Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân

 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân

 

Tham dự Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư tại Đồng Nai, Chủ tịch Ủy ban TW MTTQ VN Phạm Thế Duyệt: Tăng cường đoàn kết để xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

 
 
 

    TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG


Tin hoạt động

  Văn bản hướng dẫn

Luật về bảo vệ Môi trường

Nghị định của Chính phủ số 175/CP ngày 18 tháng 10 năm 1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường

Nghị định của Chính phủ số 26/CP ngày 26 tháng 4 năm 1996 Quy định xử phạt vi phạm hành chính về Bảo vệ môi trường.

Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia 2001 -2010

Nghị định của Chính phủ số 121/2004/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2004, Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH  SỐ: 01 /2004/NQLT-MTTQ -BTNMT NGÀY 28 THÁNG 10 NĂM 2004 GIỮA  BAN THƯỜNG TRỰC UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM -BỘ TÀI NGUYÊN  VÀ MÔI TRƯỜNG VỀ VIỆC PHỐI HỢP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA

Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nghị định của Chính phủ số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 Về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường


CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

QUỐC GIA 2001 - 2010

MỞ ÐẦU

Tình hình kinh tế xã hội nước ta trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi thực hiện chính sách đổi mới, đã có những bước phát triển đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7%, cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chúng ta cũng đã thu được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực sức khoẻ, giáo dục, văn hoá và tinh thần của toàn xã hội và đã thực hiện tương đối thành công chiến lược Bảo vệ môi trường 1991 - 2000. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, quá trình phát triển cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Môi trường đất, nước, không khí ở một số thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung và các khu đông dân cư đang bị suy thoái, ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học đang bị cạn kiệt, sự cố môi trường có chiều hướng gia tăng.

Cùng với việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội cho thời kỳ mới, chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia giai đoạn 20012010 cũng đã được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chuẩn bị.

Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia giai đoạn 2001-2010 đã được nghiên cứu trong nhiều năm, được sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều nhà quản lý, nghiên cứu, của hầu hết Bộ/ngành ở trung ương và nhiều ban ngành ở các địa phương.

Dự thảo Chiến lược cũng đã được hàng nghìn cán bộ, nhân dân thuộc đủ mọi lứa tuổi, thành phần, trình độ, nghề nghiệp tham gia lựa chọn mục tiêu, xác định các giải pháp thực hiện và các chương trình hành động ưu tiên. Nhiều nhà tài trợ và chuyên gia nước ngoài cũng đã tham gia tư vấn và hoàn thiện Chiến lược này.

Trong qúa trình chuẩn bị, nhiều nội dung quan trọng của dự thảo Chiến lược đã được sử dụng để đưa vào các văn kiện liên quan của Ðảng, Quốc hội, Chính phủ và vận dụng vào thực tế hoạt động của các ngành và địa phương.

CHƯƠNG I

THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ NHỮNG THÁCH THỨC

1. Ðánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000

Tháng 6 năm 1991, Chính phủ đã thông qua Kế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000. Ðây là văn bản có tính chiến lược đầu tiên đề cập đến tất cả các lĩnh vực môi trường và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước.

Kế hoạch này đã được các Bộ/ngành, các địa phương triển khai thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng. Nhiều chính sách, văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành như Luật Bảo vệ môi trường (1993), nghị định 175/CP về "hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường", nghị định 26/CP về "xử phạt hành chính các vi phạm về bảo vệ môi trường". Ðặc biệt năm 1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Ðảng đã ban hành Chỉ thị 36/CT-TW về "Tăng cường bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương và ở các Bộ/ngành đã được hình thành, ngày càng được tăng CƯỜNG VÀ ÐI VÀO HOẠT ÐỘNG NỀ NẾP. Ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể, tư nhân, doanh nghiệp và cộng đồng ngày càng được nâng cao. Nước ta đã có vai trò quan trọng trong hội nhập quốc tế về bảo vệ môi trường, tham gia hầu hết các công ước và hiệp định quốc tế về bảo vệ môi trường. Việc thực hiện tốt kế hoạch quốc gia đó đã góp phần ngăn chặn ô nhiễm, giảm bớt tình trạng suy thoái môi trường và sự cố môi trường.

Tuy đã đạt được nhiều kết quả nhưng một số nội dung của kế hoạch 1991-2000 vẫn chưa được làm hoặc làm chưa tốt, như vấn đề quy hoạch môi trường lồng ghép với phát triển tài nguyên; vấn đề chiến lược phát triển bền vững cấp ngành; vấn đề giáo dục và đào tạo, nâng cao nhận thức môi trường; vấn đề quy hoạch phát triển đô thị; vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực; vấn đề quy hoạch quản lý tổng thể vùng ven biển; vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học; v.v... Hệ thống tổ chức quản lý môi trường còn nhỏ bé, không tương xứng với nhiệm vụ, đầu tư cho bảo vệ môi trường còn quá hạn chế, và giàn trải, v.v...Những yếu kém này là những nguyên nhân góp phần làm cho môi trường nước ta tiếp tục xuống cấp, đặt ra những thách thức nghiêm trọng cho giai đoạn tới.

2. Môi trường tiếp tục xuống cấp

  • Suy thoái rừng:

Mặc dù trong những năm gần đây, tỷ lệ che phủ rừng ở nước ta đã đạt mức khoảng 30% diện tích tự nhiên, chiều hướng diễn biến rừng vẫn ở tình trạng suy thoái so với hơn nửa thế kỷ trước, chất lượng rừng giảm sút.

Rừng ngập mặn, đầm phá đã bị khai thác quá mức, việc sử dụng rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản trên quy mô lớn làm diện tích rừng này ngày càng bị thu hẹp.

  • Ða dạng sinh học trên đất liền và dưới biển bị suy giảm:

Ðịa bàn cư trú của các loài động thực vật hoang dã bị thu hẹp và chia cắt. Nhiều loại động vật quý hiếm bị săn bắt. Nhiều loài đã có nguy cơ bị tuyệt chủng. Nguồn gen quý hiếm bị suy giảm.

  • Suy giảm chất lượng nguồn nước:

Nước thải sinh hoạt thành phố, đô thị, các khu công nghiệp xả trực tiếp vào kênh, mương, sông, hồ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước ở một số nơi như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Việt Trì, Biên Hoà. Chất lượng nước một số khu vực các sông Sài Gòn, Cửu Long, Thị Vải, Ðồng Nai, Cầu đã bị suy giảm, nhiều chỉ tiêu như chất hữu cơ, BOD5,COD, NH4,N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép, nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất ở nhiều vùng ngày càng trầm trọng. Nguy cơ thiếu nước vào những thập kỷ tới có khả năng xảy ra.

Nước biển ven bờ đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm. Hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh, hoá chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt tiêu chuẩn cho phép 2-5 lần. Hàm lượng dầu ở một số vùng biển vượt quá tiêu chuẩn và đang có xu hướng tăng dần.

Nước ngầm đang bị cạn kiệt dần về lượng, bị ô nhiễm và suy giảm về chất. Mấy năm gần đây đã xảy ra suy giảm mức nước ngầm vào mùa hè ở Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. 

  • Ô nhiễm môi trường đô thị và khu công nghiệp:

Hiện nay nước ta có 623 thành phố, thị xã, thị trấn, trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trung ương, 82 thành phố, thị xã thuộc tỉnh. Tỷ lệ dân đô thị trên tổng dân số năm 1986 là 19%; năm 1990 là 20%; năm 1999 là 23%; dự báo đến năm 2010 là 33% và năm 2020 là 45%.

Môi trường ở nhiều đô thị ở nước ta bị ô nhiễm do chất thải rắn và chất thải lỏng chưa được thu gom và xử lý theo đúng quy định. Trong khi đó, khí thải, tiếng ồn, bụi... của nguồn giao thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạ tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng đáng báo động. Ðặc biệt hệ thống cấp thoát nước lạc hậu, xuống cấp không đáp ứng được yêu cầu. Mức ô nhiễm không khí về bụi và các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, đặc biệt tại một số thành phố lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép 2-5 lần.

Môi trường các khu công nghiệp, đặc biệt ở các khu công nghiệp cũ, các ngành hoá chất, luyện kim, xi măng, chế biến đang bị ô nhiễm do các chất thải rắn, nước thải, khí thải và các chất thải độc hại chưa được xử lý theo đúng quy định. Các cơ sở công nghiệp do trong nước đầu tư chủ yếu có quy mô nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu (chỉ có 20% xí nghiệp cũ đã đổi mới công nghệ). Khoảng 90% cơ sở sản xuất cũ chưa có thiết bị xử lý nước thải.

Hiện nay đã hình thành gần 100 khu công nghiệp, khu chế xuất, công nghệ cao, nhưng chỉ khoảng 1/3 trong số đó đã xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và rất ít khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

  • Suy thoái môi trường nông thôn:

Môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém. Việc sử dụng không hợp lý các loại hoá chất nông nghiệp cũng gây ô nhiễm môi trường nông thôn.

Việc phát triển tiểu thủ công, làng nghề và công nghiệp chế biến ở một số vùng do công nghệ sản xuất lạc hậu, qui mô sản xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong dân và hầu như không có thiết bị thu gom, xử lý chất thải, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Nước sinh hoạt và vệ sinh là vấn đề cấp bách, điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải thiện đáng kể, tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28%-30% và 30% đến 40% số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh.

  • Ô nhiễm môi trường lao động:

Tại nhiều khu vực sản xuất không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp. Tình trạng ô nhiễm về bụi, hoá chất độc hại, tiếng ồn, nhiệt độ đã làm gia tăng tỷ lệ công nhân mắc bệnh nghề nghiệp, nhất là trong các ngành hoá chất, luyện kim, vật liệu xây dựng, khai thác mỏ v.v...

  • Sự cố môi trường:

Tai biến thiên nhiên gần đây có xu hướng gia tăng, hiện tượng lũ quét trên các lưu vực sông nhỏ, lũ trên các sông lớn, bão, lốc, mưa đá, mưa axit, hạn hán kếo dài, nứt đất, xói lở bờ sông ven biển trong thập niên vừa qua đã gây thiệt hại to lớn về người, nhà cửa, tài sản, mùa màng ở nhiều nơi.

Trong những năm qua sự cố tràn dầu vẫn xảy ra nhiều và gây thiệt hại lớn. Từ năm 1994 -1998 đã xác định được đối tượng gây ra 34 vụ với số lượng dầu tràn trên 4000 tấn.

Hậu quả của chất độc hoá học do chiến tranh để lại còn nặng nề, hàng vạn trẻ em bị dị tật bẩm sinh, hàng triệu héc ta rừng bị suy thoái.

Ngộ độc thực phẩm có chiều hướng ngày càng gia tăng và gây hậu quả nghiêm trọng cho hàng vạn người.

             3. Tác động của môi trường toàn cầu

Môi trường là vấn đề có tính liên ngành, liên vùng và toàn cầu. Vì vậy, môi trường nước ta cũng chịu tác động bởi môi trường toàn cầu và môi trường xuyên biên giới với các quốc gia láng giềng. Những tác động chính dưới đây cũng là những thách thức cần được quan tâm giải quyết.

a) Vấn đề môi trường của các lưu vực sông Cửu long và sông Hồng

Châu thổ sông Cửu Long là hạ lưu của 5 nước khác. Châu thổ Cửu Long tạo ra 40% yêu cầu lương thực của nước ta, cho nên bất kỳ một hoạt động nào trên thượng lưu, đều tác động trực tiếp đến môi trường và tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Sông Hồng là con sông chung với Trung Quốc và những hoạt động thượng nguồn của sông Hồng đều có các mối liên can với vùng đông dân nhất của nước ta.

b) Vấn đề bảo vệ môi trường của các vùng rừng xuyên biên giới

Các cánh rừng cũng là những hệ thống cùng chia sẻ chung và các tài nguyên đa dạng sinh học quan trọng cần được bảo vệ vì quyền lợi chung. Khai thác gỗ bất hợp pháp, buôn bán săn bắt động vật hoang dã trong các vùng có chung biên giới Trung Quốc, Lào và Campuchia, đang gây ra huỷ hoại môi trường có ý nghĩa quan trọng toàn cầu.

c) Vấn đề mưa a-xít

Mưa a-xít là là do SO2 và NOx do các ngành công nghiệp thải ra không khí, sau đó kết hợp với nước, tạo thành các a-xít sulfuric và nitric. A-xít theo nước mưa, tuyết, sương, rơi trở lại mặt đất. Mưa a-xít có thể tạo ra ô nhiễm xuyên biên giới, khi di chuyển cùng gió và mây từ vùng này sang vùng khác. Những báo cáo của mạng lưới quan trắc quốc gia cho thấy, mưa a-xít từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên. Các hậu quả tiềm tàng của mưa a-xít bao gồm phá huỷ cây trồng, rừng và làm giảm sản lượng nông nghiệp, ô nhiễm các dòng sông, các hồ ảnh hưởng đến nuôi trồng thuỷ sản và các sinh vật khác, phá huỷ các công trình kiến trúc.

d) Ô nhiễm tầng khí quyển và hiệu ứng nhà kính

Khí thải công nghiệp, khí thải của các phương tiện giao thông có động cơ, khí thoát ra từ các qúa trình sinh học đã là các nguồn chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không khí. Hàm lượng ngày càng tăng của các loại khí CO2, CH4, ... là loại khí thải do các ngành công nghiệp có sử dụng nhiên liệu hoá thạch thải ra đã gây hiệu ứng nhà kính với hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả đó được thể hiện ở hai dạng:

- Sự thay đổi khí hậu của quả đất dẫn đến sự mất cân bằng của hệ sinh thái đã có ở đây.

- Mực nước biển dâng cao. Theo dự báo, đến giữa thế kỉ 21 nhiệt độ không khí bình quân trên trái đất sẽ tăng thêm từ 1,5 - 4,5oC và mực nước biển trên toàn cầu sẽ dâng cao thêm từ 0,25 - 1,4m.

Ðồng thời, Hiện tượng El-nino, La- nina làm gia tăng mưa bão và hạn hán nghiêm trọng cho một số vùng trên thế giới.

e) Ô nhiễm biển và đại dương

Ước tính đến năm 2000, tổng lượng chất phóng xạ có trong đại dương sẽ tăng nhiều lần so với năm 1970, trong đó các chất thoát biến và chất phóng xạ sẽ tăng lên 100 lần, chất triti (hidro siêu nặng) sẽ tăng 1000 lần.

Lượng dầu do đắm tàu, rò rỉ trong vận chuyển và phun ra từ giếng khai thác vào các đại dương từ 5 - 10 triệu tấn/năm, số dầu do các xí nghiệp công nghiệp thải từ 3 - 5 triệu tấn.

Các hợp chất hữu cơ, kim loại nặng, các nguồn chất thải từ đất liền đã gây ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.

Biển Ðông cũng đang nằm trong tình trạng chung như các đại dương và biển khác.

 g) Thủng tầng ôzôn

Sự phá hoại tầng ôzon là nguy hại rất lớn đối với con người và thiên nhiên.

Nguyên nhân của sự phá hoại tầng ôdôn là do sự sử dụng và thải chất CFC, ngoài ra còn do các hợp chất oxy nitơ được tạo ra trong khí thải của máy bay phản lực cỡ lớn và của các loại máy bay khi bay vào tầng cao làm phân giải khí ôzon. Theo dự báo đến năm 2000 các máy bay cỡ lớn bay ở tầng bình lưu sẽ tiêu hao hàng chục vạn tấn xăng dầu chúng sẽ thải ra một lượng lớn oxit nitơ, có thể phá hoại 10% khí ôzon.

h) Chuyển dịch ô nhiễm

Theo tài liệu về qui hoạch môi trường của LHQ, mỗi năm toàn cầu có 500 triệu tấn rác thải nguy hại, trong đó có 98% là của các nước phát triển. Việc một số nước phát triển chuyển dịch công nghệ lạc hậu và các chất thải dưới nhiều hình thức khác nhau sang các nước đang phát triển là một thực tế cần được chú trọng.

            4. Những thách thức đối với môi trường Việt Nam

Hiện trạng môi trường tiếp tục xuống cấp và các vấn đề môi trường toàn cầu vừa nêu là những thách thức nghiêm trọng đối với môi trường Việt Nam trong thời gian tới, đồng thời cũng có những thách thức khác nữa.

- Phát triển kinh tế - xã hội: Theo dự kiến, tốc độ tăng trưởng GDP phải đạt xấp xỉ 7%/năm và được duy trì liên tục đến 2010. Theo tính toán của các chuyên gia nước ngoài, nếu GDP tăng gấp đôi thì nguy cơ ô nhiễm tăng gấp 3 đến 5 lần.

Từ các mục tiêu của kịch bản tăng trưởng kinh tế nêu trên có thể thấy nếu như trình độ công nghệ sản xuất, cơ cấu sản xuất và trình độ quản lý sản xuất, quản lý môi trường không được cải tiến thì sự tăng trưởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài nguyên, năng lượng, dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sự gia tăng các loại chất thải gây sức ép lên môi trường. Tình trạng tài nguyên thiên bị cạn kiệt, chất lượng môi trường bị xuống cấp cũng chính là những thách thức đặt ra đối với phát triển kinh tế- xã hôi.

- Sự tăng dân số và di dân tự do: Những thách thức về nhân khẩu của nước ta là rất nghiêm trọng đối với tất cả các vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Tăng dân số vẫn ở mức cao và di dân nội bộ từ các khu vực nghèo tài nguyên thiên nhiên và kinh tế kém phát triển vẫn đang tăng lên, không kiểm soát được. Trung bình trong 10 năm qua (1989 - 1999) tỷ lệ tăng trưởng dân số là 1,7%. Với mức tăng trưởng như vậy thì theo các dự báo đến năm 2020 số dân nước ta sẽ xấp xỉ 100 triệu người, tức là phải bảo đảm cuộc sống cho thêm gần 25 triệu người, tương ứng với một số dân nước ta trước năm 1945, trong khi tài nguyên đất, tài nguyên nước và các dạng tài nguyên khác có xu thế suy giảm, vấn đề nghèo đói ở các vùng sâu vùng xa chưa được giải quyết triệt để (hiện có 1750 xã ở diện đói nghèo). Tất cả những vấn đề trên là những thách thức nghiêm trọng, gây ra sức ép to lớn đối với cả tài nguyên và môi trường trên phạm vi toàn quốc.

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Quá trình này đòi hỏi các nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu ngày càng to lớn, kéo theo chất lượng môi trường sống ngày càng xấu đi, nếu không có biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu. Mặt khác quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hoá ở nhiều khu vực, vùng lãnh thổ chưa quán triệt đầy đủ hoặc quán triệt chưa đúng quan điểm phát triển bền vững, tức là chưa tính toán đầy đủ hoặc tính đúng các yếu tố môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội của nhiều ngành, địa phương.

- Nhận thức về môi trường và phát triển bền vững còn thấp: Kiến thức và nhận thức về môi trường và phát triển bền vững chưa được nâng cao cho các nhà ra quyết định, các nhà quản lý, các doanh nghiệp và cộng đồng.Còn tồn tại nhiều quan điểm cực đoan về môi trường.

- Du lịch, thương mại và môi trường: Trong nền kinh tế thị trường có tính đến các yếu tố môi trường và hòa nhập với du lịch, thương mại khu vực và toàn cầu, nhất thiết phải xem xét việc thay đổi mẫu hình tiêu thụ, phát triển các sản phẩm thân thiện môi trường, chuẩn bị cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải, năng lượng đồng thời với việc xem xét đồng bộ vấn đề môi trường xã hội, văn hoá, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Việc phát triển kinh tế phải đi liền bảo vệ môi trường, điều chỉnh dân số, xóa đói giảm nghèo trong tất cả các vũng lãnh thổ, các vùng sinh thái của đất nước. Ðâylà một thách thức nghiêm trọng đối với nước ta.

- Năng lực quản lý môi trường bị hạn chế: Hiện trạng về công tác quản lý môi trường đang có nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, hệ thống tổ chức quản lý hiện nay còn nhiều bất cập về nhân lực, nguồn lực và trang bị kỹ thuật và các cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các bộ/ ngành và địa phương; đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường còn quá ít và thiếu tập trung, hệ thống các chính sách, luật pháp còn chưa đồng bộ, thiếu tính hệ thống, các chính sách công cụ kinh tế trong quản lý môi trường còn ít được áp dụng.

Các chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường chưa được tiến hành rộng khắp, chưa phát huy được vai trò của các đoàn thể, các tổ chức chính trị và xã hội, cũng như các phong trào quần chúng tham gia công tác bảo vệ môi trường.

Các kiến thức phổ cập về môi trường chưa được đưa vào hệ thống giáo dục ở các cấp học, bậc học.

Các thông tin về môi trường, về chính sách, pháp luật chưa được cung cấp và phổ biến thường xuyên đến cộng đồng.

- Mẫu hình tiêu thụ: Phát triển kinh tế đang đem lại mức tăng thu nhập, mức tăng này sẽ làm tăng mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ xa xỉ, đồng thời cũng làm tăng thêm lượng chất thải lên môi trường. Mẫu hình tiêu thụ này là không phù hợp, thói quen này sẽ tác động nghiêm trọng lên môi trường, đòi hỏi phải có sự thay đổi từ nhận thức đến hành động thực tế.

Nhằm giải quyết các thách thức nêu trên, cần khai thác triệt để các thuận lợi sau:

Ðứng trước những diễn biến xấu của môi trường toàn cầu, cộng đồng quốc tế và khu vực đều cam kết phối hợp nỗ lực nhằm cải thiện môi trường vì mục tiêu phát triển bên vững cho cả thế hệ hiện nay và các thế hệ sau này; cam kết hỗ trợ các nước chậm phát triển giải quyết các vấn đề môi trường sinh thái. Ðặc biệt, các tổ chức tài chính thế giới cũng khuyến khích các dự án đầu tư theo hướng thân môi trường. Nếu có định hướng đúng và sớm tăng cường năng lực tiếp thu thì nước ta có thể tranh thủ được các nguồn tài trợ quốc tế để giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc và bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia.

Chúng ta có thể rút ra những bài học quý giá, cả thành công lẫn không thành công, của các nước khác để có thể lựa chọn lộ trình thích hợp nhất cho quá trình phát triển của mình, để sao cho vừa đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà không phải trả giá cao về môi trường. So với nhiều nước, nước ta vẫn còn có những lợi thế nhất định về môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Nếu các nguồn tài nguyên đó được sử dụng chuẩn mực và được bảo vệ đúng quy cách, thì các nguồn tài nguyên này sẽ trở thành một lợi thế trong cạnh tranh quốc tế, kể cả trước mắt lẫn lâu dài. Cho dù các kỹ năng quản lý môi trường của nước ta còn bị hạn chế, nhưng những kinh nghiệm tích luỹ trong những năm gần đây sẽ giúp chúng ta có khả năng xác định các định hướng và lựa chọn đúng đắn hướng phát triển của mình trong thập kỷ tới đây.

  

CHƯƠNG II

Quan điểm, mục tiêu và các nội dung cơ bản

của chiến lược

  1. Các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo.

Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị đã đưa ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản, thể hiện đường lối, chủ trương về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta: "Coi công tác bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân; là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".

Chính phủ cũng đã cam kết vận dụng các nguyên tắc và nội dung cơ bản của Chương trình Nghị sự 21 vào điều kiện cụ thể của nước ta: "Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững".

Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Ðảng và cam kết của Chính phủ, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001 - 2010 phải được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

  • Mục tiêu và nội dung của chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia không tách rời mục tiêu và nội dung của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, mà nó phải là một bộ phận cấu thành của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, được xây dựng theo hướng phát triển bền vững.

  • Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia phải dựa trên việc phân tích hiện trạng và dự báo xu thế biến động môi trường của đất nước, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ðồng thời chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia phải phù hợp với nguồn lực của quốc gia, được xây dựng trên cơ sở tiếp thu các bài học kinh nghiệm của các nước, thu hút được đầu tư của nước ngoài và là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các kế hoạch môi trường quốc gia trung hạn và ngắn hạn.

2. Các Mục tiêu chiến lược

  • Mục tiêu tổng quát :

  • Không ngừng bảo vệ và cải thiện môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khoẻ của nhân dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Mục tiêu chiến lược:

Tiếp tục phòng ngừa ô nhiễm, tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học, chú trọng sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường.

Các mục tiêu cụ thể :

- Phòng ngừa ô nhiễm:

Tăng cường khả năng về quản lý, đầu tư, pháp luật cưỡng chế và các giải pháp hỗ trợ phòng ngừa ô nhiễm môi trường nước, không khí, tiếng ồn, và chất thải rắn độc hại; nâng cao nhận thức và kiến thức, cung cấp đầy đủ thông tin về phòng ngừa ô nhiễm cho toàn cộng đồng.

Xây dựng quy hoạch phát triển bền vững cho các đô thị, khu công nghiệp, nông thôn, các vùng sinh thái.áp dụng các công nghệ sạch, công nghệ thích hợp trong sản xuất và xử lý ô nhiễm môi trường .

Ðảm bảo thực hiện được tiêu chuẩn về môi trường tiệm cận với tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trong khu vực.

- Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học:

Tăng cường khả năng về quản lý, đầu tư, pháp luật cưỡng chế và các giải pháp hỗ trợ để thực hiện bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững đa dạng sinh học của các hệ sinh thái: rừng, biển, trên cạn, dưới nước.

Bảo vệ, khôi phục và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có như tài nguyên đất, rừng, nước, khoáng sản, năng lượng và tài nguyên đa dạng sinh học, v.v... phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước.

Bảo tồn các vùng có hệ sinh thái đặc thù để duy trì cân bằng sinh thái, nâng tổng diện tích các khu bảo vệ đa dạng sinh học (công viên, vườn và khu bảo tồn quốc gia) lên khoảng 2% diện tích tự nhiên của cả nước.

- Cải thiện môi trường:

Tăng cường khả năng về quản lý, đầu tư, pháp luật cưỡng chế và các giải pháp hỗ trợ để tiến tới xử lý triệt để các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Tiến tới thu gom, xử lý về cơ bản chất thải rắn, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh viện và chất thải sinh hoạt ở các thành phố và khu dân cư đông đúc.

Tăng cường phục hồi và trồng mới rừng tiến tới đạt mức độ che phủ trên 40% diện tích cả nước vào năm 2010.

Hạn chế sử dụng các hoá chất độc hại như: phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, các chất bảo quản nông sản, thực phẩm, v.v....

Phấn đấu đến năm 2010 đảm bảo 90% dân số được dùng nước hợp vệ sinh và các hệ thống vệ sinh đạt tiêu chuẩn môi trường, xử lý về cơ bản các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái môi trường nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh để lại và do hoạt động sản xuất gây ra.

3. Các nội dung chủ yếu của chiến lược

a) Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước

Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với đời sống sản xuất và sinh hoạt của con người, để bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này, trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia giai đoạn 2001-2010 cần ban hành bổ sung các tiêu chuẩn và các quy định bảo vệ đối với các nguồn nước ngầm, nước mặt, các lưu vực, các đập chắn nước, đưa chất lượng nước ở các thuỷ vực lớn đạt tiêu chuẩn chất lượng nước đã ban hành, đảm bảo chất lượng nước biển tại khu vực ven biển cửa sông đạt tiêu chuẩn cho phép.

Phấn đấu đến năm 2005 cải tạo được khoảng 40% các dòng sông, hệ thống tiêu thoát nước, đặc biệt là các dòng sông đi qua các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp và đô thị. Cả nước cần tập trung xử lý triệt để 90% các nguồn gây ô nhiễm nước nghiêm trọng tại các khu công nghiệp, giải quyết được các vấn đề về nước đối với các khu vực hoang mạc hoá.

Tổ chức đánh giá và kiểm soát được chất lượng, trữ lượng nước ngầm, có kế hoạch khai thác và ban hành những quy định cụ thể về khai thác nguồn này.

b) Bảo vệ môi trường đất và sử dụng bền vững tài nguyên đất

Hoàn thiện chiến lược, quy hoạch và các văn bản pháp quy quản lý tài nguyên đất, bảo đảm việc quản lý và sử dụng đất trống có hiệu quả. Việc sử dụng các hệ sinh thái, và địa lý đặc thù phải dựa trên cơ sở cân bằng sinh thái và qui hoạch các khu bảo tồn.

Tăng cường các biện pháp quản lý, luật pháp và các biện pháp hỗ trợ để giải quyết hài hoà các mâu thuẫn trong sử dụng đất với bảo vệ môi trường, giữa khai thác khoáng sản với tài nguyên đất và các dạng tài nguyên khác.

c) Bảo tồn đa dạng sinh học

Các bộ, ngành và địa phương cần phối hợp tổ chức thực hiện tốt các nội dung kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học, đồng thời tiến hành các chương trình bảo vệ, tăng cường tài trợ, quản lý các vườn quốc gia, công viên biển, mở rộng các khu bảo vệ, phân cấp cho địa phương, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng quản lý những khu hệ bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp với năng lực của từng đơn vị.

Ðể bảo tồn đa dạng sinh học có hiệu quả cần nâng độ che phủ rừng lên 40% diện tích, trong đó khoảng 20-30% rừng đặc dụng(bảo vệ) và khoảng10- 20% rừng sản xuất. Phải coi tăng diện tích rừng như là một biện pháp hữu hiệu cân bằng sinh thái tự nhiên giữa các hệ sinh thái và chất lượng môi trường.

Bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng phải đồng bộ với việc bảo vệ các hệ sinh thái biển và xem đó là một nội dung quan trọng của chiến lược này.

d) Bảo vệ môi trường không khí

Với chức năng và nhiệm vụ của mình, từng đơn vị sản xuất, kinh doanh và các cơ quan quản lý phải kiểm soát chặt chẽ việc phát thải khí CO2, SO2,CO, ô nhiễm bụi do các hoạt động sản xuất công nghiệp, năng lượng, xây dựng, nông nghiệp, giao thông vận tải nhanh chóng tạo điều kiện thực hiện chính sách không sử dụng xăng pha chì để giảm bớt ô nhiễm không khí. Từng bước phấn đấu để bảo đảm môi trường không khí ở nước ta được trong lành theo các tiêu chuẩn tiếp cận mức trung bình của các nước ASEAN.

e) Bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp

Ðể duy trì chất lượng và cải thiện môi trường ở các đô thị và khu công nghiệp lâu dài, cần xây dựng và ban hành chiến lược, quy hoạch và thể chế hoá bằng các văn bản pháp quy: luật, nghị định, tiêu chuẩn, quy chế về quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại. Phấn đấu đến năm 2010 tất cả các thành phố loại I, loại II, các đô thị đông dân, khu công nghiệp phải có các bãi chôn lấp và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại theo đúng tiêu chuẩn. Thu gom và xử lý 90% chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp, thu gom và xử lý100% chất thải công nghiệp, chất thải bệnh viện và quản lý 100% chất thải độc hại. Ðảm bảo ít nhất 60% thành phố đạt tiêu chuẩn về quy hoạch không gian, cảnh quan sinh thái.

Cần có cơ chế chính sách và biện pháp đồng bộ để xử lý triệt để đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ....đang gây ô nhiễm nghiêm trọng về nước, không khí, và tiếng ồn.

Bằng nhiều biện pháp để xây dựng hoàn thành cơ bản cải tạo, cải thiện các hệ thống cấp nước, tiêu thoát nước, các cơ sở vệ sinh môi trường ở các thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố loại 2.

 

g) Bảo vệ môi trường nông thôn

Bảo vệ môi trường nông thôn không có nghĩa chỉ gìn giữ môi trường trong sạch trong vùng mà còn cần có nhiều biện pháp để ngăn chặn ô nhiễm có tính chất phòng ngừa đó là việc xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường gắn với an toàn thực phẩm, tiến tới hạn chế về cơ bản và thay thế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật độc hại.

Thực hiện chính sách kế hoạch hoá gia đình để tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đảm bảo không còn hộ đói nghèo ở nông thôn. Phấn đấu đến năm 2010 đảm bảo 90% số hộ ở nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh, thu gom và xử lý được 90% chất thải sinh hoạt và xử lý về cơ bản chất thải nguy hại, chất thải bệnh viện, các vùng nông thôn đều có cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn môi trường.

h) Bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo

Cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vấn đề bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia. Bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo bao gồm các nội dung và liên quan đến các lĩnh vực sau:

Chiến lược phát triển kinh tế biển phải được xây dựng theo quan điểm sử dụng tổng hợp, hợp lý đi đôi với bảo vệ tài nguyên và môi trường biển và ven bờ. Lĩnh vực này cần được các ngành khai thác dầu khí, giao thông vận tải, thuỷ sản, lâm nghiệp, du lịch, .... thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo vệ môi trường trong ngành và phối hợp với nhau cùng bảo vệ môi trường liên quan đến biển, ven biển và hải đảo.

Chiến lược thực hiện các công ước và hiệp định quốc tế và khu vực liên quan đến biển và đại dương và liên quan đến môi trường biển.

Chiến lược quản lý môi trường biển và ven biển với mục tiêu cơ bản là tiến hành thành công xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế một cách bền vững tại vùng duyên hải thông qua các hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường trong vùng.

Chiến lược quản lý môi trường biển và ven biển bao gồm phân vùng chức năng biển và ven biển, quản lý tổng hợp các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven biển, thành lập hệ thống các khu bảo tồn biển và ven biển, phát triển và cải thiện sinh kế cho những cộng đồng duyên hải, phòng ngừa và giảm thiểu tác hại của thiên tai ven biển, trước hết là bão, lụt, xói lở và nước dâng đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung và tăng cường năng lực quản lý môi trường biển và ven biển.

Thực hiện nội dung bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo là một nhiệm vụ cấp bách trong thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia.

i) Bảo vệ các vùng đất ngập nước

Ðất ngập nước là một hợp phần đặc biệt quan trọng của môi trường. Bảo vệ các vùng đất ngập nước về lâu dài là nhằm quản lý việc sử dụng có hiệu quả các vùng đất ngập nước, bảo vệ đa dạng sinh học trong vùng, đồng thời duy trì các chức năng sinh thái, chức năng kinh tế - xã hội của những vùng đất này.

Các hoạt động trước mắt nhằm bảo vệ môi trường trong vùng gồm:

  • Chấm dứt việc sử dụng đất ngập nước một cách không bền vững, chỉ chú trọng giá trị kinh tế, chuyển đổi mục đích sử dụng không hợp lý.

  • Bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học hiện còn của các vùng đất ngập nước.

  • Khôi phục các hệ sinh thái đất ngập nước ở các vùng nhạy cảm về môi trường.

  • áp dụng các hệ canh tác nông-lâm-ngư nghiệp bền vững, bảo đảm sự cân bằng giữa các chức năng sinh thái - kinh tế - xã hội của đất ngập nước.

j) Bảo vệ môi trường thiên nhiên và di sản văn hóa

Các di sản văn hoá, thiên nhiên của đất nước có vai trò đặc biệt đối với công tác bảo vệ môi trường do tính độc đáo, đặc thù, quí hiếm, có một không hai về các khía cạnh văn hoá và môi trường.

Nước ta có nhiều di sản văn hoá, thiên nhiên có tầm cỡ quốc tế và quốc gia trong đó có những di sản đã được thế giới công nhận (Huế, Hạ Long, Hội An, Mỹ Sơn) hoặc chuẩn bị công nhận (Phong Nha-Kẻ Bàng, ....).

Cần phải coi việc gìn giữ, bảo vệ và tôn tạo môi trường văn hoá, tự nhiên cho di sản văn hoá, thiên nhiên của đất nước như một bộ phận quan trọng của Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia.

Bộ phận này của Chiến lược phải tính toán đầy đủ đến việc bảo vệ đồng bộ các loại môi trường văn hoá, nhân văn, lịch sử, sinh thái,... của từng di sản.

k) Sản xuất sạch hơn

Sản xuất sạch hơn là sự áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường đối với qui trình công nghệ, các sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra, bảo đảm sức khoẻ, an toàn và chất lượng môi trường.Ðể thực hiện sản xuất sạch hơn cần xây dựng một chương trình có tính chất quốc gia, ban hành các chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ sạch và tổ chức tiếp xúc trao đổi, thông tin về sản xuất sạch hơn giữa các nhà doanh nghiệp, các chuyên gia trong nước và Quốc tế về sản xuất sạch hơn và những người quản lý.

n) Bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế - xã hội vùng

Chiến lược bảo vệ môi trường tại các vùng và các lưu vực sông cần được lồng ghép với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế- xã hội có tính đặc thù của mỗi vùng. Nội dung lồng ghép chủ yếu là căn cứ vào hiện trạng môi trường vùng và những thách thức về môi trường trong tương lai chịu sự tác động của các hoạt động kinh tế trong vùng và các mục tiêu kinh tế - xã hội được đặt ra. Ðặc biệt chú trọng đến mối quan hệ tương tác về mặt môi trường với các vùng xung quanh (kể cả của nước ngoài nếu có); Năng lực giải quyết các vấn đề môi trường của vùng. Nhận thức của nhân dân trong vùng và các tập tục văn hoá-môi trường liên quan và nêu rõ các phương án tổ chức thực hiện chiến lược vùng.

m) Bảo vệ môi trường gắn với phát triển các ngành kinh tế

Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010 gắn với các ngành kinh tế được lựa chọn phù hợp với cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bao gồm các lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn; công nghiệp, kết cấu hạ tầng và dịch vụ và được lồng ghép hài hoà theo hướng "cùng phát triển".

Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn được xác định là một trọng điểm ưu tiên trong giai đoạn 2001-2010. Sự phát triển của lĩnh vực này sẽ làm thay đổi cơ cấu của nền kinh tế và sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến môi trường theo hướng tích cực. Chiến lược bảo vệ môi trường phải được lồng ghép trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các ngành này theo những nội dung chủ yếu sau:

  • Qui hoạch môi trường gắn với qui hoạch ổn định các vùng sản xuất lương thực, bảo đảm an ninh lương thực đồng thời bảo đảm gìn giữ môi trường. Ðổi mới cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, bảo vệ, khôi phục và phát triển tài nguyên rừng theo hướng là những tác nhân tích cực đối với hệ sinh thái. Xây dựng nông thôn mới gắn liền với chiến lược vệ sinh môi trường nông thôn nhằm nâng cao chất lượng sống và đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp theo hưóng tiên tiến hiện đại ít gây ô nhiễm môi trường.

  • Công nghiệp được phát triển theo hướng đa dạng hoá sản phẩm với kỹ thuật sản xuất tiên tiến hiện đại sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của ngành này, nhưng sẽ có 2 hướng tác động tích cực và tiêu cực đến môi trường. Ðể giảm thiểu tác động tiêu cực và đẩy mạnh lợi thế tác động tích cực, chiến lược bảo vệ môi trường cần gắn một số nội dung sau:

  • áp dụng công nghệ sản xuất sạch, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và qui hoạch ngành công nghiệp đồng bộ với qui hoạch môi trường, đặc biệt chú trọng các khâu khai thác, sử dụng nguyên nhiên liệu, xử lý chất thải công nghiệp.

Kết cấu hạ tầng là một lĩnh vực có nhiều tác động tích cực đến môi trường, mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy không hợp lý sẽ là tác nhân phá hủy hệ sinh thái hai bên đường, gây ô nhiễm môi trường nước mặt trên sông, biển và ô nhiễm tiếng ồn trong các khu đô thị, dân cư, .... Chiến lược môi trường cần được lồng ghép trong chiến lược kết cấu hạ tầng một số nội dung chủ yếu sau:

 

  • Qui hoạch mạng lưới giao thông đồng bộ với qui hoạch các vùng sinh thái, khu bảo tồn thiên nhiên (trên đất liền và dưới biển), xây dựng chính sách cung cấp nước sạch và xử lý nước thải và qui hoạch kết cấu hạ tầng ở các khu công nghiệp, dân cư, .... gắn với qui hoạch xử lý chất thải (rắn và lỏng).

Dịch vụ là loại hình phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, nhanh mang lại lợi nhuận cho nền kinh tế. Nhưng cũng chính vì lợi nhuận và sự "nhanh nhậy" của cơ chế thị trường là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nhanh nhất. Cần khai thác lợi thế trong ngành dịch vụ như: du lịch sinh thái, đổi mới phong tục tập quán văn hóa, lễ hội, .... theo hướng thân môi trường với những nội dung chủ yếu là:

  • Tôn tạo cảnh quan sinh thái gắn với lợi ích của ngành du lịch, xây dựng chính sách và qui chế dịch vụ, thương mại liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường và duy trì và khôi phục nếp sống văn hoá lành mạnh có lợi cho môi trường.

o) Nghiên cứu khoa học, công nghệ về môi trường

Cần tăng cường năng lực và đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu khoa học công nghệ về môi trường nhằm đặt nền móng vững chắc để phát triển ngành môi trường, phục vụ một cách có hiệu quả các vấn đề về môi trường, đảm bảo cho việc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta được bền vững.

Nghiên cứu khoa học công nghệ còn nhằm tạo cơ sở để đánh giá chính xác hiện trạng môi trường, đề xuất các giải pháp tối ưu để bảo vệ môi trường cũng như phục vụ việc hoạch định các chính sách quản lý môi trường, đồng thời áp dụng các công nghệ môi trường tiên tiến trong việc giải quyết các vấn đề ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường.

Ðể công tác nghiên cứu khoa học công nghệ về môi trường thực sự có hiệu quả cần xây dựng cơ sở nghiên cứu môi trường đủ khả năng đảm đương nhiệm vụ nghiên cứu môi trường tầm quốc gia, tiến hành các chương trình nghiên cứu các vấn đề bức xúc, trọng tâm, khuyến khích các nghiên cứu bảo vệ môi trường.

CHƯƠNG III

TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC

 Ðể đạt được các mục tiêu và nội dung của Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010, các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương và toàn cộng đồng tổ chức thực hiện tốt các giải pháp chính dưới đây:

            1. Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, một trong những biện pháp thực hiện tốt chiến lược là tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường cho mọi người dân, cộng đồng, các doanh nghiệp, các nhà ra quyết định, và các cán bộ của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Chú trọng đào tạo cán bộ cho cơ sở ở tỉnh, thành phố, quận, huyện và ở phường, xã có các kiến thức, nhận thức môi trường ở địa phương, đào tạo và phát triển đội ngũ chuyên gia môi trường phục vụ cho công tác quản lý nghiên cứu.

Tổ chức nâng cao nhận thức môi trường cho cộng đồng, tư nhân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội thông qua các biện pháp phổ biến kiến thức pháp luật, tuyên truyền, phổ cập hoá nhận thức môi trường theo các chương trình và thông tin môi trường như tivi, đài, báo hoặc mở lớp tập huấn vv...và các phương tiện khác; Xây dựng mạng lưới phổ biến, nâng cao, đổi mới nhận thức môi trường với sự tham gia của các đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ, các tuyên truyền viên môi trường, thí điểm chương trình cung cấp thông tin về môi trường cho cộng đồng; Thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, như tổ chức quần chúng tham gia các phong trào Xanh-Sạch-Ðẹp, VAC, VACR, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, gia đình văn hóa mới,.....dưới các hình thức phù hợp đối với mọi lứa tuổi, giới tính, dân tộc. Thông qua các phong trào để giáo dục các ý thức và đạo đức bảo vệ môi trường.

Tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh đề án đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân (Tất cả các cấp học, kể cả đại học và sau đại học).

            2.Tăng cường vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp, tư nhân trong bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Việc thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường đương nhiên đòi hỏi sự tham gia của cộng đồng, của các doanh nghiệp và tư nhân.

Các tổ chức cộng đồng ở cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội tham gia thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia 2001-2010 trong các kế hoạch, các chương trình và các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường.

Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hoá bảo vệ môi trường bằng luật pháp, các văn bản pháp lý, để huy động cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường các cấp, vào việc ra các quyết định liên quan của các cơ quan nhà nước; tổ chức quản lý môi trường địa phương lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào các phong trào hiện có, tổ chức truyền thống, giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng.

Các tư nhân, các doanh nghiệp thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường theo các qui định của pháp luật, các chính sách và kế hoạch của nhà nước như đầu tư cải thiện môi trường, tổ chức sản xuất sạch hơn để thực hiện hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp theo tiêu chuẩn 780/4001 hoà nhập vào thị trường thương mại trong khu vực và quốc tế. Nhà nước có chính sách tư nhân hoá dịch vụ môi trường.

3. Tăng cường và đa dạng hoá đầu tư bảo vệ môi trường

Ðầu tư là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện thành công chiến lược bảo vệ môi trường. Ðầu tư bảo vệ môi trường phải được thực hiện xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước và theo nguyên tắc:"người gây ô nhiễm phải đầu tư". Hình thức xã hội hoá và nguyên tắc đầu tư này phải được quán triệt sâu rộng trong tất cả các cấp lãnh đạo của Ðảng, chính quyền và các nhà quản lý đến từng người dân sống trong cộng đồng.

Ðầu tư bảo vệ môi trường phải được đa dạng hoá về hình thức và nguồn vốn nhằm huy động được mọi nguồn lực trong xã hội. Hình thức đầu tư bao gồm đầu tư bằng trí lực, vật lực, ngày công lao động hữu ích và bằng tiền,..... Trong đó toàn xã hội tham gia đầu tư bảo vệ môi trường dưới mọi hình thức và chủ yếu đầu tư cho những chương trình, dự án,.... mang tính cộng đồng; các đơn vị sản xuất kinh doanh đầu tư cho việc phòng ngừa ô nhiễm, xử lý sự cố, cải tạo, bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý của đơn vị mình. Ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc đầu tư để bảo vệ môi trường có tính liên vùng, liên ngành và thực hiện các dự án quốc gia, quốc tế.

Nguồn vốn đầu tư bảo vệ môi trường được huy động từ ngân sách nhà nước, từ các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, từ nguồn viện trợ ODA, GEF và các tổ chức trong, ngoài nước và trong cộng đồng dân cư.

Mức đầu tư bảo vệ môi trường phải được tăng cường theo nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, trước mắt trong giai đoạn 2001-2005 hàng năm toàn xã hội cần đầu tư để bảo vệ môi trường không dưới 1% GDP, trong đó huy động khoảng 2% tổng chi ngân sách của nhà nước. Các doanh nghiệp được tính vốn đầu tư bảo vệ môi trường trong giá thành chi phí sản xuất để huy động từ 1-2% tổng chi phí của doanh nghiệp, ngoài ra cần huy động trong cộng đồng dân cư và từ các nguồn viện trợ khác để đầu tư bảo vệ môi trường dưới mọi hình thức khác nhau.

Nhà nước qui định mức kinh phí mà các doanh nghiệp phải đầu tư cho bảo vệ môi trường, xử lý chất thải và có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ thân thiện môi trường. Tranh thủ kinh phí từ các dự án Quốc tế song phương, đa phương cho bảo vệ môi trường.

Ban hành Nghị định về tăng cường và đa dạng các nguồn vốn bảo vệ môi trường, trong đó dự kiến hàng năm tăng dần tổng chi ngân sách cho hoạt động bảo vệ môi trường 10%, thành lập cơ chế tài chính như Quỹ Môi trường Quốc gia, địa phương, ngành và ngân hàng môi trường.

Thành lập Quỹ Môi trường Quốc gia để huy động các nguồn lực của Nhà nước, cộng đồng, của các tổ chức trong và ngoài nước và sự ủng hộ, tài trợ của các tổ chức quốc tế để tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc ưu tiên. Quỹ môi trường là cơ chế tài chính để giải quyết những vấn đề bất cập hiện nay về đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Quỹ hỗ trợ đầu tư cho việc phòng, chống, khắc phục suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường; hỗ trợ các dự án bảo vệ môi trường; hỗ trợ các dự án xử chất thải và đầu tư thay thế công nghệ sạch. Quỹ Môi trường là tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động trên phạm cả nước, hoạt động theo điều lệ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Quỹ môi trường được khai thác các nguồn kinh phí thu được từ việc áp dụng các công cụ kinh tế như thuế, phí, quota chất thải, đặt cọc ký cược môi trường, các công kinh tế này cần được nghiên cứu và triển khai một cách đồng bộ với các giải pháp: hỗ trợ, khuyến khích, tăng cường năng lực cưỡng chế, tăng cường trang thiết bị kỹ thuật kiểm tra giám sát, quan trắc môi trường, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn môi trường.

4. Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường

Phát triển bền vững trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thực hiện chương trình hành động của thế kỷ 21, thế kỷ của chuẩn mực về sinh thái nhân văn, của hội nhập khu vực và toàn cầu hoá trong thương mại với môi trường. ...đòi hỏi phải kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

Kiện toàn bộ máy tổ chức của hệ thống quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến địa phương, nâng cấp hệ thống cơ quan quản lý môi trường trung ương thành lập Tổng cục Môi trường, hoặc Bộ Môi trường và kiện toàn tổ chức quản lý môi trường ở các Bộ/ngành; kiện toàn tổ chức quản lý môi trường ở cấp tỉnh, thành phố, quận huyện và các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung, .v.v..

Tăng cưòng năng lực quản lý nhà nước về môi trường phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tổ chức như tăng cường nguồn lực về nhân lực về đầu tư cho các hoạt động quản lý môi trường; chú trọng đầu tư cho nghiên cứu chính sách và pháp luật, kiểm soát ô nhiễm và chất thải, thanh tra, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường, giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường, cũng như tăng cường các cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý Nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa phương.

Nghiên cứu thành lập một cơ chế quản lý liên ngành, có thể là một hội đồng quốc gia về phát triển bền vững để điều phối thực hiện các mục tiêu, nội dung các chương trình trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010 cũng như thực hiện chương trình hành động của thế kỷ 21 mà Việt Nam đã ký kết

5. Mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút sự tài trợ của quốc tế

Môi trường quốc gia liên quan đến môi trường xuyên biên giới khu vực và toàn cầu, vì vậy sự nghiệp bảo vệ môi trường của Việt nam cũng gắn với sự nghiệp bảo vệ môi trường trong khu vực và trên toàn thế giới thông qua việc thực hiện các Công ước quốc tế về môi trường, tham gia các chương trình, dự án đa phương hoặc song phương về bảo vệ môi trường.

Phải tổ chức kiểm soát chặt chẽ bằng các biện pháp luật pháp, hành chính nghiêm ngặt đi đôi với đối thoại, thương lượng trong việc vận dụng các thoả thuận, các công ước, luật pháp quốc tế và thu hút tài trợ quốc tế như thu hút sự trợ giúp của các nhà tài trợ, của nguồn ODA, của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), của các hợp tác quốc tế đa phương, song phương.Phải tăng cường cơ chế phối hợp thông qua việc thành lập Hội đồng các nhà tài trợ môi trường có thành viên là đại diện của các tổ chức Quốc tế như chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hành Thế giới (WB), Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN),...

Hàng năm cần tổ chức diễn đàn các nhà tài trợ, tiến hành các hoạt động trao đổi thông tin, thảo luận về các chủ đề có liên quan, các cơ chế hợp tác giữa các bên liên quan, giữa các nhà tài trợ và giữa chính phủ với các nhà tài trợ để phối hợp các nguồn viện trợ cho các chương trình, dự án hợp tác về môi trường.

Trên cơ sở chiến lược bảo vệ môi trường, cần xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn, xác định các mục tiêu và danh mục các chương trình, dự án ODA và dự án GEF để cân đối nguồn ngân sách quốc gia với hỗ trợ tài chính quốc tế. Ðể sử dụng các nguồn tài chính quốc tế đó có hiệu quả, cần thiết phải tăng cường năng lực các cơ quan đầu mối quốc gia, quốc tế về các chương trình, dự án thu hút từ nguồn tài trợ quốc tế, nhất là các dự án được tài trợ từ nguồn vốn ODA, GEF.

Ðối với nguồn vốn ODA cần nâng tỷ trọng viện trợ ODA cho môi trường lên 2 lần so với tổng vốn viện trợ, đồng thời điều chỉnh cơ cấu ODA cho môi trường, tập trung viện trợ nhiều hơn cho các dự án ưu tiên của chiến lược, tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý môi trường ở TW, bộ/ ngành và địa phương; Chú trọng khai thác nguồn ODA theo cơ chế của Nghị Ðịnh thư KYOTO trong lĩnh vực biến đổi khí hậu.

Cần nhiều biện pháp có hiệu quả nhằm tranh thủ tối đa các dự án GEF để hoà nhập các mục tiêu môi trường quốc gia với mục tiêu môi trường toàn cầu trong các lĩnh vực ưu tiên đã được lựa chọn. Ðể thu hút được nhiều dự án từ nguồn GEF, nhà nước đầu tư phát triển năng lực cho tổ chức GEF- Việt Nam, cơ quan điều phối quốc gia trong lĩnh vực huy động nguồn GEF ở nước ta.

            6. Kết hợp chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia với chiến lược phát triển kinh tế xã hội

Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010 là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và là cơ sở để xây dựng chiến lươc bảo vệ môi trường của các ngành, vùng và địa phương. Các chiến lược đó được thực hiện trong 2 giai đoạn 5 năm: 2001-2005 và 2006-2010.

Giai đoạn 2001-2005 tập trung vào việc kết hợp giữa chiến lược kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tất cả các ngành, lĩnh vực nhằm xác định khuôn khổ thích hợp để giám sát, báo cáo và có tính trách nhiệm. Các hoạt động và kế hoạch về bảo vệ môi trường sẽ được chuẩn bị để đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn chính trong quá trình này là xây dựng và thực hiện kế hoạch môi trường cho các vùng kinh tế và vùng đa dạng sinh học được ưu tiên. Các chương trình kiểm soát sự ô nhiễm môi trường, xây dựng năng lực và nâng cao kỹ năng quản lý môi trường.

Giai đoạn 2006-2010 tập trung thực hiện các dự án ngăn ngừa ô nhiễm môi trường. Trong giai đoạn này phải xử lý triệt để, đóng cửa hoặc di chuyển địa điểm các cở sở sản xuất đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, những cơ sở lạc hậu và không có khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường; Thực hiện các dự án cải thiện môi trường dự án nhằm khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường.

Các mục tiêu và nội dung của Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010 được kế hoạch hoá trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, các kế hoạch Ngành, địa phương và theo vùng kinh tế.

Bộ Kế hoạch và Ðầu tư và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường có trách nhiệm thiết lập nhóm công tác liên bộ để hoà nhập các kế hoạch hành động của Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm và 10 năm chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nhóm công tác này cần thực hiện ít nhất trong 2 năm, có nguồn ngân sách riêng cho hoạt động của nhóm, thành phần nhóm gồm các nhà kinh tế môi trường để giúp phân tích lợi ích chi phí của các chính sách phát triển chọn lọc.

             7. Lựa chọn hành động ưu tiên

Việc lựa chọn ưu tiên hành động trong tổ chức thực hiện luôn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công của chiến lược. Thông thường các ưu tiên hành động được lựa chọn theo nội dung, theo địa bàn và theo các mối quan hệ giữa chúng với thời gian.

Các chương trình hành động ưu tiên: được lựa chọn theo nội dung sau khi đã xác định các mục tiêu ưu tiên được trình bày trong phụ lục I. Mức độ ưu tiên cao nhất được giành cho 7 chương trình sau đây:

  • Xây dựng và thực hiện kế hoạch chủ đạo, toàn diện phát triển công nghiệp bền vững, bao gồm tất cả các giai đoạn sẻ dụng tài nguyên, sản xuất và quản lý chất thải.

  • Tiếp tục ban hành các tiêu chuẩn và quy định về bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững các nguồn nước mặt, các lưu vực, các đập chứa nước và nước ngầm.

  • Xây dựng chiến lược và kế hoạch quản lý khu chứa chất thải rắn, chất thải nguy hại và hệ thống xử lý hiệu quả cho tất cả các thành phố loại I và II, các khu đô thị có mật độ dân cư cao.

  • Nâng cấp hệ thống và tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý môi trường từ trung ương đến địa phương và tại các Bộ, ngành.

  • Ðưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm tất cả các cấp học và bậc học.

  • Phát huy các phong trào bảo vệ môi trường tại các tổ chức xã hội như thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, nông dân và các tổ chức tình nguyện khác.

  • Củng cố hệ thống quản lý và sử dụng bền vững Tài nguyên rừng thông qua các hình thức tham gia của cộng đồng.

Mức độ ưu tiên "trung bình" gồm 20 chương trình.

Và mức độ ưu tiên "thấp" gồm 82 chương trình còn lại.

Các địa bàn ưu tiên: Là các khu bảo tồn, các vườn quốc gia cả trên đất liền và trên biển đã đư công nhận hoặc đang được đề nghị Chính phủ công nhận, các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các khu vực hoặc vùng đã bị nhiễm độc hoặc đang bị ô nhiễm trầm trọng. Các địa bàn ưu tiên này được trình bày trong phụ lục II

Ưu tiên theo thời gian: Các chương trình hành động ưu tiên loại "cao" và "trung bình", các hoạt động bảo tồn, phục hồi và cải thiện ở các địa bàn ưu tiên sẽ được thực hiện trong cả 2 kỳ kế hoạch 5 năm: 2001-2005 và 2006-2010.

8. Trách nhiệm và các cơ quan thực hiện

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng chính phủ, Bộ KHCN&MT phối hợp cùng với các bộ, ngành và các địa phương tổ chức thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia.

Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, theo chức năng và nhiệm vụ chịu trách nhiệm lập kế hoạch, lồng ghép nội dung của chiến lược bảo vệ môi trường trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010, trong các kế hoạch năm kế hoạch 5 năm và 10 năm của đất nước..Bộ Kế hoạch và Ðầu tư và Bộ Tài chính có trách nhiệm trong việc phân bổ và tìm nguồn tài chính cần thiết để thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia cũng như thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường của các Bộ, ngành và địa phương.

Bộ Kế hoạch và Ðầu tư và Bộ Tài chính sẽ đưa ra các chính sách nhằm khuyến khích các cơ sở sản xuất, cá nhân, các tổ chức đầu tư cho lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường giai đoạn 2001-2010, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Kế hoạch và Ðầu tư phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ ngành và địa phương cụ thể hoá các kế hoạch hành động ở các bộ ngành, địa phương để thực hiện kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường trong từng giai đoạn.

9. Giám sát và đánh giá việc thực hiện chiến lược

Hàng năm và mỗi năm, Bộ KH& ÐT và Bộ KH,CN&MT cùng với Bộ Tài chính và các bộ, ngành và địa phương xem xét và đánh giá việc thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010. Mỗi bộ phận chương trình chình sẽ được giám sát và đánh giá theo các mục tiêu đã đề ra.

Từng Bộ, ngành và địa phương phải trình bản báo cáo đánh giá tiến độ thực hiện lên Thủ tướng chính phủ. Nếu như Hội đồng quốc gia phát triển bền vững được thành lập, Hội đồng sẽ điều phối quá trình giám sát và đánh giá sau đó trình báo cáo đánh giá tổng thể lên Thủ tướng Chính phủ. Bản đánh giá này có những kiến nghị điều chỉnh và bổ sung kế hoạch thực hiện bảo vệ môi trường quốc gia.

Về đầu trang


NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ : 121/2004/NĐ-CP, NGÀY 12  THÁNG  5  NĂM 2004  QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH  TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

______

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 27 tháng 12 năm 1993;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

 NGHỊ ĐỊNH :

Chương I

Những quy định chung

 Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

 1. Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả.

 2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là những hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định này phải bị xử lý vi phạm hành chính.

 3. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quy định tại Nghị định này bao gồm:

 a) Vi phạm các quy định về thực hiện đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, báo cáo đánh giá  tác  động  môi  trường  và  các  quy  định  khác  về  bảo vệ môi trường;

 b) Vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường.

 4. Những hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường quy định tại các nghị định khác của Chính phủ (sau đây gọi là các Nghị định có liên quan) được áp dụng các quy định tại các Nghị định đó.

 Điều 2. Đối tượng bị xử phạt

 1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đều bị xử phạt theo các quy định tại Nghị định này và các nghị định có liên quan.

 2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều bị xử phạt như cá nhân, tổ chức Việt Nam theo các quy định tại Nghị định này và các nghị định có liên quan, trừ trường hợp các Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

 3. Cá nhân là người chưa thành niên có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì bị xử phạt theo các quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 Điều 3. Nguyên tắc xử phạt

 1. Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải được phát hiện, xử phạt kịp thời và bị đình chỉ ngay.

 Việc xử phạt phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả về môi trường do hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.

 2. Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường khi thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này và các nghị định khác của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính có liên quan đến môi trường.

 3. Một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính một lần.

 Một người, một tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.

 Nhiều người, nhiều tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì mỗi người, mỗi tổ chức vi phạm đều bị xử phạt.

4. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp.

5. Không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính của cá nhân trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác đã làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng tự điều khiển hành vi.

 Điều 4. Tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng

Các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng áp dụng trong việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II Nghị định này được thực hiện theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 Điều 5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm hành chính được thực hiện; nếu quá thời hạn nói trên thì không xử phạt, nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 3 Điều 7 của Nghị định này.

 2. Đối với cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường thì bị xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.

 3. Trong thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này nếu cá nhân, tổ chức có vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc kể từ thời điểm chấm dứt hành vi cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

 Điều 6. Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính

 Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nếu quá một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết hiệu lực thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

 Điều 7. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

 1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

Mức quy định phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 70.000.000 đồng.

 2. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

 a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường và các loại giấy phép có nội dung liên quan về bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Giấy phép môi trường) có thời hạn hoặc không thời hạn;

 b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường.

 3. Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

 a) Buộc thực hiện có thời hạn các biện pháp bảo vệ môi trường do cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường yêu cầu;

 b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường do hành vi vi phạm gây ra;

 c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

 d) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường.

 4. Cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện các biện pháp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản 3 Điều này thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó. Việc cưỡng chế thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 66 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 Chương II

Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực

bảo vệ môi trường, Hình thức xử phạt và mức xử phạt

 

Điều 8. Vi phạm các quy định về đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường và các giấy phép khác về môi trường  

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đối với các cơ sở thuộc đối tượng quy định phải đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường để trình cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường xác nhận mà đã tiến hành xây dựng công trình.

 2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các cơ sở thuộc đối tượng quy định phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường để trình cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường phê chuẩn mà đã tiến hành xây dựng công trình.

3. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đối với cơ sở đang hoạt động thuộc đối tượng quy định phải đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 a) Không đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đối với cơ sở trong khu công nghiệp đang hoạt động thuộc đối tượng quy định phải đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường;

b) Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với cơ sở đang hoạt động thuộc đối tượng quy định phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

c) Hoạt động không có giấy phép về môi trường theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở thuộc đối tượng phải lập Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường.

 5. Phạt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động không có giấy phép về môi trường theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và cơ sở trong khu công nghiệp thuộc đối tượng phải lập bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường.

 6. Biện pháp khác đối với vi phạm quy định tại Điều này:

a) Buộc thực hiện có thời hạn đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường;

b) Buộc thực hiện có thời hạn các thủ tục để được cấp Giấy phép môi trường.

 Điều 9. Vi phạm các quy định về thực hiện những nội dung trong Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường  

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện không đúng những nội dung trong Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được xác nhận.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện những nội dung trong Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được xác nhận.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện không đúng những nội dung trong Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được xác nhận của các cơ sở trong khu công nghiệp hoặc trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê chuẩn.

 4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện những nội dung trong Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được xác nhận của các cơ sở hoạt động trong khu công nghiệp hoặc trong báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê chuẩn.

5. Biện pháp khác đối với vi phạm quy định tại Điều này:

 Buộc thực hiện có thời hạn đối với vi phạm quy định tại khoản 1,  khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.

 Điều 10. Vi phạm các quy định về xả nước thải

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần.

 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần trở lên.

 3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép.

 4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép.

 5. Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm quy định tại Điều này:

 a) Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường từ 90 ngày đến 180 ngày đối với các vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;

 Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường không thời hạn đối với các vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này;

 b) Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này gây ra.

 Điều 11. Vi phạm các quy định về thải khí, bụi.

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 a) Thải khí, bụi vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép vào môi trường;

 b) Thải mùi hôi thối, mùi khó chịu trực tiếp vào môi trường không qua thiết bị hạn chế ô nhiễm môi trường.

 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần trở lên.

 3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi thải khí thải, bụi thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép.

 4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi thải khí thải, bụi thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép.

 5. Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm quy định tại Điều này:

 a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường từ 90 ngày đến 180 ngày đối với các vi phạm tại khoản 2, khoản 3 Điều này;

 Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường không thời hạn đối với các vi phạm tại khoản 4 Điều này;

 b) Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này gây ra.

 Điều 12. Vi phạm các quy định về thải chất thải rắn

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thải chất thải rắn không đúng quy định.

 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này gây ô nhiễm môi trường.

 3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp chất thải rắn có chứa chất thải nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép.

 4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp chất thải rắn có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép.

 5. Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này:

 a) Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường từ 90 ngày đến 180 ngày đối với các vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này; 

Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường không thời hạn đối với các vi phạm tại khoản 4 Điều này;

 b) Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này gây ra.

 Điều 13. Vi phạm các quy định về tiếng ồn, độ rung

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép.

 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ ngày hôm sau.

 3. Biện pháp khác đối với các hành vi vi phạm tại Điều này:

 Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này gây ra. 

Điều 14. Vi phạm các quy định về quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải, các chất gây ô nhiễm môi trường không theo đúng quy định về bảo vệ môi trường.

 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này gây ô nhiễm môi trường.

 3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại hoặc có chứa chất phóng xạ không đúng quy định về bảo vệ môi trường.

 4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường.

 5. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép. 

 6. Hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này:

 a) Tước Giấy phép môi trường từ 90 ngày đến 180 ngày đối với các vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều này;

 Tước Giấy phép môi trường không thời hạn đối với các vi phạm tại khoản 5 Điều này;

 b) Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều này gây ra.

 Điều 15. Vi phạm các quy định về nhập khẩu, xuất khẩu phế liệu

 1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh, tạm nhập để tái xuất, tạm xuất để tái nhập, chuyển khẩu phế liệu không theo đúng quy định của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

 2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh, tạm nhập để tái xuất, tạm xuất để tái nhập, chuyển khẩu phế liệu mà không được cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cho phép.

 3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này gây ô nhiễm môi trường.

 4. Phạt tiền từ 55.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp là chất thải nguy hại hoặc chất phóng xạ vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép.       

 5. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm tại Điều này:

 a) Buộc tiêu huỷ hoặc tái xuất phế liệu hoặc chất thải nguy hại;

 b) Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều này gây ra.

 Điều 16. Vi phạm các quy định trong các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu công nghệ, hoá chất độc hại, sinh vật biến đổi gen và các sản phẩm của chúng 

 1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu công nghệ, hoá chất độc hại, sinh vật biến đổi gen và các sản phẩm của chúng không theo đúng quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường. 

 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu công nghệ, hoá chất độc hại, sinh vật biến đổi gen và các sản phẩm của chúng mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng đối với hành vi làm trái quy định trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, sản xuất, vận chuyển đối với sinh vật biến đổi gen và các sản phẩm của chúng.

 4. Phạt tiền từ 55.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều này gây ô nhiễm môi trường.

 5. Hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm tại Điều này:

 a) Tước quyền sử dụng giấy phép từ 30 ngày đến 90 ngày đối với các vi phạm quy định Điều này;

 b) Buộc tiêu huỷ hoặc tái xuất;

 c) Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này gây ra.

 Điều 17. Vi phạm các quy định về bảo tồn thiên nhiên

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi khai thác khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia không đúng quy định về bảo vệ môi trường.

 2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi khai thác khu bảo tồn thiên nhiên không đúng quy định về bảo vệ môi trường, gây suy thoái môi trường.

 3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi khai thác vườn quốc gia không đúng quy định về bảo vệ môi trường, gây suy thoái môi trường.

 4. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm tại Điều này:

 Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này gây ra.

 Điều 18. Vi phạm các quy định về phòng, chống sự cố môi trường trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí

 1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

 a) Không trang bị phương tiện phòng, chống rò rỉ dầu, cháy nổ dầu, tràn dầu theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

 b) Không có phương án phòng, chống rò rỉ dầu, cháy nổ dầu, tràn dầu theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi gây ra sự cố rò rỉ dầu, cháy nổ dầu, tràn dầu.

 3. Phạt tiền từ 55.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này gây ô nhiễm môi trường. 

 4. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều này:

 Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này gây ra.

 Điều 19. Vi phạm các quy định về sản xuất, vận chuyển, kinh doanh, nhập khẩu, tàng trữ, sử dụng pháo hoa và các chất dễ gây cháy nổ

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, vận chuyển, kinh doanh, nhập khẩu, tàng trữ, sử dụng pháo hoa và các chất dễ gây cháy nổ không đúng quy định về bảo vệ môi trường.

2. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng pháo hoa và các chất dễ gây cháy nổ gây ô nhiễm môi trường.  

3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng các loại thuốc nổ lấy từ bom, mìn, lựu đạn và các loại vũ khí khác để sản xuất pháo hoa.  

4. Phạt tiền từ 55.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều này gây sự cố môi trường.

 5. Hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều này:

 a) Tịch thu hàng hoá, vật phẩm;

 b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4  Điều này gây ra.

 Điều 20. Vi phạm quy định về ô nhiễm đất

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi chôn vùi hoặc thải vào đất các chất gây ô nhiễm không theo đúng quy định về bảo vệ môi trường.

 2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này gây ô nhiễm đất.

 3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất thải nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép.

 4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép. 

5. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều này:

Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4  Điều này gây ra.

 Điều 21. Vi phạm quy định về ô nhiễm môi trường nước

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi xả, thải vào môi trường nước các chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

 2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này gây ô nhiễm nước.

 3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất thải nguy hại vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép.

 4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép.  

 5. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều này:

Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này gây ra.

 Điều 22. Vi phạm quy định về ô nhiễm không khí

 1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi thải các loại khói, bụi, chất độc hại hoặc các yếu tố độc hại khác vào không khí, gây ô nhiễm không khí.

 2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất thải nguy hại gây hậu quả xấu đến con người và thiên nhiên.

 3. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép.

 4. Biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm tại Điều này:

 Buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này gây ra.

 Điều 23. Vi phạm các quy định về ứng cứu và khắc phục hậu quả sự cố môi trường

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

 a) Không kịp thời báo cho ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nơi gần nhất khi phát hiện sự cố môi trường.

 b) Không thực hiện những biện pháp thuộc trách nhiệm của mình để kịp thời khắc phục sự cố môi trường.

 c) Không chấp hành hoặc chấp hành không đúng lệnh huy động khẩn cấp nhân lực, vật tư, phương tiện để khắc phục sự cố môi trường.

 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp gây ô nhiễm môi trường.

 3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng, thời gian khắc phục hậu quả lâu dài.  

 4. Các biện pháp khác đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này:

 Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này gây ra.

 Điều 24. Hành vi cản trở hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

 1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi cản trở công tác điều tra, nghiên cứu, kiểm soát, đánh giá hiện trạng môi trường.

 2. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo không trung thực về hiện trạng môi trường cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

 3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi cản trở công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường do cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành.

 4. Biện pháp khác đối với vi phạm quy định tại Điều này:

 Buộc thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

 Chương III

Thẩm quyền, thủ tục xử phạt

 Điều 25. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp     

 1. Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có quyền:

 a) Phạt cảnh cáo;

 b) Phạt tiền đến 500.000 đồng;

 c) Tịch thu hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường có giá trị đến 500.000 đồng;

 d) Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm gây ra;

 đ) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường. 

 2. Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyền:

 a) Phạt cảnh cáo;

 b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;

 c) Tịch thu hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

 d) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do hành vi vi phạm gây ra;

 đ) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường.

 3. Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền: 

 a) Phạt cảnh cáo;

 b) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng;

 c) Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp;

 d) Tịch thu hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

 đ) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm gây ra;

 e) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường.

 Điều 26. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của thanh tra chuyên ngành về bảo vệ môi trường

 1. Thanh tra viên chuyên ngành về tài nguyên và môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, của Bộ Tài nguyên và Môi trường đang thi hành công vụ có quyền: 

a) Phạt cảnh cáo;

 b) Phạt tiền đến 200.000 đồng;

 c) Tịch thu hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường có giá trị đến 2.000.000 đồng;

d) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

đ) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm gây ra.

 2. Chánh Thanh tra chuyên ngành tài nguyên và môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường thuộc thẩm quyền;

d) Tịch thu hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

đ) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

e) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm quy định tại Điều này gây ra.

 3. Chánh Thanh tra môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường có quyền:

 a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 70.000.000 đồng;

c) Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường thuộc thẩm quyền;

d) Tịch thu hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

đ) Buộc tiêu huỷ hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường;

e) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do hành vi vi phạm gây ra.

 Điều 27. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức thanh tra nhà nước chuyên ngành

 Ngoài những người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 25,  Điều 26 Nghị định này, những người có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính nếu phát hiện thấy các hành vi vi phạm hành chính quy định trong Nghị định này mà thuộc lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì có quyền xử phạt nhưng phải thực hiện theo đúng quy định của Điều 42 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 Điều 28. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

 1. Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, người có thẩm quyền xử phạt phải ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm.

 2. Trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện như sau:

 a) Đối với vi phạm hành chính mà hình thức xử phạt là cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ. 

Quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Quyết định này phải được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt một bản.

 Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt. Cá nhân, tổ chức vi phạm có thể nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp nộp tiền tại chỗ thì được nhận biên lai thu tiền phạt.

 b) Đối với vi phạm hành chính mà hình thức xử phạt là phạt tiền trên 100.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản về vi phạm hành chính. Trong biên bản về vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc tên, địa chỉ tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm, các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử phạt (nếu có); tình trạng hàng hoá, vật phẩm bị tạm giữ (nếu có); lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người bị hại.

 3. Tổ chức, cá nhân bị phạt tiền phải nộp tiền tại Kho bạc Nhà nước được ghi trong quyết định xử phạt và được nhận biên lai ghi tiền phạt.

Tại những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên sông, trên biển, những vùng mà việc đi lại gặp khó khăn hoặc ngoài giờ hành chính thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền cho người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm thu tiền phạt tại chỗ và nộp vào Kho bạc Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 58 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Người bị phạt có quyền không nộp tiền phạt nếu không có biên lai thu tiền phạt.

 4. Khi tịch thu hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường thì người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản, trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng, tình trạng, chất lượng của hàng hoá, vật phẩm bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến. Trường hợp cần niêm phong hàng hoá, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường thì phải tiến hành ngay trước mặt người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng kiến.

 5. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải chấp hành  quyết định xử phạt trong  thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt. Quá thời hạn trên mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 66 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm  hành chính.

 6. Cá nhân bị xử phạt từ 500.000 đồng trở lên có thể được hoãn chấp hành xử phạt trong trường hợp đang gặp khó khăn đặc biệt về tài chính. Thủ tục và thời hạn hoãn chấp hành quyết định phạt tiền theo quy định tại  Điều 65 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 Điều 29. Tước quyền sử dụng giấy phép

 1. Cá nhân, tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp các loại giấy phép môi trường đều có thể bị tước quyền sử dụng nếu có các vi phạm hành chính liên quan trực tiếp đến quy định về sử dụng giấy phép đó.

 Khi quyết định tước quyền sử dụng giấy phép, người có thẩm quyền phải lập biên bản, ghi rõ lý do tước quyền sử dụng giấy phép theo các nội dung quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, đồng thời phải buộc đình chỉ vi phạm.

 Việc tước quyền sử dụng giấy phép chỉ được thực hiện khi có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 25; khoản 2, khoản 3 Điều 26 của Nghị định này. Quyết định phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử lý, đồng thời thông báo cho nơi cấp giấy phép biết.

 Người có thẩm quyền quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 25  của Nghị định này có quyền đề nghị cơ quan cấp giấy phép môi trường thu hồi giấy phép.

2. Tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn đối với các vi phạm lần đầu, có thể khắc phục được. Khi hết thời hạn ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt phải trả lại giấy phép cho tổ chức, cá nhân được sử dụng giấy phép.

 3. Tước quyền sử dụng giấy phép không thời hạn áp dụng đối với các trường hợp sau:

 a) Giấy phép được cấp không đúng thẩm quyền;

 b) Giấy phép có nội dung trái với quy định về bảo vệ môi trường;

 c) Vi phạm nghiêm trọng các quy định về bảo vệ môi trường xét thấy không thể cho tiếp tục hoạt động được.

 Điều 30. Những quy định khi áp dụng các biện pháp hành chính khác

 1. Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại Điều 25, Điều 26 và  Điều 27 của Nghị định này khi quyết định áp dụng các biện pháp hành chính khác phải căn cứ vào quy định của pháp luật, mức độ thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm hành chính gây ra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

 2. Cá nhân, tổ chức bị áp dụng những biện pháp hành chính khác phải thi hành các hình thức xử phạt đó trong thời hạn 10 ngày sau khi được giao quyết định xử phạt, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp không thi hành sẽ bị cưỡng chế trong thời gian quy định. Chi phí cho việc tổ chức cưỡng chế do cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế chịu trách nhiệm.

 3. Trong trường hợp các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường phải tịch thu hoặc tiêu huỷ thì khi thi hành phải lập biên bản có chữ ký của người quyết định, người bị phạt, người làm chứng và xử lý tang vật vi phạm hành chính theo đúng quy định tại Điều 60, Điều 61 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 

Chương IV

Khiếu nại, tố cáo, xử  lý vi phạm

Điều 31. Khiếu nại, tố cáo

 1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại đối với quyết định xử phạt của người có thẩm quyền.

 Công dân có quyền tố cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền những hành vi trái pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

 2. Thủ tục khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Điều 118 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 3. Việc khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

 Điều 32. Xử lý đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

 Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường mà sách nhiễu, dung túng, bao che cho người vi phạm, không xử phạt hoặc xử phạt không đúng mức, xử phạt vượt thẩm quyền, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại cho Nhà nước, công dân, tổ chức thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

 Điều 33. Xử lý vi phạm đối với người bị xử phạt vi phạm hành chính

 Người bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nếu có hành vi chống người thi hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh việc chấp hành hoặc có những hành vi vi phạm khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương V

Điều khoản thi hành

 Điều 34. Hiệu lực thi hành

 Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

 Nghị định này thay thế Nghị định số 26/CP ngày 26 tháng 4 năm 1996 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường.

 Điều 35. Trách nhiệm hướng dẫn và thi hành

 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thi hành Nghị định này.

  Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 

TM. Chính phủ

Thủ tướng

   Phan Văn Khải - Đã ký

Về đầu trang


       
 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2007 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 20 tháng 3 năm 2008 • Tổng Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó Tổng Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT: • Fax:  Email: mttqvn@mattran.org.vn