều chỉnh vì đặc thù cung ứng vaccine khi có dịch bệnh xảy ra; đề nghị xác định rõ hơn tiêu chí kỹ thuật thành phẩm thuốc khi tham gia vào đấu thầu các gói thuốc bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia.

Trên tinh thần tiếp thu các góp ý của các đơn vị, Ban soạn thảo dự thảo Thông tư sẽ tiếp thu và tổng hợp và hồi đáp tất cả các ý kiến góp ý để hướng đến việc hoàn thiện dự thảo Thông tư đạt kết quả cao nhất.

TRẦN NGUYÊN

Về đầu trang


Hướng tới sự hài lòng của người tham gia bảo hiểm y tế (13/8)

Thực hiện lộ trình BHYT toàn dân, bên cạnh việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách về BHYT, BHXH tỉnh Nam Định đã phối hợp với Sở Y tế có nhiều giải pháp giám định BHYT, góp phần nâng cao chất lượng KCB của người có thẻ BHYT.

Tính đến ngày 1-8-2018, toàn tỉnh có 1.529.013 người tham gia BHYT, đạt gần 83% dân số. Thời gian qua, BHXH tỉnh đã triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện tốt chính sách pháp luật về BHYT, đảm bảo bình ổn quỹ KCB. Công tác giám định BHYT tiếp tục được triển khai và thực hiện theo Luật BHYT sửa đổi, bổ sung; Nghị định số 105/NĐ-CP; Thông tư số 41/TTLT-BYT-BTC; Thông tư số 40/TT-BYT. Ngay từ đầu năm, BHXH tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế triển khai và thực hiện việc ký kết hợp đồng KCB BHYT năm 2018, thanh lý hợp đồng KCB BHYT năm 2017 với 32 cơ sở KCB trong toàn tỉnh đúng quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BHYT sửa đổi. Đồng thời tăng cường phối hợp với các cơ sở KCB trên địa bàn thực hiện tốt công tác KCB BHYT, đảm bảo chi đúng, chi đủ chi phí KCB; tăng cường công tác kiểm tra tại các cơ sở KCB BHYT, chú trọng công tác kiểm tra các cơ sở KCB có chi phí lớn và kiểm tra chéo giữa các bệnh viện để kiểm soát chi phí, chỉ đạo các giám định viên tăng cường kiểm tra bệnh nhân nội trú và giám sát chặt chẽ chi phí KCB BHYT tại các cơ sở KCB. Tiếp tục phối hợp với ngành Y tế kiểm soát chi phí bất hợp lý tại các cơ sở KCB theo cảnh báo từ hệ thống giám định điện tử. UBND tỉnh đã giao dự toán chi KCB BHYT năm 2018 cho từng cơ sở KCB trên địa bàn tỉnh với tổng số tiền chi KCB BHYT là 976,610 tỷ đồng. Đến ngày 1-7-2018, toàn tỉnh có 1.300.000 lượt người khám chữa bệnh tại các cơ sở KCB trong tỉnh, với tổng số tiền KCB BHYT là 546,800 tỷ đồng, bằng 57% dự toán chi KCB năm 2018. Ngành BHXH đã thực hiện công tác giám định gồm: Kiểm tra thủ tục KCB BHYT; kiểm tra, đánh giá việc chỉ định điều trị, sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư y tế (VTYT), thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật (DVKT) cho người bệnh; kiểm tra, xác định chi phí KCB BHYT. Các hoạt động này nhằm đảm bảo người tham gia BHYT được cung cấp các dịch vụ y tế (DVYT) phù hợp với tình trạng bệnh, tương xứng với số tiền mà quỹ BHYT chi trả cho cơ sở y tế; đảm bảo những đồng tiền người tham gia BHYT đóng góp được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.

Hướng tới sự hài lòng của người có thẻ BHYT, các cơ sở KCB BHYT trong tỉnh đã thực hiện quy trình KCB theo Quyết định 1313 của Bộ Y tế như: Kê thêm giường để tránh bệnh nhân có thẻ BHYT nằm ghép; bố trí khu khám bệnh hợp lý, mỗi bệnh viện đều có tổ công tác xã hội để đón tiếp người bệnh ngay từ khi đến khám để phân loại kịp thời, giải thích về chế độ, hướng dẫn bàn khám. Thực hiện Thông tư 37, các bệnh viện trong tỉnh đều thực hiện cam kết đổi mới phong cách và thái độ phục vụ người bệnh; thực hiện công khai đường dây nóng để giải quyết kịp thời thắc mắc của người bệnh trong quá trình KCB BHYT. Bệnh nhân vào các khoa được giải thích rõ về quy chế, quyền lợi, nghĩa vụ, mức độ bệnh tật ngay từ đầu và được yêu cầu thực hiện trật tự, giữ vệ sinh buồng bệnh. Sở Y tế chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống y tế cơ sở, xây dựng các trạm y tế xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; toàn tỉnh có 211 xã đạt tiêu chí quốc gia (chiếm tỷ lệ 92,14%). Công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý KCB và thanh toán BHYT được triển khai đồng bộ. Đến nay, các cơ sở KCB BHYT trong tỉnh đã hoàn thành triển khai hạ tầng CNTT, phần mềm kết nối liên thông dữ liệu KCB thanh toán BHYT và đã cập nhật thành công dữ liệu KCB thanh toán BHYT lên cổng tiếp nhận của cơ quan BHXH tỉnh. Việc ứng dụng CNTT đã giúp các cơ sở KCB khai thác thông tin, tra cứu thẻ BHYT, lịch sử KCB BHYT của từng bệnh nhân, giảm thời gian, công sức trong quản lý hồ sơ và quản lý KCB thông tuyến trên phạm vi toàn tỉnh; thuận lợi trong thanh toán chi phí KCB BHYT, ngăn ngừa trục lợi, lạm dụng quỹ BHYT; giúp các bệnh viện quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực, thống nhất thu viện phí, công khai minh bạch tài chính bệnh nhân, kiểm soát sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.

Thời gian tới, BHXH tỉnh phối hợp với các cơ quan hữu quan đổi mới phương pháp tổ chức thực hiện công tác giám định với 2 hình thức giám định: giám định tự động và giám định tập trung. Cụ thể, về phương pháp giám định tự động: Xác định được tầm quan trọng của việc thẩm định chi phí KCB trên hệ thống thông tin giám định BHYT, BHXH tỉnh Nam Định đã hoàn thành việc duyệt danh mục cho gần 300 cơ sở KCB của tỉnh thuộc 39 đầu mối ký hợp đồng KCB BHYT với cơ quan BHXH. Tổ chức lại hình thức quản lý từ chuyên quản theo nhóm sang cán bộ chuyên quản trực tiếp. Về phương pháp giám định tập trung: BHXH tỉnh đã thành lập 4 nhóm thực hiện giám định cho các cơ sở KCB trên địa bàn tỉnh quản lý. Đối với cơ sở KCB thuộc BHXH huyện được phân cấp quản lý, BHXH tỉnh cử cán bộ hỗ trợ chuyên môn và chịu trách nhiệm kết quả thẩm định. Chỉ đạo các phòng nghiệp vụ đẩy mạnh quy chế phối hợp trong công tác để kiểm tra, giám định chi phí KCB BHYT. Trong đó, các kỳ quyết toán việc kiểm soát chi phí thuốc, vật tư y tế được Phòng Kế hoạch - Tài chính kiểm soát qua hóa đơn mua hàng, theo số liệu cân đối xuất - nhập - tồn để đảm bảo chi phí thuốc, dịch vụ y tế và vật tư đã thực hiện được sử dụng cho người bệnh. Hằng năm Phòng Thanh tra - Kiểm tra xây dựng và thực hiện kiểm tra chi phí KCB BHYT tại các cơ sở KCB trên địa bàn tỉnh. Tăng cường kiểm soát chuyển tuyến KCB và ngày giường điều trị nội trú; thường xuyên kiểm tra người bệnh nằm điều trị nội trú, kiên quyết từ chối chi phí KCB của người bệnh điều trị nội trú nhưng không nằm viện. Tích cực tham gia vào các khâu trong đấu thầu tập trung thuốc tại tỉnh, kiên quyết từ chối các thuốc có hàm lượng lạ, có giá cao bất hợp lý. Đối với vật tư y tế có giải giá rộng, những đơn vị có giá đấu thầu cao hơn mặt bằng chung của tỉnh thì phần chi phí chênh lệch được coi là nguyên nhân chủ quan nếu đơn vị vượt nguồn kinh phí KCB BHYT./.

Việt Thắng

Về đầu trang


Bộ trưởng Bộ Y tế: Không thể chấp nhận một bệnh nhân phải đợi đến 4 giờ chỉ để khám bệnh (13/8)

Một bệnh viện mà khám từ 8.000 đến 10.000 lượt mỗi ngày là không thể chấp nhận được, bởi trên thế giới không có bệnh viện nào có mức khám bệnh cao như thế.

Đó là chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến tại buổi làm việc với bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh ngày 13/8 về công tác khám chữa bệnh, cải tiến chất lượng khám chữa bệnh; phát triển nguồn nhân lực, đổi mới thái độ, phong cách phục vụ người bệnh…

Mòn mỏi đợi khám bệnh

Trung bình một ngày, bệnh viện Chợ Rẫy có khoảng gần 10.000 lượt khám bệnh. Dù bệnh viện đã thực hiện nhiều giải pháp như khám bệnh từ 4 giờ 30 sáng, bố trí thêm nhiều phòng khám, đầu tư xây dựng cơ sở nhưng tình trạng quá tải vẫn không cải thiện. Tương tự, tại bệnh viện Đại họcY Dược TP Hồ Chí Minh, số lượt người tới khám bệnh trung bình một ngày khoảng hơn 8.500 lượt và bệnh viện này cũng đã thực hiện rất nhiều giải pháp nhưng thời gian chờ đợi của bệnh nhân để khám bệnh vẫn rất lâu.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, không thể để bệnh nhân chờ đợi 4 tiếng mới được khám bệnh

Tại phòng khám Khoa tiêu hóa bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, chị Nguyễn Thị Phượng (42 tuổi, tỉnh Khánh Hòa) đến bệnh viện từ lúc hơn 6 giờ sáng và chờ đợi đến hơn 10 giờ vẫn chưa được khám. Cách đây một ngày, chị cũng mất cả ngày mới được nội soi dạ dày.

Cùng cảnh ngộ, từ lúc 5 giờ sáng, anh Phạm Văn Hưng (ngụ An Giang) đã đến bệnh viện Chợ Rẫy để đăng ký khám bệnh, thế nhưng đến tận 9 giờ sáng cùng ngày anh Hưng vẫn phải chờ đợi thêm 50 số thứ tự nữa mới đến lượt mình khám.

Trong sáng 13/8, đến thăm bệnh viện, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cũng hỏi thăm một số bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, trong đó có rất nhiều bệnh nhân ở các tỉnh đến khám, điều trị. Đa số những bệnh nhân này cho rằng, họ không tin vào bệnh viện tuyến địa phương, dù mất thời gian di chuyển, tiền bạc và chờ đợi lâu mới tới lượt khám nhưng họ vẫn chọn lên TP Hồ Chí Minh để khám bệnh. 

Như trường hợp của gia đình anh Nguyễn Văn An (ngụ Kiên Giang) phải thuê xe với mức giá 3 triệu đồng từ nhà đến bệnh viện Chợ Rẫy để khám bệnh cho mẹ anh với những bệnh thông thường mà các bệnh viện tuyến tỉnh cũng có thể điều trị được như huyết áp, tiểu đường. Anh An bức xúc: “Trước đây vợ tôi cũng bị bệnh liên quan đến xoang mũi, khi đi khám tại bệnh viện ở địa phương, bác sĩ tại đây yêu cầu mổ. Tôi không đồng ý nên đưa vợ đến bệnh viện Tai Mũi Họng TP Hồ Chí Minh thì các bác sĩ cho biết chỉ cần uống thuốc chứ không cần mổ gì cả”.

“Không thể chấp nhận một bệnh nhân phải chờ đợi đến 4 giờ đồng hồ để chỉ được khám bệnh hoặc tái khám tại bệnh viện tuyến trên, trong khi những bệnh này có thể được giải quyết tại tuyến dưới”, Bộ trưởng Bộ Y tế bức xúc.

Các bệnh viện phải tìm cách giảm tải bệnh viện

Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ Y tế đánh giá cao nỗ lực của hai bệnh viện trong công tác nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và hướng tới hài lòng người bệnh. Đối với bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, Bộ trưởng đánh giá cao mô hình tự chủ sớm của bệnh viện. Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng đề nghị bệnh viện phải rạch ròi mô hình cơ cấu nhân lực, nâng cao đời sống cho nhân viên và làm sao để mức thu nhập của nhân viên y tế phải xứng đáng với sức lao động. Còn đối với bệnh viện Chợ Rẫy, Bộ trưởng Bộ Y tế cho rằng đây là bệnh viện hạt nhân đầu đàn ở phía Nam đã chuyển giao công nghệ cho hàng chục bệnh viện từ Nam Trung Bộ trở vào, trong đó có rất nhiều kỹ thuật cao như ghép tạng và qua những nỗ lực vượt bậc của bệnh viện Chợ Rẫy, người dân được thụ hưởng một nền y tế với chất lượng cao.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng cho rằng, hạn chế lớn nhất của hai bệnh viện trên chính là số lượng người bệnh đến khám quá động dẫn đến thời gian chờ đợi lâu. “Một nền y tế tốt không thể để bệnh nhân chờ 4 giờ đồng hồ để khám bệnh, không thể để mỗi ngày một bệnh viện khám 8.000- 10.000 bệnh nhân”, Bộ trưởng Tiến nhấn mạnh.

Trước vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh: Các bệnh viện phải đề xuất và triển khai các biện pháp để giảm tải bệnh viện. Bộ Trưởng cũng đề nghị các bệnh viện không khám quá 5.000 lượt bệnh nhân mỗi ngày. Muốn như vậy, các bệnh viện phải quyết tâm, làm sao để đưa bác sĩ tuyến cuối về các trung tâm y tế, đặt phòng khám vệ tinh của bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Đại học Y Dược tại các bệnh viện quận… đồng thời lọc bệnh ngay từ ban đầu và hướng dẫn để người dân hiểu.

T.L- Theo TTXVN

Về đầu trang


Mường Nhé (Điện Biên): Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tuyến cơ sở (14/8)

Bác sĩ Lò Văn Dũng, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên cho biết: Hiện nay, Trung tâm có 27 bác sĩ. Thời gian qua, công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đã được ngành Y tế huyện nỗ lực thực hiện với nhiều giải pháp đồng bộ. Mặc dù vậy, đối với các trạm y tế xã, nhất là các trạm y tế chưa có bác sĩ (7/11 trạm y tế chưa có bác sĩ) thì số lượng các ca bệnh phải chuyển tuyến còn nhiều, gây quá tải tuyến trên và khó khăn trong việc đi lại của bà con.

Trước thực tiễn đó, để từng bước nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân, Trung tâm đã chủ động xây dựng kế hoạch luân phiên tăng cường cử bác sĩ xuống cơ sở 2 buổi/tuần hỗ trợ khám chữa bệnh trực tiếp tại các trạm. Ðây là việc làm thiết thực và kịp thời không chỉ giúp các trạm y tế xã giảm tải áp lực mà còn tạo điều kiện thuận lợi để người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế hiện đại, đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh ban đầu ngay tại tuyến cơ sở. 

 

Bác sĩ Trung tâm Y tế huyện Mường Nhé thăm khám cho bệnh nhân.

Ðể đảm bảo chất lượng phục vụ nhân dân, Trung tâm đã điều động và khuyến khích bác sĩ có kinh nghiệm, năng lực, trình độ; ưu tiên bác sĩ là con em đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu phong tục tập quán và tiếng dân tộc luân phiên về cơ sở tăng cường, đặc biệt là những xã khó khăn, vùng sâu, vùng xa, chưa có bác sĩ. Ðiều dễ nhận thấy khi bác sĩ tăng cường về các trạm là hiệu suất khám, chữa bệnh được cải thiện, tăng cao về số lượng và chất lượng; việc sơ cứu, cấp cứu các trường hợp rủi ro do tai nạn lao động, dịch bệnh, tự sát bằng thuốc trừ sâu... được kịp thời, giảm thiểu các ca tử vong. Cùng với đó, công tác phòng, chống dịch bệnh, điều trị thông thường cho người dân được thực hiện hiệu quả, rất nhiều ca bệnh khó, nguy hiểm đã được phát hiện, chuyển tuyến và điều trị kịp thời; hỗ trợ tuyến dưới thực hành các phương pháp, kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh, nâng cao tay nghề, hạn chế tình trạng chuyển tuyến không cần thiết.

Tuy nhiên, cũng theo bác sĩ Lò Văn Dũng: Ðể việc đưa bác sĩ về tuyến cơ sở đem lại những hiệu quả thiết thực rất cần sự chung tay của các cấp, các ngành... Ðặc biệt, cần chủ động trong công tác đào tạo bác sĩ tuyến dưới hướng tới các đối tượng là người địa phương, con em đồng bào dân tộc thiểu số; có chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo (năm 2017 - 2018, Trung tâm có 5 bác sĩ được cử đi học chuyên khoa)… Từ đó, hỗ trợ và tiếp thêm niềm tin để những thầy thuốc cắm bản yên tâm công tác, cống hiến cho bản làng vùng cao.

Bác sĩ Lèo Văn Hoàng, Trạm Y tế xã Pá Mỳ, cho biết: Ðược phân công về trạm y tế xã, tôi chủ động sắp xếp thời gian cùng cán bộ Trạm phối hợp với UBND các xã thông báo về ngày, giờ và lịch khám cụ thể để người dân biết và đến đúng giờ. Tôi cũng hỗ trợ thêm cho cán bộ y tế Trạm cách sơ cứu ban đầu một số bệnh thường gặp, phát hiện bệnh và chuyển tuyến kịp thời, đảm bảo an toàn tính mạng cho bệnh nhân; góp phần củng cố và tạo lòng tin trong nhân dân về hệ thống y tế cơ sở.

Có thể khẳng định, việc tăng cường bác sĩ về tuyến xã ở Mường Nhé là phù hợp với nguyện vọng người dân, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tiếp cận các dịch vụ y tế hiện đại, thu hẹp dần khoảng cách dịch vụ y tế giữa tuyến trên và cơ sở. Từ đó, làm hạn chế tình trạng vượt tuyến, giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên. Mặc dù vậy, để công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân thực sự có hiệu quả, đặc biệt đối với huyện biên giới Mường Nhé rất cần có sự hỗ trợ của Ðảng và Nhà nước về nhân lực, trang thiết bị, thuốc và vật tư y tế…

Phúc Anh - Tuấn Quang

Về đầu trang


Nhân rộng các mô hình nâng cao chất lượng dân số (16/8)

Những năm qua, Chi cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) tỉnh Quảng Trị đã triển khai nhiều mô hình, đề án về công tác DS - KHHGĐ với cách làm hay, hiệu quả. Từ đó, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản từng bước được cải thiện, đáp ứng nhu cầu của người dân, góp phần nâng cao chất lượng dân số ở địa phương.

Một trong những mô hình mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng dân số là mô hình tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản- kế hoạch hóa gia đình (CSSKSS/KHHGĐ) cho thanh niên, vị thành niên. Mô hình là kênh thông tin hữu ích, giúp giới trẻ thay đổi nhận thức, chủ động tham gia khám sức khỏe trước khi kết hôn và sử dụng các biện pháp tránh thai; khi mang thai đến cơ sở y tế để khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Trong khuôn khổ hoạt động của đề án tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, đến nay Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh đã chỉ đạo xây dựng được 150 câu lạc bộ (CLB) tiền hôn nhân tại các địa phương, thu hút hơn 5.500 thanh niên sống tại cộng đồng tham gia tại 30 xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn 8 huyện, thị xã, thành phố. Thông qua hoạt động mô hình CLB nhằm cung cấp các kiến thức, kỹ năng về CSSKSS/KHHGĐ cho thanh niên và vị thành niên sống tại cộng đồng. Mỗi tháng, các CLB tổ chức sinh hoạt định kỳ một lần với nhiều nội dung phong phú như tuyên truyền kiến thức về SKSS vị thành niên thông qua hình thức sân khấu hóa, tổ chức hái hoa dân chủ, giao lưu với khách mời là các bác sĩ có chuyên môn, cán bộ của ngành dân số để tìm hiểu thông tin một cách thiết thực, hiệu quả. Chị Trần Thị Thu Trang, thành viên CLB tiền hôn nhân phường Đông Giang, Đông Hà chia sẻ: “Thông qua việc tham gia sinh hoạt tại các CLB tiền hôn nhân, các đoàn viên thanh niên được trang bị những kiến thức, kỹ năng sống cần thiết để tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân mình, nâng cao năng lực để trở thành những tuyên truyền viên hay giáo dục viên đồng đẳng trong lĩnh vực dân số, chăm sóc SKSS/KHHGĐ”.

Xác định việc triển khai thực hiện mô hình làng không có người sinh con thứ 3 trở lên là một nội dung trọng tâm của công tác DS - KHHGĐ tại địa phương, trong những năm qua mô hình này đã mang lại những tác động tích cực đối với đời sống kinh tế - xã hội do việc tránh được số sinh chưa cần thiết. Không chỉ hạn chế mức sinh cục bộ, mô hình làng không có người sinh con thứ ba trở lên còn góp phần tích cực vào nỗ lực giảm sinh chung của tỉnh. Đến nay, mô hình này đã phát triển đều khắp ở các huyện, thị xã, thành phố và mang lại hiệu quả thiết thực, tạo môi trường xã hội và điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao nhận thức và có hành vi đúng về các vấn đề liên quan đến DS - KHHGĐ. Đến nay đã có 676/1.082 thôn, bản, khu phố tổ chức phát động xây dựng mô hình làng không có người sinh con thứ ba trở lên (chiếm 62,4% tổng số làng toàn tỉnh); có 146 làng đạt thành tích trên 3 năm liền không có người sinh con thứ ba trở lên, được UBND tỉnh khen thưởng theo Nghị quyết 11/NQ-HĐND tỉnh với tổng kinh phí khen thưởng 3.340.000.000 đồng, trong đó có 41 làng đạt 5 năm trở lên và 105 làng đạt 3 năm liên tục không có người sinh con thứ ba trở lên.

Bên cạnh đó, các hoạt động truyền thông, giáo dục với nội dung, hình thức và cách tiếp cận phù hợp từng vùng, từng nhóm đối tượng được ngành dân số tỉnh đẩy mạnh thực hiện trong nhiều năm qua. Nhờ vậy, nhận thức của người dân về chính sách dân số được nâng lên, quy mô gia đình ít con thu hút nhiều cặp vợ chồng thực hiện, góp phần từng bước nâng cao chất lượng dân số. Chi cục DS - KHHGĐ đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường các hoạt động truyền thông với hàng trăm tin bài được phát sóng trên Đài PTTH tỉnh và đăng trên Báo Quảng Trị đã tạo được sự chuyển biến tích cực về nhận thức, hành vi của người dân trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác DS - KHHGĐ. Đồng thời đẩy mạnh các hoạt động truyền thông tại cộng đồng với việc đổi mới về nội dung, phong phú về hình thức. Thường xuyên phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể trong công tác tuyên truyền, vận động như nói chuyện chuyên đề, lồng ghép trong các cuộc họp dân, sinh hoạt các CLB thực hiện chính sách DS - KHHGĐ, sinh hoạt nhóm nhỏ, đoàn thể…Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nhất là hoạt động nhân Ngày Dân số thế giới 11/7, Tháng hành động quốc gia về dân số, Ngày Dân số Việt Nam 26/12, đợt truyền thông cao điểm về mất cân bằng giới tính khi sinh…Thường xuyên cấp phát tài liệu tuyên truyền cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở củng cố và duy trì hoạt động mô hình thôn không có người sinh con thứ ba trở lên, các câu lạc bộ tư vấn, CSSKSS tiền hôn nhân...

Cùng với việc tăng cường công tác tư vấn tại trạm y tế cho các bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ, ngành dân số tỉnh đặc biệt chú trọng quản lý phụ nữ, các bà mẹ mang thai có nguy cơ sinh con bị dị tật, khuyết tật cao. Đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số tăng cường các hoạt động tư vấn, thăm hộ gia đình, tư vấn nhóm nhỏ, tư vấn tại trạm y tế về DS/CSSKSS/KHHGĐ, tiếp cận với các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, vận động đối tượng chủ động tham gia thực hiện các biện pháp tránh thai, xây dựng quy mô gia đình ít con. Bác sĩ Trương Hữu Thiện, Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh cho biết: “Trong thời gian tới, ngành dân số tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông, chuyển trọng tâm chính sách dân số từ KHHGĐ sang dân số và phát triển với các nhiệm vụ chính như: Đầu tư chăm sóc người cao tuổi, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, sàng lọc trước sinh và sơ sinh, chăm sóc sức khỏe - tư vấn tiền hôn nhân, lồng ghép với vấn đề cung cấp dịch vụ KHHGĐ. Đồng thời tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, vận động về chính sách dân số cả nội dung và hình thức. Trong đó tập trung vào đối tượng khó tiếp cận, thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình triển khai, thực hiện các mô hình nâng cao chất lượng dân số ở địa phương; kịp thời biểu dương, khuyến khích các cá nhân, tập thể đạt thành tích tốt nhằm phát huy hiệu quả, nhân rộng các mô hình”.

Lệ Hà

Về đầu trang


Sự sáng tạo trong hoạt động tuyên truyền vận động của các chức sắc trong công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ở Thái Bình và Hưng Yên

Qua các con số thống kê và ý kiến của người dân cho thấy, nhiều người dân quan tâm về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh và hưởng ứng việc triển khai các mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục tình trạng Mát cân bằng giới tính khi sinh”. Việc triển khai các mô hình là nhu cầu cấp thiết và biện pháp hữu hiệu cho việc giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức triển khai thí điểm tại địa bàn 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình là phù hợp.

(Ảnh minh họa)

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đặt ra trong cả nước nói chung và tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh tại Hưng Yên và Thái Bình cùng với nhu cầu ứng dụng mô hình nói riêng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) tiến hành khảo sát, xây dựng mô hình. Từ đó phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng Giáo hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên, tại Thái Bình là vận động sự ủng hộ của tòa Giám mục Thái Bình để triển khai thực hiện mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại các xã điểm Đại Đồng và Chỉ Đạo của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại xã Đông Cường (Đông Hưng), Nam Hải (Tiền Hải), tỉnh Thái Bình. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò của các chức sắc tôn giáo trong việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Cụ thể, tại Hưng Yên, trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô hình, Ban Thường trực, Ban Chỉ đạo các Tăng Ni đã có những cách làm sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ (trụ trì chùa Nôm, xã Đại Đồng) đã chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hưng Yên về giảng dạy trực tiếp những nội dung liên quan đến vấn đề mất cân bằng giới tính cho các tín đồ Phật tử. Tại buổi tuyên truyền đã có 150 Phật tử tham gia nghe giảng. Bên cạnh đó, trụ trì của các Chùa cũng thường xuyên lồng ghép nội dung về mất cân bằng giới tính vào các buổi thuyết pháp, giảng đạo cho tín đồ trong các ngày lễ.  “Thầy Huệ rất nhiệt tình. Tiếng nói của thầy rất có uy tín. Thầy bận nhiều việc nhưng báo trước thì thầy cũng đi cùng “Các vị chức sắc ở xã hiện giờ mới có chùa vân Ổ là sư Tiến, chùa Đại Từ có sư Giang, chùa Lộc Thượng thì có sư Từ nhưng sư Từ thì cũng chưa được nhập khẩu ở chùa, cũng toàn đi học. Còn sư Tiến, sư Giang và thầy Huệ đây thì rất tích cực. Như hôm buổi lễ Vu Lan trên Vân Ổ, các sư cũng lồng ghép tuyên truyền, và còn tặng cho mỗi Phật tử một quyển sổ có những lời nói của Chùa dạy, cũng hay lắm. Còn ở chùa Nôm này thì thầy Huệ tổ chức vào ngày mùng 4 nói chung Phật tử cũng đông, có thể tuyên truyền. Các vị chức sắc nhiệt tình, thầy Huệ chỉ đạo thì mọi người đều nghe theo. Kể cả Phật tử lẫn các chức sắc thuộc quản lý của thầy. Tại Thái Bình, những buổi thuyết giảng không chỉ được lồng ghép tại các buổi sinh hoạt do UBMTTQ đề nghị mà còn thuyết giảng tại các lễ hôn phối cho các vợ chồng trẻ sau khi xây dựng gia đình. Linh mục Vũ Công Phước đã tổ chức thuyết giảng tại các lễ hôn phối. Ở các buổi lễ trọng như vậy thu hút người dân tham gia rất đông đảo. Việc các vị linh mục tổ chức lồng ghép thuyết giảng các kiến thức về mất cân bằng giới tính sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao.

“Các kiến thức liên quan đến mất cân bằng giới tính được lồng ghép vào các buổi lễ khá nhiều, kết hợp so sánh với các giáo lý giáo luật, kiến thức đời như vậy thì mình là con cái của chúa cần phải hiểu sâu hơn. Số lượng người vào những ngày đông nhất thì phải hơn 1000 người đến dự. Khi vào phần quan trọng thì có linh mục được nói. Giáo dân phải tuân theo buộc phải nghe. Ngày chúa nhật chính là ngày học đạo, lời chúa muốn nói với từng người một. Mỗi một tuần có chủ đề riêng đều có nội dung, ví dụ về hôn nhân đều có chúa nhật riêng về hôn nhân. Sự chuẩn bị bài giảng rất vất vả đòi hỏi phải có sự cập nhật thường xuyên. Giáo lý hôn nhân thì chủ yếu là hôn phối. Còn vào ngày chúa nhật thì nói trước buổi lễ 15-20 phút. Bài giảng là rất quan trọng. Có những bài giảng thì được ghi băng, nhưng không bán rộng rãi, chỉ bán ở các cơ sở chính như các nhà thờ lớn”

Tại các xã thí điểm mô hình trên địa bàn 2 tỉnh và các chức sắc tôn giáo nhận thức và nắm bắt được rõ ràng mục tiêu của việc thực hiện mô hình. Căn cứ vào mục tiêu của chương trình, thực tế tình hình địa phương và mục tiêu của Đại hội Đảng bộ địa phương về công tác dân số, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc của 2 Tỉnh Hưng Yên và Thái Bình đã phối hợp với các Tăng Ni trụ trì các chùa (ở Hưng Yên), và các linh mục chánh xứ kết hợp với các chức việc, trùm trưởng các giáo xứ, họ lẻ (tại Thái Bình) để tổ chức thực hiện.

Phải khải định rằng hoạt động tuyên truyền Kế hoạch hoá gia đình của các chức sắc đã tạo sự đồng thuận, ủng hộ và cam kết của các vị chức sắc tôn giáo trong việc giáo dục, thuyết phục các tín đồ về khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đạt hiệu quả cao thông qua tổ chức hoạt động của mô hình và tăng cường năng lực tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, đặc biệt là những vùng có đông đồng bào là tín đồ tôn giáo nhằm chuyển biến nhận thức của nhân dân về vấn đề này.

Thu Hiền 

Về đầu trang


Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.

Đại Đồng là một xã thuần nông, nhân dân chủ yếu làm ruộng, cách trung tâm huyện lị 7km, có số dân 9.400 nhân khẩu. Nhân dân đều theo Phật giáo, có 6 ngôi chùa, 1 ngôi chùa xếp di tích lịch sử, 5  chùa còn lại mới xây. 4 ngôi chùa có các nhà sư trụ trì.

Có 1 thôn Đình Tổ có 345 nhân khẩu, nhân dân theo đạo công giáo toàn tòng. Diện tích canh tác xã có 419,16 ha, bình quân 1,5 sào/người, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, có 1 thôn (Lộng Thượng) có nghề đúc đồng truyền thống, 1 thôn (Bùng Đông) có nghề gia công quỳ. Đảng bộ có 302 Đảng viên sinh hoạt ở 9 Chi bộ nông thôn và 5 Chi bộ trực thuộc.

(Ảnh minh họa)

Những năm gần đây, tình hình phát triển dân số của xã luôn ở mức 1,2%. Đặc biệt tỷ lệ sinh bé trai tăng nhanh và tỉ lệ người sinh con thứ 3 tăng, chủ yếu tập trung ở lứa tuổi 35 - 40, phần lớn những hộ này đều có điều kiện kinh tế khá giả hoặc chưa có con trai. Nên đã làm ảnh hưởng tới tỉ lệ phát triển dân số của xã.

Ban Thường trực MTTQ tỉnh Hưng Yên đã chọn xã Đại Đồng để xây dựng mô hình điểm. Sau khi được MTTQ Việt Nam quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung của việc xây dựng mô hình điểm. Ban Thường trực MTTQ xã xác định đây là một mô hình hết sức mới, cần làm chuyển biến nhận thức của nhân dân về những quan niệm con trai, con gái và nhận thức việc bình đẳng giới trong gia đình cộng đồng dân cư, mà tập trung chủ yếu là các tín đồ phật tử. Khi thực hiện mô hình điểm, Ban Thường trực MTTQ xã báo cáo với Ban Thường vụ Đảng uỷ, phối hợp với UBND xã xây dựng kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng quý thành lập ban chỉ đạo gồm 12 thành viên. Đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ tổ chức Đảng làm Trưởng ban, Chủ tịch MTTQ xã làm phó ban thường trực. Đặc biệt có các vị tăng, ni trụ trì các chùa tham gia ban chỉ đạo.

Việc lồng ghép mô hình điểm vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" là một trong những nội dung đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ, các ban công tác mặt trận và hướng các hoạt động về các KDC, xây dựng KDC thực sự vững mạnh. Việc lồng ghép mô hình trong cuộc vận động được cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đánh giá cao vai trò của MTTQ trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của địa phương.

Nhìn chung sau 1 thời gian triển khai thực hiện mô hình, các chức sắc tôn giáo đã có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam và xã Đại Đồng nói riêng. Từ đó đã tích cực tuyên truyền cho các phật tử tạo chuyển biến về nhận thức và hành động của các tín đồ phật tử. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô hình, Ban Thường trực, Ban chỉ đạo các Tăng, Ni đã có những cách làm sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục DSKHHĐ tỉnh Hưng Yên về trực tiếp giảng những nội dung: hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp nhằm khắc phục thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam cũng như ở Hưng Yên, kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc cho các tín đồ phật tử đã cung cấp lượng thông tin bổ ích cho các tín đồ phật tử.

 Thông qua hoạt động mô hình thì vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình, xã hội đã được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn. Tư tưởng trọng nam, khinh nữ trong bộ phận không nhỏ người dân đã dần thay đổi và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

Thu Hương

Về đầu trang


Hợp tác tiên phong xây dựng mô hình y tế thông minh (16/8)

Ngày 16-8, Bộ Y tế và Công ty Cổ phần FPT vừa ký kết thỏa thuận hợp tác về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin y tế giai đoạn 2018-2028. Tham dự Lễ ký kết, về phía Bộ Y tế có: PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế; GS.TS.Lê Quang Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; đại diện Lãnh đạo và chuyên viên các Vụ, Cục, Tổng cục, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ, Viện Chiến lược và Chính sách y tế; một số bệnh viện, Sở Y tế. Về phía Tập đoàn FPT có: ông Trương Gia Bình, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn và một số đơn vị thành viên.

Điểm nhấn quan trọng của thỏa thuận hợp tác này là Bộ Y tế và FPT sẽ cùng phối hợp để xây dựng mô hình "Chăm sóc sức khỏe thông minh, Bệnh viện thông minh, Quản trị y tế thông minh". Đây là 3 lĩnh vực quan trọng cần phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

 

Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Y tế và Công ty Cổ phần FPT về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
y tế giai đoạn 2018-2028

Phát biểu tại buổi lễ ký kết, Bộ trưởng Bộ y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh: “Việc ứng dụng công nghệ cần hướng đến việc đem lại sự hài lòng cho người dân và các y bác sĩ trong quá trình sử dụng. Phần mềm bệnh viện thông minh cần đáp ứng được các yêu cầu là thủ tục đơn giản, giảm thời gian chờ đợi, công khai minh bạch. Đồng thời phần mềm bệnh viện thông minh phải đáp ứng được tiêu chí ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Thông tư số 54/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Đối với phần mềm Chăm sóc sức khỏe thông minh (ứng dụng tại các trạm y tế xã/phường gắn với mô hình bác sĩ gia đình), cần làm theo nguyên tắc đơn giản, dễ làm, dễ tiếp cận, phổ cập, hiệu quả từ đó mang lại sự hài lòng cho người dân… Bộ trưởng đề nghị tập đoàn FPT có thể nhanh chóng bắt tay vào triển khai xây dựng mô hình y tế thông minh”.

Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn FPT phát biểu: “Trong lịch sử hơn 20 năm hợp tác với ngành y tế, FPT đã có hàng trăm chuyên gia công nghệ chuyên sâu về nghiệp vụ ngành Y và triển khai hệ thống công nghệ tại hơn 200 bệnh viện, cơ sở y tế. Là công ty tiên phong trong việc phát triển, ứng dụng các công nghệ mới nhất, cộng với sự hiểu biết sâu sắc về các nghiệp vụ ngành y, FPT cam kết sẽ đồng hành cùng với Bộ Y tế đẩy mạnh phát triển và ứng dụng các giải pháp công nghệ mới sẵn sàng cho sự thành công của ngành y trong cuộc cách mạng 4.0”.

Trong thời gian qua, được sự quan tâm, chỉ đạo và đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự phối hợp của các Bộ, Ngành, địa phương, sự hợp tác giúp đỡ của bàn bè quốc tế, sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến và Lãnh đạo Bộ Y tế, với sự cố gắng của toàn ngành Y tế, Y tế điện tử Việt Nam đã từng bước phát triển và hội nhập. Nhiều chính sách liên quan đến phát triển y tế điện tử do Bộ Y tế ban hành, được Bộ Thông tin và Truyền thông đánh giá cao, Bộ Y tế đứng đầu các Bộ về cơ chế, chính sách và các quy định cho ứng dụng công nghệ thông tin (theo kết quả đánh giá xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT, phát triển Chính phủ điện tử năm 2017).

Tại Việt Nam, FPT là doanh nghiệp CNTT hàng đầu và đã triển khai hầu hết các hệ thống CNTT cho các ngành, lĩnh vực quan trọng như ngân hàng, tài chính, y tế, giao thông, bảo hiểm… Trong lĩnh vực y tế, FPT đã có gần 20 năm kinh nghiệm trong việc triển khai các hệ thống CNTT cho ngành y như phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện FPT.eHospital, các giải pháp về Bệnh án điện tử, Bệnh viện không giấy tờ, hồ sơ y tế cá nhân, các giải pháp y tế cộng đồng, y tế thông minh trên toàn quốc... Phần mềm FPT.eHospital được FPT xây dựng từ năm 2000 đến nay đã được ứng dụng thành công tại trên 200 cơ sở y tế trên toàn quốc, từ các bệnh viện lớn khối công lập đến các bệnh viện tư nhân, quốc tế. Từ bệnh viện Đa Khoa đến các bệnh viện Chuyên khoa… Đặc biệt một số tỉnh/thành phố như Đồng Nai, Long An đã ứng dụng FPT.eHospital trong toàn ngành bao gồm ứng dụng về Quản lý ngành, Dự phòng cho tới tất cả các bệnh viện trên toàn tỉnh.

Mới đây FPT đã cho ra mắt Hệ thống quản lý tổng thể bệnh viện thông minh FPT.eHospital phiên bản mới có khả năng vận hành nhiều bệnh viện; cho phép tùy biến quy trình tác nghiệp; triển khai linh hoạt nhiều giai đoạn phù hợp với khả năng đầu tư của từng bệnh viện; phù hợp với mô hình cho thuê dịch vụ CNTT; quản lý bệnh viện thông minh với nhiều tính năng được ứng dụng công nghệ 4.0…

Với các bệnh viện, việc ứng dụng giải pháp FPT.eHospital của FPT đã giúp nâng cao hiệu suất khám chữa bệnh, giúp lãnh đạo bệnh viện quản lý toàn bộ hoạt động với các số liệu trực tuyến theo thời gian thực, tích hợp chữ ký số, bệnh án điện tử… hướng đến xây dựng bệnh viện không giấy tờ; tối ưu hóa quy trình khám chữa bệnh theo hướng nhanh - gọn -chính xác, giảm thời gian/khối lượng công việc thủ tục hành chính; nâng cao công suất, hiệu suất bệnh viện; Quản lý chặt chẽ tài chính, chống thất thoát, tăng thu, giảm chi... .

Phạm Cường

Về đầu trang


Bộ Y tế ra mắt trang thông tin điện tử 'Vì lá phổi khỏe' (16/8)

Chiều 16/8, tại Hà Nội, Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh (Bộ Y tế) và AstraZeneca đã tổ chức lễ ra mắt Trang thông tin điện tử 'Vì lá phổi khỏe' nhằm cung cấp thông tin và giáo dục sức khỏe về bệnh hô hấp, đặc biệt là hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) cho người dân và cán bộ y tế.

Đây là một hoạt động hợp tác được triển khai trong khuôn khổ Bản ghi nhớ chương trình “Vì lá phổi khỏe” tại Việt Nam giữa Cục Quản lý Khám, Chữa bệnh và AstraZeneca ký kết vào năm 2017.

Theo đó, trang thông tin điện tử “Vì lá phổi khỏe” cung cấp các tính năng tương tác và tăng cường mức độ chia sẻ về kiến thức, xây dựng năng lực và kết nối mạng lưới giữa các cơ quan quản lý, các cơ sở y tế, các đối tác, các tổ chức, các nhà lâm sàng, chuyên gia về hô hấp, người bệnh và người dân nói chung để nâng cao hiểu biết, trình độ trong công tác phòng, kiểm soát bệnh tật. Thông tin trong chuyên trang bao gồm các mục: Tin tức - sự kiện cập nhật các thông tin khoa học, những tiến bộ y học mới nhất của Việt Nam cũng như trên thế giới liên quan đến lĩnh vực hô hấp, kiến thức chuyên sâu về bệnh; mục đào tạo y khoa liên tục cung cấp thông tin về các chương trình đào tạo về quản lý hen và BPTNMT cho cán bộ y tế liên quan đến hen và BPTNMT và các bệnh hô hấp nói chung; mục thông tin giúp cung cấp kiến thức cho bệnh nhân, cung cấp các thông tin về chương trình tầm soát, câu lạc bộ bệnh nhân; mục diễn đàn kết nối người dân, người bệnh với Bộ Y tế và các cơ quan chuyên môn, giải đáp các câu hỏi thường gặp của bệnh nhân hô hấp.

PGS, TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh chủ trì lễ ra mắt.

Phát biểu tại buổi lễ, PGS, TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đã nhấn mạnh vai trò của việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về phát hiện, phòng ngừa và quản lý bệnh nhằm hướng đến tăng cường công tác bảo vệ, nâng cao sức khỏe cộng đồng. “Với sự hợp tác của AstraZeneca, trang thông tin điện tử “Vì lá phổi khỏe” sẽ tạo ra một diễn đàn tương tác điện tử cho các chuyên gia y tế tại các đơn vị quản lý bệnh hen và BPTNMT trên cả nước, cũng như giúp cộng đồng tiếp cận thông tin về các bệnh lý đường hô hấp và giải đáp các câu hỏi thường gặp của bệnh nhân gửi đến chuyên trang để hỗ trợ bệnh nhân tốt hơn”, PGS, TS Lương Ngọc Khuê nhấn mạnh.

Tại lễ ra mắt, PGS, TS Lê Thị Tuyết Lan, Phó chủ tịch Hội Hô Hấp Việt Nam cho biết, tỉ lệ mắc bệnh hô hấp ngày càng gia tăng, đặt gánh nặng đáng kể lên các hệ thống chăm sóc sức khỏe của nhiều quốc gia tại châu Á. Trong đó, hen và BPTNMT là những căn bệnh khá phổ biến hiện nay tại Việt Nam. “Trang thông tin điện tử “Vì lá phổi khỏe” sẽ giúp cung cấp kiến thức khoa học cũng như thông tin giáo dục sức khỏe, chương trình tầm soát, câu lạc bộ bệnh nhân đến cán bộ y tế, bệnh nhân và cộng đồng, điều này sẽ góp phần hỗ trợ tốt hơn việc điều trị, quản lý hen và BPTNMT”, PGS, TS Lê Thị Tuyết Lan chia sẻ.

Tại lễ ra mắt, ông Nitin Kapoor, người phát ngôn của AstraZeneca tin tưởng rằng, việc có một chuyên trang riêng về Hen và BPTNMT sẽ cung cấp thông tin, kiến thức khoa học trong chẩn đoán, điều trị cho cán bộ y tế, giúp người dân, người bệnh có kiến thức đầy đủ về bệnh, thực hiện các lối sống lành mạnh để nâng cao sức khỏe, tiếp cận sớm với chẩn đoán, điều trị và kiểm soát bệnh, góp phần trong hành trình đạt mục tiêu chung của chương trình “Vì lá phổi khỏe” tại Việt Nam.

AstraZeneca là tập đoàn dược và dược sinh học dựa trên phát minh, chuyên nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa thuốc điều trị chuyên biệt mới trong các lĩnh vực chính bao gồm bệnh tim mạch, đái tháo đường, hô hấp, và ung thư. Tập đoàn cũng hoạt động trong một số lĩnh vực khác như miễn dịch, khoa học thần kinh và truyền nhiễm. AstraZeneca là một tập đoàn toàn cầu hiện đang hoạt động tại hơn 100 quốc gia và sở hữu các loại thuốc tiên tiến được hàng triệu bệnh nhân trên thế giới tin dùng. Để biết thêm thông tin, vui lòng truy cập www.astrazeneca.com hoặc theo dõi tài khoản Twitter của chúng tôi @AstraZeneca.

Tiến Mạnh

Về đầu trang


Hiệu quả từ mô hình CLB phụ nữ không sinh con thứ 3 (17/8)

“Sinh ít con để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” là phương châm hoạt động của các CLB phụ nữ không sinh con thứ 3 ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Sau nhiều năm hoạt động, các CLB đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định quy mô và nâng cao chất lượng dân số của địa phương.

Là địa bàn miền núi, hơn 80% dân số là đồng bào Cor sinh sống, số lượng cán bộ dân số mỏng, kinh phí truyền thông ít... là những rào cản trong công tác DS-KHHGĐ ở Trà Bồng trong những năm trước đây. Cách đây 5 năm, tỷ lệ sinh con thứ 3 trên địa bàn huyện đều trên 18%/năm.

Để kiểm soát tốc độ gia tăng, duy trì mức sinh ổn định, huyện đã triển khai các đề án như “Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh”, sàng lọc trước sinh và sơ sinh, khám sức khỏe tiền hôn nhân... Đẩy mạnh thực hiện mô hình 10 CLB phụ nữ không sinh con thứ 3; thôn, tổ không sinh con thứ 3, nên đã góp phần giảm mức sinh, nâng cao chất lượng dân số.

Buổi sinh hoạt CLB phụ nữ không sinh con thứ 3 ở xã Trà Thủy

Xã Trà Thủy có hơn 90% đồng bào dân tộc Cor sinh sống. Nhiều năm trước, do trình độ nhận thức còn hạn chế, nên tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên 20%, dẫn đến số hộ nghèo và cận nghèo tăng, trẻ em suy dinh dưỡng còn cao... Để khắc phục tình trạng này, Hội Phụ nữ xã cùng với Trung tâm DS-KHHGĐ huyện thành lập CLB phụ nữ không sinh con thứ 3.

Để tham gia CLB, các thành viên phải cam kết không sinh con thứ 3 và cùng giúp nhau phát triển kinh tế. Chị Hồ Thị Diễm - Chủ nhiệm CLB, chia sẻ: Khi mới thành lập, CLB gặp nhiều khó khăn trong việc tuyên truyền, vận động chị em tham gia sinh hoạt, bởi tư tưởng sinh nhiều con đã ăn sâu trong tiềm thức.

Trước thực trạng đó, hàng tháng cán bộ chuyên trách dân số xã và cộng tác viên dân số thôn, cán bộ phụ nữ thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp KHHGĐ; đến từng gia đình gặp gỡ, chia sẻ, giúp họ hiểu rõ lợi ích của việc sinh con ít, vận động các cặp vợ chồng tham gia sinh hoạt CLB. Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, lồng ghép nội dung tuyên truyền vào các cuộc họp khu dân cư; đổi mới nội dung tuyên truyền... Nhờ đó, nhiều cặp vợ chồng đã tự nguyện đăng ký tham gia CLB.

Với sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là những hoạt động của các CLB phụ nữ không sinh con thứ 3 đã góp phần hạn chế mức sinh, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện. Đến nay, tỷ lệ sinh con thứ 3 trên địa bàn huyện giảm còn 12%. Trong 6 tháng đầu năm, toàn huyện có gần 5.000 chị em được chăm sóc sức khỏe sinh sản, áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại.

"Thời gian tới, ngoài phát huy hiệu quả các mô hình trên, chúng tôi sẽ tích cực tham mưu với chính quyền địa phương tăng cường lãnh đạo đối với công tác DS - KHHGĐ. Tranh thủ nguồn kinh phí hỗ trợ của huyện, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền; hướng dẫn và đôn đốc các xã, thị trấn thực hiện tốt công tác truyền thông để tăng số người áp dụng các biện pháp tránh thai và thực hiện mô hình gia đình ít con, nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện", Phó Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Trần Quốc Đạt cho biết.

Trường Giang

Về đầu trang


Hội thảo “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế theo hướng hội nhập y tế” (16/8)

Chiều 16/8 tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Hội thảo Đổi mới đào tạo nhân lực y tế theo hướng hội nhập quốc tế. PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì Hội thảo. Tham dự có GS.TS.Lê Quang Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; đại diện lãnh đạo và chuyên viên một số Vụ, Cục, Văn phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế.

Phát biểu tại Hội thảo, Bộ trưởng bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đánh giá cao sự phát triển của hệ thống đào tạo nhân lực y tế trong những năm qua. Trong 5 năm qua số lượng các loại hình nhân lực y tế tăng đáng kể qua các năm, số bác sĩ trên vạn dân tăng từ 7,2 năm 2010 lên khoảng trên 8,0 năm 2017; số dược sĩ đại học trên vạn dân tăng từ 1,76 năm 2010 lên khoảng 2,5 năm 2017.

Bộ trưởng bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến phát biểu tại Hội thảo.

Tuy nhiên, hiện nay công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế đang đứng trước không ít những khó khăn thách thức. Mạng lưới các cơ sở đào tạo và số lượng các cơ sở đào tạo tăng nhanh, tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn với sự tham gia đào tạo nhân lực y tế của các trường đa ngành.

Quy mô đào tạo tăng nhanh, nhưng các tiêu chí chuyên môn để mở ngành ở các trường đa ngành, đặc biệt là trình độ trung cấp (đối với y sĩ, điều dưỡng, dược) còn chưa chặt chẽ. Chương trình đào tạo hầu hết vẫn chưa được điều chỉnh, chủ yếu vẫn dựa trên chương trình đào tạo nặng về kiến thức lý thuyết, chưa chú trọng đúng mức đến tạo ra năng lực cần thiết cho người học đáp ứng được với nhu cầu và yêu cầu của hệ thống y tế.

Trong khi đó, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân đang thay đổi nhanh chóng trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển hơn, dân số tăng và già hóa, đòi hỏi chuẩn mực chăm sóc sức khỏe cao hơn cả về số lượng, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mô hình bệnh tật đã thay đổi theo xu hướng tỷ lệ các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao.

Trước những thách thức đó, đòi hỏi công tác quản lý đào tạo nguồn nhân lực y tế cần phải có những giải pháp hợp lý cả trước mắt và lâu dài để tập trung thực hiện mục tiêu đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, hướng tới hội nhập quốc tế.

Đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu cả về y đức và chuyên môn trong điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp luật và triển khai khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, khung trình độ quốc gia trong đào tạo nhân lực y tế, phát huy trách nhiệm, vai trò các bệnh viện trong đào tạo, phát triển bệnh viện đại học.Thành lập hội đồng y khoa quốc gia, tổ chức thi, cấp chứng chỉ hành nghề có thời hạn phù hợp thông lệ quốc tế.

Bộ Y tế chủ trương triển khai đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo phát triển nguồn nhân lực y tế theo hướng tiếp cận với các phương thức đào tạo của các nước tiên tiến trên thế giới. Trước mắt, đổi mới đào tạo nhân lực y tế đi sâu vào đổi mới một số chương trình đào tạo chủ chốt theo hướng hình thành năng lực nhằm tạo ra nguồn nhân lực y tế đáp ứng với mô hình bệnh tật và hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, gắn đào tạo với sử dụng nhân lực y tế.

Tiến hành nghiên cứu và đề xuất mô hình đào tạo ngành y, dược. Tập trung điều chỉnh chương trình đào tạo chuyên khoa sau đại học, gắn kết quả đào tạo chuyên khoa với ngạch bậc viên chức y tế, bổ nhiệm chức vụ chuyên môn, đưa hệ đào tạo bác sĩ chuyên khoa chính thức vào hệ thống Giáo dục đại học. Đồng thời, cần có các hoạt động để hoàn thiện về hệ thống chính sách đào tạo và sử dụng nhân lực y tế một cách đồng bộ, cụ thể là:

Luật Khám bệnh, chữa bệnh: Đã quy định về cấp chứng chỉ hành nghề theo chức danh làm việc, hiện đang được xem xét sửa đổi để quy định rõ hơn các quy định về vai trò của hội đồng Y khoa và việc thi quốc gia và cấp chứng chỉ hành nghề; bổ sung quy định về tiêu chuẩn cơ sở thực hành, nội dung thực hành, người hướng dẫn thực hành và cơ chế tài chính trong việc tổ chức thực hành để đăng ký chứng chỉ hành nghề; quy định về phạm vi hành nghề.

Luật Giáo dục, luật Giáo dục đại học và các văn bản hướng dẫn: Chưa có các quy định cụ thể riêng đối với đào tạo nhân lực y tế về thời gian đào tạo, văn bằng, trình độ, tiêu chuẩn, tiêu chí đối với việc mở ngành, mở trường, xác định chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức đào tạo, đào tạo chuyên khoa sau đại học... Nội dung này cũng đang được góp ý để đưa vào luật Sửa đổi, bổ sung luật Giáo dục đại học.

Luật Viên chức và chính sách sử dụng cần xem xét, nghiên cứu sửa đổi do chưa quy định cụ thể chức năng, vị trí việc làm của giảng viên nhà trường tham gia làm việc chuyên môn tại bệnh viện và của bác sĩ bệnh viện tham gia vào giảng dạy học viên. Mức lương của bác sĩ ra trường (6 năm) cũng giống như các ngành khác (4-5 năm). Các chính sách thu hút nguồn nhân lực làm việc ở các khu vực khó khăn còn chưa đủ mạnh...

Tuy nhiên, đổi mới đào tạo nhân lực y tế là một quá trình lâu dài, cần sự chỉ đạo thống nhất của cơ quan quản lý cũng như sự tham gia tích cực của cả hệ thống đào tạo nhân lực y tế hướng tới mục tiêu là nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn chăm sóc sức khỏe nhân dân và hội nhập quốc tế.

Thu Hiền

Về đầu trang


Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.

Đại Đồng là một xã thuần nông, nhân dân chủ yếu làm ruộng, cách trung tâm huyện lị 7km, có số dân 9.400 nhân khẩu. Nhân dân đều theo Phật giáo, có 6 ngôi chùa, 1 ngôi chùa xếp di tích lịch sử, 5  chùa còn lại mới xây. 4 ngôi chùa có các nhà sư trụ trì.

Có 1 thôn Đình Tổ có 345 nhân khẩu, nhân dân theo đạo công giáo toàn tòng. Diện tích canh tác xã có 419,16 ha, bình quân 1,5 sào/người, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, có 1 thôn (Lộng Thượng) có nghề đúc đồng truyền thống, 1 thôn (Bùng Đông) có nghề gia công quỳ. Đảng bộ có 302 Đảng viên sinh hoạt ở 9 Chi bộ nông thôn và 5 Chi bộ trực thuộc.

Những năm gần đây, tình hình phát triển dân số của xã luôn ở mức 1,2%. Đặc biệt tỷ lệ sinh bé trai tăng nhanh và tỉ lệ người sinh con thứ 3 tăng, chủ yếu tập trung ở lứa tuổi 35 - 40, phần lớn những hộ này đều có điều kiện kinh tế khá giả hoặc chưa có con trai. Nên đã làm ảnh hưởng tới tỉ lệ phát triển dân số của xã.

Ban Thường trực MTTQ tỉnh Hưng Yên đã chọn xã Đại Đồng để xây dựng mô hình điểm. Sau khi được MTTQ Việt Nam quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung của việc xây dựng mô hình điểm. Ban Thường trực MTTQ xã xác định đây là một mô hình hết sức mới, cần làm chuyển biến nhận thức của nhân dân về những quan niệm con trai, con gái và nhận thức việc bình đẳng giới trong gia đình cộng đồng dân cư, mà tập trung chủ yếu là các tín đồ phật tử. Khi thực hiện mô hình điểm, Ban Thường trực MTTQ xã báo cáo với Ban Thường vụ Đảng uỷ, phối hợp với UBND xã xây dựng kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng quý thành lập ban chỉ đạo gồm 12 thành viên. Đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ tổ chức Đảng làm Trưởng ban, Chủ tịch MTTQ xã làm phó ban thường trực. Đặc biệt có các vị tăng, ni trụ trì các chùa tham gia ban chỉ đạo.

Việc lồng ghép mô hình điểm vào các Cuộc vận động là một trong những nội dung đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ, các Ban công tác Mặt trận và hướng các hoạt động về các KDC, xây dựng KDC thực sự vững mạnh. Việc lồng ghép mô hình trong cuộc vận động được cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đánh giá cao vai trò của MTTQ trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của địa phương.

Nhìn chung sau 1 thời gian triển khai thực hiện mô hình, các chức sắc tôn giáo đã có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam và xã Đại Đồng nói riêng. Từ đó đã tích cực tuyên truyền cho các phật tử tạo chuyển biến về nhận thức và hành động của các tín đồ phật tử. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô hình, Ban Thường trực, Ban chỉ đạo các Tăng, Ni đã có những cách làm sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục DSKHHĐ tỉnh Hưng Yên về trực tiếp giảng những nội dung: hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp nhằm khắc phục thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam cũng như ở Hưng Yên, kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc cho các tín đồ phật tử đã cung cấp lượng thông tin bổ ích cho các tín đồ phật tử.

 Thông qua hoạt động mô hình thì vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình, xã hội đã được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn. Tư tưởng trọng nam, khinh nữ trong bộ phận không nhỏ người dân đã dần thay đổi và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

Thu Hương

Về đầu trang


Phát huy vai trò chức sắc tôn giáo trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình

Ủy ban MTTQ tỉnh Kon Tum vừa phối hợp với Sở Y tế tổ chức Hội thảo phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, với sự tham dự của hơn 50 đại biểu là cán bộ ngành Y tế, Mặt trận và các chức sắc tôn giáo trên địa bàn tỉnh.

Qua phân tích thực trạng và hệ lụy của việc sinh nhiều con ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đạo trên địa bàn tỉnh, hầu hết các chức sắc tôn giáo đều đồng thuận sẽ sẵn sàng phối hợp với ngành y tế trong công tác truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình ở vùng có đạo.

C.Kim

Về đầu trang


Thành phố Yên Bái: Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Như nhiều địa phương khác, thành phố Yên Bái cũng đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS). Thời điểm năm 2010, tỷ số GTKS trên địa bàn đã lên tới 117 bé trai/100 bé gái, năm 2011 là 123 bé trai/100 bé gái. Với con số đáng báo động này, hoạt động kiểm soát MCBGTKS đã được thành phố rất chú trọng.

 

Một buổi tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản vị thành niên và mất cân bằng giới tính khi sinh cho học sinh trên địa bàn thành phố của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thành phố Yên Bái.

Năm 2011, ngay sau khi nhận được kế hoạch của Sở Y tế về việc tổ chức hoạt động mô hình can thiệp giảm thiểu MCBGTKS, UBND thành phố đã xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động mô hình này. Ngay trong năm 2011, thành phố tiến hành khảo sát thống kê số liệu đầu vào và xây dựng 9 mô hình can thiệp giảm thiểu MCBGTKS tại 9/17 xã, phường.

Qua 1 năm hoạt động, cho thấy hiệu quả rõ rệt từ mô hình. Vì vậy, năm 2012, thành phố nhân rộng thêm 8 mô hình tại 8 xã, phường còn lại. Để nâng cao hiệu quả của mô hình, đồng thời kiểm soát MCBGTKS, Chi hội KHHGĐ thành  phố thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo về MCBGTKS.

Đồng thời, Chi hội phối hợp với Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các ban, ngành, đoàn thể trong việc triển khai các hoạt động nhằm kiểm soát MCBGTKS. Nội dung về MCBGTKS còn được truyền thông lồng ghép gắn với nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị, gắn với nội dung thi đua, đưa vào quy ước, hương ước trong xây dựng thôn, tổ văn hóa.

Trong các cuộc hội thảo, hội nghị về MCBGTKS của thành phố và cơ sở, các ban, ngành, đoàn thể đều tích cực tham gia. Hàng năm, Chi hội KHHGĐ thành phố đều có kế hoạch phối hợp tuyên truyền với cơ quan báo chí về hoạt động dân số, trong đó nội dung ưu tiên là hoạt động của mô hình can thiệp giảm thiểu MCBGTKS, thực trạng và hệ lụy của MCBGTKS trong tương lai.

Đồng thời, kết hợp truyền thông đại chúng với truyền thông trực tiếp tại cộng đồng thông qua đội ngũ cán bộ dân số, cán bộ y tế và tuyên truyền viên dân số cơ sở; vận động trực tiếp đối tượng có nguy cơ sinh con lần 3 cao không sinh con thứ 3 trở lên và không lựa chọn giới tính thai nhi. Kết quả là 100% hộ dân ký cam kết không thực hiện hành vi liên quan tới lựa chọn giới tính thai nhi…

Với những nỗ lực này, tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn thành phố qua các năm đều giảm đáng kể. Năm 2011, tỷ số giới tính khi sinh là 123 trẻ trai/100 trẻ gái. Đến năm 2016, tỷ số này chỉ còn 112,4 trẻ trai/100 trẻ gái. Năm 2017 là 112,2 trẻ trai/100 trẻ gái. Tuy nhiên, trước tình hình kinh phí đầu tư cho các hoạt động dân số ngày càng thu hẹp, cán bộ chuyên trách dân số chưa được vào biên chế, nhiều người dân vẫn chưa thay đổi tư tưởng "muốn có con trai để nối dõi tông đường”, những người làm công tác dân số ở thành phố lo ngại tỷ số này sẽ tăng trở lại.

Trong nỗ lực để giảm thiểu MCBGTKS với những điều kiện còn khó khăn, năm 2018, ngoài việc duy trì những hoạt động đã có, Chi cục DS-KHHGĐ thành phố có một số dự thảo xây dựng các câu lạc bộ: "Mẹ và con gái”, "Các bạn gái tiêu biểu”, đồng thời vận động thành lập các đội tuyên truyền viên ở các thôn, tổ; biểu dương, khen thưởng các gia đình sinh con một bề là gái có thành tích cao trong học tập...

Ngọc Bích

Về đầu trang


Tân Hiệp thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình

Để làm công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình(KHHGĐ) đối với một huyện có đông đồng bào theo đạo Công giáo như Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang quả là một việc hết sức khó khăn.

Là huyện chuyên về nông nghiệp, Tân Hiệp là địa phương có nhiểu thế mạnh về sản xuất và nâng cao chất lượng, sản lượng cây lúa từ các mô hình, điểm trình diễn, áp dụng tiến bộ khoa học nông nghiệp. Với dân số hiện nay là 144.596 người, Tân Hiệp được xem là huyện có đông đồng bào theo đạo Công giáo nhiều nhất trong tỉnh, chiếm gần 40% dân số.

Toàn huyện có 10 xã, thị trấn, có 53 nhà thờ, bình quân 1 xã có 5 nhà thờ, trong đó xã Tân Hiệp A có 8 nhà thờ. Làm công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), đối với một huyện có đông đồng bào theo đạo Công giáo, quả là một việc làm hết sức khó khăn, trong vấn đề tiếp cận vận động trực tiếp đối tượng.

Qua tìm hiểu được biết, người theo đạo Công giáo không được sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) hiện đại, chỉ được sử dụng các phương pháp tự nhiên. Chính vì vậy trong những năm qua, tỷ lệ phụ nữ chấp nhận các (BPTT) hiện đại của huyện Tân Hiệp thường không hoàn thành chỉ tiêu năm, từ đó dẫn đến việc không đạt mức giảm sinh, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên cao, tỷ lệ sinh con thứ ba cao và số xã, phường, thị trấn, địa bàn ấp, khu phố đạt danh hiệu không có phụ nữ sinh con thứ 3 ít.

Đây là nguyên nhân chính để công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS- KHHGĐ) huyện Tân Hiệp không đạt thành tích cao trong phong trào thi đua khen thưởng của ngành. Những năm gần đây với sự phát triển mạnh về kinh tế, nông nghiệp, bộ mặt cơ sở hạ tầng nông thôn ở các xã trong huyện không ngừng đối mới, theo hướng mô hình nông thôn mới. Nhằm giúp cho người dân có được nền tảng vững chắc lâu dài cho tương lai từ yếu tố con người và gia đình, lãnh đạo cấp ủy, Ủy ban Nhân dân cùng các ban ngành các cấp của huyện, quyết tâm đưa công tác DS- KHHGĐ của huyện trở thành một giải pháp then chốt, trong những giải pháp duy trì bền vững sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân trong huyện.

Để thực hiện quyết tâm trên Trung tâm DS- KHHGĐ huyện Tân Hiệp phối hợp với lãnh đạo các xã, thị trấn, các ngành, đoàn thể tập trung nghiên cứu, áp dụng các hình thức tuyên truyền và những phương pháp truyền thông phù hợp với các nhóm đối tượng.

 Ngành Dân số của huyện còn làm tốt công tác tuyên truyền vận động, thuyết phục, các chức sắc, chức việc, tham gia tuyên truyền với ngành, phát huy thế mạnh trong tuyên truyền từ các hoạt động của cán bộ chuyên trách xã, cộng tác viên, tuyên truyền viên dân số là người theo đạo Công giáo. Xây dựng nhiều mô hình mới để tuyên truyền vận động, nhằm tăng số người thực hiện KHHGĐ, trong đó tập trung vào nhóm phụ nữ theo đạo Công giáo.

Chưa đầy một năm đã có gần 90 % phụ nữ theo đạo Công giáo, ngày càng hiểu rõ hơn lợi ích của việc KHHGĐ, bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, nhằm có điều kiện phát triển kinh tế nâng cao đời sồng vật chất, tinh thần cho mỗi người, mỗi gia đình.

Để hoạt động truyền thông đạt hiệu quả cao, đội ngũ cộng tác viên của huyện thường xuyên được duy trì ổn định về số lượng với 220 cộng tác viên, có trình độ về chuyên môn, kỹ năng vận động đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, vì phụ nữ theo đạo thường có trình độ hiểu biết và văn hóa khá tốt.

Hướng truyền thông của huyện là xây dựng các nội dung truyền thông kết hợp nhiều chương trình mang lại lợi ích cho đối tượng, gia đình, cộng đồng và nâng cao chất lượng gióng nòi, từ các nội dung của dự án “Sàng lọc trước sinh và sơ sinh”, “Can thiệp giảm tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thông”; “Can thiệp, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh” “ Tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân”; để các buổi tuyên truyền phong phú nội dung và có sự tương tác từ dự án này với dự án khác.

Ví dụ, nếu tuyên truyền cho một phụ nữ đã có 2 con gái, từ bỏ ý định không muốn sinh cho được một cháu trai, thì chương trình dân số đã có 4 thắng lợi cơ bản là: Hạn chế mất cân bằng giới tính khi sinh, không có phụ nữ sinh con thứ ba, duy trì ổn định mức sinh, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên ....

Ngoài ra, còn một kênh truyền thông “di động” của cộng tác viên theo đạo, nhưng rất hiệu quả là tuyên truyền trên đường từ nhà thờ di về nhà. Thường trong các buổi lễ sáng, chiều của ngày Chủ nhật hoặc ngày thường, khi chị, em dự lễ xong đi về, là các cộng tác viên có đạo sẽ tiếp cận các đối tượng để tuyên truyền.

Vì tâm lý khi đi lễ ở nhà thờ xong là giáo dân đã làm tròn bổn phận của mình với đạo với Chúa, vì thế tâm lý rất vui vẻ, sảng khoải, cùng với sự quen biết với cộng tác viên, hoặc là người cùng theo một đạo, nên dễ trò chuyện cởi mở trong vấn đề KHHGĐ hoặc các chuyên đề liên quan.

Trung tâm DS- KHHGĐ huyện đã phối hợp với các ngành, đoàn thể, hợp tác xã nông nghiệp, các tập đoàn sản xuất ở các xã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, tư vấn trực tiếp tại hộ gia đình, họp nhóm nhỏ trong các đợt chiến dịch truyền thông, thu hút được trên 40.000 lượt chị em phụ nữ tham dự, trong đó có gần 85% là phụ nữ theo đạo Công giáo tham dự.

Từ những hoạt động truyền thông bề nổi, chiều sâu, kết hợp nhiều hình thức, ở mọi nơi, công tác truyền thông ở Tân Hiệp đã đem lại nhiều kiến thức phong phú cho cộng đồng, trong việc thực hiện KHHGĐ hiện nay, không chỉ là việc chấp nhận các BPTT mà còn nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe và chất lượng dân số.

Khi ý Đảng, lòng dân đã thuận, thì không có việc gì mà không thành công. Việc hoàn thành các chỉ tiêu 4 BPTT của huyện Tân Hiệp sớm hơn kế hoạch năm, hai tháng là khẳng định của sự nhận thức và chuyển đồi hành vi của các nhóm đối tượng trong độ tuổi sinh, đẻ rõ rệt.

Trong đó, phải kể đến việc hoàn thành chỉ tiêu đình sản, chỉ tiêu năm được giao là 40 ca, nhưng huyện đã vận động thực hiện được 48 ca, đạt 120%. Đình sản luôn là một biện pháp rất khó vận động để đối tượng chấp nhận đi thực hiện nói chung tại Tân Hiệp. Sự kiện một huyện có đông đồng theo đạo Công giáo từ chỗ trung bình trong thi đua của ngành, đột phá vươn lên đạt danh hiệu “Dẫn đầu phong trào thi đua của ngành” là huyện duy nhất của tỉnh đạt chỉ tiêu giảm sinh, được xem là thắng lợi lớn từ những chủ trương, chính sách, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay trong vấn đề ổn định qui mô và cơ cấu dân số. Xóa bỏ những định kiến đã lỗi thời, lạc hậu, tiếp thu những ưu thế của khoa học trong việc duy trì nòi giống và đạt chất lượng giống nòi vể thể chất và tinh thần

Đây còn là sự thành công của sự đoàn kết của các ngành, đoàn thể, sự đồng tâm hợp lực của cấp ủy, ủy ban và của ngành dân số. Tạo được sự chuyển biến mới trong nhận thức cho người dân, nhất là những người dân theo đạo Công giáo, có được cái nhìn thực tế hơn, phù hợp với xu thế cuộc sống hiện nay của xã hội, để có những quyết định mang tính đổi mới trong tư duy mà không mất đi nguyên tắc sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Thanh Dũng

Về đầu trang


Nghĩa Hưng tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng dân số

Huyện Nghĩa Hưng, Nam Định có dân số trên 20,8 vạn người; trong đó có 35.300 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Thời gian qua huyện Nghĩa Hưng đã tập trung chỉ đạo, triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng dân số; trong đó tiếp tục giảm sinh nhằm đạt mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con); đưa tỷ số giới tính về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; nâng cao chất lượng dân số.

Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện đã triển khai các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số. Trong đó, triển khai chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động, hỗ trợ nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSS-KHHGĐ tới các đối tượng, giáo dục về Dân số - KHHGĐ tại cộng đồng. Đến nay bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ được củng cố, kiện toàn, hoạt động hiệu quả, cơ sở vật chất, các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác Dân số - KHHGĐ được quan tâm, đầu tư. Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục pháp luật về dân số được đẩy mạnh. Năm 2017 Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện tổ chức thực hiện chiến dịch truyền thông dân số, tăng cường đưa dịch vụ CSSKSS-KHHGĐ đến các xã có mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao; đa dạng các hình thức truyền thông các loại hình như: Cấp phát trên 15 nghìn tờ rơi có nội dung về CSSKSS-KHHGĐ, sàng lọc trước sinh, sơ sinh, bình đẳng giới... cho cơ sở. Treo băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về các chính sách Dân số - KHHGĐ trên các trục đường chính, nơi tập trung đông dân cư, tăng cường các hoạt động truyền thông trong chiến dịch tuyên truyền, vận động, lồng ghép dịch vụ CSSKSS-KHHGĐ đến vùng đông dân, có mức sinh cao. Phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong hoạt động công tác Dân số - KHHGĐ; từng đơn vị đều có chương trình, kế hoạch phối hợp cụ thể với Trung tâm Dân số - KHHGĐ, từng bước đẩy mạnh xã hội hoá công tác Dân số - KHHGĐ. Đối với cơ sở xã, thị trấn, tổ chức truyền thông trực tiếp, nói chuyện chuyên đề, tư vấn về KHHGĐ, về chương trình sàng lọc trước sinh và sơ sinh thông qua tuyên truyền, vận động, phát hiện can thiệp sớm tật bệnh ở thai nhi và sơ sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Tiếp tục duy trì hoạt động của đề án “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận động, phát hiện can thiệp sớm tật, bệnh ở thai nhi và sơ sinh” cho 25 xã, thị trấn trong toàn huyện. Triển khai Đề án “Kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân” trên địa bàn 3 xã Nghĩa Trung, Nghĩa Thái, Nghĩa Bình. Tăng cường cung cấp thông tin về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cho người dân, trước hết là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, những người cung cấp dịch vụ siêu âm và dịch vụ nạo phá thai, những người có uy tín trong cộng đồng nhằm hạn chế các hành vi không phù hợp với việc sinh đẻ theo quy luật tự nhiên. Tổ chức 16 hội nghị tuyên truyền Đề án 818/BYT về xã hội hóa các phương tiện tránh thai và hàng hóa SKSS cho trên 1.000 đối tượng, cung cấp trên 900 sản phẩm đến tay người tiêu dùng, góp phần vào việc nâng cao chất lượng CSSKSS-KHHGĐ cho nhân dân trong huyện. Năm 2017 toàn huyện có trên 87,86% số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, số người đặt vòng tránh thai, uống thuốc tránh thai, dùng bao cao su... đạt tỷ lệ cao. Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp, năm 2017, tổng số trẻ sinh ra trong toàn huyện là 2.753 cháu (giảm 31 cháu so với năm 2016), tỷ suất sinh 13,23o/oo (giảm 0,2o/oo so với năm 2016), số sinh con thứ 3 trở lên là 359 cháu (giảm 32 cháu so với năm 2016). Tỷ số giới tính khi sinh là 109 cháu trai/100 cháu gái.

Để góp phần thực hiện tốt Chiến lược Dân số trong tình hình mới, năm 2018 và những năm tiếp theo huyện Nghĩa Hưng xây dựng mục tiêu: Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 2/3 số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn. Tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 cháu trai/100 cháu gái; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 10,5%; tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 40%. Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; trên 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất. Tuổi thọ bình quân đạt 75,8 tuổi, 100% người cao tuổi có thẻ BHYT, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung. Chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi đối với nam đạt 168,5cm, nữ đạt 157,5cm. Để thực hiện mục tiêu đề ra, huyện đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác Dân số - KHHGĐ đến mọi tầng lớp nhân dân nhằm chuyển đổi hành vi nhận thức của người dân về công tác Dân số - KHHGĐ. Vận động các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại nhằm giảm mức sinh. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao sự hiểu biết của mọi người dân về mất cân bằng giới tính khi sinh và hậu quả của việc mất cân bằng giới tính khi sinh. Đảm bảo hậu cần và cung cấp dịch vụ đầy đủ, kịp thời, an toàn, thuận tiện dịch vụ KHHGĐ và các phương tiện tránh thai, thuốc thiết yếu, vật tư y tế tiêu hao có chất lượng cho đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ. Tập huấn chuyên môn về công tác Dân số - KHHGĐ cho đội ngũ cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ tại cơ sở. Duy trì và triển khai các hoạt động sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh trên địa bàn huyện. Triển khai các Đề án: “Tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân”, “Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh” trên địa bàn toàn huyện. Tăng cường tuyên truyền, vận động trực tiếp đến các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, đề cao vai trò trách nhiệm của gia đình làm cho mọi người tự nguyện chấp nhận mô hình gia đình ít con./.

Việt Thắng

Về đầu trang


Hải Đông nâng cao chất lượng dân số

Cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, UBND xã, thời gian qua, mạng lưới cung ứng dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ở xã Hải Đông (Hải Hậu, Nam Định) đã từng bước được củng cố, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc SKSS/KHHGĐ cho nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Đồng chí Phạm Văn Hiên, Bí thư Đảng ủy xã Hải Đông cho biết: Thực hiện Nghị quyết số 01 của Huyện ủy Hải Hậu về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác dân số - KHHGĐ, Đảng ủy xã, UBND xã đã tập trung chỉ đạo đưa công tác dân số - KHHGĐ thành một tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị, các thôn xóm. Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho mỗi gia đình, mỗi người dân tự nguyện thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ. 100% chi bộ Đảng có đảng viên trong độ tuổi sinh đẻ (kể cả nam và nữ) ký cam kết không sinh con thứ 3; hương ước của 9 xóm đều có quy định về thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ. Là một trong những địa phương của huyện triển khai Đề án kiểm soát dân số vùng biển và ven biển, Ban chỉ đạo dân số xã đã thành lập đội lưu động y tế dân số - KHHGĐ thực hiện công tác truyền thông tư vấn chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sinh đẻ kế hoạch. Các ngành, đoàn thể của xã đẩy mạnh hoạt động của các CLB như: Hội Nông dân với “Nam nông dân chủ hộ gia đình thực hiện KHHGĐ”; Đoàn Thanh niên với “CLB tiền hôn nhân”; Hội Phụ nữ với “CLB gia đình hạnh phúc”, “CLB phụ nữ vì sự phát triển và bình yên tuyến biển”. Trong đó, Hội Phụ nữ xã tuyên truyền tới 100% cán bộ, hội viên về nội dung Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, kiến thức CSSKSS phụ nữ, trẻ em, dân số - KHHGĐ, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, HIV/AIDS... Duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động các CLB: “Phụ nữ với pháp luật”, “Gia đình không có người vi phạm trật tự ATGT”, “Xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Nuôi con bằng sữa mẹ”, “Các bà mẹ có con tuổi vị thành niên”. Hằng năm, UBND xã đều tổ chức khen thưởng những xóm có tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm hoặc không có người sinh con thứ 3; biểu dương những tập thể, gia đình, cá nhân làm tốt công tác dân số - KHHGĐ. UBND xã đã lồng ghép các nội dung của công tác dân số - KHHGĐ với các phong trào: “Xây dựng thôn, xóm bình yên, gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng khu dân cư 5 không”… Năm 2017 và 5 tháng năm 2018, xã Hải Đông có 100% bà mẹ và trẻ em được chăm sóc sức khỏe sau sinh; 100% trẻ em được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ giới tính khi sinh đạt mục tiêu đề ra là 112 cháu trai/100 cháu gái; quy mô gia đình nhỏ từ 1-2 con được đông đảo các cặp vợ chồng trẻ thực hiện. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân được đầu tư hiện đại; trạm y tế đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 thực hiện chức năng chăm sóc sức khoẻ ban đầu, y tế dự phòng và khám, chữa bệnh các dịch vụ kỹ thuật theo quy định. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác dân số - KHHGĐ có nhiều thay đổi, góp phần ổn định quy mô, cơ cấu dân số, nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn. 

Phát huy kết quả đạt được, xã Hải Đông tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện công tác dân số - KHHGĐ, nâng cao chất lượng dân số. Phấn đấu giảm tỷ suất sinh 0,2-0,30/00/năm; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiện dưới 100/00; phấn đấu giảm tình trạng chênh lệch giới tính (105 cháu trai/100 cháu gái); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên dưới 15% năm; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng dưới 10% vào năm 2020. Tập trung thực hiện mức giảm tỷ lệ sinh, phấn đấu giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, đặc biệt đối với những xóm có mức sinh cao. Để thực hiện mục tiêu trên, Đảng ủy, UBND xã tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động về dân số và phát triển theo hướng chú trọng nâng cao chất lượng, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Tăng cường giáo dục kiến thức và kỹ năng sống cho thanh niên, vị thành niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, hôn nhân và gia đình. Ổn định mô hình tổ chức bộ máy làm công tác dân số, đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ làm công tác dân số, KHHGĐ tại 9 xóm. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng dân số, đầu tư nguồn lực triển khai các đề án nâng cao chất lượng dân số về thể lực và trí lực; giải pháp về chính sách và tổ chức quản lý, duy trì mức sinh hợp lý để có cơ cấu dân số đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững./.

Việt Thắng

Về đầu trang


Không sinh con thứ 3 ở vùng giáo dân Nam Trung 

Nhiều năm qua việc giảm tỷ lệ sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 ở vùng giáo dân xã Nam Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình luôn là một thách thức đối với đội ngũ làm công tác dân số. Ở đây tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên hàng năm vẫn rất cao, người dân theo đạo nhiều, nên việc tuyên truyền, vận động gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với lòng yêu nghề và sự nhiệt huyết của người cán bộ chuyên trách dân số Đào Xuân Quý đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây. 

Trải qua nhiều năm gắn bó với ông Đào Xuân Quý là cả một chặng đường dài mà ít người cán bộ dân số là nam giới duy trì được. Địa bàn nơi ông quản lý là xã Nam Trung, xã đông dân nhất huyện Tiền Hải với hơn 12.000 khẩu, trên 60% đồng bào giáo dân, nên việc vận động, tư vấn người dân thực hiện các biện pháp tránh thai gặp rất nhiều khó khăn. Ở đây chỉ có một biện pháp tránh thai duy nhất mà Giáo hội cho phép là tính vòng kinh, nên hiệu quả tránh thai không cao. Có thời kỳ tỷ lệ người sinh con thứ 3 của xã lên đến gần 50%. Làm công tác dân số đối với phụ nữ đã khó, đối với nam giới càng khó hơn. Ông tâm sự: Vận động nam giới không khó, nhưng với nữ giới thì rất khó, các chị em thường dị nghị, chẳng hạn việc đi vận động kế hoạch hoá gia đình là việc thầm kín, nói đến chuyện “vòng kinh” hay “đặt vòng” ông rất ngại và xấu hổ, nhiều khi người ta không hiểu ông rất buồn, nhưng vượt qua mặc cảm cùng với những kinh nghiệm tích luỹ được trong 17 năm công tác, ông đã hoàn thành tốt công việc của mình. Với ông nếu không yêu ngành, yêu nghề, không tâm huyết thì không làm được việc này. 

Vượt qua những khó khăn và ngượng ngùng, bước đầu ông có những cách tiếp cận với người dân, đối tượng ông quan tâm trước tiên là những người theo công giáo. Hai tháng một lần cùng với Đảng, uỷ ban nhân dân xã phối kết hợp với Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, tổ chức các cuộc họp chuyên đề về công tác dân số - KHHGĐ, gồm các vị chức sắc tôn giáo, các chánh trưởng, trùm trưởng của các họ giáo, quán triệt và nêu rõ chính sách của Đảng và Nhà nước về dân số; thông báo công tác dân số, số sinh, số người sinh con thứ 3 của từng họ giáo. Ba tháng một lần, giao ban với các ông Trùm họ giáo, kiên trì lấy tuyên truyền vận động là chủ yếu, tuyên truyền bằng mọi hình thức trên hệ thống đài truyền thanh của xã, hệ thống truyền thanh của các thôn, tư vấn nhóm nhỏ, mở các lớp truyền thông tại xã, chiếu video, tranh ảnh, tờ rơi, băng ghi hình. Đối với những trường hợp khó ông cùng với các cộng tác viên dân số đi đến các gia đình nói chuyện với từng cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ để vận động thực hiện KHHGĐ. Hương ước thôn làng dành một chương cho công tác dân số, cặp vợ chồng nào vi phạm chính sách dân số, cụ thể sinh con thứ 3 trở lên phải đóng góp xây dựng thôn làng bằng 200 ngàn đồng. Các cặp vợ chồng nào thực hiện tốt dân số, có một con sau 5 năm mới sinh, hoặc cặp vợ chồng có 2 con sau 10 năm không sinh đẻ nữa sẽ được UBND xã khen thưởng vào dịp tổng  kết công tác dân số cuối năm.

Bằng sự cố gắng và lòng nhiệt tình của mình, ông đã góp phần làm cho cuộc sống người dân nơi đây bớt nghèo, từ đó có điều kiện tập trung chăm lo cho sức khoẻ và học tập của con cái họ. Với những đóng góp của mình, vừa qua ông đã vinh dự được đi dự Hội nghị biểu dương cán bộ dân số cơ sở tiêu biểu tỉnh Thái Bình và Trung ương, được Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình và Bộ trưởng Bộ Y tế tặng bằng khen vì có nhiều thành tích trong công tác dân số - KHHGĐ. 

 Mạnh Cường 

Về đầu trang


Mô hình thôn, xã không sinh con thứ 3 trở lên: Cần duy trì bền vững

Nhiều năm qua, tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai thực hiện tốt mô hình thôn, xã không có người sinh con thứ 3 trở lên, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Tuy nhiên, để duy trì bền vững mô hình này cần sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị.

Cách làm hay ở Nghĩa Sơn

Chị Phạm Thị Bích Liên- cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã chia sẻ, trước đây người dân rất nặng chuyện sinh con trai, sinh nhiều để có người lao động nương rẫy, thì nay tình trạng này đã giảm hẳn. Thôn 1 của xã đã 20 năm nay không vi phạm sinh con thứ 3 trở lên. Nhiều gia đình nhờ sinh đẻ có kế hoạch đã phát triển được kinh tế gia đình, nuôi con khỏe, học hành chu đáo, góp phần phát triển kinh tế, xã hội cho địa phương.

Người dân thôn1, xã Nghĩa Sơn được cán bộ dân số xã tuyên truyền chính sách DS-KHHGĐ

Như gia đình anh Phạm Văn Hà, Phạm Thị Hai ở thôn 1, xã Nghĩa Sơn, dù có hai con một bề gái, nhưng anh chị quyết định không sinh thêm nên có điều kiện lo cho hai con ăn học. Nhiều năm liền hai con của anh chị đều là học sinh khá, giỏi. Còn ở thôn 2 cũng có hơn 7 năm không có người sinh con thứ 3 trở lên, góp phần giúp xã Nghĩa Sơn (Tư Nghĩa) giữ vững thành tích 7 năm liền không có người sinh con thứ 3.

Chủ tịch UBND xã Nghĩa Sơn Phạm Văn Sơn, cho biết: Cách đây 10 năm, tỷ lệ hộ nghèo ở xã là 20%. Là địa bàn có 98% người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, với hơn 1.000 nhân khẩu, có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên khá cao, làm ảnh hưởng đến công tác xóa đói giảm nghèo. Trước thực tế đó, cấp ủy, chính quyền đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các chính sách DS-KHHGĐ theo kiểu "mưa dầm thấm lâu". Đồng thời đưa ra nhiều biện pháp để chấn chỉnh, như hộ nào sinh con thứ 3 trở lên sẽ cắt các hỗ trợ diện hộ nghèo, gia đình văn hóa, nhất là đối với cán bộ, đảng viên; đưa việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ vào chỉ tiêu thi đua giữa các thôn...

Mô hình không ngừng lan tỏa

Bằng nhiều biện pháp tích cực, công tác DS-KHHGĐ ở tỉnh ta đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các địa phương gắn công tác DS-KHHGĐ với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, nay là cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; đưa các chỉ tiêu về dân số vào các hoạt động, phong trào thi đua từ tỉnh đến cơ sở. Theo đó, từ các mô hình điểm là CLB không sinh con thứ 3 được thành lập, đến nay đã nhân rộng thành phong trào triển khai rộng khắp trong toàn tỉnh. Đến nay có nhiều thôn, tổ không có người sinh con thứ 3 trở lên liên tục từ 4-21 năm liền. Toàn tỉnh có 97 thôn đăng ký mô hình.

Phó giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ tỉnh  Đặng Văn Ngữ, cho biết: “Để duy trì thôn, xã không sinh con thứ 3 một cách bền vững, thời gian tới, Chi cục sẽ chỉ đạo Trung tâm DS-KHHGĐ các huyện, thành phố đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động, nói chuyện chuyên đề tư vấn nhóm, lồng ghép trong các hội nghị, hội thảo... để người dân nâng cao ý thức trong công tác dân số.

Thay đổi nội dung tuyên truyền phong phú và hấp dẫn hơn trong các buổi sinh hoạt thôn, tổ không có người sinh con thứ 3 nhằm thu hút người dân tích cực tham gia. Tham mưu chính quyền địa phương có những chính sách khuyến khích cho những hộ gia đình thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ, đặc biệt là đối với những hộ sinh con một bề"...

Ngọc Bích

Về đầu trang


Kết quả từ mô hình điểm "gia đình phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh"

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã và đang là một "Bài toán" cần có lời giải đối với công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) ở các tỉnh, thành trong cả nước nói chung, cũng như ở tỉnh Hải Dương nói riêng.

Theo số liệu thống kê, Hải Dương là một trong số 10 tỉnh trong cả nước có tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh cao. Kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh Hải Dương là 120,3 trẻ trai/100 trẻ gái. Theo báo cáo kết quả công tác DS-KHHGĐ năm 2010 là 122 trẻ trai/100 trẻ gái; năm 2011 là 121 trẻ trai/100 trẻ gái; năm 2012 là 121 trẻ trai/100 trẻ gái. Tỷ số giới tính khi sinh cao nhiều ở lần sinh thứ ba trở lên và gần đây đã tăng ngay ở lần sinh thứ nhất.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở địa bàn tỉnh ở mức cao là do: Quan niệm trọng nam hơn nữ, cần có con trai để "Nối dõi tông đường" và thờ cúng sau này. Các cặp vợ chồng luôn tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính do áp lực mong muốn sinh con trai. Công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân chưa thường xuyên, đồng bộ và chưa sát đối tượng. Sự phối hợp và vào cuộc của chính quyền ở một số địa phương chưa cao. Cơ chế khen thưởng và xử phạt chưa phù hợp...

Hậu quả việc mất cân bằng giới tính khi sinh là trong tương lai sẽ thừa nam, thiếu nữ trong độ tuổi kết hôn. Số lượng nam giới không có khả năng kết hôn tăng sẽ gây áp lực trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình, kéo theo hệ lụy làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: mại dâm, buôn bán phụ nữ, bạo hành giới... để lại những hậu quả xấu cho gia đình, xã hội, đồng thời tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế, xã hội, an ninh trật tự ở các địa phương.

Trước thực trạng trên, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của trung ương, của tỉnh và đặc biệt là hướng dẫn số 67/HD-MTTW-BTT ngày 4/7/2012 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về xây dựng các hoạt động mô hình dân số, kế hoạch hóa gia đình. Năm 2012, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh đã phối hợp với Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình tỉnh tiến hành rà soát các xã trên phạm vi toàn tỉnh có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao (115 trẻ em trai/100 trẻ em gái) trong các năm 2010, 2011 và 6 tháng đầu năm 2012, đồng thời phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban MTTQ một số huyện, thành phố, thị xã và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Hải Dương lựa chọn các xã có đông đồng bào Phật tử để thực hiện.

Mặt khác, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh phối hợp với Ban quản lý Dự án phòng chống bạo lực gia đình, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh và chăm sóc người cao tuổi tỉnh Hải Dương (gọi tắt là VNM8P08), Văn phòng Quỹ Dân số Liên hợp quốc, tổ chức tập huấn công tác tuyên truyền, vận động gia đình phật tử và nhân dân tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cho cán bộ Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương, các vị chức sắc Đạo Phật và các nhà sư trụ trì ở một số chùa trên địa bàn tỉnh. Căn cứ vào các mục tiêu của chương trình và kết quả khảo sát thực tế tại các địa phương có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh đã thống nhất lựa chọn xã Tân Hưng, TP Hải Dương và xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng để triển khai mô hình điểm (02 xã này đều có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao và có đông đồng bào Phật tử) để triển khai thực hiện; đồng thời hướng dẫn các xã được chọn làm điểm thành lập Ban chỉ đạo (từ 7 đến 8 thành viên) do Chủ tịch MTTQ xã làm trưởng ban, Phó ban là Ủy viên văn hóa xã hội hoặc cán bộ chuyên trách làm công tác dân số, Ban công tác Mặt trận, các tổ chức thành viên và đại diện các vị chức sắc tôn giáo làm thành viên. Sau đó, phát động phong trào toàn dân trong xã hưởng ứng và tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, đồng thời tổ chức ký cam kết giữa các hộ gia đình với Ban chỉ đạo về các nội dung thực hiện mô hình; phân công thành viên thường xuyên giám sát việc thực hiện các nội dung trong bản cam kết. Phối hợp với chính quyền, các tổ chức đoàn thể nhân dân và các nhà sư trụ trì tại các chùa trong xã phổ biến sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh, chấp hành chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình bằng nhiều hình thức như: tuyên truyền trực tiếp tại địa bàn các khu dân cư; phát thanh trên loa truyền thanh tại các thôn, KDC; tuyên truyền miệng trong các hội nghị, cuộc họp, các buổi sinh hoạt chuyên đề tại các địa phương, những ngày lễ trọng, các khóa tu của Đạo Phật; phát hiện, biểu dương các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tích cực tham gia hưởng ứng các hoạt động tuyên truyền và khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh...

Từ những việc làm trên, cùng sự tham gia nhiệt tình của các vị chức sắc Phật giáo ở hai địa phương có mô hình điểm, trong 03 năm triển khai thực hiện, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh giảm đáng kể. Tính đến tháng 10 năm 2015, tỷ số giới tính tại xã Tân Hưng, thành phố Hải Dương là 94 bé trai/100 bé gái (năm 2012 là 141 trẻ trai/100 trẻ gái); tại xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng là 79 bé trai/100 bé gái (năm 2012 là 130 trẻ trai/100 trẻ gái).

Qua việc triển khai xây dựng mô hình điểm tại 02 xã Tân Hưng thuộc TP Hải Dương và xã Cẩm Vũ thuộc huyện Cẩm Giàng đã đạt được kết quả bước đầu là làm chuyển biến nhận thức và hành vi theo hướng tích cực của người dân về bình đẳng giới, khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai địa phương trên. Thấy rõ sự tiến bộ rõ rệt về thực hiện bình đẳng giới trong gia đình và địa bàn dân cư, hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở những người trong độ tuổi sinh đẻ. Tạo ra sự đồng tình, ủng hộ và tham gia của các vị chức sắc tôn giáo, các vị tăng ni trong việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục các tín đồ phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, thông qua hoạt động truyền thông của tổ chức tôn giáo.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền, vận động ở các địa phương còn gặp những khó khăn, đối tượng tham dự còn hạn chế, việc tiếp cận đối tượng để vận động khó khăn vì đối tượng cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đi làm tại các công ty, doanh nghiệp.... Một số ít cán bộ, đảng viên, các vị chức sắc tôn giáo, các tín đồ phật tử và nhân dân nhận thức về vai trò, tầm quan trọng về mất cân bằng giới khi sinh còn chưa đầy đủ. Nguồn kinh phí để tổ chức thực hiện cho các hoạt động tuyên truyền vận động còn hạn hẹp, phương tiện và tài liệu phục vụ cho công tác truyền thông còn thiếu...

Trong thời gian tới, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh Hải Dương tăng cường phối hợp với các cấp chính quyền, các sở, ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức tôn giáo, trưởng dòng họ, người có uy tín trong cộng đồng thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, các vị chức sắc các tôn giáo hiểu đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân số, sức khoẻ sinh sản, nhất là chính sách, pháp luật về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục trực tiếp tại cộng đồng với những nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp cho từng nhóm đối tượng. Kiến nghị với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đồng thời có chế tài xử lý nghiêm vi phạm của các cơ sở dịch vụ siêu âm, nạo phá thai... nhằm kiểm soát và khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn toàn tỉnh đạt hiệu quả cao hơn.

Thu Hương 

Về đầu trang


Vĩnh Phúc kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Là một trong những tỉnh luôn có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao nhất trong cả nước, hiện nay tình trạng này ở tỉnh Vĩnh Phúc đã dần được kiểm soát. Tính đến tháng 9/2017, tỷ số giới tính khi sinh tại Vĩnh Phúc là 110 bé trai/100 bé gái. Tỷ số này thấp hơn so với cả nước, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất cân bằng.

Theo thống kê, tỷ số giới tính khi sinh tại Vĩnh Phúc tăng nhanh từ 110 bé trai/100 bé gái năm 2003 lên 115 bé trai/100 bé gái năm 2009 và đến năm 2011 là 116,15 bé trai/100 bé gái. Với việc thực hiện các giải pháp đồng bộ, quyết liệt, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm qua giảm dần. Năm 2016, tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn là 111,75 bé trai/100 bé gái và hiện nay là 110 bé trai/100 bé gái.

Mặc dù tỷ số giới tính khi sinh ở Vĩnh Phúc trong những năm qua đã có dấu hiệu giảm, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao. Để kiểm soát hiệu quả tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh và tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn, tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng nhiều đề án về công tác dân số như: Đề án giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; sàng lọc trước sinh và sơ sinh; chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng; chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên... Đến nay, tỷ lệ người dân tham gia sàng lọc trước sinh và sơ sinh tăng cao, sàng lọc trước sinh đạt 73% và sàng lọc sơ sinh đạt 34,2%.

Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Vĩnh Phúc tích cực phối hợp với các cấp, các ngành, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền kiến thức về sức khỏe sinh sản, khuyến khích phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại; quản lý chặt chẽ các cơ sở phòng khám hành nghề y tế tư nhân trong việc khám, siêu âm giới tính thai nhi; đồng thời tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng truyền thông, tư vấn, vận động cho các cấp lãnh đạo chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, trạm y tế, cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số... Chi cục tổ chức các buổi tuyên truyền tại các xã, phường, thị trấn cho cộng đồng dân cư, cán bộ nhân viên các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, cho nam, nữ trước khi kết hôn về các chính sách liên quan đến công tác dân số, Luật Bình đẳng giới, quy định về nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính khi sinh.

Tại các địa phương, tỉnh Vĩnh Phúc còn thành lập và duy trì các câu lạc bộ phụ nữ không sinh con thứ 3, câu lạc bộ thanh niên không sinh con thứ 3 trở lên, giúp nhau làm kinh tế. Bên cạnh đó, tỉnh xây dựng mô hình đưa chính sách dân số vào quy ước thôn, khu phố, tổ dân phố nhằm duy trì mức sinh hợp lý, giảm tốc độ mất cân bằng giới tính khi sinh, tăng số người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, tăng tỷ lệ sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh, từng bước nâng cao chất lượng dân số.

Thu Thảo

Về đầu trang


Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Ninh Thuận: Thực trạng và giải pháp

Hiện nay, mất cân bằng giới tính khi sinh đang trở thành một trong những vấn đề “nóng” và nan giải đối với công tác DS-KHHGĐ, đã và đang thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Do những quan niệm sai lầm, tâm lý chuộng con trai hơn vẫn thể hiện rõ trong đời sống xã hội.

Theo dự báo của Tổng cục Dân số-KHHGĐ Việt Nam, với tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh như hiện nay, đến năm 2050 Việt Nam sẽ thiếu khoảng 2,3 - 4,3 triệu phụ nữ, tình trạng dư thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn có thể dẫn tới tan vỡ cấu trúc gia đình, một bộ phận nam giới sẽ phải kết hôn muộn, nhiều người trong số họ không có khả năng kết hôn.

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Thuận Nam, trong những năm trở lại đây số trẻ sinh ra là nam vẫn nhiều hơn so với số trẻ sinh ra là nữ: năm 2014 tổng số trẻ sinh ra 1019 em, trong đó số trẻ sinh ra là nam 533 em nhiều hơn 47 em so với số trẻ sinh ra là nữ 486 em; năm 2015 tổng số trẻ sinh ra 1016 em, trong đó số trẻ sinh ra là nam 560 em nhiều hơn 104 em so với số trẻ sinh ra là nữ 456 em; năm 2016 tổng số trẻ sinh ra 1010 em, trong đó số trẻ sinh ra là nam 550 em nhiều hơn 90 em so với số trẻ sinh ra là nữ 486 em.  Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại huyện vẫn còn cao: năm 2014 tổng số sinh con thứ 3 trở lên là 195 cháu (chiếm tỷ lệ 19,1%); năm 2015 tổng số sinh con thứ 3 trở lên là 214 cháu (chiếm tỷ lệ 21,0%); năm 2016 tổng số sinh con thứ 3 trở lên là 192 cháu (chiếm tỷ lệ 19,0%); những xã có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao là Phước Hà, Phước Ninh và Phước Nam, Phước Dinh. Đây thực sự là những con số đáng lo ngại, vì mức chênh lệch giới tính và tỷ lệ sinh con thứ 3 của huyện khá cao.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác Dân số-KHHGĐ và những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai, Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Thuận Nam đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông nhằm làm giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh như: Phối hợp với Chi cục Dân số-KKHGĐ tỉnh thực hiện các hoạt động khảo sát, đánh giá thực trạng về mất cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về mất cân bằng giới tính khi sinh và hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh cho đối tượng là viên chức Trạm Y tế, đại diện các ban, đoàn thể, CTV và phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại xã hoặc thôn. Tổ chức tuyên truyền, tư vấn trực tiếp cho nam/nữ thanh niên về khám sức khỏe trước hôn nhân, lợi ích khi chủ động thực hiện các biện pháp tránh thai. Phối hợp với Đài truyền thanh huyện thực hiện sản xuất các băng đĩa về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi; hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh đối với gia đình và xã hội để phát trên hệ thống phát thanh xã.

Theo kết quả nghiên cứu ban đầu ở Việt Naũng như ở Ninh Thuận, có ba nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, đó là:  Nhóm nguyên nhân cơ bản: Việt Nam là một quốc gia Châu Á có nền văn hóa truyền thống, trong đó tư tưởng Nho giáo đóng vai trò chủ đạo. Một trong những giá trị của Nho giáo là mô hình gia đình truyền thống, trong đó việc nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ là những giá trị nền tảng. Trong văn hóa đó, tâm lý thích con trai trở nên mãnh liệt cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ. Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi có 70% dân số đang sinh sống. Người già hầu hết không có lương hưu hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc y tế, tất cả phụ thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cháu, theo quan niệm của gia đình truyền thống trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai. Người già vì thế cảm thấy lo lắng cho tương lai và bất an khi về già khi không có con trai...Ưa chuộng con trai chính là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh.

Những nguyên nhân phụ trợ: mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 đến 2 con dường như xung đột với giá trị văn hóa truyền thống là phải sinh được con trai bằng mọi giá. Chính sự xung đột này đã tạo áp lực cho các cặp vợ chồng: vừa muốn có ít con, lại mong muốn trong số đó phải có con trai. Đây là động lực khiến các cặp vợ chồng tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh.

Nguyên nhân trực tiếp: lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh như: áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn, chọn ngày phóng noãn...), trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y...; hoặc sau khi đã có thai (sử dụng siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối...) để chẩn đoán giới tính thai nhi, sinh kết hợp với phá thai chọn lọc giới tính (nếu là con trai thì để lại, là con gái thì phá đi).

Tình trạng gia tăng ty số giới tính khi sinh dẫn đến hệ lụy khó lường về mặt xã hội, thậm chí cả an ninh chính trị khi thế hệ trẻ em sinh ra hiện nay bước vào độ tuổi kết hôn (ở Việt Nam thời điểm này sẽ xảy ra vào khoảng năm 2025 đến 2030). Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ làm cho bất bình đẳng giới ngày càng gia tăng, tỷ lệ tội phạm liên quan đến tình dục sẽ ngày càng cao hơn và nạn buôn bán phụ nữ  sẽ ngày càng nhiều, tỷ lệ kết hôn của phụ nữ sẽ sớm hơn, sự tranh giành giữa những người đàn ông để có được người phụ nữ và tỷ lệ phụ nữ tái hôn sẽ cao hơn. Các quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đã phải “nhập khẩu” cô dâu và phần lớn trong số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài đã trở thành cô dâu ở các nước và vùng lãnh thổ nói trên. Đây cũng là cảnh báo cho Việt Nam trong tương lai. Tuy nhiên có thể nhận thấy rõ ràng, đến khi Việt Nam phải đối mặt với sự thiếu hụt phụ nữ thì chúng ta khó có thể “nhập khẩu” được cô dâu từ nước láng giềng và sẽ đối mặt với vấn đề này khó khăn hơn các nước khác nhiều.

Tỷ số giới tính khi sinh liên quan đến vấn đề văn hóa, phong tục, tập quán của người dân từ hàng ngàn năm nay nên chúng ta phải ứng xử với việc mất cân bằng giới tính khi sinh như là một vấn đề văn hóa. Chúng ta không thể nóng vội mà phải làm từng bước, huy động cả hệ thống chính trị và thực hiện đồng bộ các giải pháp. Để giảm được tỷ số giới tính khi sinh, phải có chính sách ưu tiên đối với phụ nữ, ưu tiên đối với những gia đình sinh con một bề là gái chứ không chỉ dừng lại ở bình đẳng giới. Cần rà soát sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, tuyệt đối cấm mọi hình thức lựa chọn giới tính khi sinh. Tuy nhiên, trong tất cả các giải pháp quan trọng nhất vẫn là truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi của người dân. Bên cạnh đó, việc tăng cường cam kết chính trị phải được đặt lên hàng đầu bởi một mình ngành dân số không thể đạt được sự thành công trong việc kiểm soát, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh nếu không có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với sự tham mưu nồng cốt của ngành Dân số-KHHGĐ và sự tham gia tự nguyện của người dân.

Nguyễn Thanh

Về đầu trang


Ngăn chặn mất cân bằng giới tính khi sinh

Một trong những đặc điểm của dân số nước ta khoảng mười năm nay là tình trạng mất cân bằng giới tính của trẻ em khi được sinh ra, thường gọi là “mất cân bằng giới tính khi sinh”. Nếu xu hướng này không được điều chỉnh, đến năm 2050, trong số dân ở độ tuổi kết hôn, số lượng nam giới sẽ nhiều hơn nữ khoảng 4,3 triệu người.

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đang xảy ra tại nhiều tỉnh miền núi phía bắc. Trong ảnh: Học sinh Trường tiểu học Bản Díu, huyện Xín Mần (Hà Giang).

Theo quy luật tự nhiên, trung bình cứ sinh 100 bé gái thì tương ứng sinh được khoảng từ 104 đến 106 bé trai. Trước đây, nói chung hằng năm, trẻ em được sinh ra ở nước ta đều theo quy luật này. Tuy nhiên, năm 2006, trung bình cứ 100 bé gái thì tương ứng có tới 110 bé trai được sinh ra, chính thức được xác định là mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) và từ đó con số này cứ tăng dần, đến năm 2016 đã là 112,2 bé trai, thậm chí ở đồng bằng sông Hồng, con số này lên đến 118.

Trước hết, cần nhận thấy rằng, Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo với nhiều phong tục, tập quán tạo nên khát vọng phải có con trai. Điều này gây ra áp lực không chỉ đối với mỗi đôi vợ chồng mà còn là áp lực đối với cả gia đình, dòng họ. Mặt khác, do đặc trưng là sản xuất nông nghiệp nặng nhọc thì sự vượt trội về cơ bắp của con trai trở thành một ưu điểm khi cày cấy, chăm bón và thu hoạch. Năng suất khu vực nông nghiệp thấp cho nên cha mẹ thường không có tiết kiệm dành cho tuổi già; hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển cho nên khi hết khả năng lao động, cuộc sống chủ yếu phải dựa vào con, nhất là con trai. Bối cảnh nêu trên dẫn tới nảy sinh tâm lý cần có con trai giúp đỡ trong lao động, sinh hoạt và an sinh cho tuổi già. Đây chính là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến MCBGTKS. Nhu cầu có con trai có từ xa xưa, nhưng chỉ đến ngày nay, việc lạm dụng những thành tựu của khoa học và kỹ thuật cho phép con người chủ động trong sinh sản cũng là nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS. Có ý kiến cho rằng, trước đây, sinh nhiều con cho nên vừa đáp ứng được nhu cầu có con trai, vừa cân bằng giới tính một cách tự nhiên. Nay chỉ sinh “một hoặc hai con” cho nên khả năng có được con trai giảm đi, vậy nên phải chủ động lựa chọn giới tính thai nhi. Không phải ngẫu nhiên, việc xuất hiện MCBGTKS ở nước ta diễn ra khi mức sinh thấp. Trong khi tại các nước châu Âu, các nước phát triển, tỷ lệ sinh đẻ ít nhưng không có tình trạng này.

MCBGTKS thuộc loại mất cân bằng vật chất - nền tảng của sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội, do vậy phát sinh nhiều hệ lụy. Trước hết, hôn nhân "một vợ, một chồng", nhưng nam nhiều hơn nữ thì đương nhiên, hàng triệu nam giới sẽ phải sống độc thân; cấu trúc gia đình vợ - chồng, cha mẹ - con cái bị phá vỡ. Do nam giới không thể kết hôn hoặc kết hôn muộn, tình trạng quan hệ tình dục ngoài hôn nhân sẽ tăng lên, nguy cơ lan rộng các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục trong đó có HIV/AIDS... Sự khan hiếm phụ nữ cũng dẫn đến việc tranh giành trong hôn nhân, dễ gây xung đột, thậm chí đã xảy ra một số vụ án mạng. Nạn lừa đảo, bắt cóc, buôn bán phụ nữ, đã xảy ra và có thể sẽ tăng lên. Phụ nữ có thể bị ép buộc sinh thêm con, phá thai nhi gái, bất chấp sức khỏe và tính mạng, bị ngược đãi, phụ tình, ruồng bỏ khi không sinh được con trai. Sinh nhiều bé trai, ít bé gái thì khi lớn lên, lao động nữ khan hiếm, những ngành sử dụng nhiều lao động nữ có nguy cơ khó tuyển dụng lao động và ngược lại, lao động nam nhiều, cho nên nam giới sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường lao động.

Chính vì những hậu quả kinh tế, xã hội nặng nề của MCBGTKS cho nên Nghị quyết số 21 của Hội nghị T.Ư 6 (khóa XII) về “Công tác dân số trong tình hình mới” đã đề ra mục tiêu “đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên”, trước hết, “đến năm 2030, tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống”.

Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, cần triển khai cả một hệ thống giải pháp, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trước tiên cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức đầy đủ hiểm họa của MCBGTKS. Tuyên truyền, phổ biến thực hiện nghiêm Pháp lệnh Dân số không chỉ cho người dân mà c