Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
        
 
 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự Ngày hội Ðại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Lỗ Xá, xã Nhân Hoà, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

    TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO QUỐC GIA


Hơn 2.000 gia đình nghèo biên giới, hải đảo có nhà Đại đoàn kết

Vai trò của biển, đảo đối với quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc

Tổ chức “Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam”

Phát động Cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo Việt Nam”

Mặt trận các cấp tỉnh Quảng Ngãi với việc bảo vệ an ninh biển đảo

Định hướng và giải pháp thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

Quá trình hình thành đường biên giới trên đất liềnViệt Nam - Trung Quốc

Thông tin chi tiết việc phân giới, cắm mốc trên tuyến biên giới Việt - Trung

Tỉnh Bình Định: Chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển

Tăng cường tuyên truyền biển, đảo

Tỉnh Phú Yên:Tiếp sức cho phụ nữ nghèo tuyến biển

Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Ban hành Nghị định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hảo đảo

Quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo 

Triển khai công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

Chung tay bảo vệ biên giới biển, đảo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Khánh Hòa: Triển khai công tác tuyên truyền biển đảo năm 2009

Phụ nữ Quảng Ngãi: Tham gia xây dựng và bảo vệ vùng biển, đảo

Mười năm phối hợp "Vận động phụ nữ biên giới vùng biển"

Công tác tuyên truyền về biển, đảo ở Bắc Ninh năm 2008

Hậu Lộc tăng cường công tác tuyên truyền biển, đảo

Hướng dẫn công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2009

Tăng cường phát triển kinh tế quốc phòng trên biển

Một số thông tin về tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)

Những vấn đề sinh thái kinh tế trước mắt của vùng biển ven bờ Việt Nam

Tình hình tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông

Nâng cao chất lượng dân quân tự vệ biển

Vận động xây dựng 1.000 căn nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo

Quảng Ngãi: Đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ chủ quyền an ninh biên, đảo

Tỉnh ủy Bình Định: Triển khai công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

Cùng chung tay xây dựng “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biển đảo

Nhà máy Z753 gắn hoạt động sản xuất với tuyên truyền biển, đảo

CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN  NGHỀ CÁ BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015

Hướng về biển, đảo quê hương bằng nhiều chương trình thiết thực, hiệu quả

Hội nghị Rút kinh nghiệm công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

Tuyên truyền về biển đảo cho ngư dân và nhân dân: Cần hơn bao giờ hết!

VAI TRÒ CỦA KINH TẾ BIỂN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN  CÔNG NGHIỆP


Quảng Ngãi: Đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ chủ quyền an ninh biên, đảo

Nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng của biển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, UBND tỉnh vừa ban hành kế hoạch tuyên truyền đấu tranh bảo vệ chủ quyền an ninh biển, đảo trong tình hình mới.

Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, UBND các huyện, xã chủ động, tích cực phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và nhân dân các vùng ven biển, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 34/2004/CT-TTg, Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số 16/2004/CT-UB ngày 23/8/2004 của UBND tỉnh về “Xây dựng phong trào quần chúng tự quản tàu thuyền, bến bãi an toàn và ANTT thôn xóm ở khu vực biên giới biển, đảo của tỉnh”.

Bên cạnh đó, các lực lượng chức năng tăng cường phối hợp đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả với các hoạt động xâm phạm chủ quyền vùng biển, các loại tội phạm về buôn lậu, gian lận thương mại, trấn cướp trên biển, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng chất nổ trái phép; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các phương tiện hoạt động nghề cá, đảm bảo an toàn cho ngư dân; gắn công tác tuyên truyền với vận động các tầng lớp nhân dân tham gia cuộc vận động “Học tập và làm theo Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Vì người nghèo”, các chương trình “Xóa đói giảm nghèo”, phát triển kinh tế- xã hội ở các xã bãi ngang ven biển và chương trình “Quốc gia phòng chống tội phạm”...


VH-VN (TH)

    

Về đầu trang


Tỉnh ủy Bình Định: Triển khai công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

Vừa qua, tại Văn phòng Tỉnh ủy, Tỉnh ủy Bình Định và Bộ Tư lệnh Hải quân đã tổ chức hội nghị triển khai công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo.

Đồng chí Phạm Văn Thanh-Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy và Phó Đô đốc Hải quân Trần Thanh Huyền-Bí thư Đảng ủy-Chính ủy Quân chủng Hải quân chủ trì hội nghị.

Tại hội nghị, Phó Đô đốc Trần Thanh Huyền đã thông tin tóm tắt về tình hình biển, đảo trong thời gian qua và kết quả công tác tuyên truyền biển, đảo cũng như triển khai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc quần đảo Trường Sa của Quân chủng Hải quân. Phó Đô đốc Trần Thanh Huyền đánh giá cao sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân Bình Định thời gian qua, đã tích cực hỗ trợ vật chất và tinh thần, góp phần động viên Quân chủng Hải quân hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hội nghị đã xác định công tác tuyên truyền về biển, đảo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, nhằm tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, Quân chủng Hải quân và địa phương sẽ tăng cường công tác tuyên truyền về biển, đảo nhằm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh hiểu rõ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để cùng nhau thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của nước ta…

Phát biểu tại hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phạm Văn Thanh bày tỏ vui mừng trước sự phối hợp của Bộ Tư lệnh Hải quân cùng với tỉnh Bình Định triển khai công tác tuyên truyền về biển, đảo. Đồng chí Phạm Văn Thanh cho rằng, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa X “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” và hứa tỉnh sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để Quân chủng Hải quân thực hiện tốt công tác này trong thời gian tới.


Theo Báo Bình Định

Về đầu trang


Cùng chung tay xây dựng “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”

Thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TW ngày 27/6/2008 của Ban Bí thư (Khóa X) và theo tinh thần Chỉ thị 24/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về “Đẩy mạnh cuộc vận động Ngày vì người nghèo”, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Báo Quân đội nhân dân đã tổ chức đợt vận động "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo".

Khu vực biên giới, biển đảo nước ta hiện có 1.029 xã, phường, thị trấn thuộc 203 huyện, 44 tỉnh, thành phố; dân số khoảng 7,2 triệu người, gần 1,7 triệu hộ. Đây là vùng đất phên dậu, tuyến đầu của đất nước, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại song đời sống của nhân dân còn rất nhiều khó khăn. Theo thống kê của Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, hiện nay, vùng biên giới và hải đảo còn 388 xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ nghèo đói chiếm trên 30% (một số nơi còn 70%) với khoảng: 13.709 hộ đói, 223.427 hộ nghèo. Trong đó, có 109.476 hộ chưa có điện thắp sáng, 192.141 hộ chưa được dùng nước sạch, 104.557 hộ không có đất sản xuất; gần 1.000 hộ chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá tạm bợ; trên 400 thôn, bản vùng sâu, xa chưa có phòng học, 1.700 phòng học quá tạm bợ, số người thất học, mù chữ có chiều hướng gia tăng; cơ sở khám chữa bệnh, trang thiết bị y tế còn khan hiếm; các thiết chế văn hóa và hệ thống giao thông thiếu trầm trọng. Nhiều nơi bị thiếu, đói về thông tin, nhân dân chưa được hưởng các dịch vụ y tế, văn hóa, xã hội… nên còn nhiều tập tục, tệ nạn xã hội lạc hậu dễ bị các phần tử xấu móc nối, kích động…

Năm nay, hướng tới kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng và 20 năm Ngày Biên phòng toàn dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với Bộ đội Biên phòng và Báo Quân đội nhân dân phối hợp triển khai đợt vận động "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo". ủng hộ xây dựng các công trình dân sinh loại nhỏ, như phòng học, cầu, cống, đường liên thôn, liên bản… và giúp đỡ đồng bào các dân tộc trên biên giới, biển đảo nhất là các thôn, bản giáp biên giới xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà dột nát.

Đợt vận động này dự kiến được thực hiện đến ngày 3/3/2009 và công tác tổ chức xây dựng các công trình sẽ kéo dài từ đến hết ngày 31/12/2009. Trước mắt, từ nay đến Tết Nguyên đán 2009, sẽ triển khai xây dựng từ 500 - 1.000 căn nhà cho các hộ nghèo ở biên giới, hải đảo, khu vực hiện có hơn 1.000 xã, phường, thị trấn thuộc 44 tỉnh, thành phố với số dân 7,2 triệu người.

"Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo" chính là nội dung trọng tâm của cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" năm 2008 do Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Gần 8 năm qua, “Ngày vì người nghèo” đã vận động được hơn 2.200 tỷ đồng, giúp sửa chữa, xây dựng hơn 790.000 ngôi nhà cho người nghèo; gần 4 triệu người nghèo được an cư, lạc nghiệp, có cơ hội thoát khỏi đói nghèo; hàng triệu người được giúp đỡ về vốn mua trâu, bò, cây, con giống, nông cụ cho sản xuất và khám, chữa bệnh trong lúc khó khăn, thiên tai đột xuất./.


TL (Tổng hợp)

Về đầu trang


Vận động xây dựng 1.000 căn nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo

Ngày 27/11, tại thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) đã phối hợp với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và báo Quân đội Nhân dân đã phát động đợt vận động trong cả nước, quyên góp ủng hộ đồng bào nghèo vùng biên giới, hải đảo với chủ đề “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới , hải đảo”.

 
Phát biểu tại buổi lễ phát động, Thiếu tướng Võ Trọng Việt, Chính ủy BĐBP cho biết, mục tiêu cuộc vận động là xây dựng 1.000 ngôi nhà “Đại đoàn kết” và một số công trình giáo dục, y tế phục vụ nhân dân vùng hải đảo, biên giới. Riêng 1.000 ngôi nhà “Đại đoàn kết”, trị giá mỗi căn khoảng 15 triệu đồng sẽ được hoàn thành trong vòng 2 tháng (từ nay cho đến Tết Kỷ Sửu sắp đến).
 
Ngay trong chiều 27/11, đã có gần 50 doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã đến cơ quan Bộ Tư lệnh BĐBP khu vực phía Nam (tại thành phố Hồ Chí Minh) ủng hộ cuộc vận động, với tổng số tiền gần 1 tỷ đồng. Cuộc vận động này là nhằm hưởng ứng “Tháng cao điểm vì người nghèo” do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát động; đồng thời, thiết thực kỷ niệm 20 năm “Ngày Biên phòng toàn dân” (3/3/1989- 3/3/2009) và 50 năm Ngày truyền thống (3/3/1959- 3/3/2009).


Qua gần 20 năm thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân”, BĐBP đã phối hợp và trực tiếp triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên phòng. Tính từ năm 2005 đến nay, BĐBP đã triển khai 20 dự án phát triển kinh tế- xã hội khu vực biên giới, với số vốn đầu tư 280 tỷ đồng; giúp hơn 3.000 hộ dân định canh, định cư và 30.000 hộ dân sử dụng nước sạch, có điện thắp sáng. Các đồn biên phòng đã triển khai 150 mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình, trực tiếp giúp dân sản xuất và vận động tài trợ, xây dựng 200 căn nhà tình nghĩa, tình thương trị giá hơn 3 tỷ đồng.../.


Theo TTXVN

Về đầu trang


Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biển đảo

Thực hiện kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông – hải đảo, ngày 11-1-2008, đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Ngoại giao gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Bách, Phó Vụ trưởng Vụ Thông tin hợp tác quốc tế (Ban Tuyên giáo Trung ương) và Nguyễn Mạnh Hiển, Phó Vụ trưởng Vụ Biển (Bộ Ngoại giao) đã có chuyến khảo sát thực tế và làm việc với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, một số ngành liên quan để khảo sát công tác tuyên truyền biển đảo tại Thanh Hóa.

    Tại hội nghị trao đổi, tọa đàm về công tác biển đảo, đoàn công tác của Trung ương đã nghe Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy báo cáo kết quả công tác tuyên truyền biển đảo năm 2007 của Thanh Hóa, nêu bật những kết quả đã đạt được trong công tác tham mưu, chỉ đạo và triển khai thực hiện. Các lớp tập huấn tuyên truyền biển đảo đã được tổ chức cho trên 300 cán bộ làm công tác tuyên giáo cấp huyện và báo cáo viên cấp tỉnh; tổ chức  báo cáo 6 chuyên đề về biển đảo ở cấp tỉnh; thường xuyên đăng tải các nội dung về biển đảo trên “Thông báo nội bộ”, xây dựng và triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho ngư dân vùng biển”. Các cơ quan báo chí trong tỉnh đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng về biển đảo với nhiều chuyên trang, chuyên mục, bài viết, ảnh có chất lượng. Đặc biệt là đợt tuyên truyền Nghị quyết Trung ương 4 và chương trình hành động của tỉnh về chiến lược biển đảo đến năm 2020 và tuyên truyền phát triển kinh tế biển của địa phương được định hướng thường xuyên, nắm bắt, phản ánh kịp thời tình hình diễn biến tư tưởng an ninh trên biển và đề xuất các giải pháp bảo đảm an ninh trên biển...

     Đại diện lãnh đạo một số ngành: Tư pháp, Bưu chính – Viễn thông, Bộ đội Biên phòng, Hội Nông dân, Sở NN&PTNT, Sở Thủy sản; Báo Thanh Hóa, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh... báo cáo những việc làm cụ thể, công tác triển khai thực hiện nội dung trong công tác tuyên truyền biển đảo và những đề xuất kiến nghị với Trung ương về từng lĩnh vực.

     Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Ngoại giao đã đánh giá cao những cố gắng và kết quả trong thực hiện công tác tuyên truyền biển đảo tại Thanh Hóa. Đoàn công tác khẳng định ngư dân Thanh Hóa chủ yếu liên quan đến nội dung Hiệp định Vịnh Bắc bộ do vậy tỉnh và các ngành có liên quan cần tiếp tục tập trung tuyên truyền tốt hiệp định này. Trong đó làm rõ cho ngư dân hiểu các quy định để ngư dân đánh bắt trong phạm vi chủ quyền của mình, tuyên truyền về chủ quyền biển đảo, quan tâm đến môi trường sinh thái ở Khu Kinh tế Nghi Sơn nói riêng và trên biển nói chung.

     Trước buổi làm việc, đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Ngoại giao đã đi khảo sát thực tế tại xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương và Khu Kinh tế Nghi Sơn về các nội dung có liên quan. 

Hoàng Tuấn

Về đầu trang


Nhà máy Z753 gắn hoạt động sản xuất với tuyên truyền biển, đảo

Chúng tôi đến thăm Nhà máy Z753 Cục Kỹ thuật Hải quân, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng nhân dịp Vùng 4 Hải quân tổ chức sơ kết 1 năm hoạt động phối hợp tuyên truyền về biển đảo. Hôm ấy là thứ bảy, nhưng tại các phân xưởng, hoạt động sản xuất vẫn diễn ra như ngày thường. Không khí làm việc rất khẩn trương, sôi nổi.

Đại tá Dương Kim Tịnh, Chính ủy nhà máy cho biết: Đầu tháng tư sẽ có tàu đi Trường Sa. Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân, với tinh thần “Tất cả vì Trường Sa thân yêu”, nhà máy đang tập trung toàn lực lượng, làm việc theo ca, kể cả ngày thứ bảy và chủ nhật để sản xuất các sản phẩm: cẩu xoay 3,5 tấn, xuồng đặc biệt, xe chở xuồng và các phụ kiện kèm theo… phục vụ hoạt động của các đơn vị đóng quân trên quần đảo. Trước đó, nhà máy đã cử 3 đội công tác lên đường ra Trường Sa làm nhiệm vụ. Đầu tháng tư này sẽ tăng cường 2 đội công tác khác vận chuyển thiết bị kỹ thuật và lắp đặt, chuyển giao thiết bị, công nghệ cho đảo. Nam, một công nhân hợp đồng của nhà máy, quê Phú Yên tâm sự khi vừa tan ca: “Thứ bảy, chủ nhật ai cũng muốn nghỉ ngơi để đi đây đi đó, vui vẻ với gia đình, người thân. Nhưng nghĩ đến những người lính đang ngày đêm chắc tay súng trên các hòn đảo yêu thương của Tổ quốc, anh em công nhân ở đây không còn quan tâm nhiều đến ngày nghỉ. Chúng tôi cố gắng hoàn thành sản phẩm với chất lượng cao nhất để kịp đưa lên tàu, xong nhiệm vụ sẽ xin nghỉ bù”.

Nhà máy Z753 được thành lập ngày 23/8/1975 theo quyết định của Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ chính trị trung tâm của nhà máy là bảo đảm vũ khí - trang bị kỹ thuật cho các đơn vị của quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trọng tâm là các đơn vị thuộc Vùng 4 Hải quân. Bên cạnh đó, đơn vị còn được giao nhiệm vụ tổ chức sản xuất bảo đảm đời sống cho cán bộ công nhân viên; thực hiện công tác dân vận, tuyên truyền về biển, đảo; tăng cường đoàn kết quân dân, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, xây dựng địa bàn an toàn, ổn định và phát triển. Nhà máy không chỉ sửa chữa vũ khí - thiết bị kỹ thuật cho các đơn vị quân đội, gồm: vũ khí bộ binh, tăng- thiết giáp, ô tô, trạm nguồn, tàu có tải trọng đến 450 tấn, xuồng và các phương tiện nổi mà còn đóng các phương tiện tàu, xuồng, xà lan bằng vật liệu hợp kim, nhôm, sắt, composite; sản xuất xe cứu hỏa bán tự động bằng cách cải hoán trên nền xe 3m, KAMAZ, ISUZU. Ngoài ra, nhà máy còn sản xuất các sản phẩm cơ khí có khối lượng lớn như dây chuyền nỉa cát (quặng), khung nhà xưởng, cột ăng-ten tự đứng cao 49-50m, ăng-ten dây co với công nghệ kẽm chất lượng cao. Nhiều sản phẩm của nhà máy có tính cạnh tranh cao, từng đoạt Huy chương vàng Hội chợ Công nghiệp Việt Nam, như xuồng cao tốc hợp kim, nhôm và composite; dây chuyền tuyển nỉa cát (quặng) công suất lớn.

Sau khi Quân chủng Hải quân và Tỉnh ủy Phú Yên ký kết phối hợp tuyên truyền biển, đảo, trong năm 2007, nhà máy đã cử cán bộ đến nhiều địa phương của Phú Yên tuyên truyền về biển, đảo; nói chuyện thời sự về tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đợt tuyên truyền đã giúp cho cán bộ và nhân dân trong tỉnh hiểu biết hơn về chủ quyền biên giới hải đảo, về nhiệm vụ của những người lính đang ngày đêm bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc; thắt chặt thêm tình quân dân. Đại tá Dương Kim Tịnh, Chính ủy Nhà máy Z753 cho biết: “Chúng tôi đã có sự bàn bạc và thống nhất với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên về nội dung phối hợp tuyên truyền biển đảo trong năm 2008. Theo đó, cùng với việc tổ chức kết nghĩa giữa một số đơn vị của Vùng 4 Hải quân và tỉnh Phú Yên, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh hoạt động phối hợp tuyên truyền biển, đảo trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Nhà máy phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự- quốc phòng.

XUÂN HIẾU

Về đầu trang


CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN  NGHỀ CÁ BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015

Việt Nam là nước có tính biển lớn trong các nước Đông Nam á lục địa, với 3.260 km bờ biển/331.700 km2 diện tích; 226.000 km2 nội thuỷ lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2. Biển Việt Nam có hơn 2.030 loài cá trong đó có 130 loài có giá trị kinh tế, 1.600 loài giáp xác, 2.500 loài sò trai,... và rất nhiều rong, chim biển. Tiềm năng nguồn lợi cá biển được ước tính hơn 3 triệu tấn và sản lượng khai thác bền vững là 1,4 - 1,5 triệu tấn. Với những thuận lợi trên, Việt Nam có điều kiện để phát triển toàn diện một nền kinh tế biển mà trong đó nghề cá là điểm khởi đầu quan trọng.

Để nghề cá Việt Nam phát triển một cách hiệu quả và bền vững, Bộ Thuỷ sản đã đề ra “Chiến lược quản lý và phát triển nghề cá biển Việt Nam đến năm 2015” dựa trên tầm nhìn đối với nghề cá biển là: “Nguồn lợi thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cho các thế hệ hiện tại và tương lai và được khai thác một cách hiệu quả và bền vững".

Hiện trạng nghề cá Việt Nam:

Nghề cá là một trong những ngành phát triển nhanh nhất và năng động nhất của nền kinh tế Việt Nam. Trong thời kỳ 1990 - 2004, tổng sản phẩm đánh bắt và nuôi trồng tăng gần 2,9 lần, đạt 3,073 triệu tấn và giá trị xuất khẩu đánh bắt và nuôi trồng tăng gần 2 lần, đạt 3,073 triệu tấn và giá trị xuất khẩu tăng gần 2,43 lần từ 0,7 triệu tấn (năm 1990) đến 1,7 triệu tấn (năm 2004).

Nghề cá đã góp gần 4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (không bao gồm giá trị gia tăng đáng kể của chế biến, phân phối và thương mại thuỷ sản), góp phần đưa Ngành thuỷ sản trở thành một trong những ngành mang lại nguồn ngoại tệ lớn nhất cho đất nước, chỉ sau ngành dầu khí, may mặc, và giải quyết gần 4 triệu việc làm và thu nhập thêm cho hàng triệu lạo động.

Tuy nhiên, nghề cá đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng nảy sinh trong quá trình phát triển. Với hơn 84% số lượng tàu cá được trang bị máy có công suất nhỏ hơn 90 CV, nghề cá Việt Nam vẫn hầu như là nghề cá quy mô nhỏ. Các hoạt động đánh bắt vẫn tập trung ở ven bờ và gây ra áp lực khai thác cao đối với nguồn lợi ven bờ. Thêm vào đó, số lượng tàu thuyền khai thác hải sản và tổng công suất máy tầu trong toàn quốc tăng lên không ngừng trong khi sản lượng khai thác tương ứng của một mã lực máy tàu bị giảm xuống (từ 0,61 tấn/cv/năm 1994 xuống còn 0,36 tấn/cv/năm 2004).

Một thách thức khác đối với nghề cá Việt Nam hiện nay là số lượng lao động nghề cá tăng liên tục trong những năm gần đây, bình quân mỗi năm tăng trên 26.900 người, nhưng chất lượng lao động không cải thiện. Với trình độ học vấn thấp, ngư dân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật mới nhất là kỹ thuật khai thác xa bờ, làm tăng thêm sự cạnh tranh trong khai thác và làm trầm trọng thêm sự huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản ven bờ.

Cơ sở hạ tầng nghề cá hiện còn nghèo nàn. Tính đến cuối năm 2000 có:  50 cảng và bến cá với tổng chiều dài cầu cảng là 4.146 m, có thể bốc dỡ cá từ những tàu đánh cá lớn; 702 xưởng đóng tàu cỡ nhỏ có khả năng đóng mới 4.000 chiếc/năm và sửa chữa 8.000 chiếc/năm; 8 cơ sở sản xuất lưới sợi bao bì và dịch vụ vật tư mỗi năm sản xuất ra 200 tấn lưới sợi và 7.500 tấn vật tư thuỷ sản; 126 kho lạnh với tổng trữ lượng khoảng 20.000 tấn, 120 nhà máy nước đá; 405 nhà máy chế biến thuỷ sản. Bên cạnh đó hệ thống chợ cá còn ít và chưa phát huy tác dụng tốt nên việc mua bán, tiêu thụ cá ở các chợ phần lớn vẫn do đầu nậu cá đảm nhiệm.

Những thách thức và khó khăn đã đặt ra cho nghề cá Việt Nam phải có một chiến lược để quản lý và phát triển bền vững.

Chiến lược quản lý và phát triển nghề cá Việt Nam đến năm 2015

Dựa trên các số liệu về điều kiện tự nhiên, tình trạng sử dụng giới hạn bền nhất là nuôi tôm theo phương thức tiên tiến, hiệu quả và bền vững môi trường. Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác xa bờ, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ, nâng cao năng lực bảo quản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, trong nước. Mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường, bảo đảm sự tái tạo và nguồn lợi thủy sản".

Những mục tiêu:

Đối với nghề cá ven bờ: - Điều chỉnh khai thác vùng ven bờ hợp lý, đồng thời khôi phục và bảo tồn nguồn lợi cá ven bờ và hệ sinh thái biển để: Vào năm 2010 hoàn thành việc xây dựng hệ thống quản lý nghề cá ven bờ toàn diện (bao gồm việc hình thành chính sách, phát triển việc hỗ trợ pháp lý và thực hiện hệ thống quản lý); vào năm 2015, giảm được 40% số lượng tàu đánh cá ven bờ và điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp của cộng đồng nghề cá; vào năm 2015, có 15 khu bảo tồn ở Việt Nam, một khu vực bảo vệ nguồn lợi và phát triển vài khu vực rạn san hô; tăng cường năng lực quản lý nghề cá ở tất cả các cấp của Chính phủ, nâng cao sự cộng tác giữa các cơ quan Chính phủ và cộng đồng nghề cá để giảm thiểu tác động xấu đến nguồn lợi và hệ thống sinh thái biển; đến năm 2010 giảm tổng sản lượng khai thác ven bờ xuống còn 700.000 tấn/năm, bằng cách giảm số lượng tàu cá, số lượng ngư dân và thực hiện các chính sách và luật bảo vệ nguồn lợi.

- Nâng cao mức sống của cộng đồng ngư dân sống phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ sản ven bờ, để đóng góp vào việc xoá đói giảm nghèo trong số cộng đồng này và đảm bảo an toàn thực phẩm: Vào năm 2015, chuyển được 20% ngư dân đánh cá ven bờ sang nghề khác, bao gồm tiến hành chương trình hỗ trợ đào tạo kỹ thuật, hướng dẫn nghề nghiệp và chương trình tín dụng.

Đối với nghề cá xa bờ: - Đảm bảo cho nghề cá xa bờ bền vững và hiệu quả đồng thời duy trì cả những chức năng hệ sinh thái biển và cả quan hệ hài hoà với nghề cá ven bờ: Tiếp tục nâng cấp thông tin về nguồn lợi thuỷ sản và nghề cá xa bờ. Vào năm 2007, hoàn thành cơ cấu lại đội tàu cá xa bờ theo phương pháp đánh bắt phù hợp nhất với cơ cấu đội tàu và hiện trạng của nguồn lợi thủy sản xa bờ và tiếp tục thu thập thông tin bổ sung về nguồn lợi bảo đảm cho các hoạt động nhằm hiện đại hoá đội tàu đánh cá xa bờ; đạt được mục tiêu sản lượng khai thác bền vững đối với tổng sản lượng khai thác xa bờ; tiếp tục cải tiến khả năng quản lý nghề cá của cả cơ quan Chính phủ và nghề cá.

 - Nâng cao thu nhập, tạo việc làm mới và nâng cao mức sống của cộng đồng ngư dân sống phụ thuộc vào nghề cá xa bờ. Tăng cường việc làm trực tiếp và gián tiếp trong nghề cá xa bờ lên 300.000 việc làm/năm 2010 và lên 500.000 chỗ làm việc vào năm 2015.

Qui hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá:

Trong giai đoạn phát triển 10 năm 2001 - 2010, tập trung giải quyết một bước về củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ cho khai thác hải sản gồm 5 mục tiêu:

- Hoàn chỉnh các cụm bến cảng cá trên các cửa sông, cửa lạch có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có năng lực khai thác lớn, trước hết là đã có một đội tàu khai thác lớn và có năng lực phát triển cao hơn trong thời kỳ tới, phải có sản lượng cất bến hàng năm từ 10.000 tấn trở lên; Dần từng bước nâng cấp và củng cố các bến cá nhân dân, tạo điều kiện cho nghề cá nhân dân với số lượng tàu thuyền ít, qui mô nghề nghiệp nhỏ nhằm cải thiện điều kiện sản xuất, an toàn tàu thuyền ở vùng trú đậu, bố trí hậu cần tương ứng.

- Xây dựng một hệ thống chợ cá trên các tỉnh vùng trọng điểm nghề cá có qui mô công nghiệp kết hợp với việc phát triển hệ thống chế biến sản phẩm hoặc hình thành các trung tâm tiêu thụ sản phẩm nghề cá lớn của các vùng nuôi tập trung và các trung tâm đô thị lớn.

- Xây dựng các khu vực tránh trú bão cho ngư dân, đặc biệt những vùng có gió bão lớn từ Nam Trung Bộ trở ra Bắc và những tỉnh có mật độ tàu thuyền đánh cá cao.

- Xây dựng các công trình cung cấp, dẫn nước, bảo vệ vùng nuôi cho các vùng nuôi tôm công nghiệp. Xây dựng hệ thống thuỷ lợi để cải tạo các vùng nuôi nhằm nâng cấp các công trình thoát nước và xử lý nước thải cho các vùng nuôi thuỷ sản đặc biệt, những vùng nuôi tôm sú tập trung, các vùng nuôi lồng bè.

- Xây dựng các công trình cung cấp điện hạ thế, hệ thống đường giao thông tiếp cận với các vùng nuôi tập trung (trên 50 ha).

Qui hoạch hệ thống dịch vụ và đóng sửa tàu thuyền: Từ nay đến 2010, tập trung nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới dịch vụ cơ khí phục vụ thuỷ sản nhằm nâng cao năng lực chế tạo phụ tùng, phụ kiện và năng lực cung ứng các dịch vụ kỹ thuật bảo dưỡng, bảo hành và cung ứng thiết bị cơ khí thuỷ sản. Hệ thống cơ sở vật chất gồm các cơ sở tại 2 thành phố lớn là Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh; các cơ sở đóng sửa tàu thuyền hiện có trên các địa phương được khuyến khích hoạt động theo luật doanh nghiệp để phục vụ đội tàu thuyền vỏ gỗ cỡ vừa và nhỏ, tổng năng lực đóng mới thay thế hàng năm của đội tàu này khoảng 600 - 700 chiếc các loại và lên đà sửa chữa khoảng 8.000 chiếc/năm.

Các giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược:

- Thu hút mọi nguồn lực phát triển đúng mục đích và hiệu quả trong đó tập trung cơ cấu lại đầu tư trong các lĩnh vực của ngành thuỷ sản; phát triển nuôi trồng thủy sản là ngành mũi nhọn; sắp xếp lại nghề cá ven bờ và gần bờ, tập trung đầu tư cho nghề cá xa bờ; quy hoạch lại hệ thống chế biến thuỷ sản gắn với xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, gắn với yêu cầu thị trường và khả năng cung ứng nguyên liệu.

- Tạo môi trường thể chế, chính sách thuận lợi nhất cho sự phát triển và quản lý nghề cá hiệu quả hơn.

- Tăng cường hội nhập quốc tế về trình độ công nghệ, năng lực quản lý ngành và các yêu cầu phát triển của nghề cá có trách nhiệm, bảo đảm không có xáo trộn khi Việt Nam gia nhập WTO; chuẩn bị tốt các chương trình, dự án và nguồn nhân lực để tranh thủ có hiệu quả tối đa cơ hội hợp tác với nước ngoài.

Lộ trình thực hiện chiến lược:

Giai đoạn 2005 - 2007: Hoàn thiện việc xây dựng quy hoạch chi tiết phát triển các vùng nuôi thuỷ sản tập trung và thiết kế các vùng nuôi tập trung; hoàn chỉnh việc nâng cấp và xây dựng mới các Trung tâm giống quốc gia. Trung tâm giống vùng, các khu sản xuất giống tập trung theo tinh thần của Quyết định 112/QĐ - TTg và phê duyệt chiến lược phát triển giống thuỷ sản. Trong năm 2005 hoàn thành kiểm kê tàu thuyền đánh cá trong cả nước và tiến đến năm 2007 đăng kiểm toàn bộ số tàu thuyền nghề cá hiện có; hoàn thành chiến lược phát triển xây dựng các khu bảo tồn biển; thực hiện nghiên cứu và xây dựng thí điểm các mô hình đồng quản lý và phân quyền quản lý các vùng biển; hoàn thành việc nâng cấp 100% các xí nghiệp chế biến đảm bảo đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản theo tiêu chuẩn Việt Nam với 85% số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn HACCP và 90% số sản phẩm chế biến đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào mọi thị trường.

Giai đoạn 2008 - 2010: Tập trung phát triển nuôi biển, triển khai việc "thực hành nuôi tốt” cho tất cả các vùng nuôi, hoàn thành việc mã hoá các vùng nuôi; triển khai phân tuyến và phân cấp quản lý các vùng biển theo quy hoạch; hoàn thành việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thuỷ sản Việt Nam.

Về đầu trang


Hướng về biển, đảo quê hương bằng nhiều chương trình thiết thực, hiệu quả

Hội nghị sơ kết công tác phối hợp tuyên truyền biển, đảo năm 2008 giữa lãnh đạo Tỉnh ủy và lãnh đạo Quân chủng Hải quân Việt Nam đã diễn ra vào chiều ngày 3-11. Phó Đô đốc, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân chủng Hải quân Trần Thanh Huyền đã đánh giá cao nghĩa tình của Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng kinh tế biển, đảo. Dù là tỉnh không có biển nhưng trong 10 chương trình đã ký kết phối hợp tuyên truyền về biển, đảo vào giữa năm qua, Đồng Nai đã thực hiện có hiệu quả 5 chương trình. 

“Đồng Nai sẽ tiếp tục thể hiện trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các vùng biển, đảo thân yêu của Tổ quốc gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, đảo bằng các chương trình cụ thể, có hiệu quả". Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Bùi Ngọc Thanh đã nói như vậy. Đồng chí cho rằng sắp tới tỉnh sẽ rà soát lại chương trình phối hợp đã ký kết để đưa ra kế hoạch cụ thể, thiết thực hơn; động viên được các tầng lớp cán bộ, nhân dân trong tỉnh cùng có các hoạt động hướng ra quân dân huyện đảo Trường Sa và bộ đội bảo vệ thềm lục địa của Tổ quốc. 

Ngọc Anh

Về đầu trang


Hội nghị Rút kinh nghiệm công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

Sáng nay, 21/3, tại TP Cần Thơ, quân chủng Hải quân đóng quân tại các địa bàn miền Tây Nam Bộ đã tổ chức Hội nghị Rút kinh nghiệm công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo giữa quân chủng hải quân cụm 9 với các tỉnh - thành khu vực ĐBSCL. Đến dự hội nghị có đại diện Ban Tuyên giáo các tỉnh - thành cùng đại diện các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và các địa phương khu vực ĐBSCL .

Năm qua, quân chủng Hải quân cụm 9 đã được Đảng ủy, Bộ tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ phối hợp với 6 tỉnh - thành ĐBSCL gồm: TP Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà mau, Bạc Liêu và Kiên Giang để triển khai thực hiện công tác tuyên truyền về biển, đảo. Trong công tác tuyên truyền miệng, cụm 9 đã chủ động phối hợp với các ngành chức năng các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng tổ chức tuyên truyền cho lực lượng cán bộ và người dân những quy định, pháp lệnh của quốc tế và Nhà nước Việt Nam về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm trong khai thác và bảo vệ biển, đảo trên địa bàn. Tổ chức tuyên truyền bằng loa phóng thanh, tờ rơi cho hàng ngàn lượt tàu thuyền và ngư dân làm ăn trên biển v.v…

Đối với các cơ quan thông tin đại chúng, quân chủng Hải quân trên địa bàn cũng đã chủ động phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biển, đảo. Trong đó đã tổ chức cho trên 100 lượt phóng viên các báo, đài trung ương và địa phương đến với các đảo Tây Nam. Họat động này giúp cho các nhà báo thâm nhập thực tế, tìm hiểu tư liệu và thực hiện nhiều tin bài, ảnh, phóng sự về biển đảo.

Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận về giải pháp tăng cường sự phối hợp trong công tác tuyên truyền về biển đảo năm 2008 và những năm tiếp theo. Trong đó, việc tuyên truyền sâu rộng, đổi mới về nội dung, chất lượng, cụ thể, sát thực, cũng như việc phối hợp tạo điều kiện giúp đội ngũ làm báo tiếp cận thông tin được các đại biểu quan tâm. Trước mắt vào đầu tháng 4/2008, quân chủng Hải quân cụm 9 sẽ tổ chức 5 đoàn đại diện lãnh đạo các tỉnh thành cùng các cơ quan báo chí các tỉnh Vĩnh Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ tham quan quần đảo Trường Sa. Đây sẽ là cơ hội tốt tăng cường công tác phối hợp tuyên truyền biển đảo trong giai đoạn hiện nay.

Đăng Khoa

Về đầu trang


Tuyên truyền về biển đảo cho ngư dân và nhân dân: Cần hơn bao giờ hết!

Biển Việt Nam có vai trò chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Trung ương 4 đã đề ra “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển. Công tác tuyên truyền biển đảo trong tình hình mới cho các ngư dân là lực lượng đông đảo, trực tiếp lao động sản xuất trên biển lúc này trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Song, công tác này gặp rất nhiều khó khăn và bất cập.

Khó khăn trước hết đến từ chính biển cả. Nước ta có bờ biển dài hơn 3.260km, vùng biển rộng hơn 1 triệu ki-lô-mét vuông với khoảng 2.800 đảo và quần đảo. Ước tính biển nước ta có đến 2.000 loài cá, 70 loài tôm, 50 loài cua, 650 loài rong biển, 2.500 loài nhuyễn thể. Đối với ngư dân, biển nuôi sống họ, là đời sống tinh thần của họ. Nhưng với công tác tuyên truyền biển đảo thì vùng biển rộng, nhiều đảo phân tán, xa bờ, khí hậu biển khắc nghiệt, thất thường là trở ngại lớn. Ngư dân ngày đêm trên biển, đánh bắt xa bờ, nay đây mai đó, đi theo vệt cá, phương tiện thông tin duy nhất của họ là bộ đàm, ra-đi-ô nghe đài Tiếng nói Việt Nam. Khi cần thiết thì ngư dân dùng bộ đàm liên lạc địa phương, Bộ đội Biên phòng hoặc hệ thống đài canh của Quân chủng Hải quân. Tuy nhiên, do tập quán và muốn “độc quyền” khu vực biển nhiều hải sản, khá nhiều ngư dân thường bí mật ngư trường nên họ tự cô lập, cắt đứt hoàn toàn liên lạc trong thời gian dài, gây khó khăn cho công tác tuyên truyền và tìm kiếm cứu nạn. Việc phân định ranh giới quản lý của các lực lượng trên biển, các tỉnh có biển quản lý vùng biển “từ đâu đến đâu” còn chưa rõ ràng, gây tranh cãi. Có ý kiến cho rằng, Ủy ban Biển Đông và hải đảo cần sớm cụ thể về phân định mốc trên biển đối với ranh giới quản lý của các tỉnh, các lực lượng chức năng.

Nhiều lực lượng quản lý một vùng biển nhưng việc phối hợp để tuyên truyền cho ngư dân ít được thực hiện hoặc hiệu quả chưa cao. Bên tuyên giáo thì kêu là thiếu thông tin kịp thời về biển đảo; bên thủy sản, nông nghiệp, khí tượng thủy văn thì thiếu nghiệp vụ tuyên truyền. Vẫn xảy ra tình trạng “Đầu voi đuôi chuột”, “mạnh ai nấy làm”, bệnh thành tích, tuyên truyền không đến nơi đến chốn, không đến được ngư dân… Các sở thủy sản trực tiếp quản lý các ngư dân từ bờ ra biển nhưng cũng không kiểm soát hết được. Mỗi lớp tập huấn công tác phòng, chống bão lụt, giảm nhẹ thiên tai ở khu vực Ninh Phước, Ninh Hải, TX Phan Rang chỉ có 50-70 ngư dân tham gia trong khi toàn tỉnh Ninh Thuận có đến 1.850 tàu thuyền đánh cá trên biển, vì vậy Ninh Thuận đã đề ra chỉ tiêu phấn đấu 90% thuyền trưởng, thuyền viên phải qua đào tạo. Đại tá Bùi Sỹ Trinh, Chính ủy Cục Cảnh sát biển Việt Nam thì cho rằng “cần làm tốt từ gốc, tức là từ đầu ra, các tàu khi xuất bến phải có giấy phép hành nghề, thuyền có đăng ký, thuyền trưởng phải qua đào tạo…”.

Nội dung và hình thức tuyên truyền biển đảo cũng cần được chú trọng. Cần tập trung nâng cao nhận thức cho ngư dân về vai trò chiến lược của biển đảo đối với phát triển kinh tế đất nước, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên hướng biển. Tuyên truyền “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Luật Biển 1982, Luật Giao thông đường thủy, Luật Thủy sản, Pháp lệnh về Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển; các nghị định, chỉ thị của các cấp, ngành về phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, chống ô nhiễm môi trường. Tuyên truyền để ngư dân thực hiện tốt pháp luật Nhà nước trên biển, không đánh cá bằng mìn, không câu trộm lưới, cắt trộm cáp quang biển của Quốc gia… Có nhiều hình thức để tuyên truyền và hình thức nào cũng có điểm mạnh, hạn chế nhất định. Tuyên truyền miệng thì khó khăn vì cá ngư dân thường xuyên đánh cá trên biển dài ngày, phân tán; phát tờ rơi thì khi biên soạn tài liệu thì “có cái không chắc chắn” nên nội dung các tài liệu thường theo lối mòn, chung chung, biên soạn dài thì bà con không nhớ hết, ngắn thì sợ “thiếu”… Các chương trình cổ động, sân khấu hóa chưa thực sự hấp dẫn, lôi cuốn bà con. Vai trò của các phương tiện truyền thông là hữu hiệu nhất song các chương trình về biển đảo còn ít. GS Vũ Quang Hào, Khoa Báo chí Trường đại học KHXH & NV, người rất tâm huyết và có nhiều đóng góp cho chuyên mục “Dành cho ngư dân” trên VOV1 đài Tiếng nói Việt Nam cho rằng: Những chương trình truyền thông dành cho ngư dân là rất cần thiết, nên có thêm nhiều chuyên mục như thế, không chỉ ở báo chí Trung ương mà ngay ở các tỉnh, thành phố ven biển cũng nên có các chương trình thủy sản ổn định thường kỳ trên báo chí địa phương.

Để tuyên truyền biển đảo có hiệu quả, thiết nghĩ các cấp, ngành cần có biện pháp đồng bộ, phối hợp chặt chẽ, hợp lý. Cần xây dựng kế hoạch, đề cương tuyên truyền cho từng thời điểm, giai đoạn; triển khai hệ thống chính trị, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng cùng vào cuộc. Nên có quy chế cho công tác tuyên truyền biển đảo trong giai đoạn mới và thường xuyên sơ kết, tổng kết, giao ban địa bàn, gắn công tác tuyên truyền biển đảo với chỉ tiêu thi đua. Phát triển kinh tế biển đi đôi với xây dựng môi trường văn hóa biển. Để nâng cao nhận thức của ngư dân về biển đảo, trước hết nhận thức của các cấp, ngành, các cán bộ, đảng viên phải được nâng lên một bước. Được sự đồng ý của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức các đoàn đi phối hợp tuyên truyền biển đảo với các tỉnh, thành phố thì các địa phương khá bất ngờ. Đồng chí Phạm Văn Thanh, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bình Định đã nói: Việc BTL Hải quân tổ chức các hội nghị phối hợp tuyên truyền biển đảo với các địa phương sẽ đánh dấu bước đột phá lớn trong công tác tuyên truyền biển đảo. Các đồng chí Quân đội đã chủ động đi trước một bước, chẳng lẽ chúng tôi là địa phương có biển lại không làm được sao (?).

Quốc Trung

Về đầu trang


VAI TRÒ CỦA KINH TẾ BIỂN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển với dải thềm lục địa lớn gấp 3 - 4 lần diện tích đất liền là tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ngành công nghiệp nói riêng. Trước đây khi mà con người chưa đủ các phương tiện, điều kiện kỹ thuật chinh phục biển thì biển là mối đe doạ, hiểm hoạ rất lớn đối với con người. Nhưng càng ngày người ta càng tìm thấy tầm quan trọng và tiềm năng vô cùng to lớn của biển. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ, giao lưu hàng hoá giữa các quốc gia ngày càng nhiều thì chính biển là thế mạnh không thể thay thế được quá trình phát triển kinh tế. Biển đã nối các quốc gia lại gần nhau. Vận tải bằng đường biển có chi phí thấp nhất, không phương tiện nào so sánh được. Biển là nơi cung cấp các loại nguyên liệu phong phú, đa dạng với số lượng lớn có thể tái tạo cho công nghiệp chế biến như các loại hải sản, muối. Dưới thềm lục địa có các loại khoáng sản quý như: dầu, khí, ilmenit, cát thuỷ tinh và rất nhiều các khoáng sản kim loại khác, là nguồn quan trọng cho phát triển công nghiệp.

Để thấy rõ hơn vai trò của phát triển kinh tế biển trong phát triển công nghiệp cần xem xét ảnh hưởng của kinh tế biển đối với công nghiệp trong các lĩnh vực sau:

1. Biển là đường giao thông nối liền với nhiều quốc gia nhất và có chi phí vận tải thấp nhất nhưng lại có thể đáp ứng khối lượng vận tải lớn nhất.

Vì vậy, chính vận tải biển phát triển đã thúc đẩy thương mại các quốc gia, ngày càng trở nên có hiệu quả. Phát triển vận tải biển thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá, là động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp.

Trong sản xuất công nghiệp, chi phí cho vận tải nguyên vật liệu, hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn, nhất là khi phải vận chuyển xa từ quốc gia này đến quốc gia khác, thậm chí từ châu lục này tới châu lục khác. Vận tải bằng đường biển hầu như không phải làm đường mà chỉ xây dựng cảng và mua sắm phương tiện vận tải.

Như đã nêu ở trên, với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam có một tiềm năng về cảng biển hết sức to lớn. Hệ thống cảng biển bao gồm trên 80 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có một số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ. Khối lượng hàng hoá thông qua cảng biển Việt Nam tăng nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng bình quân là 17%/năm. Các cảng lớn như Hải Phòng, Sài Gòn đạt một mức kỷ lục. Nhưng, nhìn chung các cảng biển vẫn đang ở trong tình trạng kém hiệu quả, thiếu sức cạnh tranh bởi các lý do: quy mô cảng nhỏ bé, thiết bị xếp dỡ lạc hậu, thiếu cảng nước sâu, cảng tàu container, những cảng tổng hợp quan trọng đều nằm sâu trong đất liền như Hải Phòng (30 km), Sài Gòn (90km) luồng lạch hẹp lại bị sa bồi lớn không cho phép các tàu lớn ra vào cảng, mặt bằng chật hẹp, thiếu hệ thống đường bộ, đường sắt nối vào mạng lưới giao thông quốc gia.

Xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu có trọng tải lớn, áp dụng các công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức. Do vậy, việc xây dựng các cảng nước sâu với trang thiết bị hiện đại, công nghệ quản lý điều hành tiên tiến là yêu cầu bức xúc.

Nhận rõ vai trò quan trọng của hệ thống cảng biển đối với phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghệ nói riêng nên trong 10 năm qua Nhà nước đã tập trung vốn đầu tư cho một số cảng trọng điểm như:

- Cảng Hải Phòng hoàn thành giai đoạn I với công suất 6,2 triệu tấn/năm, cho tàu 10.000 DWT ra vào và dự kiến sẽ hoàn thành giai đoạn II trong kế hoạch 2000 - 2010 với công suất 8 - 8,5 triệu tấn/năm, cho tàu 10.000 tấn ra vào.

- Cảng Cái Lân: Công suất 1,8 - 2,8 triệu tấn/năm, cho tàu đến 40.000 tấn ra vào giai đoạn I (năm 2003) và 16 – 17 triệu tấn/năm cho tàu 50.000 tấn ra vào giai đoạn II (đến năm 2010 - 2020).

- Cảng Sài Gòn: Công suất 8,5 - 9,5 triệu tấn/năm cho tàu 25.000-35.000 tấn ra vào (giai đoạn II đến năm 2010) và một số cảng khác sẽ được đầu tư cải tạo mở rộng cơ sở vật chất như cảng Cửa Lò, Quy Nhơn, Nha Trang.

Như vậy, trong thời gian qua chủ yếu mới chỉ tập trung cho các cảng thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, một số cảng chuyên dùng như bến thứ nhất của cảng tàu Dung Quất (liên doanh Việt Xô); Cảng Nghi Sơn (xi măng). cảng Cát Lát (xi măng và container) và một số cảng ở khu công nghiệp Gò Dầu, Hiệp Phước...

Có thể nói, chính nhờ có hệ thống giao thông biển mà các trung tâm công nghiệp lớn của đất nước đã hình thành và phát triển như khu vực kinh tế trọng điểm Nam Bộ, Bắc Bộ gắn liền với cụm cảng Sài Gòn và Hải Phòng. Chính nhờ có cảng biển nên đã tạo ra lợi thế cạnh tranh hoặc xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chế biến.

Để đáp ứng nhu cầu vận tải biển ngày một tăng cho phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là phát triển công nghiệp trong bối cảnh hội nhập, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010 với 114 cảng (chưa kể các cảng tiềm năng). Tất cả các cảng đều gắn liền với các trung tâm công nghiệp, là đầu mối giao lưu với thế giới trong xuất, nhập khẩu của đất nước.

Trong những năm sắp tới, nền kinh tế phát triển mạnh theo hướng hội nhập quốc tế và khu vực, giao lưu hàng hoá quốc tế và trong nước tăng nhanh, đòi hỏi hệ thống cảng biển cần có những bước tiến mạnh mới đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. Trên cơ sở quy hoạch tổng hợp phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần thực hiện tốt công tác quản lý quy hoạch hệ thống cảng biển, tiến hành lập và quy hoạch chi tiết các nhóm cảng quan trọng. Trong đầu tư cảng, cần tạo liên kết cảng với các hệ thống giao thông mặt đất nhằm tạo thuật lợi nhất cho khách hàng qua phương thức vận tải đa phương.

Vai trò vận tải ven biển cũng ngày càng tăng đối với hàng rời thông thường và hàng bách hoá. Đầu tư ngắn hạn cho cảng tại các cảng tổng hợp với mục tiêu cải tiến nâng cao năng suất cảng, hiện đại hoá những thiết bị dẫn luồng. Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải trong xếp dỡ có hiệu quả khuyến khích các tàu lớn, hiện đại vào cảng Việt Nam.

Đối với các cảng địa phương và cảng do các Bộ quản lý cần lựa chọn những cảng có đủ lượng hàng hoá hoạt động có hiệu quả để nâng cấp nhằm phát huy hiệu quả đầu tư.

2. Phát triển ngành kinh tế biển gắn với phát triển ngành dầu khí và điện lực Việt Nam

Ngành Dầu khí ngày nay đã trở thành một trong những ngành chủ lực của Việt Nam, là ngành xuất khẩu hàng đầu của đất nước (trên 3 tỷ USD hàng năm) gắn liền với kinh tế biển. Gần như toàn bộ trữ lượng dầu khí của nước ta nằm trong thềm lục địa. Trên phần diện tích thềm lục địa có chiều sâu nước đến 200m, đã phát hiện trữ lượng dầu khoảng 540 triệu tấn và 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng tiềm năng dự báo khoảng 900 - 1.200 tỷ m3 dầu và 2.100 - 2.800 tỷ m3 khí. Như vậy, trữ lượng tiềm năng tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu và các vùng chồng lấn. Dự báo đến năm 2010, Việt Nam có thể khai thác từ 30-32 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó dầu thô khai thác khoảng 16 - 18 triệu tấn, khí khoảng 11 - 13 tỷ m3. Nhờ có nguồn dầu khí khai thác, chúng ta có thể phát triển công nghiệp điện lực, hoá chất (phân bón và hóa dầu) với quy mô lớn. Các cơ sở công nghiệp này đều gắn liền với các vùng ven biển như khu khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau; khu lọc hoá dầu Dung Quất, Nghi Sơn. Đặc biệt, nhờ có khai thác dầu khí mà các ngành công nghiệp và dịch vụ tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã phát triển nhanh trong thời gian vừa qua.

Trong tương lai, khi các nguồn điện sơ cấp cạn kiệt thì việc phát triển phong điện và điện nguyên tử dọc bờ biển sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công nghiệp.

Biển cung cấp ngày càng nhiều và đa dạng các loại nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như: cá, tôm, cua, sò, mực, rong, ngọc trai... dưới dạng đánh bắt tự nhiên và nuôi trồng.

Ngành thuỷ sản (chủ yếu là hải sản) trong những năm gần đây đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta. Năm 2002, giá trị sản xuất ngành thủy sản chiếm 17,76% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt ngành thuỷ sản có giá trị xuất khẩu cao, ước đạt 2.024 triệu USD năm 2002, đứng thứ 3 về xuất khẩu của cả nước sau dầu thô và dệt may. Năm 2002, ngành thuỷ sản đã đánh bắt và trồng được 2,57 triệu tấn, trong đó cung cấp cho công nghiệp chế biến khoảng 600 ngàn tấn. Dự báo, đến năm 2010 ngành thuỷ sản có thể khai thác và nuôi trồng được khoảng 3,5 - 4 triệu tấn, trong đó cung cấp khoảng 1 triệu tấn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và có thể đạt giá trị xuất khẩu từ 4,5 - 5 tỷ USD.

Như vậy, phát triển nuôi trồng và đánh bắt hải sản ở nước ta ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước nói chung và công nghiệp nói riêng. Ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản đã trở thành ngành mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế cao của ven biển nước ta.

3. Kinh tế biển gắn với khai thác một số khoáng sản khác như: ilmenit, zircon, cát thuỷ tinh và muối

Dọc dải bờ biển nước ta có nhiều sa khoáng kim loại, đáng kể nhất là các sa khoáng ilmenit tập trung ở Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận với tổng trữ lượng khoảng 10 triệu tấn. Các khoáng vật đi kèm ilmenit là zircon, monaxit có giá trị kinh tế cao. Những năm gần đây, công tác khai thác đã được phát triển mạnh ở Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Bình Định và Bình Thuận với sản lượng khai thác khoảng 100 ngàn tấn/năm phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Dự báo đến năm 2010 có thể khai thác từ 250 - 300 ngàn tấn tinh quặng ilmenit. Đây là nguồn nguyên liệu khá lớn có thể phục vụ cho công nghiệp sản xuất bột TiO2.

Ngoài ilmenit, dọc bờ biển nước ta có nhiều mỏ cát thuỷ tinh với chất lượng tốt, là nguyên liệu cho sản xuất thuỷ tinh, tập trung ở Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận... với tổng trữ lượng đã thăm dò trên 300 triệu tấn. Trữ lượng dự báo khoảng trên 700 triệu tấn.

Hiện nay nhiều địa phương đang khai thác phục vụ cho các nhà máy sản xuất kính và thuỷ tinh trong nước và xuất khẩu. Tiềm năng các mỏ quặng ở thềm lục địa nước ta còn khá lớn nhưng do kinh phí và trình độ của chúng ta còn hạn chế chưa có điều kiện tìm kiếm thăm dò vùng ngập nước nên chưa khẳng định được.

Có thể nói, kinh tế biển ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế biển đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp vì biển là cửa ngõ giao lưu với thế giới, tạo điều kiện cho công tác xuất nhập khẩu hàng hoá thuận lợi với chi phí thấp. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như hiện nay thì biển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lực cạnh tranh của quốc gia và của ngành công nghiệp. Ngoài ra, biển còn là nơi cung cấp nguyên liệu phong phú, đa dạng cho công nghiệp chế biến³

                  TS. Đỗ Hữu Hào

(Viện Nghiên cứu chiến lược,

chính sách công nghệ)

Về đầu trang


Nâng cao chất lượng dân quân tự vệ biển

Yêu cầu xây dựng lực lượng và thế trận phòng thủ biển đảo trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi công tác quản lý, huấn luyện và hoạt động của dân quân tự vệ biển cần được nâng lên một bước mới.

Thực hiện Pháp lệnh Dân quân tự vệ, lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) biển đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tổ chức chặt chẽ, hoạt động hiệu quả. Song, yêu cầu xây dựng lực lượng và thế trận phòng thủ biển đảo trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi công tác quản lý, huấn luyện và hoạt động của DQTV biển cần được nâng lên một bước mới.

Thực hiện tốt ba mặt công tác

Hoạt động của lực lượng DQTV gồm ba nội dung trọng tâm: Xây dựng lực lượng; giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và tác chiến trị an. Lực lượng tự vệ biển thuộc Quân chủng Hải quân được xây dựng phù hợp cơ cấu tổ chức sản xuất của các doanh nghiệp: Quy mô cấp hải đoàn, hải đội và các tàu, đại đội, trung đội phòng ban trực thuộc hải đoàn. Ðến nay, các đơn vị tự vệ chiếm 39,8% tổng số cán bộ, công nhân viên các doanh nghiệp.

Ban chỉ huy các đơn vị tự vệ tăng từ một đến hai cán bộ, phù hợp cơ cấu hoạt động. Các đơn vị hải quân cũng đã điều động, bổ nhiệm hàng chục sĩ quan công tác quân sự địa phương; các vùng và Ðoàn M71 thường xuyên phối hợp hiệp đồng với các quân khu, tỉnh, thành phố ven biển xây dựng lực lượng tự vệ biển. Mô hình điểm DQTV biển được xây dựng tại Quảng Nam, Ðà Nẵng, Khánh Hòa, Kiên Giang đã phát huy hiệu quả.

Vừa qua, Vùng A và Quân khu 3 đã xây dựng mô hình DQTV biển trên làng chài Cửa Vạn thuộc vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). Ðây là mô hình mới đang được nghiên cứu, hoàn thiện để phát triển, nhân rộng, là cơ sở để xây dựng lực lượng tự vệ trên các đảo xa bờ.

Do đặc thù hoạt động trên biển, Quân chủng Hải quân đã giao quyền chủ động nội dung giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự cho các đơn vị tự vệ biển với yêu cầu đủ nội dung, thời gian, đạt chất lượng. Quân chủng tiến hành huấn luyện cho các đơn vị tự vệ bằng hình thức tập trung và phân tán ở các cấp cơ sở, lấy tàu, đại đội, trung đội làm đơn vị huấn luyện.

Qua 12 năm, quân chủng đã huấn luyện tự vệ tập trung trên biển được 130 ngày với quân số gần 2.000 người. Quân chủng còn chỉ đạo các phòng, ban chức năng cử cán bộ xuống giúp các đơn vị tự vệ tổ chức huấn luyện; tổ chức hội thao cho cụm tự vệ phía bắc và phía nam. Ngoài ra, căn cứ vào điều kiện sản xuất, kinh doanh, một số đơn vị tự vệ triển khai nhiều hình thức huấn luyện phong phú, sáng tạo như huấn luyện từ xa qua tài liệu, băng đĩa, huấn luyện vào ngày nghỉ...

Những năm qua, các đơn vị tự vệ đã xây dựng, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến trị an, phối hợp chính quyền và các lực lượng vũ trang trong chống cướp có vũ trang trên biển, cướp phá tàu, thuyền kết hợp sản xuất với tham gia quản lý bảo vệ chủ quyền biển đảo; phòng, chống bão lũ, tìm kiếm, cứu nạn; tuyên truyền về Pháp lệnh DQTV, tuyên truyền về biển, đảo.

Chế độ trực chỉ huy, trực ban nắm tình hình hoạt động của đơn vị; tổ chức hệ thống đài canh (24/24 giờ) bảo đảm an toàn sản xuất và hoạt động của các tàu đi biển được duy trì thường xuyên. Các vùng và Ðoàn M71 hiệp đồng với các tỉnh, thành phố ven biển khảo sát đăng ký tàu thuyền và huy động lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo...

Những khó khăn cần tháo gỡ

Tại Hội nghị tổng kết 12 năm thực hiện Pháp lệnh DQTV, Ðại tá Nguyễn Văn Kiệm, Phó Tham mưu Hải quân, nêu rõ: DQTV biển là lực lượng bán quân sự, có nghĩa vụ và trách nhiệm cùng với các lực lượng vũ trang mà nòng cốt là hải quân bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc. Công tác quản lý và hoạt động của lực lượng DQTV biển cần phù hợp thực tế và yêu cầu nhiệm vụ mới; những vướng mắc, phát sinh cần giải quyết dứt điểm để xây dựng các đơn vị tự vệ đủ mạnh, hoàn thành các nhiệm vụ được giao...

Ðể thực hiện tốt chức năng của mình, các cấp, ngành và lực lượng DQTV biển cần vượt qua những khó khăn. Nhận thức của một số cơ quan, đơn vị về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Pháp lệnh chưa sâu sắc, việc triển khai thực hiện còn có hạn chế. Các đơn vị tự vệ biển chưa mạnh dạn đổi mới cơ cấu tổ chức tự vệ cho phù hợp các điều quy định, có cơ quan còn để lực lượng tự vệ quá lớn, cồng kềnh.

Cán bộ quân sự đảm nhiệm công tác DQTV còn thiếu và phải kiêm nhiệm. Một vài nội dung, chương trình huấn luyện còn chưa theo kịp diễn biến tình hình, bảo đảm vật chất huấn luyện trên biển khó khăn, đặc biệt là xăng, dầu. Từ khi các doanh nghiệp đổi mới cơ chế sản xuất, kinh doanh theo mô hình cổ phần hóa thì công tác huấn luyện gặp nhiều khó khăn vì khó bảo đảm đủ quân số; huấn luyện khối tàu chủ yếu là huấn luyện từ xa thông qua tài liệu, văn bản...

Từ kế hoạch bảo vệ cơ quan, xí nghiệp, các đơn vị cần cụ thể hóa thành kế hoạch hoạt động DQTV biển; thường xuyên nắm tình hình an ninh trên biển để hiệp đồng tốt với lực lượng vũ trang, chính quyền và nhân dân địa phương trong bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Lãnh đạo các doanh nghiệp cần nghiên cứu, tổ chức thật tốt việc phát triển kinh tế biển với duy trì hoạt động của tự vệ biển, trước hết là nắm và báo cáo tình hình, tham gia xử lý các hoạt động xâm phạm vùng biển và cứu hộ, cứu nạn trên biển.

Theo báo Nhân Dân

Về đầu trang


      BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG                       ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

          BAN TUYÊN GIÁO                        

         Số: 65-HD/BTGTW                    Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2008

     

 HƯỚNG DẪN

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN BIỂN, ĐẢO NĂM 2009

Căn cứ vào Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) của Đảng về "Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020";

Căn cứ vào Thông báo số 188 - TB/TW, ngày 07 tháng 10 năm 2008, thông báo ý kiến của Ban Bí thư về đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020;

Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và những năm tiếp theo, Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2009 như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1- Mục đích:

- Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền biển, đảo nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của biển, đảo nước ta. Phấn dấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giầu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc.

- Chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền nhằm tiếp tục tổ chức, triển khai thực hiện nghị quyết, chương trình hành động của cấp ủy các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X ) của đảng về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.

2- Yêu cầu:

- Trên cơ sở nắm vững 3 quan điểm chỉ đạo và 9 nhiệm vụ, giải pháp trong định hướng Chiến lược biển Việt Nam đến 2020 của Đảng và cụ thể hoá những nội dung này cho năm 2009, gắn với yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước vừa được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua. Đổi mới mạnh mẽ về nội dung và cách thức tuyên truyền, coi trọng chất lượng, hiệu quả và sự phù hợp về đối tượng, địa bàn cũng như thời lượng tuyên truyền.

 - Thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết công tác tuyên truyền biển, đảo một cách nghiêm túc; gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, bộ, ngành, địa phương theo chương trình, kế hoạch đã đề ra. Chú trọng việc trao đổi những bài học kinh nghiệm, những điểm mới, những sáng kiến trong công tác tuyên truyền biển, đảo của các lực lượng tham gia tuyên truyền.

II. NỘI DUNG, NHIỆM VỤ TUYÊN TRUYỀN

Căn cứ vào tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của từng đơn vị, bộ, ngành, địa phương (đặc biệt đối với các tỉnh, thành có biển, đảo; các bộ, ngành có nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến biển, đảo) để xác định nội dung tuyên truyền phù hợp, đạt hiệu quả thiết thực; trên cơ sở mục tiêu và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, địa phương, đơn vị và cả nước trong năm 2009, theo đó nội dung, nhiệm vụ tuyên truyền cần bám sát một số định hướng lớn sau đây:

1- Nội dung tuyên truyền:

- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, nhấn mạnh những thời cơ, thách thức; thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của việc thực hiện chiến lược biển đối với sự phát triển, ổn định của đất nước trong năm 2009.

- Tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta; những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên biển Đông (đặc biệt 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp; tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực hiện các văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng, các nước có liên quan; tuyên truyền giáo dục cho toàn dân nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, góp phần gìn giữ hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát triển giữa các quốc gia vùng Biển Đông.

- Tuyên truyền, giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển, đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước; vai trò của các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển kinh tế, biển, đảo; chú trọng tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới, nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh - xã hội, đảm bảo giữ gìn an ninh và chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

- Tuyên truyền các định hướng về điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; bảo vệ môi trường biển, công tác dự báo, phòng chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn.

- Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên biển, đảo; phê phán các hành vi đánh bắt có tính chất hủy diệt nguồn lợi thủy, hải sản, phá hoại môi trường sinh thái biển; tàu thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của nước ta; đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

- Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với các chiến sĩ, các lực lượng đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

2- Nhiệm vụ:

- Các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; ban cán sự Đảng, đảng đoàn các cơ quan, đoàn thể, bộ, ban, ngành Trung ương có trách nhiệm tiếp tục chỉ đạo tuyên truyền cho các cán bộ, đảng viên và nhân dân thuộc cơ quan, đơn vị và địa phương mình.

- Ban Chỉ đạo Nhà nước về biển Đông và hải đảo chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng kế hoạch tổng thể, các nội dung, nhiệm vụ chủ yếu về tuyên truyền phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo năm 2009, chỉ đạo tuyên truyền cho các đơn vị chủ lực trực tiếp làm công tác này ở Trung ương và địa phương.

- Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức truyền đạt nội dung này tại các hội nghị báo cáo viên 3 miền. Đồng thời, tổ chức chỉ đạo hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền miệng trong nhân dân.

- Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Biên giới quốc gia chủ trì, phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Biên phòng, Cục cảnh sát biển và một số cơ quan chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Công an có trách nhiệm thường xuyên tổng hợp, cung cấp thông tin có định hướng, đặc biệt là các vấn dề nhạy cảm, đảm bảo phù hợp về nội dung, đối tượng và thời điểm tuyên truyền.

- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp cùng với Bộ Thông tin và truyền thông, chỉ đạo, hướng dẫn công tác tuyên truyền cho các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương; phối hợp với Uỷ ban Biên giới quốc gia và các bộ, ngành liên quan biên soạn một số loại tài liệu cần thiết phục vụ công tác tuyên truyền.

- Bộ Giáo dục và đào tạo chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương nghiên cứu, biên soạn tài liệu về tuyên truyền biển, đảo để từng bước đưa vào các chương trình giảng dạy trong các nhà trường của hệ thống giáo dục quốc dân.

3- Hình thức tuyên truyền

Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ cụ thể, điều kiện cụ thể, cũng như khả năng của từng đơn vị, địa phương, các bộ, ban, ngành để lựa chọn hình thức tuyên truyền sao cho thiết thực, hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền bao gồm: sách, báo (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử...), tài liệu tuyên truyền, panô, áp phích, tờ rơi, triển lãm, thi tìm hiểu, thi sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật về biển, đảo; các cuộc trao đổi tọa đàm, đối thoại, hội nghị, hội thảo, coi trọng hình thức tuyên truyền miệng.v.v . . .

III. KẾ HOẠCH VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN

1- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền biển, đảo năm 2009; lồng ghép nội dung tuyên truyền biển, đảo vào nội dung tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cấp ủy Đảng các cấp, các đơn vị, bộ, ngành. Thời gian dự kiến hoàn thành chậm nhất trong quý 4 năm 2008.

2- Chủ động phối họp chặt chẽ, có hiệu quả giữa các đơn vị, địa phương, các bộ, ban, ngành, các lực lượng tham gia tuyên truyền (cả về nội dung, tài liệu, cách thức). Thực hiện ngay từ tháng đầu, quý đầu năm 2009;

3- Tổ khúc tốt các hoạt động tuyên truyền, giao lưu, kết nghĩa, tặng quà cho các chiến sĩ làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa. Theo kế hoạch của các đơn vị được phân công.

4- Phối hợp với các cơ quan chỉ đạo ở Trung ương tổ chức tốt các hội nghị tập huấn, điều tra khảo sát về công tác tuyên truyền biển, đảo tại 3 miền. Thời gian dự kiến vào quý II, III năm 2009.

5- Hội nghị tổng kết công tác tuyên truyền biển, đảo toàn quốc, thời gian dự kiến vào trung tuần tháng 1 năm 2010.

Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Ban Tuyên giáo Trung ương qua Vụ Thông tin đối ngoại và Hợp tác quốc tế

K/T TRƯỞNG BAN

PHÓ TRƯỞNG BAN

NGUYỄN BẮC SON 

Về đầu trang


Tăng cường phát triển kinh tế quốc phòng trên biển

Biển từ lâu đời đã có một vị trí chiến lược quan trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Biển của nước ta như một sân trước, là một vùng địa lý cửa ngõ của quốc gia. Trong lịch sử, kẻ thù xâm lược chủ yếu lợi dụng tấn công từ hướng biển, từ thời Nam Hán, Nguyên Mông, đến Pháp, Mỹ... Nước ta có hơn 3.200 km bờ biển, có các vùng biển và bờ biển quan trọng liên quan trực tiếp tới an ninh - quốc phòng, bảo vệ kinh tế và tài nguyên biển. Đặc biệt, các vùng biển của nước ta được xác định là vùng kinh tế quan trọng, có thể nói quyết định tới chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Đây không phải là một yêu cầu và đặc điểm riêng của nước ta. Nhiều nước khác có biển đã phát huy thế mạnh của biển để phát triển cả kinh tế - quốc phòng. Nền kinh tế tương lai sẽ dựa nhiều vào việc Thành phố kinh tế biển. Biển và chiến lược biển được xem như một chiến lược toàn cầu của loài người.

Hiện nay, tình hình trên biển nước ta phức tạp, có nhiều nhân tố không ổn định. Các thế lực thù địch đối với chủ quyền biển đảo vẫn tiến hành các hoạt động ngăn chặn, chống phá, xâm lấn với nhiều thủ đoạn khác nhau. Tàu thuyền của số nước trong khu vực tiếp tục có những hoạt động trái phép như xâm phạm vùng biển nước ta để thăm dò khí, thăm dò tình hình đánh bắt trộm hải sản, cướp biển. Đặc biệt có một số tàu đánh cá vũ trang nước ngoài khi đụng độ với tàu ngư dân của ta, đã tấn công gây thiệt hại về sinh mạng và tài sản cho nhân dân. Đối với vấn đề an ninh chiến lược, nhiều thế lực âm mưu muốn là chủ và đặt Biển Đông thành tuyến phòng thủ cũng như tuyến tấn công của họ. Trong tương lai khu vực Biển Đông với nguồn tiềm năng kinh tế lớn và ở vị trí chiến lược trên Thái Bình Dương sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp. Do đó chúng ta phải xác định vị trí của công tác bảo vệ một cách có hệ thống chủ yếu trên biển và phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng và an ninh trên biển.

Hiện nay, Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc. Quân chủng đã tích cực và chủ động tổ chức phát triển các doanh nghiệp kinh tế gắn với công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo. Những mô hình này tiếp tục được củng cố và phát triển, ngành kinh tế của Hải quân được Bộ Quốc phòng đánh giá là đơn vị dẫn đầu toàn quân về hiệu quả hoạt động, đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước, tập trung vào những ngành như: Dịch vụ cảng biển, xây dựng công trình biển đảo, dịch vụ bảo vệ dầu khí, đánh bắt và sản xuất hải sản, ngoài ra còn tham gia cứu nạn trên biển. Điển hình có các đơn vị như Công ty 128 (Công ty Biển Đông) tham gia bảo vệ các công trình dầu khí trên biển tại khu vực mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng. Các tàu của Công ty trực liên tục 24/24 giờ tại các vị trí, đã ngăn chặn 1.351 lượt tàu xâm nhập trái phép, xua đuổi họ. Đồng thời nắm vững tình hình an ninh trên biển. Công ty Hải sản Trường Sa (Đoàn M29) là công ty đánh bắt xa bờ, vừa tham gia đánh bắt hải sản, sản xuất hàng hải sản, vừa là lực lượng nòng cốt, giúp bảo vệ ngư dân tiến hành sản xuất trên biển, đảo.

Công ty đã tổ chức làm dịch vụ hậu cần nghề cá cho ngư dân, tham gia tìm kiếm cứu nạn, chống buôn lậu và cướp biển. Quân cảng Sài Gòn là đơn vị làm dịch vụ khai thác cảng biển, trở thành một đơn vị tiêu biểu, xuất sắc trong nhiệm vụ quốc phòng gắn với kinh tế, đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Nhiệm vụ kết hợp quốc phòng - kinh tế, được vận dụng nhuần nhuyễn từ khâu quy hoạch, nâng cao và hiện đại hệ thống cảng, xây dựng bến bãi, mặt bằng, cơ sở hạ tầng, mua sắm các phương tiện thiết bị khai thác đều được tính toán, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu khi xảy ra chiến tranh hoặc bạo loạn. Từ năm 2000 - 2003, quân cảng đã bốc dỡ được hơn 28.000 tấn hàng quân sự, phục vụ tàu quân sự rời cập bến, đưa đón 1.004 đoàn khách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đi thăm và kiểm tra đảo. Quân chủng cũng đã tổ chức lực lượng tự vệ chiến đấu đủ sức tự vệ phòng thủ khi có tình huống ở khu vực. Đặc biệt, Công ty Vận tải xăng dầu đường thuỷ 1 là đơn vị nằm trong Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam đã thành lập Hải đoàn tự vệ biển do Bộ Tư lệnh quân chủng Hải quân quản lý, tổ chức và xây dựng lực lượng. Tổng doanh thu của Công ty năm 2003 lên đến 486,44 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước l6,57 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 3,5 triệu đồng/người/tháng. Công ty có đội tàu biển, tàu chở dầu hoạt động trong và ngoài nước, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tháng 8 năm 2000, Công ty được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Hải đoàn được biên chế thành các đại đội, trung đội tự vệ, chú trọng tham gia huấn luyện thực hành nhằm nâng cao trình độ thao tác sử dụng vũ khí, thực hành các phương án trên biển; ngoài ra còn tự huấn luyện cho lực lượng tự vệ của 3 tàu biển là Petrolimex 06, Hạ Long 01, Hạ Long 04 các phương án chiến đấu trong quá trình hoạt động trên biển.

Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, các cơ quan đơn vị trong ngoài quân đội, các địa phương có vùng biển cần tiếp tục tăng cường các biện pháp và tổ chức sáng tạo, có hiệu quả các mô hình khoa học - kinh tế - quốc phòng trên biển, chú trọng quán triệt và chấp hành Chỉ thị 16 CT-ĐU ngày 5/10/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của cảng với lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên trong tình hình mới. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trên biển, cần tăng cường tổ chức và phát triển lực lượng dân quân tự vệ biển, lực lượng dự bị động viên và thực hiện tốt công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng này đủ khả năng bảo vệ quá trình sản xuất, bảo vệ dân, phát triển kinh tế biển và chống cướp biển. Đối với các địa phương có biển, cần tổ chức lực lượng dân quân tự vệ biển, tổ chức giáo dục và huấn luyện chiến đấu cho bà con ngư dân tự vệ khi đi biển và các biện pháp chống trả cướp biển. Cần tiếp tục mở rộng và quy hoạch những cảng cá lớn ở bờ biển tại Vũng Tàu, Nha Trang, Hải Phòng, Đà Nẵng, Kiên Giang... vừa là nơi neo đậu xuất phát cho các tàu ngư dân, vừa làm các tuyến tập trung hậu cần khi có chiến tranh trên biển xảy ra. Việc quy hoạch phát triển kinh tế ở các đảo và quần đảo phải gắn bó với công tác xây dựng địa bàn quốc phòng và an ninh, xây dựng hệ thống bố phòng trong thế trận "Quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân". Nghị quyết đại hội Đảng IX đã nhấn mạnh: "Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cảng biển hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi".

Đây chính là phương hướng chiến lược phát triển kinh tế biển của nước ta.

Là chủ vùng biển giàu đẹp của Tổ quốc, không những phát triển kinh tế mà còn bảo vệ và duy trì chủ quyền một cách vững chắc, lâu dài, gắn với chiến lược quốc phòng an ninh trong giai đoạn mới mà Đại hội IX xác định.

                           Trần Mạnh Tâm 

Về đầu trang


Một số thông tin về tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)

Xuất phát từ nhận thức sự cần thiết phải thúc đẩy một môi trường hoà bình, thân thiện, và hoà hợp ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc cho việc tăng cường hoà bình, ổn định, phát triển kinh tế và thịnh vượng trong khu vực, ngày 4/11/2002, trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VIII tại Phnôm Pênh (Campuchia), ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông nhằm cam kết thúc đẩy những nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố chung 1997 giữa ASEAN - Trung Quốc và mong muốn tăng cường những điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết một cách hoà bình và lâu dài những bất đồng, tranh chấp giữa các nước có liên quan.

Như vậy, sau gần một thập niên thương lượng giữa các nước ASEAN với nhau, giữa các nước ASEAN với Trung Quốc, các bên liên quan mới ký được văn bản nói trên. Trong tuyên bố chung về Biển Đông 1992, lần đầu tiên các nước ASEAN đã bày tỏ mong muốn xây dựng được một bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực ra các cuộc thương lượng bên trong khối ASEAN và giữa Trung Quốc với ASEAN chỉ thực sự khởi đầu vào năm 1995. Tháng 7/1995, Trung Quốc và Philippin ra tuyên bố chung về Biển Đông, theo đó hai bên đồng ý sẽ nghiên cứu các nguyên tắc ứng xử tại những nơi đang có tranh chấp. Tháng 11/1995, Việt Nam và Philippin cũng ký một thoả thuận chung nói đến những nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng một bộ luật ứng xử tại Biển Đông. Sau nhiều năm thương lượng, cuối cùng Trung Quốc đã chấp nhận ký với các nước ASEAN một tuyên bố đề cập đến phương cách ứng xử ở Biển Đông. Thoả thuận này đã đạt được sau nhiều cuộc đàm phán trường kỳ do ông Chem Widhya, Thư ký thường trực thuộc Bộ Ngoại giao Campuchia chủ toạ. Ông cho biết bốn nước ASEAN trung tâm của các cuộc tranh chấp là Brunây, Malaixia, Philippin và Việt Nam đã đạt được thoả thuận về văn kiện chung ngày 11/10/2002. Sáu thành viên còn lại của ASEAN là Campuchia, Inđônêxia, Lào, Mianma, Xingapo và Thái Lan đã thông qua văn kiện này ngày 31/10/2002. Trung Quốc đã nhất trí ngày 01/11/2002. Ông Chem Widhya nói : "Trong vòng 15 ngày, chúng tôi đã đi từ bước ngoặt này tới bước ngoặt khác. Đây là một thoả thuận chính trị và ngoại giao then chốt".

Theo Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, các bên đồng ý tự kiềm chế, tránh những hành động có thể gây căng thẳng và xung đột tại Biển Đông; tổ chức tiếp xúc thường xuyên giữa giới quân sự hai bên; và thông tin cho nhau về những cuộc tập trận. Để đạt được kết quả lần này, các bên đã có một số nhượng bộ. Văn bản ký kết cuối cùng mang tên là Tuyên bố cách ứng xử (Declarateon on the conduct), ít tính ràng buộc, chứ không phải Bộ Quy tắc về ứng xử (Code of Conduct) mang tính ràng buộc nhiều như ASEAN mong muốn lúc đầu. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đã đồng ý sẽ tiếp tục đàm phán để tiến tới xây dựng một bộ luật có tính ràng buộc nhiều hơn. Văn bản lần này cũng không nêu tên các khu vực cụ thể Hoàng Sa hay Trường Sa như yêu cầu của một số nước ASEAN (trong đó có Việt Nam), mà chỉ nêu chung chung khu vực Biển Đông. Bên cạnh đó, các nước ASEAN cuối cùng cũng đã đồng ý xoá cụm từ "không xây dựng các cơ sở mới" tại khu vực mà Philippin yêu cầu. Nhìn chung, Tuyên bố đạt được tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần này còn mang tính đại cương và ít ràng buộc, nhưng chỉ riêng việc đạt được thoả thuận và ký kết đã là một bước tiến quan trọng trong việc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN. Nếu được các bên thực hiện nghiêm túc, thoả thuận sẽ giúp tránh được các xung đột tại Biển Đông như đã từng xảy ra và giữ ổn định cho khu vực có tầm quan trọng rất lớn về địa chiến lược này.

Bình luận về Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, Giáo sư Xtaiơ Tônếchxơn, Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế nghiên cứu hoà bình tại Na Uy, chuyên gia về Đông Nam á giải thích vì sao Bắc Kinh lại chấp nhận ký bản Tuyên bố vào lúc này, có hai lý do chính: Trước tiên, Trung Quốc hiện nay rất muốn mở rộng và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng. Bằng mọi giá, Bắc Kinh muốn tránh xung đột với các nước vùng Đông Nam á vào lúc Mỹ đang tiến hành một chính sách rất năng động, thậm chí còn là hiếu chiến trên phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, Trung Quốc muốn xử sự ôn hoà với các nước trong khu vực, với Nga, với Nhật Bản, Hàn Quốc và việc xích lại gần khối ASEAN là một bộ phận trong chính sách đối ngoại ôn hoà chung của Bắc Kinh. Lý do thứ hai, đó là các nước ASEAN đã từ bỏ một số yêu sách và chấp nhận đưa ra một số nhượng bộ. So với các văn bản dự thảo trước đây, bản Tuyên bố vừa được ký có nhiều điểm thay đổi.

Phân tích nội dung, Giáo sư Xtaiơ Tônếchxơn cho rằng bản Tuyên bố có bốn điểm tích cực: thứ nhất, bản Tuyên bố có thể giúp tạo ra hoà dịu trong quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN. Điều tích cực nhất của văn bản này là nó có một ý nghĩa biểu tượng quan trọng cho phép ngăn ngừa mọi khả năng xảy ra xung đột; thứ hai, bản Tuyên bố không phải là một văn kiện mang tính chất ràng buộc, nhưng một khi đã ký các bên liên quan khó có thể chối bỏ những nguyên tắc không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp tại vùng Biển Đông; thứ ba, có tác dụng ngăn ngừa các bên liên quan chiếm đóng hoặc thực hiện các hoạt động tại những nơi đang có tranh chấp. Tuy nhiên, danh từ "hoạt động" được nói trong văn kiện này lại có nội dung rất chung chung. Trước đây Trung Quốc không chấp nhận đề nghị của các nước ASEAN ngăn chặn việc sử dụng các cơ sở hạ tầng, nhà cửa mới trên các hòn đảo đang có tranh chấp. Trong Tuyên Bố các bên chỉ cam kết không tiến hành hoạt động tại những nơi này, tất cả phụ thuộc vào cách giải thích lẫn lộn khái niệm hoạt động. Nếu khái niệm này bao gồm cả việc không sử dụng nhà cửa, các cơ sở hạ tầng mới trên các hòn đảo đang có tranh chấp thì đây là một điều tích cực của bản Tuyên bố; thứ tư, bản Tuyên bố mang tính chất văn kiện điều phối quan hệ đa phương. Trước đây, Trung Quốc chỉ muốn giải quyết những tranh chấp ở vùng Biển Đông thông qua quan hệ song phương, tức là giữa Trung Quốc với từng nước ASEAN. Bản Tuyên bố đã đưa ra nguyên tắc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông trong khuôn khổ quan hệ đa phương.

Theo điểm 10 của Tuyên bố, các bên có liên quan khẳng định việc thông qua bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông sẽ thúc đẩy hơn nữa hoà bình và ổn định trong khu vực, và nhất trí hành động trên cơ sở đồng lòng nhằm đạt được mục tiêu này, Giáo sư cho rằng nếu Trung Quốc chấp nhận thảo luận một bộ quy tắc ứng xử, thì Bắc Kinh sẽ phải quan tâm đến khía cạnh hợp tác khai thác kinh tế tại những nơi đang có tranh chấp. Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông được soạn thảo ra chỉ có vai trò ngăn ngừa các cuộc xung đột có thể xảy ra. Trung Quốc sẽ chỉ nhấn mạnh đến việc hợp tác khai thác kinh tế hoặc hợp tác trên các lĩnh vực khác và tránh không đề cập việc giải quyết tranh chấp chủ quyền. Có lẽ Bắc Kinh chỉ muốn có một bộ quy tắc ứng xử xoay quanh hai vấn đề nêu trên. Nếu như vậy, các nước ASEAN khó có thể chấp nhận, vì không thể hợp tác khai thác kinh tế tại một khu vực không rõ chủ quyền thuộc về ai và e ngại rằng sau bản Tuyên bố này, Trung Quốc sẽ tiến hành đàm phán với một số nước để hợp tác khai thác kinh tế tại những nơi đang có tranh chấp ở Biển Đông, mà không cần tham khảo ý kiến của nước liên quan khác.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho biết lập trường chủ quyền trong vấn đề Biển Đông của Trung Quốc là rõ ràng và nhất quán, những tranh chấp liên quan đến lãnh thổ cần thông qua đàm phán giải quyết hoà bình giữa đôi bên. ý nghĩa tích cực trong việc ký kết tuyên bố chung này là muốn phát đi tín hiệu rõ ràng với bên ngoài: Các nước trong khu vực hoàn toàn có thể đối thoại để xử lý những bất đồng tồn tại, thông qua hợp tác để duy trì hoà bình và ổn định khu vực Biển Đông. Tổng thống Philippin Glorio Macapagal Arroyo trong chuyến thăm Việt Nam nói rằng thoả thuận mới về cách ứng xử ở Biển Đông sẽ góp phần cải thiện mối quan hệ của Philippin với Việt Nam ủng hộ bản tuyên bố về cách ửng xử ở Biển Đông. Một nguồn tin Bộ Ngoại giao Malaixia cho biết Malaixia rất hài lòng về bước đột phá này việc ký kết Tuyên bố là nước liên quan và bước đột phá này sẽ mang lại dấu hiệu tích cực cho cộng đồng quốc tế mà tất cả các nước trong khu vực đã cam kết bảo đảm và duy trì nền hoà bình và sự ổn định.

Ngày 10/12/2002, phát biểu ý kiến tại Đại hội đồng Liên hợp quốc về đề mục "Luật biển và đại dương", liên quan đến vấn đề Biển Đông, Đại sứ Nguyễn Thành Châu, đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhấn mạnh: Việt Nam chia sẻ quan điểm của tất cả các bên liên quan rằng mọi bất đồng phải được giải quyết bằng biện pháp hoà bình, thông qua thương lượng, trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và triệt để tuân theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển 1982. Việt Nam hài lòng trước việc các nước ASEAN lần thứ VIII. Việt Nam coi đây là một bước đi tích cực tiến tới hình thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

Báo Financial Times ra ngày 5/11 viết: "Thoả thuận giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN nhằm giải quyết tranh chấp trên quần đảo Trường Sa thông qua các biện pháp hoà bình là hành động đáng khích lệ đối với ổn định khu vực. Nhưng ý nghĩa lớn hơn của việc này là ở chỗ Trung Quốc dường như quyết tâm hành động với tư cách một cường quốc khu vực có trách nhiệm, từ từ nhưng không lay chuyển trong tham vọng trở thành bá chủ Đông á. Thoả thuận này chắc chắn không thể giải quyết toàn bộ vấn đề Trường Sa, mà chỉ là tuyên bố về ý định, những lời hứa hẹn rằng tất cả các bên tranh chấp sẽ kiềm chế trong đòi hỏi của mình đối với các hòn đảo. Các bên ký kết cũng đồng ý sẽ thông báo cho nhau về cuộc tập trận quân sự trong khu vực, nhưng vẫn chưa có thoả thuận rõ ràng về việc các bên tranh chấp sẽ phân chia nguồn dầu quanh các đảo như thế nào. Tuy nhiên, thảo thuận này có ý nghĩa rất quan trọng. Trung Quốc, một cường quốc kinh tế quân sự ở Đông á đang đánh tín hiệu muốn thiết lập quan hệ hoà hợp với các nước láng giềng".

Việc với các nước ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông là bước quan trọng tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông như lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã thoả thuận, và mở đường cho một giải pháp cơ bản, lâu dài đối với các tranh chấp ở Biển Đông, Tuyên bố đã khẳng định quyết tâm của các nước ASEAN và Trung Quốc, củng cố, phát triển tình hữu nghị, sự hợp tác hiện nay giữa nhân dân và chính phủ các nước này, nhằm thúc đẩy mối quan hệ đối tác láng giềng thân thiện và tin tưởng lẫn nhau hướng tới thế kỷ 21.

Về đầu trang


Những vấn đề sinh thái kinh tế trước mắt của vùng biển ven bờ Việt Nam

Trong quá trình xây và dựng nước, vùng biển đã gánh vác ba chức năng: một là cung cấp thực phẩm, nguyên vật liệu; hai là đồng hoá và tái tạo chất thải; ba là đóng vai trò bình diện, giá đỡ cho mọi hoạt động quốc phòng, kinh tế, xã hội. Cũng như trước đây, vùng biển hiện đang là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách hiện nay: thực phẩm, nguyên vật liệu, hàng xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và là vành đai thép để bảo vệ Tổ quốc. Với mục tiêu chiến lược kinh tế làm tăng thu nhập quốc dân hàng năm lên 5-6% vào những năm 2000, vùng biển thực sự là nơi chúng ta đặt nhiều hy vọng và trông chờ.

Chúng ta đã có những thành tích đáng kể trong quá trình khai thác và sử dụng các vùng biển. Hàng năm, riêng về nguồn lợi thuỷ sản, chúng ta đã khai thác được cỡ 1,1 đến 1,3 triệu tấn bao gồm cá, tôm, cua, các loại nhuyễn thể, rong câu, rong mơ. Nghĩa là chúng ta đã khai thác cỡ 0,02 đến 0,04% tổng lượng sản phẩm được tạo ra trong quá trình sản xuất tự nhiên của các hệ sinh thái ven biển, khoảng 3,2 đến 5,5 tỷ tấn. Theo các quan điểm sinh thái, đó là hệ số không nhỏ. ở đây chúng ta còn chưa tính đến các nguồn lợi đặc sản khác nhau đang có giá trị trên thị trường: tổ yến sào, các loại ốc biển quý hiếm, các loài san hô đỏ, các loài bò sát... Những con số đó hết sức có ý nghĩa và gây cho chúng ta những ấn tượng mạnh mẽ, nhất là trong những hoàn cảnh cụ thể của nước ta: một nước đang phát triển, có nguồn vốn hạn chế, lại chưa có những phương tiện trang thiết bị đặc thù.

Những điều làm cho mọi người quan tâm trăn trở là lợi nhuận của các vùng biển còn khá khiêm nhường so với bản chất sinh thái kinh tế của chính nó, với giá trị kinh tế hải dương của các nước láng giềng có cùng một vị trí địa lý và đang ra sức khai thác biển Nam Trung Hoa. Tuy vậy cũng đã xuất hiện nhiều dấu hiệu của sự suy thoái, sự ô nhiễm cục bộ của các hệ sinh thái. Cộng vào đó là sự lúng túng, không hiệu quả khi giải quyết các tai biến, các sự cố sinh thái để lại nhiều hậu quả trầm trọng. Đó là nỗi lo lắng thực sự của mỗi con người trong thời đại văn minh.

Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế đồng thời lại bảo vệ được các cảnh quan tự nhiên của các vùng biển, chúng ta phải có những thay đổi trong cách nhìn nhận, cách quản lý và các biện pháp kỹ thuật kinh tế khai thác và sử dụng vùng biển.

Vùng biển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có nguồn năng lượng sơ khối lớn, trung bình cỡ 150-180w/m2, giá trị cực đại có thể đạt 210-230w/m2. Thêm vào đó, những đặc trưng thuỷ văn, thuỷ hoá, thuỷ sinh cùng với các quá trình động lực học đặc thù, mang tính địa phương như dòng nước trồi, các tuyến giáp nước, các đối phron... đã tạo nên và chi phối các quá trình sản xuất và hình thành các nguồn lợi trong vùng. Các nguồn lợi biển rất phong phú và đa dạng, nhưng khả năng khai thác còn nhiều hạn chế. Sức sản xuất sơ cấp của các vùng biển Việt Nam rất lớn, giá trị trung bình cỡ 200-350 gam cácbon/m2/năm lớn gấp 5 - 10 lần so với các vùng biển ở vĩ độ cao. Nhưng do quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng phải kinh qua nhiều kênh dinh dưỡng nên hiệu ứng không cao. Ví dụ trong quá trình nuôi hải sản, tổng năng lượng thất thoát, hao phí có thể đến 95-98%. Các dạng nguồn lợi càng phong phú, đa dạng thì năng suất cuối cùng không cao, do đó hiệu quả kinh tế nhiều hạn chế. Đó là một trong những đặc trưng có tính bản chất của tự nhiên. Để khắc phục điều này, nhiều nơi tập trung phát triển nuôi trồng,khai thác các đối tượng có vòng xích dinh dưỡng ngắn, có phổ thức ăn rộng hoặc là các loài đặc sản rất có giá trên thị trường. Song song với việc đầu tư đúng đối tượng có hiệu quả tăng năng suất vật nuôi, con người rất chú ý đến khâu chế biến, tận dụng mọi khía cạnh sử dụng của các loài nguyên vật liệu theo các công nghệ khép kín ít hoặc không có chất thải. Nuôi trồng hải sản, một mặt, con người thực sự bắt tay điều khiển tự nhiên với mục tiêu thu lợi nhuận cao, nhưng mặt khác, quá trình đắp đập be bờ, lấn biển, phá rừng... sẽ làm biến dạng về mặt không gian của các vực nước tự nhiên, về lưu lượng dòng, dẫn đến những thay đổi các đặc trưng về mặt sinh thái. Điều đó gây dấu ấn với sự thay đổi các nguồn giống, chế độ dinh dưỡng, năng suất sinh học, đến các chức năng sinh thái của từng vực nước, của các thể rừng ngập mặn làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất và lượng của các nguồn lợi không chỉ đối với các vùng biển ven bờ mà còn xa hơn nữa, có tính toàn cầu. Chúng ta giờ đây phải giải quyết vấn đề theo các cơ sở khoa học và tính hợp lý tương đối của tự nhiên. Một số nước thực thi các biện pháp kỹ thuật khiến lưu lượng dòng thay đổi quá 30-35%, chỉ khoanh vùng cỡ 15- 24% diện tích rừng ngập mặn để làm vuông tôm.

Bàn về kinh tế hải dương, không thể không tính đến khả năng khai thác các nguồn lợi khoáng sản, dầu khí. Mở rộng và phát triển nền công nghiệp dầu khí ở vùng thềm lục địa, một mặt sẽ làm tăng nguồn thu nhập quốc dân, làm thoả lòng mong ước cải thiện đời sống của mọi người, nhưng mặt khác sẽ tạo ra mối đe dọa về mặt sinh thái ở vùng biển. Điều này mỗi con người Việt Nam đều đã nhận thức được. Các ngành dầu khí và các cơ quan chức năng đã quan tâm và lập nhiều đề án, kế hoạch đề phòng, ngăn chặn và xử lý. Về mặt địa lý, vùng biển ven bờ nước ta nằm trên tuyến đường vận tải biển quốc tế, nằm trong vành đai nhiễm bẩn dầu ở khu vực Nam Trung Hoa (khoảng 30.000 km2) luôn luôn có váng dầu nhiễm bẩn bao phủ. Hàm lượng dầu nhiễm bẩn trung bình trong nước biển Nam Trung Hoa cỡ 19 mkg/l. Kết quả quan trắc và kiểm soát môi trường biển do Viện nghiên cứu biển Nha Trang tiến hành từ năm 1997 cho thấy hiện tượng nhiễm bẩn ở các cảng, ở các vùng ven bờ là một thực tế, hàm lượng dầu thải trung bình cỡ 1,24 mkg/l nhưng mang tính cục bộ theo thời gian và không gian. Phần lớn các mẫu do lượng dầu nhiễm bẩn, các kim loại nặng độc hại trong nước biển, trong các loài sinh vật, trong các vật chất lơ lửng... đều có giá trị nhỏ hơn các giới hạn gây độc đối với hệ sinh thái. Thêm vào đó, về mặt sinh thái nét nổi bật là khả năng tự làm sạch của  vùng biển tương đối lớn. Hệ số bán phân rã dầu thải có giá trị 0,11 - 0,25 l/ngày. Các váng dầu nhiễm bẩn thường tồn tại tối đa từ 2 -5 ngày. Nguồn gốc của quá trình nhiễm bẩn chủ yếu là vận tải giao thông, nước thải lục địa, sự lan truyền từ các vùng biển lân cận và các tai biến, sự cố trên biển... Thực tế các nguồn nước thải đổ ra sông ngòi, biển cả đều chưa được xử lý chưa được làm sạch.

Bảo vệ môi trường biển không chỉ là công việc của mỗi con người, của từng quốc gia, mà là nhiệm vụ của nhiều nước, nhiều cộng đồng dân tộc. Rõ ràng ta không thể bảo vệ được vùng biển Đông bằng bất cứ giải pháp khoa học, kỹ thuật, kinh tế xã hội nào nếu không có sự nhất quán với các quốc gia láng giềng và nhiều tổ chức có liên quan khác. ở đây nhất thiết phải thiết lập các mối bang giao, hợp tác, các đài trạm có nhiệm vụ quan trắc và dự báo tình hình nhiễm bẩn của các vùng biển bằng các phương tiện có hiệu quả như viễn thám, hàng không và quan trắc trực tiếp. Để bảo vệ rừng, ta có đội kiểm lâm, để bảo vệ các vùng biển ta cũng nên có các cơ quan chức danh. Để chữa cháy ta có các đội lính chuyên nghiệp có nghiệp vụ, có trang thiết bị đặc thù, để phòng chống các tai biến, sự cố gây ô nhiễm như tràn dầu, sự cố khi thăm dò khai thác dầu khí... ta phải thành lập các đội đặc nhiệm có nghiệp vụ, có được trang thiết bị thích hợp để không bị lúng túng và bị động trước các tai biến nhiễm bẩn như thời gian qua.

Những vấn đề sinh thái kinh tế vùng biển bắt buộc chúng ta phải tìm hiểu và tìm cách giải quyết các mối quan hệ biện chứng giữa xã hội và vùng biển, nghĩa là tìm ra các mâu thuẫn bên trong của chúng. Giải quyết hợp lý các mâu thuẫn đó sẽ tạo ra sức mạnh vật chất mới và sự thống nhất mới. ở đây con người là nhân tố mạnh mẽ có ảnh hưởng quyết định hay phủ định lên môi trường biển. Trong quá trình sản xuất khai thác các vùng biển, con người có khả năng tạo ra sự thống nhất mới chặt chẽ hơn, có hiệu quả hơn. Nhưng giải quyết các vấn đề kinh tế vùng biển theo các luận điểm sinh thái không thể tránh khỏi ảnh hưởng đến quyền lợi của một số ngành công nghệ, đến quyền lợi của một số tổ chức xã hội, một số địa phương và của nhiều nhóm người khác nhau. Chính vì vậy, nếu không có cơ sở lý luận xác đáng, hợp lý cũng như các thông tin chính xác đầy đủ thì các biện pháp đề ra không có khả năng thực tế mà không thể thuyết phục khi thực hiện.

Vốn quỹ của quá trình giải quyết các vấn đề sinh thái kinh tế đại dương của nước ta không chỉ là những ưu đãi tự nhiên về mặt sinh thái, đặc trưng lịch sử và tính thực tiễn mà còn là đội ngũ cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm đã được thử thách hơn 30 năm nghiên cứu các vùng biển ở Việt Nam.

Để ổn định và củng cố "nền văn hoá biển" như các đồng chí lãnh đạo Nhà nước đề cập, nhất thiết chúng ta phải giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội ở các vùng biển tuân theo các đặc trưng sinh thái của tự nhiên.

TS. NGUYỄN TÁC AN

Về đầu trang


Tình hình tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông

I- Sơ lược về Biển Đông

Từ lâu đời, tên gọi Biển Đông đã gắn bó với cuộc sống của dân tộc Việt Nam, khi người phương Tây đến khu vực Đông á thì gọi là Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) và tên này được dùng như một tên quốc tế để chỉ Biển Đông.

Biển Đông là một biển nửa kín, diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi 8 nước khác là Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapo, Thái Lan và Campuchia.

Đối với Việt Nam, Biển Đông đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn đều gắn kết với biển như du lịch, dầu khí, thủy sản, giao thông vận tải ...

II. Các Hiệp định quốc tế trong lĩnh vực biên giới, lãnh thổ Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng

Việt Nam là một trong 130 quốc gia bỏ phiếu thông qua, là một trong 119 quốc gia ký và là quốc gia thứ 63 phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (ngày 23/6/1994, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 5 đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước). Ngày 16/11/1994, Công ước có hiệu lực thi hành.

Chúng ta có đường biên giới trên biển với Trung Quốc và Campuchia, có vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa chung với hầu hết các nước xung quanh Biển Đông như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philipin và Brunei. Đến nay, chúng ta đã ký kết được Hiệp định về ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan ngày 09/8/1997 (đã được phê chuẩn tại Quyết định của Chủ tịch nước số 23-QĐ/CTN ngày 29/12/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 27/02/1998), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc ngày 25/12/2000 và Hiệp định phân định vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam -Indonesia ngày 26/6/2003 (đã được phê chuẩn tại Quyết định của Chủ tịch nước số 846/2003/QĐ/CTN ngày 18/1l/2003).

III. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông

Hiện nay, trên biển chúng ta còn bốn vấn đề lớn liên quan đến biên giới lãnh thổ cần phải giải quyết, đó là (1) tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc; (2) tranh chấp chủ quần trên quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6 bên gồm Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và Brunei; (3) phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và (4) việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa. Trong đó, việc giải quyết tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đặc biệt phức tạp và khó khăn do vị trí chiến lược của hai quần đảo này cũng như các yếu tố tài nguyên ở khu vực xung quanh hai quần đảo; do mối quan hệ mật thiết với các vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển khác cũng như ảnh hưởng tới quan hệ giữa các nước liên quan. Đây cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của các cường quốc và là yếu tố đảm bảo sự cân bằng và ổn định trên Biển Đông.

1. Tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và Brunei

Theo các tài liệu lịch sử và các tài liệu pháp lý hiện có, có thể khẳng định các nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoà bình, thực sự và liên tục ít nhất từ thế kỷ thứ XVII, sau đó chính quyền Đông Dương lại tiếp tục củng cố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này thông qua các hoạt động như thành lập chính quyền, cử lính ra đồn trú, lập các trạm thông tin, dự báo khí tượng cũng như xây dựng các đèn biển trên hai quần đảo. Cho đến tận đầu thế kỷ XX không có nước nào yêu sách chủ quyền trên hai quần đảo đối với Việt Nam. Các bản đồ cổ của Trung Quốc cũng chỉ thể hiện phạm vi lãnh thổ phía Nam đến đảo Hải Nam. Trải qua thời gian dài với nhiều biến chuyển lịch sử, cùng với ý đồ mở mang lãnh thổ, năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung  Quốc đã dùng vũ lực chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa và năm 1974 tiếp tục dùng lực lượng hải quân và không quân đánh chìm phần phía Tây của quần đảo.

Trên quần đảo Trường Sa, chúng ta đang thực hiện chủ quyền quốc gia và quản lý hành chính trên 21 đảo, đá và bãi cạn nửa nổi nửa chìm. Thông qua sách trắng các năm 1979, 1981 và 1989, Việt Nam đã thể hiện quan điểm trước sau như một, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo này, bên cạnh công tác đàm phán ngoại giao, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng các biện pháp hoà bình, chúng ta cũng tiếp tục củng cố vị trí của mình trên quần đảo Trường Sa. Để giải quyết vấn đề chủ quyền, Việt Nam đã mở diễn đàn đàm phán các vấn đề trên biển thực chất là giải quyết vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc, đến nay đã đàm phán được 8 vòng. Cùng với hoạt động đàm phán song phương, chúng ta kiên trì đấu tranh, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần đảo tại tất cả các diễn đàn quốc tế có liên quan và đồng thời tiếp tục hoàn thiện hồ sơ pháp lý lịch sử về chủ quyền của ta trên hai quần đảo. Tháng 11/2002 tại Pnonh Penh (Campuchia), các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), được đánh giá là một bước tiến quan trọng, là cơ sở để duy trì ổn định khu vực trong khi các bên tiếp tục tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Một số đảo đá và bãi cạn khác thuộc quần đảo Trường Sa đang bị một số nước và vùng lãnh thổ chiếm đóng trái phép, các bên tranh chấp cũng đưa ra các lập luận, ban hành các văn bản pháp luật để biện minh cho việc chiếm đóng này.

a. Trung Quốc: Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với cả hai quần đảo bằng việc vẽ đường đứt khúc 9 đoạn trên Biển Đông, mà ta thường gọi là "đường lưỡi bò" trên bản đồ Nam Hải chư đảo do Trung Hoa dân quốc xuất bản năm 1947 và được CHND Trung Hoa in lại năm 1950, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong cái gọi là "biên giới trên biển" của Trung Quốc. Mặc dù bị hầu hết các nước có yêu sách và lợi ích liên quan trong khu vực phản đối nhưng qua việc theo dõi các động thái trên biển và trên các phương tiện tuyên truyền của Trung Quốc, có thể thấy Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ và từng bước thực hiện yêu sách này. Trong thời gian gần đây Trung Quốc đã liên tục ban hành nhiều văn bản pháp luật để cụ thể hoá các yêu sách của mình trên Biển Đông. Hiện nay, Trung Quốc chiếm giữ 7 bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa.

b. Philipin: Philipin công bố Sắc lệnh 1596 tháng 2/1979 về vùng Kalayaan, theo đó hầu hết quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là lãnh thổ của Philipin và được sáp nhập vào tỉnh Palawan. Lập luận của Philipin về việc xác định vùng Kalayaan là tính kế cận và quyền lợi an ninh quốc phòng của Philipin đối với quần đảo này. Hiện nay, Philipin đang chiếm đóng 9 đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa.

c. Malaysia: Ngày 02/12/1979, Malaysia xuất bản bản đồ qui định về phạm vi lãnh hải và ranh giới thềm lục địa, theo đó một phần phía Nam quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Malaysia. Hiện nay, Malaysia đang chiếm giữ 5 đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

d. Đài Loan: Ngày 21/5/1992, Đài Loan thông qua một đạo luật tuyên bố chủ quyền và lãnh hải, theo đạo luật này toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Đài Loan. Hiện nay, Đài Loan đang chiếm đóng trên đảo Ba Bình, là đảo có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Tháng 8/2003, Đài Loan đã cho cắm cờ trên bãi Bàn Than (bãi đá san hô nửa nổi nửa chìm, rộng khoảng 400m, dài khoảng 200m thuộc quần đảo Trường Sa, nằm cách đảo Ba Bình khoảng 4 km về phía Đông và cách đảo Sơn Ca khoảng 6,5 km về phía Tây) và mới đây, ngày 23/3/2004, phía Đài Loan đã xây dựng một nhà cao chân trên bãi này. Như vậy, đến nay Đài Loan đang chiếm giữ một đảo và một bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa.

e. Brunei: Năm 1993, Brunei đưa ra Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa 200 hải lý nhưng chưa đưa ra toạ độ cụ thể. Tuy nhiên, phần chồng lấn với Việt Nam và Malaysia trên quần đảo Trường Sa tương đối nhỏ, không ảnh hưởng đáng kể tới tranh chấp. Brunei cũng là nước duy nhất trong các bên yêu sách không chiếm giữ vị trí nào trong quần đảo Trường Sa.

2. Phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982

a. G:ải quyết vùng chồng lấn thềm lục địa với Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng chồng lấn biển và thềm rộng khoảng 2.800 km2 được hình thành bởi đường ranh giới thềm lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971 và đường ranh giới thềm lục địa được Malaysia thể hiện trên bản đồ xuất bản năm 1979. Ngày 05/6/1992, tại Kuala Lumpur (Malaysia), hai nước đã ký thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn, giao cho các công ty dầu khí của hai nước ký các dàn xếp thương mại và tiến hành hợp tác thăm dò, khai thác tiềm năng dầu khí ở khu vực này. Việc phân định vùng chồng lấn sẽ giải quyết sau. Hiện nay, hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở khu vực này đang tiến triển tốt.

b. Giải quyết vùng chồng lấn ba nước Việt Nam - Thái lan - Malaysia

Vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Malaysia rộng khoảng 7.250 km2, trong đó có khoảng 875 km2 là vùng chồng lấn thềm lục địa ba nước Việt Nam - Thái Lan - Malaysia. Ba nước đã thỏa thuận thông qua đàm phán, thương lượng để giải quyết vấn đề này, trước mắt đã thoả thuận được một số nội dung chủ yếu liên quan tới mô hình hợp tác và các vấn đề kỹ thuật.

c. Giải quyết phân định biên giới biển với Campuchia

Ngày 07/7/1982, Chính phủ hai nước Việt Nam - Campuchia đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, ngoài nội dung xác định vùng nước lịch sử giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan, Hiệp định cũng thoả thuận sẽ hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước vào thời điểm thích hợp. Hiện nay, hai nước đang tập trung tiến hành đàm phán phân định biên giới trên đất liền, vấn đề biên giới trên biển sẽ được tiếp tục đàm phán, giải quyết trong thời gian tới.

3. Việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam

Công ước cho phép các quốc gia ven biển được thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình. Đồng thời, Công ước cũng cho phép quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với việc xây dựng và lắp đặt các công trình, thiết bị và đảo nhân tạo, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trong vùng thềm lục địa. Để tổ chức khai thác và bảo vệ biển có hiệu quả, việc nghiên cứu và xác định ranh giới ngoài thềm lục địa là hết sức cấp thiết. Hiện nay, nhiệm vụ này đang được Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan thực hiện.

                            TUẤN ANH

Về đầu trang


Hậu Lộc tăng cường công tác tuyên truyền biển, đảo  

Ngay từ đầu năm 2008 Ban Thường vụ Huyện ủy Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá đã chỉ đạo các cấp ủy Đảng, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị từ huyện đến cơ sở tổ chức các hoạt động tuyên truyền về biển, đảo.  

Đến nay, huyện đã soạn thảo, cấp phát được 300 tờ rơi có nội dung về Hiệp định phân vịnh Bắc bộ và hợp tác nghề cá; cấp phát 60 cuốn hỏi - đáp những điều ngư dân cần biết trong hoạt động khai thác thủy – hải sản. UBND các cấp chỉ đạo hệ thống đài truyền thanh từ huyện đến cơ sở mở chuyên trang, chuyên mục và hướng dẫn hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, trung tâm học tập cộng đồng, các thôn, làng, đội sản xuất tổ chức các lớp tập huấn, họp dân, nhằm phổ biến những nội dung về biển, đảo.  

Phòng nông nghiệp huyện đã phối hợp mở 3 lớp thuyền trưởng, máy trưởng ở các xã Hưng Lộc, Hòa Lộc, Ngư Lộc cho gần 300 học viên tham gia. Theo đó, đội ngũ tuyên truyền viên, tình nguyện viên tích cực tuyên truyền cho ngư dân biết và thực hiện các điều khoản trong Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung Quốc, vấn đề bảo đảm an toàn khi ra khơi, đăng ký, đăng kiểm, bảo vệ nguồn lợi thủy sản... tạo chuyển biến trong nhận thức, hành động, tránh được rủi ro cho ngư dân, nâng cao hiệu quả khai thác trên biển... 

(Theo  Văn Thanh - Báo Thanh Hoá)

Về đầu trang


Công tác tuyên truyền về biển, đảo ở Bắc Ninh năm 2008

Là tỉnh không có biển, đảo, song Đảng bộ và nhân dân luôn xác định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của biển, đảo đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng của đất nước.

Vì vậy, những năm qua, đặc biệt là năm 2008, cùng với việc tuyên truyền các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự quốc tế và trong nước, các nhiệm vụ chính trị của địa phương, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã bước đầu triển khai công tác tuyên truyền về biển, đảo và phân giới cắm mốc có hiệu quả, thông qua các hình thức và nội dung như hàng tháng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đều tổ chức Hội nghị Thông tin cho đội ngũ báo cáo viên của tỉnh và các huyện uỷ, thị uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc đều tổ chức hội nghị thông tin cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở định kỳ mỗi tháng/kỳ. Ở các đảng bộ cơ sở thông tin đến cán bộ, đảng viên 2-3 tháng/kỳ. Các nội dung tuyên truyền về biển đều được lồng ghép với việc tuyên truyền các nội dung khác. Đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm có liên quan đến sự tranh chấp chủ quyền biển, đảo của Việt Nam với các nước trong khu vực.

Trong cuốn Thông tin sinh hoạt chi bộ do Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ biên soạn (liên tiếp từ số 12/2007 đến số 5/2008 với số lượng 2800 cuốn /1số) đã trích đăng một số nội dung tuyên truyền về biển, đảo. Ngoài ra, trong tài liệu tham khảo do Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng biên tập cũng trích đăng các tư liệu tuyên truyền về việc bảo vệ chủ quyền biển đảo cấp cho các đồng chí lãnh đạo, báo cáo viên, giảng viên kiêm chức của Tỉnh uỷ làm tài liệu tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền đã tập trung làm rõ quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về biển, đảo; về Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc; tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo; về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, phát triển kinh tế biển; về an ninh quốc gia trên biển…Và đặc biệt học tập Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X), trong đó có Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đến hầu hết các đối tượng theo quy định. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho đội ngũ báo cáo viên các cấp trong việc tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ vị trí, vai trò của biển, đảo nước ta; thấy rõ quan điểm của Đảng ta về biển, mục tiêu và những định hướng của Đảng trong chiến lược biển đến năm 2020. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã phối hợp với Cục Kỹ thuật Hải quân tuyên truyền về biển, đảo và bảo vệ chủ quyền biển đảo cho trên 200 lượt BCV của tỉnh tại 2 Hội nghị thông tin công tác tư tưởng của tỉnh; tuyên truyền về vị trí vai trò của biển, đảo nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định cơ sở pháp lý của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho trên 250 cán bộ, đảng viên xã Phú Hoà – huyện Lương Tài; tổ chức giáo dục quốc phòng kết hợp tuyên truyền biển đảo cho hơn 300 cán bộ, giáo viên, sinh viên và thực hiện các hoạt động giao lưu, kết nghĩa với trường Cao đẳng sư phạm Bắc Ninh. Ngoài ra, Nhà máy X56 Hải quân còn kết hợp tuyên truyền biển, đảo với công tác chính sách nhân dịp 71 năm ngày thương binh liệt sỹ (27/7) đã trao tặng 20 sổ tiết kiệm và 20 phần quà cho 20 gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở xã Phú Hoà, huyện Lương Tài.

Trên cơ sở định hướng nội dung tuyên truyền năm 2008 Báo Bắc Ninh đã thực hiện 18 chuyên mục trên Báo Bắc Ninh thường kỳ với 36 tác phẩm (10 tin, 18 bài, 8 ảnh), 20 tác phẩm trên Bắc Ninh điện tử, thu hút 12 lượt tác giả trong và ngoài toà soạn tham gia. Các tác phẩm tuyên truyền đúng định hướng của cấp ủy. Nội dung đã nêu bật được tiềm năng, lợi thế của biển đảo Việt Nam, chiến lược về biển đảo của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, phản ánh những tấm gương gia đình cán bộ chiến sỹ đang làm nhiệm vụ thiêng liêng giữ gìn chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Đài PT – TH tỉnh ngay từ đầu năm 2008 đã xây dựng lịch phát sóng chuyên mục, chuyên đề “Truyền hình Hải quân Việt Nam” trên sóng truyền hình có thời lượng 20 phút/chương trình, phát sóng vào tối thứ 6 và trưa thứ 7 của tuần thứ tư hàng tháng. Tính đến hết tháng 11/2008 đã sản xuất và phát sóng được 12 chuyên mục “Truyền hình Hải quân Việt Nam”, sử dụng 103 tin bài.

Đài tỉnh đã phối hợp với Báo Hải quân thường xuyên trao đổi sản xuất và phát sóng các chương trình truyền hình Hải quân, thực hiện điểm báo Hải quân, đưa tin tức về hoạt động của lực lượng Hải quân Việt Nam và tình hình biển đảo của cả nước đến với đông đảo bạn đọc trong và ngoài tỉnh.

Hướng dẫn Đài Phát thanh 8 huyện, thị xã, thành phố và hệ thống Đài truyền thanh cơ sở trong tỉnh tăng cường tuyên truyền về biển đảo, hoạt động của lực lượng Hải quân. Đồng thời phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có kế hoạch tuyên truyền về lĩnh vực quốc phòng, quân sự địa phương, tiếp tục duy trì chuyên mục “Quốc phòng toàn dân” trên hai sóng phát thanh, truyền hình. Tính đến hết tháng 11 năm 2008 đã phát sóng 12 trang truyền hình “Quốc phòng toàn dân”, sử dụng 252 tin bài; 24 trang phát thanh “Quốc phòng toàn dân”, sử dụng 312 tin bài.

Ngoài các tin bài tuyên truyền thường xuyên trong các chuyên mục “Truyền hình Hải quân Việt Nam”, Đài tỉnh đã phối hợp với cơ quan quân sự các cấp đã thường xuyên có tin bài về tình hình biển đảo và hoạt động của lực lượng quân sự địa phương và phong trào quốc phòng toàn dân trên các bản tin thời sự và các chuyên mục khác. Đặc biệt là đã phản ánh về cuộc sống, tâm tư nguyện vọng của 7 gia đình trong tỉnh có người thân là cán bộ chiến sỹ đang công tác ở quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà, góp phần động viên các chiến sỹ vượt qua khó khăn, tiếp tục công tác tốt, bảo vệ vững chắc chủ quyền đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Các nội dung tuyên truyền về biển đảo và lĩnh vực quốc phòng đã bảo đảm đúng định hướng chính trị, giữ vững tuyệt đối bí mật thông tin quốc gia, góp phần đưa tin tức về hoạt động của lực lượng Hải quân và tình hình biển đảo của cả nước đến với đông đảo khán giả, thính giả trong tỉnh.

Để hoàn thành tốt công tác tuyên truyền biển, đảo trong những năm tới, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiếp tục tuyên truyền sâu rộng tinh thần, nội dung chủ yếu Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phấn đấu năm 2009 công tác tuyên truyền về biển đảo được triển khai tới 100% các huyện, thị, thành phố và tham gia GDQP cho các trường cao đẳng, phổ thông trung học và các đơn vị đến giao lưu, kết nghĩa. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền về biển đảo và lĩnh vực quốc phòng, quân sự địa phương ngay từ đầu năm 2009 trên hai sóng phát thanh, truyền hình. Tiếp tục có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với cơ quan Quân sự các cấp làm tốt công tác tuyên truyền cho nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và hoạt động của lực lượng vũ trang trong tỉnh. Duy trì thường xuyên chuyên mục “Truyền hình Hải quân Việt Nam”. Tuyên truyền có hiệu quả cho việc xây dựng hậu phương quân đội vững mạnh, động viên các chiến sỹ đang làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước trong thời kỳ mới./.

(Theo Báo ĐTĐCSVN)

Về đầu trang


Khánh Hòa: Triển khai công tác tuyên truyền biển đảo năm 2009

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa vừa có kế hoạch triển khai nhiệm vụ tuyên truyền biển đảo năm 2009.

Trên cơ sở đó, năm 2009, công tác tuyên truyền biển đảo sẽ tập trung vào các nội dung như: Định hướng tư tưởng chính trị của Đảng, Nhà nước liên quan đến biển, đảo, chiến lược phát triển kinh tế và giữ vững an ninh trật tự, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 15, Chương trình hành động của Tỉnh ủy triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và các văn bản pháp luật liên quan đến biển, đảo.

Kế hoạch nhấn mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước, khẳng định cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bên cạnh đó còn, tuyên truyền về biển đảo Việt Nam, vai trò của biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những tiềm năng, thế mạnh của biển đảo Khánh Hòa; chú trọng tuyên truyền các nhân tố mới, các điển hình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo; quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân và dân ta trên các tuyến biển đảo…

VH 

Về đầu trang


Phụ nữ Quảng Ngãi: Tham gia xây dựng và bảo vệ vùng biển, đảo

Không chỉ biết chăm lo cho gia đình ấm no hạnh phúc, phụ nữ Quảng Ngãi còn thông minh sáng tạo trong sản xuất, xoá đói giảm nghèo, tích cực tham gia bảo vệ vùng biển, đảo của quê hương. Những đóng góp của họ đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn an ninh chính trị ở địa phương.

Để tham gia hiệu quả các mặt công tác, nhiều năm qua Hội LHPN tỉnh đã xây dựng, củng cố các Ban chấp hành Hội LHPN ở 25 xã thuộc tuyến biên phòng. Theo đó đã có 123 chi hội, 753 tổ phụ nữ và 33.112 hội viên hội phụ nữ tham gia sinh hoạt, trong đó có hơn 6 ngàn hội viên hoạt động có nền nếp, chất lượng, trở thành lực lượng nòng cốt trong tất cả các phong trào của hội. Đáng kể nhất là từ khi tổ chức hội đi vào hoạt động ổn định, các hội phụ nữ ở đây đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền liên quan đến việc tham gia các chương trình phát triển KT-XH, xoá đói giảm nghèo vùng biển, đảo; quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển đảo; đảm bảo an toàn cho hoạt động đánh bắt hải sản;  triển khai quán triệt Quyết định số 16 của Chính phủ về "Ngày Biên phòng toàn dân"...

Có lẽ sự thay đổi nhất của phụ nữ ven biển đến nay chính là đã chủ động trong cuộc sống mưu sinh. Nếu ngày trước phụ nữ các vùng này phụ thuộc vào chồng, con trong đời sống hằng ngày, thì nay họ đã tìm mọi cách để tìm được việc làm, có thu nhập ổn định để cải thiện cuộc sống gia đình và bản thân. Nhiều chị không những vươn lên thoát nghèo, mà còn làm giàu, trở thành phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi của các cấp. Để có được sự thay đổi này, các cấp hội phụ nữ trong tỉnh đã vận dụng bằng nhiều cách giúp cho chị em có vốn để phát triển sản xuất, tìm công ăn việc làm.  Đó là việc cho hàng ngàn phụ nữ nghèo vay vốn để đầu tư vào các loại hình sản xuất, chăn nuôi, dịch vụ hậu cần nghề cá và chế biến thuỷ hải sản. (đang triển khai 6 dự án với tổng trị giá trên 4,5 tỉ đồng, cho hơn 900 chị vay). Bên cạnh đó, các cấp hội còn huy động từ chị em có điều kiện kinh tế khá để giúp cho chị em có hoàn cảnh khó khăn được trên 9,2 tỉ đồng; 1,3 tấn giống; 311 con gia súc và hàng chục ngàn ngày công.

Cùng với nỗ lực vươn lên phát triển kinh tế gia đình, phụ nữ vùng ven biển của tỉnh còn tích cực tham gia với chính quyền và các ngành chức năng vào công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Theo Hội LHPN tỉnh, thời gian qua các cấp hội đã vào cuộc tuyên truyền phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS được 10.380 buổi, với 570.944 lượt cán bộ hội, hội viên phụ nữ tham gia. Các cấp hội tổ chức truyền thông phòng chống AIDS cho hơn 2.100 nữ tiếp viên, chủ nhà hàng, tụ điểm karaoke; vận động 155 chủ quán giác ngộ làm ăn đúng pháp luật, hàng trăm tiếp viên bỏ nghề, gái mại dâm hoàn lương, cai nghiện ma tuý tại cộng đồng. Có thể nói rằng, với phụ nữ các vùng ven biển ngày nay, họ tuy không trực tiếp truy bắt các đối tượng phạm tội, dẹp bỏ các tụ điểm tệ nạn xã hội, nhưng qua công tác vận động, tuyên truyền, đã giúp ích cho xã hội về nhiều mặt. Có chị còn dám đứng ra tố giác với chính quyền, cơ quan chức năng những sai trái, vi phạm pháp luật của các đối tượng mà qua tinh thần cảnh giác, các chị phát hiện được. Điển hình là hai chị Trần Thị Hiệu (Đức Chánh - Mộ Đức), Nguyễn Thị Vân (Bình Châu - Bình Sơn) cung cấp cho Bộ đội Biên phòng bắt và xử lý nhiều vụ buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất nổ.

Thời gian qua các cấp hội phụ nữ còn làm tốt công tác hậu phương quân đội, đền ơn đáp nghĩa. Thông qua việc quyên góp, đóng góp của hội viên, phụ nữ Quảng Ngãi đã thường xuyên tổ chức thăm hỏi, động viên các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công cách mạng, các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, với số tiền, quà hơn 1 tỉ đồng, 105 sổ tiết kiệm (trị giá 45,6 triệu đồng) và hàng ngàn ngày công lao động. Đặc biệt trong những đợt thanh niên lên đường nhập ngũ; dân quân, lực lượng dự bị động viên tham gia công tác huấn luyện... phụ nữ các vùng ven biển luôn sát cánh động viên và tặng quà cho gia đình, người thân, để cha, anh của họ an tâm trong công tác. Thời gian qua các cấp hội phụ nữ còn đứng ra đỡ đầu cho 3 con liệt sĩ, 16 Mẹ Việt Nam Anh hùng neo đơn, nhận 43 thương binh nặng nuôi dưỡng và giới thiệu hàng trăm con cháu các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình chính sách đi học nghề miễn phí tại các trung tâm dạy nghề trong và ngoài tỉnh.

Với những đóng góp của mình với biển, đảo quê hương, Hội LHPN nữ tỉnh Quảng Ngãi luôn được trung ương, tỉnh tặng nhiều bằng khen, cờ thi đua xuất sắc. Đây là phần thưởng xứng đáng, động viên kịp thời, giúp cho chị em tham gia ngày càng tích cực hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vùng biển đảo của tỉnh nhà.

P.V

Về đầu trang


Mười năm phối hợp "Vận động phụ nữ biên giới vùng biển"

Từ năm 1992, Hội LHPN tỉnh và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị đã triển khai chương trình phối hợp "Vận động phụ nữ biên giới, vùng biển". Mục đích của chương trình là triển khai các hoạt động xây dựng và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng biển của Tổ quốc.

Mặt khác tăng cường các hoạt động hỗ trợ của Bộ đội Biên phòng đối với phong trào phụ nữ ở những nơi trọng yếu, góp phần tích cực trong công cuộc giữ vững chủ quyền an ninh biên giới, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Hơn 17 năm qua, đặc biệt 10 năm lại đây (1999-2009) việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác vận động chị em vùng biên giới, vùng biển tham gia phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới , giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đã được Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh và Bộ Chỉ huy bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp thực hiện và mang lại hiệu quả xã hội thiết thực.

Hội Liên hiệp Phụ nữ và Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị đã phối hợp chặt chẽ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ chấp hành nghiêm túc Hiệp định và Quy chế biên giới, tham gia chống xâm canh, xâm cư ở biên giới, bảo vệ đường biên cột mốc; ngăn ngừa, tố giác các đối tượng vượt biên trái phép, đấu tranh chống các loại tội phạm.

Phụ nữ các xã biên giới tích cực góp phần cùng Bộ đội Biên phòng tuần tra kiểm soát , đấu tranh phòng chống tội phạm bảo vệ độc lập độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới. Hai ngành đã phối hợp tổ chức hàng ngàn buổi tập huấn, tuyên truyền phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Triển khai xây dựng mô hình điểm "Chi hội Phụ nữ không có hội viên, chồng con nghiện ma tuý và vi phạm pháp luật"; thành lập Câu lạc bộ "Phòng , chống ma tuý. Các cấp hội đã phối hợp cảm hoá, giáo dục hàng trăm thanh, thiếu niên hư hỏng; vận động chị em bài trừ các hủ tục lạc hậu, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Từ việc khi đau ốm người dân chỉ đến thầy mo để cúng thì nay đã đến Trạm xá điều trị. Phụ nữ không đẽ ngoài chòi. Chị em đã biết lo cái chữ cho con, chính vì thế, trẻ em trong độ tuổi đến trường ngày càng nhiều. Thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ.

Những hũ tục, tập quán lạc hậu giảm dần đồng nghĩa với nỗi gian truân của những người mẹ, người chị, người em ở đây cũng được vơi đi. Nụ cười của chị em càng thêm rạng rỡ. Đó cũng là điều kiện để chị em tham gia các hoạt động xã hội.

Trong 10 năm qua, chị em đã gián tiếp, hoặc trực tiếp phát hiện, báo cho BĐBP hơn 500 tin về các đối tượng vượt biên trái phép, các vụ lưu thông tiền giả và các tội phạm khác; phát hiện và đấu tranh với 3 nhóm đối tượng hút hít cần sa và chất gây nghiện ở tuyến biên giới; đấu tranh xoá bỏ 5 tụ điểm karaoke mại dâm trá hình; đưa 11phụ nữ bị bán sang Lào làm gái mại dâm trở về Việt Nam và giúp đỡ Bộ đội Biên phòng phá nhiều đường dây tội phạm nguy hiểm khác.

Ở tuyến biển, chị em đã phối hợp với Bộ đội Biên phòng vận động bà con không dùng xung điện, thuốc nổ để đánh, bắt cá..bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ, hải sản; tổ chức cứu hộ, cứu nạn, huy động chị em cùng với các chiến sĩ khắc phục hậu quả sau lũ, lụt. Chị em đã động viên chồng, con trong độ tuổi tham gia lực lượng dân quân tự vệ, các tổ tự quản, làm tốt công tác hậu phương quân đội.

Cùng với chương trình phối hợp bảo vệ an ninh biên giới, hai ngành đã tích cực tham gia chương trình phát triển kinh tế-xã hội mà trọng tâm là xoá đói giảm nghèo. Với tinh thần đó, Hội LHPN các cấp đã phối hợp với lực lượng BĐBP tỉnh tiến hành khảo sát các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nghèo.. để có hướng tạo điều kiện giúp đỡ. Hai ngành đã phối hợp tổ chức tập huấn cho 163.89o lượt hội viên phụ nữ về kiến thức khoa học kỹ thuật. Vận động chị em bỏ tập quán du canh, du cư “phát, cốt, đốt, trĩa” để định canh, định cư ổn định cuộc sống. Với sự hướng dẫn của BĐBP, nhiều chị em đã biết lập dự án và sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả. Không những thế, nhiều chị em đã mạnh dạn chuyển đổi cây, con, xây dựng nhiều mô hình kinh tế, tạo ra nguồn thu ổn định "đổi đời"cho nhiều gia đình.

Không chỉ phát triển kinh tế, Hội LHPN và BĐBP tỉnh rất quan tâm các lĩnh vực xã hội. Đó là: kiến thức nuôi, dạy con, xây dựng gia đình hoà thuận, công tác kế hoạch hoá gia đình...Vận động chị em dời truồng trại chăn nuôi ra xa khu vực nhà ở, ý thức tự chăm lo sức khoẻ...Vận động học sinh bỏ học trở lại trường. Nhiều gia đình, đã có con vào đại học, cao đẳng, hoặc các trường trung học chuyên nghiệp...Qua các hoạt động nói trên mối quan hệ làng bản, xóm làng ngày càng bền chặt.

Từ việc làm cụ thể của hai ngành, đã góp phần đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư". Đến nay, đã có 70 % làng, bản trong khu vực biên giới, vùng biển phát động làng, bản văn hoá. Trong đó, 50 % đã được công nhận đạt chuẩn văn hoá các cấp. Nhiều phong trào quần chúng như "kết nghĩa, đở đầu", "áo ấm chiến sĩ biên phòng" được khơi dậy. Đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã trong khu vực biên giới, vùng biển đã kết nghĩa với 10 đơn vị BĐBP. Phong trào kết nghĩa bản-bản biên giới Việt -Lào ngày càng được đẩy mạnh.

Cũng thông qua việc thực hiện chương trình phối hợp, Hội LHPN và BĐBP tỉnh đã đưa cuộc vận động"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đến với bà con vùng sâu, vùng khó. Thông qua, cuộc vận động nhiều nghĩa cử cao đẹp đã được khơi dậy làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp. Đặc biệt, với chương trình phối hợp đã góp phần nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Hội, bồi dưỡng năng lực lãnh đạo của chị em, giúp chị em đảm đương vai trò lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở.

Với những kết quả đã đạt được, mối quan hệ quân dân đã được thắt chặt. tình đồng chí, nghĩa đồng bào thêm gắn bó. Đó không chỉ là điều kiện để phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo đời sống bà con vùng khó mà còn là sức mạnh để chúng ta bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới, hải đảo của chúng ta.

(Theo Báo ĐTĐCSVN)

Về đầu trang


Chung tay bảo vệ biên giới biển, đảo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Khu vực biên giới biển, đảo do Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu quản lý gồm 20 đơn vị hành chính, trong đó có 19 phường, xã, thị trấn thuộc 4 huyện, thành phố (huyện Xuyên Mộc, Long Điền, Đất Đỏ, TP. Vũng Tàu) và huyện Côn Đảo. Thực hiện Nghị quyết số 12/NQ-ĐU của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về “Tăng cường công tác vận động quần chúng trong thời kỳ mới”, 5 năm qua, Đảng ủy BĐBP tỉnh không ngừng tăng cường công tác lãnh đạo, đổi mới công tác vận động quần chúng (VĐQC), góp phần đẩy mạnh các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh biên giới quốc gia, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh.

CHÚ TRỌNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN

Qua 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết về “Tăng cường công tác VĐQC trong tình hình mới”, cấp ủy các chi bộ, Đảng bộ, chính ủy, chính trị viên và chỉ huy các cấp thuộc BĐBP tỉnh đã nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác VĐQC. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác VĐQC, Ban Thường vụ Đảng ủy đã bố trí 100% đồn biên phòng có đủ chính trị viên và chính trị viên phó. Cấp ủy, chỉ huy các cấp đã quan tâm bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác VĐQC từ cơ quan đến các đơn vị nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác VĐQC trong tình hình mới.

Trong công tác VĐQC, BĐBP tỉnh đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, luôn cập nhật những nội dung mới, sát với yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, của địa phương để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân trên địa bàn biên phòng của tỉnh. Bên cạnh đó, quan tâm lãnh đạo đổi mới phương pháp tuyên truyền, đầu tư trang bị các phương tiện tuyên truyền cho các đơn vị kết hợp việc sử dụng phương tiện thông tin của địa phương; in ấn các tờ rơi đẹp về hình thức, nội dung dễ hiểu, dễ nhớ, sử dụng cho mọi tầng lớp. Phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành địa phương căn cứ vào tình hình nhiệm vu, yêu cầu và nội dungï cụ thể để phối hợp tuyên truyền trong quần chúng nhân dân về các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vai trò của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. Qua công tác tuyên truyền, quần chúng nhân dân và các lực lượng, ban, ngành, đoàn thể đã nâng cao giác ngộ chính trị, nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới biển, đảo. Thông qua tuyên truyền, quần chúng đã cung cấp cho các lực lượng chuyên trách 5.509 tin, trong đó có 2.422 tin có giá trị, nhiều vụ việc vi phạm về an ninh chính trị, trật tự xã hội được phát hiện, đấu tranh xử lý kịp thời.

NHỮNG VIỆC LÀM THIẾT THỰC

Qua 5 năm, BĐBP tỉnh đã tổ chức và phối hợp với các cấp chính quyền, các đoàn thể địa phương tuyên truyền cho quần chúng nhân dân trên địa bàn được 653 buổi với 524.123 lượt người tham gia. Riêng trong 2 năm 2006 và 2007, phối hợp với Sở Thủy sản tổ chức tuyên truyền cho ngư dân 23 buổi/12 xã, phường, có 1.221 lượt người tham dự; in và cấp phát cho ngư dân 3.000 tờ rơi phổ biến Nghị định 161 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới biển; in và cấp cho ngư dân 3.000 tờ bản đồ hướng dẫn ngư dân về việc phân định vùng biển Việt Nam tiếp giáp với các nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp nghị Nhà nước ta đã ký kết với các nước. BĐBP tỉnh cũng phối hợp với Công ty Vận chuyển khí Đông Nam bộ và Nhà Điều hành đường ống khí Nam Côn Sơn tổ chức 13 buổi tuyên truyền trong ngư dân Nghị định số 03 của Chính phủ về việc đảm bảo an ninh, an toàn đường ống dẫn khí dưới biển ở 20 xã, phường, thị trấn khu vực biên giới biển và huyện Côn Đảo, có 5.435 lượt người tham gia. Bên cạnh đó, BĐBP tỉnh còn in 5.000 tờ bản đồ theo dõi bão và 5.000 tờ rơi phổ biến Nghị định 66 của Chính phủ về đảm bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động nghề cá trên biển; đầu tư trang bị 7 bộ thiết bị phát thanh cho 7 trạm kiểm soát biên phòng. Đặc biệt, trong cơn bão số 9 (năm 2006) và sự cố tàu chở dầu Đức Trí bị nạn, BĐBP tỉnh đã huy động lực lượng tham gia phòng chống, khắc phục hậu quả, kịp thời góp phần giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, thực hiện chính sách, biện pháp trợ giúp cho ngư dân khôi phục, ổn định sản xuất.

Từ năm 2004 đến năm 2008, BĐBP tỉnh xây tặng 123 căn nhà “Đại đoàn kết” cho các hộ nghèo, 1 căn nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách trên địa bàn, 1 căn nhà “Đồng đội” cho cán bộ thuộc BĐBP tỉnh, với tổng số tiền 1,133 tỷ đồng. Đồng thời cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng cũng đóng góp quỹ “Tình nghĩa, tình thương” được 325 triệu đồng gửi về Ban chỉ đạo xây dựng quỹ của tỉnh…

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 12 của Đảng ủy BĐBP về “Tăng cường công tác VĐQC của BĐBP trong tình hình mới”, qua công tác tuyên truyền vận động và bằng những việc làm thiết thực, BĐBP tỉnh đã góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân khu vực biên phòng tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển, đảo của tỉnh.

(Theo Lưu Dương – Báo BR-VT)

Về đầu trang


Triển khai công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo

Sáng 4/3, tại Hà Nội, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Bộ Tư lệnh Hải quân đã tổ chức hội nghị triển khai công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo. Đồng chí Vũ Trọng Kim, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Thiếu tướng Nguyễn Cộng Hoà, Chuẩn Đô đốc, Phó Chính uỷ Quân chủng Hải quân chủ trì Hội nghị.

Tại hội nghị, Chuẩn Đô đốc Nguyễn Cộng Hoà đã thông tin tóm tắt về tình hình bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong thời gian qua và kết quả công tác tuyên truyền biển, đảo cũng như triển khai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc biển đảo của Quân chủng Hải quân. Chuẩn Đô đốc Nguyễn Cộng Hoà đánh giá cao sự quan tâm của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận  thời gian qua, đã tích cực hỗ trợ vật chất và tinh thần, góp phần động viên Quân chủng Hải quân hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hội nghị đã xác định công tác tuyên truyền về biển, đảo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, nhằm tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có văn bản chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tốt chương trình phối hợp thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó nhấn mạnh nội dung tuyên truyền giữ vững chủ quyền an ninh biên giới biển, đảo, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng chiến lược của biển, đảo Việt Nam trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thời gian vừa qua, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua Báo Đại đoàn kết, Tạp chí Mặt trận, Thông tin Công tác Mặt trận, Trang thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tuyên truyền rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt Thông tin Công tác Mặt trận đã ra số chuyên đề: “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia” phát hành tới xã, phường thị trấn trong toàn quốc với các nội dung sau: Hướng dẫn Công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2009 của Ban Tuyên Giáo Trung ương; Những vấn đề sinh thái kinh tế của vùng biển ven bờ  Việt  Nam; Tăng cường phát triển kinh tế quốc phòng trên biển; Một số thông tin về tuyên bố cách ứng xử  của các bên ở biển Đông; Tình hình tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông và Trang thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đăng tải các 24 bài viết và 70 tin và ảnh về hoạt động công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia; gắn việc tuyên truyền xây dựng các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về chiến lược biển, đảo đến năm 2020 và tuyên truyền định hướng phát triển kinh tế biển, đảo đối với việc giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ quyền lợi thuỷ sản, môi trường sinh thái biển và đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia thông qua việc thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động đến nay đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng với 6 nội dung của cuộc vận động.

Sang năm 2009, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, nhấn mạnh những thời cơ, thách thức; thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của việc thực hiện chiến lược biển đối với sự phát triển, ổn định của đất nước trong năm 2009; tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta; những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên biển Đông (đặc biệt 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp; tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực hiện các văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng, các nước có liên quan; tuyên truyền giáo dục cho toàn dân nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, góp phần gìn giữ hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát triển giữa các quốc gia vùng Biển Đông; giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển, đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước; vai trò của các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển kinh tế, biển, đảo; chú trọng tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới, nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh - xã hội, đảm bảo giữ gìn an ninh và chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc; và các định hướng về điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; bảo vệ môi trường biển, công tác dự báo, phòng chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên biển, đảo; phê phán các hành vi đánh bắt có tính chất hủy diệt nguồn lợi thủy, hải sản, phá hoại môi trường sinh thái biển; tàu thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của nước ta; đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với các chiến sĩ, các lực lượng đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Vũ Trọng Kim bày tỏ vui mừng trước sự phối hợp của MTTQ Việt Nam với Bộ Tư lệnh Hải quân triển khai công tác tuyên truyền về biển, đảo và cho rằng, đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa X “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” và thời gian tới Uỷ ban MTTQ Việt Nam sẽ phối hợp với các Tổ chức thành viên ở Trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch công tác tuyên truyền về biển, đảo; kịp thời cổ vũ, động viên các lực lượng làm công tác giữ gìn an ninh và bảo vệ chủ quyền biển, đảo bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Tùng Lâm

Về đầu trang


Quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo

Bảo đảm sự thống nhất, liên ngành, liên vùng, đồng thời hài hòa lợi ích chung giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng CNH, HĐH, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn trên biển, góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. 

Đó là một trong những nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo quy định tại Nghị định số 25/2009/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 6-3-2009. Nghị định nêu rõ Quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất, hệ thống và phù hợp đặc điểm, vị trí địa lý, quy luật tự nhiên của các vùng biển, vùng ven biển  và hải đảo; hạn chế tác động có hại, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy chất lượng môi trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy sự phát triển kinh tế biển và hải đảo. Quy hoạch được lập cho giai đoạn 10 năm và định hướng cho giai đoạn 20 năm tiếp theo. Định kỳ 5 năm phải đánh giá, điều chỉnh cho phù hợp. 

Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép theo quy định của pháp luật; việc cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; quy hoạch chuyên ngành đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. 

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành để thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo đối với các chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo liên quan nhiều bộ, ngành và địa phương. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thực hiện nhiệm vụ là cơ quan thường trực của các Ban Chỉ đạo liên ngành để điều phối thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. 

Về biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo, các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh trên hải đảo, chủ phương tiện nổi trên biển có trách nhiệm báo cáo về chất thải và phương án xử lý chất thải cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; nước thải từ các dàn khoan thăm dò và khai thác dầu khí, phương tiện nổi, nước dằn tàu của các tổ chức, cá nhân hoạt động tại các vùng biển của Việt Nam chỉ được phép xả ra biển sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường... 

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức nghiên cứu, điều tra, đánh giá tình trạng ô nhiễm biển, hải đảo và xác định các vùng ô nhiễm nghiêm trọng; tiến hành xử lý, khắc phục hậu quả ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường biển, hải đảo; ban hành các quy định về quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo; chỉ đạo và hướng dẫn UBND các tỉnh ven biển thực hiện các quy định về quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo.

 (Theo Báo Nhân Dân)

Về đầu trang


Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

 

Lập trường của Việt Nam về vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rõ ràng. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này

Ngày 12/3/2009, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Công ty TNHH du lịch quốc tế Châu Giang, Hải Nam (Trung Quốc) thông báo mở tuyến du lịch ra đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Dũng, tuyên bố: Lập trường của Việt Nam về vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rõ ràng. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này.

Việt Nam hết sức quan ngại và phản đối việc Trung Quốc cho phép Công ty du lịch quốc tế Châu Giang mở tour du lịch ra đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Việc làm này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên.

Trước sau như một, Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng Luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 cũng như thỏa thuận chung đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao Việt Nam - Trung Quốc".

* Về việc ngày 10/3, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Philippines, trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ của Philippines, ngày 12/3, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Dũng, tuyên bố: Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hành động của các bên liên quan ở khu vực này mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp lý.

Việc ngày 10/3, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Philippines, trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ của Philippines, đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, làm phức tạp thêm tình hình, không phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, đi ngược lại với xu thế hợp tác trong khu vực.

Việt Nam phản đối việc làm trên và đề nghị Philippines có thái độ kiềm chế, không tiến hành những hành động tương tự, tránh làm ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định trong khu vực và quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Philippines"./.

Theo VOV

Về đầu trang


Ban hành Nghị định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hảo đảo

Theo Nghị định 25/2009/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành ngày 6/3/2009, nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo phải bảo đảm sự thống nhất, liên ngành, liên vùng, đồng thời hài hòa lợi ích chung giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

Nghị định cũng nêu rõ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn trên biển, góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

Về quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, phải bảo đảm tính thống nhất, hệ thống và phù hợp với đặc điểm, vị trí địa lý, quy luật tự nhiên của các vùng biển, vùng ven biển và hải đảo; hạn chế tác động có hại, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy chất lượng môi trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy sự phát triển kinh tế biển và hải đảo. Quy hoạch được lập cho giai đoạn 10 năm và định hướng cho giai đoạn 20 năm tiếp theo. Định kỳ 5 năm phải đánh giá, điều chỉnh cho phù hợp.

Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép theo quy định của pháp luật; việc cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải văn cứ vào quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; quy hoạch chuyên ngành đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành để thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo đối với các chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo liên quan đến nhiều Bộ, ngành và địa phương. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thực hiện nhiệm vụ là cơ quan thường trực của các Ban Chỉ đạo liên ngành để điều phối thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

Về biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo, các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh trên hải đảo, chủ phương tiện nổi trên biển có trách nhiệm báo cáo về chất thải và phương án xử lý chất thải cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; nước thải từ các dàn khoan thăm dò và khai thác dầu khí, phương tiện nổi, nước dằn tàu của các tổ chức, cá nhân hoạt động tại các vùng biển của Việt Nam chỉ được phép xả ra biển sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường...

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức nghiên cứu, điều tra, đánh giá tình trạng ô nhiễm biển, hải đảo và xác định các vùng ô nhiễm nghiêm trọng; tiến hành xử lý, khắc phục hậu quả ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường biển, hải đảo; ban hành các quy định về quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo; chỉ đạo và hướng dẫn UBND các tỉnh ven biển thực hiện các quy định về quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo.

(Theo Báo ĐTĐCSVN)

Về đầu trang


Tiếp sức cho phụ nữ nghèo tuyến biển

Chung sức giúp phụ nữ nghèo tuyến biển làm ăn, xây dựng cuộc sống no ấm hạnh phúc, tham gia tích cực vào việc giữ bình yên thôn xóm và chủ quyền an ninh vùng biển là những hoạt động được chú trọng trong chương trình phối hợp “Vận động phụ nữ khu vực biên giới biển”.  

Chương trình này do Bộ đội biên phòng (BĐBP) và Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh  Phú Yên triển khai trong nhiều năm qua, đã đưa hàng trăm gia đình phụ nữ trên tuyến biển thoát khỏi đói nghèo, góp phần xây dựng vùng nông thôn ven biển ngày càng phát triển, giữ vững an ninh trật tự trên tuyến biên giới  biển.  

QUA RỒI GIAN KHÓ 

Cùng các cán bộ Hội LHPN tỉnh, chúng tôi về Vịnh Hòa (xã Xuân Thịnh, huyện Sông Cầu) và được nghe nhiều câu chuyện cảm động từ những phụ nữ vượt nghèo. Chồng chị Lương Thị Kim Hoa mất sớm vì bệnh ung thư gan. Khi đó, gia đình chị nghèo lắm, trong nhà không có lấy một tấm áo lành lặn để mặc cho chồng lúc tẩm liệm. Một mình cáng đáng gánh nặng gia đình với đàn con gầy gò nheo nhóc, nhiều lúc chị tưởng chừng kiệt sức. Thế rồi những người lính biên phòng Đồn 344 và chị em ở Chi hội Phụ nữ thôn Vịnh Hòa đã đến với chị. Chị Hoa nghẹn ngào kể: Anh em ở đồn biên phòng đã chia sẻ phần ăn, dành hai suất gạo hàng tháng đem đến cho mẹ con tôi. Chị em ở Chi hội Phụ nữ gom góp áo quần, rau mắm, đồ ăn, hàng ngày đến an ủi, động viên. Khi Nhà nước có chủ trương cho hộ nghèo vay vốn làm ăn, Hội Phụ nữ và anh em biên phòng đã động viên chị vay vốn để làm lồng bè nuôi tôm. Chị rụt rè nuôi vụ đầu, thấy hiệu quả nên tiếp tục nuôi. Nhờ vậy, đời sống của gia đình chị dần được cải thiện. Năm 2007, địa phương hỗ trợ 15 triệu đồng, chị đã xây được căn nhà vững chãi và ấm cúng. Không quên nghĩa tình mà cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng 344 và chị em ở Hội Phụ nữ dành cho mình nên dù tuổi đã cao, chị Hoa vẫn tích cực tham gia các hoạt động xây dựng thôn xóm.  

Chúng tôi đến thăm chị Đỗ Thị Thanh Thúy, một phụ nữ vừa thoát nghèo. Nghẹn đi trong niềm xúc động, chị Thúy kể: “Hai năm trước, nhà tôi luôn nghèo túng. Cơm thì bữa đói bữa no. Sinh con ra chẳng có đủ sữa cho con bú. Hội Phụ nữ đã tạo điều kiện cho tôi vay vốn để mở quán bán hàng. Sau hai năm buôn bán, tôi đã xây được căn nhà cấp 4 khá vững chắc và nâng cấp quán hàng của mình”. Chồng chị làm nghề biển. Anh đã nhiều lần giúp đỡ đồn biên phòng trong công tác hòa giải, giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc của ngư dân lúc làm ăn trên biển.   

HIỆU QUẢ TỪ  CÔNG TÁC PHỐI HỢP 

Trung tá Trần Anh Đức, Chính trị viên Đồn Biên phòng 344 cho biết: Hơn chục năm về trước, người dân ở địa bàn ven biển ở Sông Cầu - nhất là nơi Đồn Biên phòng 344 quản lý - nghèo đói, túng thiếu quanh năm. Nhiều thôn chưa có điện, đường sá đi lại khó khăn, cách trở. Nhận thức của nhân dân về việc chấp hành chính sách, quy định của nhà nước về xây dựng đời sống mới còn hạn chế. Thôn xóm thường xuyên có lời qua tiếng lại… Cùng với những mâu thuẫn, tranh chấp trên ngư trường là tình trạng dùng thuốc nổ đánh bắt hải sản diễn ra thường xuyên. Phần đông chị em phụ nữ quanh năm không ra khỏi địa bàn. Nhiều chủ trương chính sách của Nhà nước và những diễn biến trong đời sống xã hội họ gần như không hề hay biết. 

Khởi động từ năm 1992, chương trình phối hợp “Vận động phụ nữ khu vực biên giới biển” giữa Trung ương Hội LHPN và bộ đội biên phòng đã góp phần nâng cao đời sống, nhận thức của phụ nữ vùng nông thôn ven biển. Chị Nguyễn Thị Nhung, Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện Sông Cầu cho biết: Từ chỉ đạo của cấp trên, cán bộ vận động quần chúng của đồn biên phòng và Hội Phụ nữ cơ sở đã bám sát địa bàn, nắm rõ thực trạng tình hình đời sống của chị em phụ nữ. Với sự vận động tích cực của cán bộ chiến sĩ BĐBP và Chi hội Phụ nữ các địa phương, đã có hàng trăm buổi sinh hoạt và hàng ngàn lượt phụ nữ tham gia, nghe phổ biến về pháp luật, kiến thức chăm sóc gia đình, nuôi dạy con, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất. Nhiều mô hình ra đời như Câu lạc bộ Gia đình hạnh phúc, Câu lạc bộ Phụ nữ không sinh con thứ ba… đã đưa chị em đến với các sinh hoạt cộng đồng để mở mang kiến thức, nắm bắt thông tin. Ngoài việc làm ăn, quan tâm chăm sóc con cái, chăm lo sức khỏe bản thân, chị em còn mạnh dạn tham gia ngăn ngừa, tố giác các đối tượng phạm tội, khích lệ chồng con chăm lo làm ăn, chấp hành nghiêm những quy định khi đánh bắt trên biển.  

Những làng biển đang từng ngày thay da đổi thịt, đời sống của phụ nữ ở đây cũng vơi bớt nỗi gian truân. Hàng trăm hộ gia đình phụ nữ vùng biển của tỉnh thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làm ăn khá giả có sự đóng góp không nhỏ từ chương trình phối hợp “Vận động phụ nữ khu vực biên giới biển”. Tại buổi gặp gỡ giữa cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng 344 và bà con làng biển Vịnh Hòa, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Phú Yên Cao Thị Hòa An xúc động nói: “Ở nơi đầu sóng ngọn gió này, cán bộ chiến sĩ BĐBP đã trở thành điểm tựa vững chắc cho phụ nữ nghèo, cho bà con làng biển để xây dựng cuộc sống ngày càng phát triển”. 

PHƯƠNG OANH

Về đầu trang


Tăng cường tuyên truyền biển, đảo

Biển, đảo có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Vì vậy, Ðảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về phát triển các lĩnh vực liên quan biển, đảo. Những năm qua, công tác tuyên truyền biển, đảo đã góp phần làm cho nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của biển, đảo từng bước được nâng cao. Nhận thức về tầm quan trọng của biển, đảo đã được thể hiện trong chính sách phát triển của những ngành liên quan và các địa phương có biển. 

Tuy vậy, công tác tuyên truyền về lĩnh vực này còn những hạn chế, chưa được tiến hành một cách đồng bộ, thường xuyên, liên tục. Nội dung, hình thức tuyên truyền chưa hấp dẫn, chưa hướng mạnh về cơ sở, đến tận người dân, nhất là khu dân cư vùng biển, đảo và ven biển. Sự hiểu biết pháp luật về biển và ý thức giữ gìn tài nguyên, môi trường biển của người dân còn hạn chế. 

Vì vậy, công tác tuyên truyền về biển, đảo phải được tiến hành một cách chủ động, tích cực, thường xuyên, liên tục. Nội dung và hình thức tuyên truyền cũng  đòi hỏi phải được đổi mới, đa dạng phù hợp từng đối tượng và từng thời điểm, có sự phối hợp giữa các lực lượng làm công tác này. Ðể công tác tuyên truyền biển, đảo đạt hiệu quả thiết thực, thiết nghĩ cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng về vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo nước ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như mai sau. Cần tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta, kết quả thực hiện các văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng, các nước có liên quan. Tuyên truyền giáo dục cho toàn dân nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, góp phần giữ gìn hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát triển giữa các quốc gia trong khu vực. Nội dung công tác tuyên truyền cũng cần giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển, đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước, vai trò của các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào việc phát triển kinh tế biển, đảo. Tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới, nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh xã hội, giữ gìn an ninh và chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc. 

Tuyên truyền về điều tra môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; bảo vệ môi trường biển, công tác dự báo, phòng chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên biển, đảo; phê phán các  hành vi đánh bắt có tính chất hủy diệt nguồn lợi thủy, hải sản, phá hoại môi trường sinh thái biển; tàu, thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của nước ta; đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với các chiến sĩ, các lực lượng đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. 

(Theo Báo Nhân Dân)

Về đầu trang


Tỉnh Bình Định: Chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển

Bình Định có 5 huyện, thành phố ven biển; trong đó, có 27 xã, phường ven biển, đảo. Những năm qua, tỉnh đã xây dựng được lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) biển, nhằm giữ gìn an ninh, trật tự trên biển và bảo vệ chủ quyền vùng biển quốc gia. Tuy nhiên, DQTV biển chưa được quản lý, điều hành chặt chẽ; chính sách, chế độ chưa phù hợp; hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Trước tình hình đó, được sự tham mưu của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, UBND tỉnh đã lập đề án tổ chức, hoạt động của DQTV biển từ 2008-2010.

Không phải là tỉnh đầu tiên thực hiện đề án DQTV biển nhưng Bình Định làm khá bài bản. Rút kinh nghiệm của một số địa phương đi trước trong Quân khu, Ban DQTV của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã bỏ ra gần ba tháng đi khảo sát từng xã, huyện, chủ thuyền; đề xuất cách giải quyết những vướng mắc gặp phải, nhất là tạo sự đồng thuận giữa chủ tàu và dân quân với phương châm “chủ tàu nơi đâu, dân quân nơi đó”. Sau khi hoàn chỉnh, đề án đã được thông qua bốn cấp: sở, ban, ngành và Chủ tịch UBND tỉnh, được các cơ quan chức năng đóng góp ý kiến cụ thể, tỉ mỉ.

Theo đề án, biên chế tuyến bờ mỗi tiểu đội có bảy thành viên đi trên 2-3 tàu; tuyến lộng và tuyến khơi, mỗi tiểu đội tổ chức lực lượng thuyền viên trên một tàu. Thời gian huấn luyện được bố trí phù hợp với đặc điểm mùa vụ, có sự phối hợp, giúp đỡ của các đơn vị hải quân, biên phòng, cảnh sát biển.

Kinh phí bảo đảm cho hoạt động DQTV biển lên đến gần 1,55 tỉ đồng trong 3 năm (2008-2010). Trong đó huyện chi 1,14 tỉ đồng bảo đảm ngày công, tiền ăn; huấn luyện cơ bản, nâng cao, thời gian trực sẵn sàng chiến đấu, kiểm tra, kiểm soát địa bàn và chi phụ trách trách nhiệm cho tiểu đội trưởng, trung đội trưởng. Tỉnh lo phần mua sắm trang phục dân quân, tập huấn cán bộ, đầu tư công cụ hỗ trợ, vật chất huấn luyện… DQTV biển được cấp đầy đủ quân trang (gồm 2 bộ quần áo, giày, áo mưa); ngày công huấn luyện, trực (từ 50.000 đến 60.000 đồng); được cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện vay vốn làm ăn, bố trí việc làm mùa biển động như vào các tổ chế biến thủy sản, sửa chữa tàu thuyền… 

Sau lễ ra mắt làm điểm của trung đội dân quân biển Cát Tiến (Phù Cát) vào tháng 11.2008, đến nay, tất cả các đầu mối DQTV biển của tỉnh đã thành lập xong lực lượng và bắt đầu đi vào hoạt động nề nếp. Các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, TP Quy Nhơn đều có từ 7-9 tiểu đội, riêng huyện Phù Cát có 2 trung đội và 4 tiểu đội (huyện Tuy Phước do bãi ngang nên không thành lập DQTV biển).

Xác định quyền lợi đi đôi với trách nhiệm, hiện nay, DQTV biển của tỉnh rất phấn khởi, yên tâm gắn bó với lực lượng, thực hiện “đi báo cáo về báo công”, làm ăn ở đâu đều thông báo với chính quyền, Ban Chỉ huy Quân sự xã. Các dân quân biển đã thể hiện là những công dân gương mẫu trong khu dân cư, những chiến sĩ có độ chính trị được tin cậy cao, là lực lượng xung kích góp phần giữ vững an ninh chính trị- trật tự an toàn ở địa phương, giữ vững an toàn vùng biển, nhiều lần ngăn chặn việc dùng thuốc nổ đánh bắt thủy sản trên biển hay phát hiện báo cho địa phương xử lý các vụ dùng xung điện đánh cá trên đầm Đề Gi.

Theo Thượng tá Phạm Tiến Dục, Trưởng ban DQTV - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, thời gian tới, Bình Định sẽ đẩy mạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng cho DQTV biển cả về quân sự lẫn chính trị, nâng cao hơn nữa khả năng phối hợp hoạt động, tác nghiệp trên biển nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

(Theo Hồng Vân – Báo Bình Định)

Về đầu trang


Định hướng và giải pháp thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

 I. ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

1- Quan điểm chỉ đạo

Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa. Phát huy đầy đủ, có hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

2- Mục tiêu

- Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh.

- Mục tiêu cụ thể: Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai so với thu nhập bình quân chung của cả nước. Xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh. Phát triển mạnh cả khai thác, chế biến sản phẩm từ biển và phát triển các ngành dịch vụ biển. Xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý Nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.

3- Định hướng chiến lược phát triển kinh tế -xã hội

Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển gắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển, trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến vận tải cao tốc trên biển. Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế để ra biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh trên biển, khả năng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và phòng, chống thiên tai. Nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và những người hoạt động trên biển. Đẩy mạnh công tác quản lý Nhà nước và quan hệ quốc tế về biển, đảo. Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển, ven biển như sau: 1) Khai thác, chế biến dầu, khí; 2) Kinh tế hàng hải; 3) Khai thác và chế biến hải sản; 4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển.

Sau năm 2020, thứ tự phát triển kinh tế biển có sự thay đổi: 1) Kinh tế hàng hải; 2) Khai thác, chế biến dầu, khí và các loại khoáng sản; 3) Khai thác và chế biến hải sản; 4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5) Các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Trước mắt, tập trung đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, xây dựng đội tàu mạnh, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho những người dân sinh sống ở những vùng thường bị thiên tai; đồng thời, xây dựng các cơ sở bảo vệ môi trường biển.

4- Định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa và các quần đảo, đảo thuộc chủ quyền của nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển.

Định hướng chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại vùng biển và ven biển là: Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc. Phát triển kinh tế biển gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển. Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.

5- Định hướng điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển

Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển để xác lập căn cứ khoa học cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên, môi trường biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý, điều hành công tác điều tra, thăm dò và sử dụng dữ liệu về tài nguyên biển.

6- Định hướng phát triển khoa học - công nghệ biển

Phát triển khoa học - công nghệ biển phải trở thành động lực của phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển. Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học - công nghệ, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ cho nghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nước.

7- Định hướng bảo vệ môi trường biển và ven biển, phòng, chống thiên tai

Hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường biển; bảo vệ và phát triển bền vững các hệ sinh thái biển và ven biển, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực phòng, chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, từng bước hiện đại hoá lĩnh vực này, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm an toàn đời sống dân cư và các thành phần kinh tế hoạt động trên biển, đảo và ven biển.

8- Định hướng xây dựng kết cấu hạ tầng

Phát triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một số cảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, tạo những cửa mở lớn vươn ra biển thông với quốc tế. Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật - công nghệ các cảng, tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hoá, giảm thiểu tối đa chi phí, bảo đảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế. Sớm hoàn chỉnh, khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xây dựng tuyến đường Bắc - Nam trên biển. Xây dựng hệ thống cung cấp điện, nước ngọt bảo đảm cho quá trình phát triển kinh tế biển và phục vụ sinh hoạt của dân cư ven biển, trên biển và các đảo. Xây dựng hệ thống thông tin, quan sát biển, hình thành hệ thống nghiên cứu và dự báo về biển (có trọng tâm, trọng điểm theo lĩnh vực và theo vùng).

9- Định hướng chiến lược các vùng biển

a) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh - Ninh Bình): Xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh thành trung tâm kinh tế mạnh, nòng cốt là cảng biển, công nghiệp và du lịch biển làm đầu tàu lôi kéo cả vùng phát triển. Hình thành và phát triển các khu kinh tế tổng hợp, cụm công nghiệp ven biển. Phát triển các khu kinh tế thương mại gắn với vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên cơ sở xây dựng tuyến đường ven biển, cảng biển, các khu kinh tế, các thành phố, thị xã, thị trấn ở dải ven biển.

b) Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá - Bình Thuận). Xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của vùng, là một trong ba trung tâm kinh tế biển lớn của nước ta. Xây dựng hành lang kinh tế trên cơ sở tuyến cao tốc Bắc - Nam, các cảng nước sâu, sân bay quốc tế, phát triển các đô thị ven biển. Xây dựng các khu kinh tế tổng hợp; chú trọng phát triển kinh tế hàng hải, du lịch.

c) vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa - Vũng Tàu - Thành phố Hồ Chí Minh): phát triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm hướng ra biển của vùng. Hình thành các tuyến hành lang kinh tế, các khu công nghiệp, trong đó quan trọng nhất là tuyến hành lang kinh tế dọc quốc lộ 51.

d) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang - Cà Mau - Kiên Giang): Xây dựng Phú Quốc thành trung tâm kinh tế lớn của vùng hướng mạnh ra biển. Đến năm 2020, cơ bản xây dựng Phú Quốc thành trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao và trung tâm giao thương quốc tế. Hình thành và phát triển tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây (Rạch Giá - Hà Tiên) và tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Đông (Bạc Liêu - Ghềnh Hào - Cà Mau - Năm Căn) gắn với xây dựng khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau.

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, có hệ thống trong nhân dân nhằm nâng cao và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của biển. ý thức về biển phải được thể hiện đầy đủ trong chính sách phát triển của những ngành có liên quan và các địa phương có biển.

2- Xây dựng lực lượng mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh trên biển

Xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương đối với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc. Xây dựng và phát triển kinh tế biển phải gắn chặt với bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân gắn với phát triển kinh tế biển. Thực hiện dân sự hoá trên biển, đảo gắn với tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất và khai thác biển. Có chính sách đặc biệt để khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra định cư ổn định trên đảo và làm ăn dài ngày trên biển. Thí điểm xây đựng các khu quốc phòng - kinh tế tại các đảo, quần đảo Trường Sa, vùng biển, đảo ở Đông Bắc... Xác định rõ những khu vực dành riêng cho nhiệm vụ quốc phòng, còn lại cho phép và khuyến khích phát triển các hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp biển, đảo; không để xảy ra các điểm nóng. Xây dựng đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đấu tranh về quyền điều hành vùng thông báo bay (FIR) phần phía bắc FIR Hồ Chí Minh và đông nam FIR Hà Nội. Củng cố và mở rộng hợp tác về quốc phòng với các nước ASEAN và Trung Quốc với các hình thức thích hợp. Tiếp tục đàm phán với các nước láng giềng, các nước có tranh chấp thềm lục địa, vùng chồng lấn, phân chia vùng biển lịch sử và đảo; xây dựng vùng biển hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển. Sớm triển khai và hoàn thành việc đặt tên các đảo ở vùng biển quốc gia, xây dựng mô hình tổ chức hành chính và nâng cao năng lực quản lý các huyện đảo, xã đảo, nhằm phát triển mạnh kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

3- Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học - công nghệ biển

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở tin cậy, phục vụ việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển; chủ trương, giải pháp về khoa học - công nghệ phải được coi là giải pháp đi trước, mang tính đột phá nhằm phát huy tốt nhất tiềm năng khoa học cho kinh tế biển, phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động trên biển.

4- Triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả công tác quy hoạnh tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

Công tác quy hoạch phải đi trước một bước với tầm nhìn dài hạn, hiện đại theo những tiêu chuẩn phù hợp với quốc tế và khu vực. Quán trệt quan điểm coi vùng duyên hải gắn với kinh tế biển là vùng động lực để mở cửa, thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế. Tập trung phát triển mạnh những cơ sở công nghiệp chế biến các sản phẩm từ biển, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô.

5- Quản lý Nhà nước có hiệu lực và hiệu quả với các vấn đề liên quan đến biển

Nghiên cứu, đề xuất về cơ quan quản lý Nhà nước tổng hợp, quản lý thống nhất về biển. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển một cách đầy đủ, làm cơ sở cho việc xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền, quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển, đảo. Ban hành cơ chế, chính sách bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững các lĩnh vực liên quan đến biển và vùng ven biển, đặc biệt là bảo đảm phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ biển, đảo ở vùng biển xa bờ có giá trị chiến lược về kinh tế và quốc phòng, an ninh.

6- Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển

Khuyến khích mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư dưới mọi hình thức của các thành phần kinh tế để phát triển kinh tế biển, kể cả các công trình thuộc kết cấu hạ tầng lớn như cảng biển, đường giao thông, các khu đô thị, khu công nghiệp... của mọi hình thức sở hữu. Tập trung đầu tư đủ mức, đồng bộ và dứt điểm nhằm phát huy cao nhất năng lực và hiệu quả khai thác, đặc biệt là với các khu công nghiệp, cảng biển, các cơ sở sản xuất và dịch vụ. Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách cho việc phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất gắn với bảo vệ môi trường biển, phát triển hệ thống cảng biển gắn với hệ thống giao thông ven biển; có chính sách xây dựng nhà ở kiên cố cho nhân dân vùng ven biển và chính sách khuyến khích đánh bắt khơi xa, nuôi trồng thuỷ sản trên biển, vận tải biển...

7- Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển

Trên cơ sở quy hoạch từng ngành, lĩnh vực thuộc kinh tế biển và vùng ven biển, phát triển mạnh nguồn nhân lực biển bao gồm cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia và đội ngũ lao động được đào tạo chuyên sâu về các nghề như: hàng hải, khai thác và chế biến dầu khí, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, du lịch biển, nghiên cứu khoa học biển, v.v.. Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học và quản lý ra công tác tại các đảo và vùng ven biển. Khuyến khích việc xây dựng một số cơ sở đào tạo ngành, nghề về biển (đại học, cao đẳng, dạy nghề) ở các thành phố biển. Đồng thời với việc phát triển nhân lực biển, phải coi trọng phát triển các lĩnh vực xã hội ở vùng ven biển, đặc biệt chú ý đến đời sống và bảo đảm an toàn tính mạng của những người hoạt động trên biển, đảo và nhân dân ở những vùng bị thiên tai. Có giải pháp mạnh để sớm giải quyết tốt vấn đề phát triển kinh tế, xã hội ở các xã ven biển, vùng bãi ngang, như tổ chức lại sản xuất, quy hoạch lại khu dân cư, xây dựng kết cấu hạ tầng và cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân.

8- Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển

Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng kinh tế biển, đồng thời, bảo đảm tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đối ngoại về biển theo luật pháp và thông lệ quốc tế, có tính tới các quan hệ với các nước trong khu vực, đồng thời, tranh thủ các diễn đàn quốc tế để củng cố vị thế của Việt Nam về biển, ranh giới biển của quốc gia. Mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường công tác ngoại giao, đặc biệt với các nước lân cận Biển Đông và những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học - công nghệ mạnh về biển để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, phát triển kinh tế biển và vùng ven biển, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên biển, trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển, góp phần gìn giữ hoà bình, hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia vùng Biển Đông.

9- Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh

Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh làm lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế biển với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế. Các lĩnh vực cần được đặc biệt chú ý là điều tra, khai thác và chế biến dầu, khí, khoáng sản, hàng hải, công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, khai thác và chế biến hải sảnr

                         B.B.T

Về đầu trang


Quá trình hình thành đường biên giới trên đất liềnViệt Nam - Trung Quốc

1. Công ước Pháp - Thanh 1887 và 1895

Đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hình thành qua quá trình lịch sử và tồn tại một cách tương đối ổn định kể từ khi Việt Nam thoát khỏi ách Bắc thuộc từ thế kỷ thứ 10. Tạp chí Geographer số 38 của Vụ Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 29/10/1964 viết: "Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập Vương quốc Đại Cồ Việt... nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình ... một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia cách đây 10 thế kỷ". Tuy nhiên, biên giới Việt - Trung mang tính khái niệm biên giới vùng, chưa phải là đường biên giới được phân giới cắm mốc (PGCM), đánh dấu bằng một hệ thống mốc giới chính xác. Công ước 26/6/1887 và công ước bổ sung 20/6/1895 giữa Chính phủ Pháp (nhân danh Việt Nam) và Triều đình Mãn Thanh Trung Quốc là các văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên xác định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đang tồn tại đến ngày nay. Đường biên giới đó đã được cụ thể hoá trên thực địa bằng một hệ thống mốc quốc giới (314 mốc) từ Móng Cái đến tận biên giới Lào - Trung.

Đường biên giới do hai Công ước 1887 và 1895 xác lập cơ bản là dựa trên đường biên giới lịch sử vốn có đã tồn tại từ lâu đời giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, điều đó phản ánh một trong những thành quả lịch sử của cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam. Pháp và Nhà Thanh đã vận dụng một số nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế cũng như tập quán quốc tế và thiết lập đường biên giới quốc gia để xác lập đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc bao gồm các bước hoạch định, phân giới và cắm mốc cùng các hồ sơ thủ tục pháp lý cơ bản. Vì vậy, về mặt pháp lý ta cần nói đầy đủ là: Hai Công ước 1887, 1895 cùng các biên bản và bản đồ hoạch định, các biên bản và bản đồ phân giới và cắm mốc thực hiện hai Công ước đó từ 1886 đến 1887, là một thể thống nhất các văn bản pháp lý bổ sung cho nhau, cung cấp những yếu tố về đường biên giới, cho phép thể hiện tương đối trên bản đồ cũng như nhận biết trên thực địa. Việc hoạch định, phân giới và cắm mốc cũng như việc ký kết hai Công ước 1887, 1895 xác lập đường biên giới quốc gia trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng không thể tách khỏi bối cảnh chính trị lúc bấy giờ là sự bành trướng truyền thống của Trung Quốc phong kiến ở khu vực này với việc mở rộng xâm nhập thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương và Anh ở vùng ấn Độ - Miến Điện vào cuối thế kỷ 19, việc ký Công ước về biên giới vì thế đã không tách khỏi việc ký Công ước về thương mại Pháp - Trung. Do có nhu cầu tranh thủ nhà Thanh, thực dân Pháp đã có nhượng bộ ở một vài khu vực như Tụ Long; Giang Bình - Pak Lung... để đổ lấy việc giao thương Pháp - Trung. Do điều kiện khách quan và chủ quan đường biên giới được xác lập bằng hai Công ước 1887 - 1895 còn rất nhiều hạn chế về chất lượng; về số lượng (314 mốc/1.400 km đường biên giới) và nhiều sơ hở trong các văn bản, bản đồ và việc cắm mốc trên thực địa (vị trí các cột mốc chỉ được mô tả và không có toạ độ kèm theo, lời văn về hướng đi của đường biên giới ở một số chỗ không rõ ràng. Theo kết quả khảo sát đơn phương năm 1992, trong tổng số 314 mốc có 18 mốc bị mất, 71 mốc bị hỏng); nhiều mốc cũ đã bị mất, hư hại do thời gian, chiến tranh nên đã bộc lộ ra rất nhiều tranh chấp phức tạp mà ngày nay chúng ta cần giải quyết với Trung Quốc để xây dựng một đường biên giới mới bền vững, hữu nghị đảm bảo cho sự yên ổn thuận tiện cho việc quản lý biên giới của hai quốc gia.

Quá trình hình thành đường biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung Quốc với hai Công ước 1887, 1895 đã phải mất 12 năm. Điều đó chứng tỏ công việc xác định biên giới với Trung Quốc là công phu và phức tạp ngay cả trong trường hợp giữa hai nước đã có sẵn một đường biên giới truyền thống.

Tuy có những hạn chế trên, nhưng hai Công ước  1887, 1895 lần đầu tiên đã xác lập được một đường biên giới có tính pháp lý quốc tế duy nhất đầu tiên ở Việt Nam và về cơ bản gần giống với đường biên giới truyền thống vốn có trong lịch sử và đang tồn tại hiện nay. Quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt - Trung là sự hoàn thiện lại chất lượng đường biên giới, trên cơ sở của đường biên giới theo hai Công ước 1887 và 1895 giải quyết những đoạn còn tranh chấp, những đoạn chưa rõ ràng hoặc những khu vực mà hai Công ước trên chưa giải quyết; ký Hiệp ước biên giới mới và cắm lại toàn bộ hệ thống mốc giới mới. Đây là một quá trình đàm phán rất gay go và phức tạp, song có thể giải quyết được nếu hai Bên đều có thiện chí.

2. Thời kỳ từ 1945 đến khi ký kết Hiệp ước biên giới 1999

Trong những năm 1950 - 1960, quan hệ Việt Nam -Trung Quốc là quan hệ hữu nghị vừa là đồng chí vừa là anh em. Đường biên giới Việt - Trung là một đường biên giới hoà bình, hữu nghị. Sau năm 1954, lần đầu tiên nhân dân Việt Nam ở biên giới được sống trong khung cảnh hoà bình và yên tâm sản xuất. Hai Bên chủ yếu quản lý đường biên giới theo tập quán và theo các bản đồ của Pháp hoặc Trung Quốc xuất bản trong giai đoạn này. Ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, ngày 2/11/1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị hai Bên tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai Công ước Pháp - Thanh 1887 và 1895 để lại và giải quyết mọi tranh chấp bằng đàm phán. Bức thư nhấn mạnh: "Vấn đề quốc giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đương có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định". Tháng 4/1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam, tôn trọng hiện trạng đường biên giới lịch sử được các Công ước 1887 và 1895 xác lập. Lập trường này thể hiện sự tôn trọng luật quốc tế theo đó các Hiệp ước về biên giới không chấm dứt hiệu lực ngay cả khi hoàn cảnh thay đổi. Trung Quốc và Việt Nam đã thừa nhận tính hợp lý của hai Công ước 1887 và 1895. Trên thực tế, trong những năm 1958 - 1959, địa phương hai Bên còn tiến hành trao trả cho nhau ruộng đất, rừng cây hỗn canh. Năm 1963, hai Bên ký Hiệp định hiệp đồng bảo vệ an ninh khu vực biên giới. Năm 195 5 và 1971 ký Hiệp định đường sắt biên giới Việt - Trung. Do nhận thức về đường biên giới ở một số chỗ còn khác nhau, nên ngay trong giai đoạn này, đã xuất hiện những tranh chấp, thậm chí căng thẳng cần giải quyết.

Sau khi Hiệp định paris ngày 27/1/1973 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình tại Việt Nam được ký kết, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt đầu đặt kế hoạch khôi phục lại đất mrớc, mà vấn đề đầu tiên là xác định lại đường biên giới.

Đàm phán Việt - Trung về biên giới lần thứ nhất đã được bắt đầu tại Bắc Kinh ngày 15/8/1974. Cuộc đàm phán lần thứ hai bắt đầu từ 7/10/1977 đến tháng 6/1978 ở cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Đàm phán bị gián đoạn bởi cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Ngày 18/4/1979, đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc được nối lại tại Hà Nội. Phía Việt Nam đã ra đề nghị 3 điểm, trong đó điểm 3 nêu rõ: "3. Việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại và đã được hoạch định bởi các Công ước 1887 và 1895 do Chính phủ Pháp và nhà Thanh ký, và đã được phía Việt Nam và phía Trung Quốc đồng chấp nhận.

Các cuộc đàm phán trên đạt được kết quả rất hạn chế do lập trường của hai bên còn khác nhau. Sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam - Trung Quốc lần thứ tư bắt đầu từ tháng 10/1992. Đây là cuộc đàm phán dài nhất (7 năm) trên nhiều diễn đàn nhất (cấp Chính phủ - 6 vòng, cấp chuyên viên - 16 vòng,...) với kết quả là ký Hiệp ước ngày 30/12/1999.

Thành công có thể coi là lớn nhất của giai đoạn này chính là việc Việt Nam đã bảo vệ thành công lập trường của mình là: hai bên chấp nhận sử dụng các Công ước Pháp - Thanh làm cơ sở để xây dựng Hiệp ước hoạch định mới.

                 VĨNH KIỀU

Về đầu trang


Thông tin chi tiết việc phân giới, cắm mốc trên tuyến biên giới Việt - Trung

Trước sự quan tâm của dư luận về kết quả phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc tại các khu vực: Cửa khẩu Hữu Nghị, Thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân, vừa qua, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Dũng đã cung cấp thêm thông tin xung quanh việc phân giới cắm mốc tại các khu vực này.

Thứ trưởng Vũ Dũng nêu rõ, đây là những khu vực nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời và dư luận hai nước Việt Nam, Trung Quốc quan tâm. Các khu vực này đã được đưa ra bàn bạc trong nhiều vòng đàm phán của Ủy ban liên hiệp phân giới cắm mốc (UBLH PGCM) nhưng chưa giải quyết được.

Đến đầu năm 2008, hai bên đã nhất trí giải quyết tổng thể các khu vực tồn đọng trong đó có 3 khu vực này bằng giải pháp “cả gói” trên cơ sở các nguyên tắc: phù hợp với lời văn và bản đồ Hiệp ước 1999; giải quyết tất cả các khu vực trong một gói theo cùng một tiêu chí; công bằng hợp lý, hai bên đều có thể chấp nhận được; tôn trọng các dấu tích lịch sử và ưu tiên ổn định đời sống cư dân biên giới.

Về khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, Thứ trưởng Vũ Dũng nhấn mạnh: Đây là cửa khẩu lâu đời nhất trên tuyến biên giới Việt -Trung, đã được đề cập trong Đại Nam nhất thống chí, Vân Đài loại ngữ của nhà bác học Lê Quý Đôn và một số thơ văn của Nguyễn Du và Mạc Đĩnh Chi.

Tại khu vực này có 3 vị trí rất quan trọng liên quan đến đường biên giới, đó là Ải Nam Quan, các mốc cũ do Pháp và Nhà Thanh cắm cuối thế kỷ thứ 19 và điểm nối ray của tuyến đường sắt Đồng Đăng - Bằng Tường.

Về Ải Nam Quan, các sử sách ta còn lưu giữ đều khẳng định Ải Nam quan do các triều đại phong kiến Trung Quốc xây dựng và tồn tại cho đến ngày nay. Về các mốc Pháp – Thanh, mốc 19 vẫn còn tồn tại và nằm đúng vị trí cũ. Mốc 18 đối diện với mốc 19, do yếu tố thời gian, hai bên đều không thể xác định được. Về điểm nối ray, do có bị lệch về phía Việt Nam so với đường biên giới lịch sử, hai bên đồng ý điều chỉnh.

Kết quả giải quyết: Đường biên giới đi qua Km 0 rồi đến mốc 19 cũ và đến điểm cách điểm nối ray 148 mét về phía Bắc. Hiện nay ta đã cắm mốc 1116 và 1117 đối xứng với nhau qua quốc lộ 1A của Việt Nam, và mốc 1118 trùng vị trí mốc 19 (cũ). Như vậy, đường biên giới lịch sử tại khu vực này không những đã được tôn trọng mà còn được cụ thể hóa bằng một hệ thống cột mốc mới hiện đại.

Về khu vực Thác Bản Giốc, Thứ trưởng cho biết: Các bản đồ Pháp – Thanh đã khẳng định sông Quây Sơn là sông biên giới và Thác Bản Giốc là thác chung của Việt Nam và Trung Quốc.

Khi ký Hiệp ước 1999, hai bên chỉ chưa giải quyết được cồn Pò Thoong nằm trên thác, có diện tích khoảng 2,6 hécta. Theo luật pháp quốc tế và Hiệp ước 1999, tại khu vực này, đường biên giới đi theo trung tuyến dòng chảy chính. Về kỹ thuật, dòng chảy chính được xác định nằm ở phía Nam cồn Pò Thoong, cồn Pò Thoong quy thuộc Trung Quốc.

Qua nhiều vòng đàm phán, hai bên thỏa thuận giải quyết khu vực thác Bản Giốc kết hợp giải pháp chính trị và giải pháp kỹ thuật. Kết quả là: Đường biên giới đi từ mốc 53 (cũ) lên cồn Pò Thoong rồi đến điểm giữa của mặt thác chính. Như vậy, toàn bộ thác phụ và 1/2 thác chính quy thuộc Việt Nam. Hai bên cũng thoả thuận sẽ bàn bạc việc hợp tác phát triển tiềm năng du lịch tại thác Bản Giốc.

Khu vực cửa sông Bắc Luân kéo dài từ thượng lưu bãi Tục Lãm đến điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc Bộ, có độ dài khoảng 14 km. Khu vực này đã được Pháp - Thanh hoạch định và cắm mốc, nhưng vào thời điểm đó các cồn bãi Tục Lãm, Tài Xẹc, Dậu Gót đều chưa xuất hiện trên bản đồ hoạch định.

Khi ký Hiệp ước 1999, hai bên cũng chưa thống nhất được phương án giải quyết khu vực này. Vào ngày đàm phán cuối cùng 31/12/2008, hai bên thống nhất giải quyết khu vực cửa sông Bắc Luân bằng giải pháp chính trị: Đường biên giới đi lên bãi Tục Lãm, 3/4 bãi Tục Lãm thuộc Việt Nam, 1/4 bãi Tục Lãm thuộc Trung Quốc sau đó đi tiếp lên hòn Dậu Gót (1/3 hòn Dậu Gót thuộc Việt Nam 2/3 hòn Dậu Gót thuộc Trung Quốc) rồi đi đến điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc Bộ.

Thứ trưởng Vũ Dũng cho biết thêm: hai bên đã thỏa thuận không xây dựng công trình nhân tạo tại các khu vực này đồng thời nhất trí thiết lập khu vực đi lại tự do cho cư dân biên giới tại cửa sông.

Thứ trưởng khẳng định, như vậy, những kết quả trên hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc “cả gói” mà hai bên đã nhất trí. Đây cũng là kết quả của quá trình kiên trì đàm phán của hai Đoàn đại biểu PGCM dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo hai nước và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của nhân dân các địa phương biên giới.

                      Kim Lan

Về đầu trang


Mặt trận các cấp tỉnh Quảng Ngãi với việc bảo vệ an ninh biển đảo

Những năm qua, Mặt trận các cấp đã có sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng biên phòng tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhân dân vùng biển đảo; phát triển kinh tế- xã hội; xây dựng thế trận an ninh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân; tăng cường mối quan hệ "quân với dân như cá với nước".

Quảng Ngãi hiện có bờ biển dài hơn 130 km, gồm 25 xã biển, đảo của 6 huyện. Trong đó huyện đảo Lý Sơn là một trong những điểm tiền tiêu có vị trí quan trọng trong bảo vệ an ninh biên giới biển đảo. Những năm qua kết hợp với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", Mặt trận các cấp trong tỉnh đã phối hợp với Bộ đội Biên phòng đóng quân trên địa bàn tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhân dân; phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng thế trận toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững chắc, bảo vệ chủ quyền vùng biên giới an ninh biển đảo. Đến nay toàn tỉnh đã xây dựng hơn 1.000 tổ tàu thuyền tự quản ở các xã ven biển, hải đảo. Việc thành lập các tổ tự quản này đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng và các lực lượng hơn 20.000 nguồn tin có giá trị, để nắm chắc tình hình hoạt động của các đối tượng, đề ra các giải pháp xử lý ngăn chặn có hiệu quả, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền an ninh biên giới, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo nên những thuận lợi cho đầu tư phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở khu vực biển đảo của tỉnh.

Một trong những nét nổi bật trong công tác phối hợp của 2 tổ chức này là lực lượng biên phòng luôn sát cánh với dân, giúp dân phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi khi có thiên tai bão lụt thì hình ảnh anh Bộ đội mang quân hàm xanh lại rõ nét hơn, càng thắt chặt thêm tình quân- dân. Đó là các chiến sĩ Biên phòng không ngại gian khó, đưa dân sơ tán ra khỏi vùng nguy hiểm, giúp dân khắc phục thiệt hại do thiên tai gây ra... Bộ đội Biên phòng đã đóng góp hàng ngàn ngày công để giúp dân làm đường giao thông nông thôn, nạo vét kênh mương, luồng lạch cho tàu thuyền ra vào dễ dàng…

Phổ Thạnh (Đức Phổ) là một trong những xã ven biển điển hình trong việc thực hiện bảo vệ an ninh biển đảo. Có được kết quả này là nhờ cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể ở địa phương phối hợp chặt chẽ với lực lượng Biên phòng. Trong đó vai trò của Mặt trận được phát huy. Xã Phổ Thạnh hiện có gần 700 tàu thuyền, hơn 65% sống nghề biển. Đến nay, toàn xã thành lập 54 tổ tàu thuyền tự quản cung cấp nhiều nguồn tin có liên quan đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, giúp lực lượng biên phòng và công an điều tra triệt phá nhiều vụ án nghiêm trọng. Mặt trận và các đoàn thể ở xã Phổ Thạnh đã vận động 8 đối tượng có lệnh truy nã ra đầu thú. Ngoài ra, Mặt trận còn xây dựng 9 tổ hòa giải, 1 CLB trợ giúp pháp lý. Ông Nguyễn Kỳ - Chủ tịch UBND xã Phổ Thạnh cho biết, đối với địa phương luôn kết hợp chặt chẽ với Đồn Biên phòng 304 trong công tác bảo vệ an ninh biển đảo và xây dựng phát triển kinh tế -xã hội.

Có thể nói, những năm qua bằng nhiều hình thức, biện pháp, Mặt trận các cấp đã phối hợp với địa phương và các lực lượng tích cực tuyên truyền vận động nhằm nâng cao nhận thức của người dân, nhất là nhân dân khu vực vùng biển đảo về chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao nhận thức của nhân dân về quốc gia, biên giới về chủ quyền lãnh thổ. Từ đó, quần chúng tích cực tham gia cùng Bộ đội Biên phòng bảo vệ chủ quyền biển đảo; đã huy động được sức mạnh tổng hợp của các sở, ngành, đoàn thể, đơn vị, địa phương có nhiều hành động thiết thực hướng về biên giới, hải đảo. Ngoài việc vận động nhân dân tích cực xây dựng biên giới biển đảo vững chắc, Mặt trận và lực lượng biên phòng còn vận động nhân dân thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; Bộ đội Biên phòng đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa gần 870 nhà đại đoàn kết trị giá hơn 3,3 tỷ đồng. Hàng năm, các Đồn biên phòng đã phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể tổ chức tốt “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc" ở các khu dân cư vùng biển đảo. Bộ đội Biên phòng cùng với Mặt trận tặng hàng trăm suất quà cho gia đình chính sách, các gia đình nghèo neo đơn, các học sinh nghèo vượt khó học giỏi và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục- thể thao; mở một số lớp xóa mù chữ cho đồng bào vùng biển đảo. Ông Hoàng Lưu - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh cho biết, trong thời gian đến Mặt trận các cấp sẽ phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Bộ đội biên phòng trong việc giữ gìn an ninh biên giới biển đảo; đồng thời tích cực huy động mọi nguồn lực để thực hiện phong trào "Mái ấm cho người nghèo biên giới".

(Theo Báo Quảng Ngãi)

Về đầu trang


Phát động Cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo Việt Nam”

Chiều 30/3, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo TW đã tổ chức họp báo về Cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo Việt Nam”.

Cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo Việt Nam” lần thứ nhất do Ban Tuyên giáo Trung ương  khởi xướng, với thành phần Ban tổ chức gồm Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ tư lệnh Biên phòng, Bộ tư lệnh hải quân, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Tài nguyên & Môi trường, Báo Quảng Ninh, Báo Bà Rịa – Vũng Tàu, Báo Tiền Phong, được chính thức phát động tại Hà Nội ngày 30 tháng 3 năm 2009.

Các ông Đào Duy Quát, Chuyên gia cao cấp Ban Tuyên giáo TW, Tổng biên tập Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng ban tổ chức; ông Nguyễn Văn Đức, Thứ trưởng thường trực Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng ông Trần Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao du lịch kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Phó trưởng ban thường trực; đông đảo các vị trong ban tổ chức, lãnh đạo các Bộ, ngành; đại diện hơn 60 cơ quan báo đài TW và địa phương cùng đông đảo khán thính giả quan tâm tới Cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo Việt Nam” đã đến dự.

Tại buổi họp báo, ông Đào Duy Quát cho biết: Cuộc thi nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền biển, đảo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của biển, đảo nước ta. Phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc. Cuộc thi góp phần đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện thắng lợi Nghị quyết TW4 (Khóa X) về Chiến lược biển, đảo Việt Nam tới năm 2020.Ban Tổ chức hy vọng thông qua cuộc thi này, đông đảo người dân Việt Nam có hiểu biết đầy đủ và toàn diện hơn về vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam; những kiến thức cơ bản phổ thông về Luật biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển đảo nước ta; về nhiệm vụ phát triển kinh tế biển; bảo vệ môi trường biển; kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng biển và hải đảo; các vấn đề xã hội biển đảo...

Theo thể lệ cuộc thi, người dự thi có thể thi trắc nghiệm trên mạng internet qua việc truy cập vào các trang web của các báo điện tử như Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, Tiền Phong, Quân đội nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, website Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đồng thời có thể vừa thi trắc nghiệm vừa tham gia thi viết với các thể loại báo chí trên các tờ báo bảo trợ thông tin cho cuộc thi (xem cụ thể ở Thể lệ cuộc thi).

Đối tượng dự thi bao gồm tất cả các thí sinh là người Việt Nam trong và ngoài nước, người nước ngoài, quan tâm tìm hiểu biển, đảo Việt Nam.

Về cơ cấu giải thưởng, có  giải thưởng hàng tuần cho những người dự thi trắc nghiệm (16 tuần) và  giải thưởng cho những người tham gia thi viết trao vào cuối cuộc thi. Mỗi hệ thống giải sẽ có 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 1 giải Ba mỗi tuần, với giá trị giải thưởng tương đương 1,5 triệu đồng, 1,0 triệu đồng, 0,5 triệu đồng, cho cuộc thi trắc nghiệm. Cuộc thi viết sẽ có 3 giải Nhất, 7 giải Nhì, 10 giải Ba và 20 giải Khuyến khích cho các tác phẩm dự thi. Giá trị: Giải Nhất: 7 triệu đồng, Giải Nhì: 5 triệu đồng, Giải Ba: 4 triệu đồng, Giải Khuyến khích: 2 triệu đồng.

Từ 8 giờ ngày 31 tháng 3, các trang web của các Báo điện tử như Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân.. sẽ có các câu hỏi của Cuộc thi tuần đầu tiên. Tiếp theo trên các báo in sẽ đăng tải thông báo về cuộc thi này và nhận bài viết gửi về.

Thời hạn nộp bài dự thi đến hết ngày: 1 tháng 8 năm 2009.

Thí sinh dự thi có thể gửi bài dự thi về bất cứ tòa soạn nào đồng tổ chức Cuộc thi,Các tòa soạn sẽ lựa chọn để đăng tải bài viết trên báo mình. Bài dự thi được đăng báo, tác giả sẽ được hưởng nhuận bút theo chế độ hiện hành.

Lễ trao giải cuộc thi sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào trung tuần tháng 8/2009 và được truyền hình trực tiếp trên VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam và trực tuyến trên Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chủ tịch Hội đồng giám khảo cuộc thi 2009 là PGS.TS Đào Duy Quát. Các thành viên Hội đồng giám khảo là các nhà quản lý, các chuyên gia đầu ngành của các Bộ, các Viện nghiên cứu, các nhà báo nổi tiếng, đại diện các cơ quan thông tin truyền thông tại Việt Nam.

Các thông tin về cuộc thi được đăng tải đầy đủ trên website chính thức của cuộc thi tại địa chỉ: www.dangcongsan.vn; www.vovnews.vn; www.vtv.vn;www.tienphong.com.vn;www.qdnd.vn;www.monre.gov.vn; www.cinet.gov.vn; www.mofa.gov.vn; www.baobariavungtau.com.vn; www.baoquangninh.com.vn; Liên hệ trực tiếp với Ban tổ chức thông qua số điện thoại: 091.48.68.456, số máy bàn: 080.48905 hoặc email: trongcpv2004@gmail.com hoặc email:banthukycpv@yahoo.com.vn (Bộ phận Thư ký Cuộc thi – Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam).

(Theo Báo ĐTĐCSVN)

Về đầu trang


Tổ chức “Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam”

Theo tinh thần Nghị định 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới (8/6), Tổng cục biển và hải đảo Việt Nam đã phối hợp với Vụ Thi đua Khen thưởng (Bộ Tài nguyên và Môi trường) xúc tiến việc tổ chức “Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam”.

Tuần lễ gồm nhiều hoạt động, sự kiện như Triển lãm ảnh “Vùng, bờ và cộng đồng ven biển”, Đêm giao lưu ca nhạc “Biển đảo quê hương”… Đặc biệt, buổi toạ đàm “Biển Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu” sẽ được tổ chức vào Ngày Đại dương Thế giới (08/6/2009) với sự tham gia của các nhà khoa học và đại diện một số địa phương có biển. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cũng có kế hoạch làm việc để nắm bắt tình hình và thúc đẩy quản lý tổng hợp về biển và hải đảo tại một số địa phương ven biển miền Bắc, miền Trung, miền Nam.

Bắt đầu từ năm 2009, “Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam” sẽ được tổ chức thường niên từ 01-08/6 hàng năm.

PL

Về đầu trang


Vai trò của biển, đảo đối với quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc

Các hải đảo và quần đảo đã tạo thành một bộ phận thống nhất của lãnh thổ Việt Nam có vai trò quan trọng trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260km. Diện tích biển thuộc chủ quyền, quyền tài phán quốc gia bao gồm: vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa gấp hơn 3 lần lãnh thổ trên đất liền với diện tích khoảng một triệu km2; có trên 3.000 hòn đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông; có 12 quần đảo. Các vùng biển, đảo nằm trên địa giới hành chính thuộc 28 tỉnh, 125 huyện ven biển, trong đó có 12 huyện đảo.

Chỉ tính riêng các hải đảo, quần đảo thì Việt Nam có hơn 1.656 km2, trong đó có 66 đảo thường xuyên có dân làm ăn sinh sống, với hơn 155.000 người.

Đảng, Nhà nước Việt Nam đã sớm quan tâm đến các vùng biển đảo và khẳng định phấn đấu “Trở thành một nước mạnh về biển là một mục tiêu chiến lược xuất phát từ các yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”.

Năm 1990- 1992 đã đề ra chương trình Biển Đông- Hải đảo; tiếp sau là các chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển, đấu tranh bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, về chương trình Biển Đông- Hải đảo đã mở rộng phạm vi đầu tư cho các ngành, các địa phương, các dự án trọng điểm nên đã đưa nhanh công trình vào sử dụng, đáp ứng những nhu cầu quan trọng, cấp bách.

Chúng ta đã chủ động xây dựng và từng bước hoàn thiện thế trận quốc phòng - an ninh trên biển. Thông qua nhiều biện pháp tổ chức giáo dục cho toàn dân về giá trị của biển, đảo trong quá trình thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược; thành lập “Ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông và Hải đảo”; triển khai chương trình Biển Đông- Hải đảo; ban hành 7 luật, 6 pháp lệnh, 2 bản tuyên bố, 19 nghị định và 6 quyết định liên quan đến quản lý và bảo vệ vùng biển, đảo Việt Nam.

Chúng ta cũng đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo thế đứng chân ổn định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra trên biển. Xây dựng hệ thống nhà ở, tường, kè chống xói lở trên các đảo thuộc quần đảo; đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cho xây dựng các công trình bảo đảm đời sống cho bộ đội và nhân dân huyện đảo Trường Sa.

Các lực lượng chuyên trách được xây dựng để từng bước thực hiện quản lý Nhà nước trên các vùng biển thông qua việc xây dựng các lực lượng và phương tiện để chỉ huy điều hành cứu hộ, cứu nạn trên biển như: hệ thống quan sát, trinh sát, cảnh giới từ xa, thông tin liên lạc hàng hải; thành lập đội tàu tuần tra biên phòng, kiểm ngư, hải quan; tổ chức xây dựng và trang bị cho lực lượng cảnh sát biển; xây dựng hệ thống đèn biển. Mới đây lại bổ nhiệm chức Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện đảo Trường Sa.

Nhà nước đầu tư hỗ trợ phát triển nghề đánh cá xa bờ. Với hàng trăm tỷ đồng của chương trình Biển Đông- Hải đảo và nguồn vốn phát triển của ngân hàng Châu Á (ADB) đã đầu tư xây dựng hàng chục công trình cảng và khu dịch vụ hậu cần nghề cá trên các đảo và một số điểm ven bờ, đóng mới nhiều tàu dịch vụ hậu cần nghề cá. Đã hỗ trợ nhiều tỷ đồng đầu tư cho các hoạt động tuyên truyền về chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc trên biển đảo; đấu tranh quốc phòng-an ninh, ngoại giao; nghiên cứu và điều tra cơ bản. Đã từng bước hoàn chỉnh bộ hồ sơ cơ bản về quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển...

Trình độ khoa học về biển, những vấn đề quân sự, quốc phòng - an ninh trên biển, nhất là về sức chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển của các lực lượng vũ trang trên biển và ven bờ sẽ được nâng lên. Sự hình thành hệ thống tổ chức Tiểu ban chuyên giải quyết những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh theo Nghị định 119/CP, sẽ từng bước hoàn thiện cơ chế bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển hoạt động có hiệu quả hơn.

Để phát huy hơn nữa vai trò kinh tế biển đối với tăng cường quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc chúng ta có thể và cần phải quân tâm hơn đến các giải pháp như: Điều chỉnh Chiến lược phát triển kinh tế biển kết hợp với tăng cường quốc phòng - an ninh trên biển phù hợp với tư duy mới về biển và đại dương; cụ thể hoá các nội dung chiến lược bằng quy hoạch, kế hoạch, các dự án và bằng pháp luật, chính sách phù hợp với tình hình thực tế. Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục quốc phòng - an ninh biển cho toàn dân, coi trọng bồi dưỡng các lực lượng trực tiếp hoạt động trên biển, đảo; nghiên cứu sâu hơn về chiến lược biển của các nước trong khu vực và thế giới để đề ra các chính sách phù hợp nhằm bảo vệ hữu hiệu chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Tích cực hoạt động ngoại giao để bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu quả của Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực. Tiếp tục xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng - an ninh, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh trên vùng biển, đảo; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm của của nhân dân trên vùng biển, đảo của Tổ quốc./.

Theo VOV

Về đầu trang


Hơn 2.000 gia đình nghèo biên giới, hải đảo có nhà Đại đoàn kết

Chiều 15-9, tại Hà Nội, Ban Tổ chức đợt vận động “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo” đã tổ chức hội nghị sơ kết sau ba tháng thực hiện giai đoạn II đợt vận động. 

Trong giai đoạn hai, đã có 35 doanh nghiệp đăng ký ủng hộ với số tiền hơn 3,5 tỷ đồng. Tại các địa phương, các cơ quan đơn vị Bộ đội biên phòng đã phối hợp với cơ quan mặt trận tổ quốc các cấp trích từ quỹ “Vì người nghèo” từ kinh phí của các chương trình, dự án và vận động các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân đăng ký ủng hộ được hơn 11 tỷ đồng; 54 tấn xi măng; 500 viên đá chẻ, 150 khối, cát sỏi.

Bước vào giai đoạn hai, bắt đầu từ tháng 6 đến giữa tháng 9, Bộ đội biên phòng cả nước đã khởi công xây dựng 652 căn nhà đại đoàn kết, đã hoàn thành và bàn giao cho nhân dân sử dụng 577 căn, ước tính trung bình 35 triệu đồng/căn (bao gồm cả các nguồn kinh phí, vật tư đóng góp và công sức của bộ đội, bà con thôn bản trị giá khoảng 20 tỷ đồng).

Cùng với làm nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, nhiều tỉnh đã đồng thời khởi công xây dựng các công trình dân sinh như phòng học, nhà bán trú dân nuôi cho học sinh, trạm xá quân dân y, đường liên thôi, cầu bê tông nhỏ, sân chơi cho thiếu nhi. Đến nay, Bộ đội biên phòng các tỉnh đã khởi công xây dựng 37 công trình dân sinh, trong đó đã có 18 công trình được đưa vào sử dụng, tổng trị giá lên tới gần 2,3 tỷ đồng.

Tính tới thời điểm này, tính cả đợt I, đã có 2.307 nhà đại đoàn kết với tổng trị giá lên tới hơn 81 tỷ đồng và 36 công trình dân sinh, trị giá hơn 5,2 tỷ đồng được hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Theo bà Hà Thị Liên, Uỷ viên thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam, Phó Ban chỉ đạo: Cứ tính trung bình một gia đình người nghèo có 5 nhân khẩu, thì đã có hơn 11 nghìn người nghèo nơi biên cương, hải đảo được che chở trong những ngôi nhà đại đoàn kết.

Bà Hà Thị Liên cũng đánh giá cao sự chỉ đạo sát sao và kịp thời của Ban chỉ đạo đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác cụ thể, biểu dương các đơn vị Bộ đội biên phòng các tỉnh đã có những chuyển biến tích cực về mặt nhận thức, do vậy, tiến độ xây dựng các công trình trong giai đoạn II nhanh hơn và chất lượng công trình tốt hơn.

Trung tướng Võ Trọng Việt, Chính uỷ Bộ đội biên phòng, Trưởng Ban chỉ đạo cho biết: Trong thời gian tới, các tỉnh, thành cần chủ động gắn cuộc “Vận động mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo” với các chương trình của Chính phủ như 176, 135, 30a đặc biết các tỉnh cần chủ động phối hợp với các đơn vị đã được Chính phủ giao hỗ trợ các huyện nghèo để triển khai xây dựng các công trình ở khu vực biên giới.

Trung tướng cũng đề nghị Uỷ Ban MTTQ Việt Nam chỉ đạo MTTQ các tỉnh, thành tiếp tục ưu tiên kinh phí từ quỹ “Vì người nghèo” triển khai cho biên giới, hải đảo.

Theo Báo Nhân Dân

Về đầu trang


 

 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết quả thực hiện Quy chế phối hợp giữa Chủ tịch Nước và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2008

Làm việc với Ðoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương  MTTQ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để ngăn chặn suy giảm kinh tế, phát triển bền vững

Hội nghị liên tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Các tổ chức, cá nhân, bà con việt kiều  ở trong và ngoài nước hãy tham gia tích cực ủng hộ "TẾT CHO NGƯỜI NGHÈO"

 


 Bế mạc Hội nghị
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam 
 lần thứ V (khóa VI)

 
Tiểu sử tóm tắt của ông Huỳnh Đảm
 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương 
MTTQ Việt Nam
 

Đ/c Vũ Trọng Kim Phó Chủ tịch kiêm
 Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

Khai mạc Hội nghị lần thứ sáu Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VI)

 
 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 
 
 
 
 
 
 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn