Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



                TỔ QUỐC VIỆT NAM - DÂN TỘC VIỆT NAM

                      Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
                    
Các dân tộc ở Việt Nam
                     *******************************************************************
                           
                    *******************************************************************

   NGƯỜI THỂ HIỆN THƠ BÁC HỒ BẰNG NGHỆ THUẬT THƯ HỌA

   Giới thiệu di sản văn hoá Huế
 
  Về thăm đất tổ Hùng Vương  
  
Hải dương văn hiến   
   
Về thăm quê hương nhãn lồng
   
Đôi điều về tiếng chống chầu trong sân khấu tuồng Việt Nam
  
Thành phố bên sông Hàn
   
Một thoáng Bạc Liêu
   
Về thăm đất Quảng
   
Bắc cạn - miền sơn cước
   
Một dòng họ khoa bảng đất Kinh Bắc
   
Độc đáo - hội đả ngư (Hà Tây)
    Hội làng là tinh hoa văn hóa Việt Nam
  
Phong cảnh con người Việt Nam

   HUỲNH THÚC KHÁNG - NGƯỜI ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC VÀO SỰ NGHIỆP CỦNG CỐ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

   VÕ NGUYÊN GIÁP - KỶ NIỆM NHỮNG NĂM ĐẦU CÁCH MẠNG VỚI HỒ CHÍ MINH VÀ HUỲNH THÚC KHÁNG



Đôi điều về tiếng chống chầu trong sân khấu tuồng Việt Nam

Từ lâu sân khấu tuồng đã có một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá của nhân dân Việt Nam. Nước ta có những vùng tuồng đặc biệt phát triển như: Bắc Ninh, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định. Ở những nơi này, từ lâu đã hình thành lớp công chúng say mê và am hiểu tuồng. Cách thưởng thức nghệ thuật tuồng của công chúng biểu hiện hết sức độc đáo qua tiếng trống chầu. Trong ''sinh hoạt tuồng" tiếng trống chầu có vị trí rất đặc biệt không thể thiếu trong đêm biểu diễn tuồng (đối với cả người biểu diễn và người xem). Ở vùng Yên Phong, Tiên Sơn (Bắc Ninh) từ xưa đã có câu ca:
                                   Tháng ba ngày tám nằm suông
                              Nghe giục trống tuồng bế bụng đi xem.

Còn vùng Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay vẫn truyền tụng câu ca:

                                             Trên đời có bốn thứ ngu
                                     Làm mai, lãnh nợ, nuôi cu, đánh chầu
.
Tại sao đánh trống chầu, lại "được'' người đời mỉa mai, đẩy quá lên cùng với các việc: làm mối, vay nợ, nuôi chim cu như những việc làm "vô tích sự'' chuốc dại vào người vậy?
Trống chầu có hai loại: Chầu cái và chầu lèo.
        - Chầu cái là chầu của làng dựng ra, chầu này đánh không cần thẻ. Người đánh chầu thường là người có chức sắc, địa vị trong làng xã. Cũng có thể là người đứng ra  thuê tổ chức đêm diễn hay bô lão già cả trong làng, nhưng nhất thiết phải là người am hiểu và say mê tuồng.
       - Chầu lèo đi liền với lệ ban thưởng tiền cho diễn viên ở những vai, những đoạn hay được công chúng ưa thích. Với chầu lèo bất cứ ai ham thích cũng có thể hoặc dùng tiền hoặc mua thẻ mà vào đánh chầu.
       Như trên đã nói, người đánh chầu cái phải là người có uy tín, am hiểu về nghệ thuật tuồng. Họ đại diện cho sự thưởng thức, bình giá, khen chê, thưởng phạt của công chúng với diễn viên biểu diễn. Người "cầm chầu" phải biết điểm tiếng trống của mình đúng lúc, đúng chỗ. Tiếng trống không được lấn đàn, nhạc hoặc át lời hát của diễn viên. Có thể ví tiếng trống điểm vào sau câu hát như dấu chấm, dấu phẩy tài tình ngắt nhịp cho mỗi câu hát như nhịp nối giữa hai lời ca. Tiếng trống nhắc nhở khán giả chú ý theo dõi, thưởng thức mỗi câu hát hay, hoặc những đoạn diễn xuất giỏi của diễn viên. Tiếng "thùng'' gõ vào giữa mặt trống là lời khen hay. Hai tiếng "thùng" ''thùng'' liền nhau là lời khen rất hay biểu hiện sự tán thưởng, động viên của người đánh chầu đại diện cho công chúng thưởng thức đối với diễn viên. Tiếng ''rụp'' (gõ bịt một tay lên mặt trống) "cắc" (tiếng gõ vào tang trống) hoặc ''rụp'' ''cắc'', hay ''cắc'' ''cắc'' là lời chê trách diễn viên hát hoặc diễn xuất không đạt. Cùng với người ''cầm chầu'' là sự theo dõi hết sức chặt chẽ của khán giả. Nếu người đánh chầu kém, tiếng trống ''tắc khẩu'' làm lấn át lời hát của diễn viên, hay tiếng trống khen, chê bình giá không công minh liền bị khán giả la ó, phản đối thậm chí đuổi xuống. Có anh hề táo tợn chạy ra sân khấu chế nhạo người đánh chầu tồi:
                                          ''Tổ cha con quạ đen đầu
                                        Lâu lâu nó mổ... da trầu cái ''thùng''

     Ngay cả người cầm chầu giỏi đôi lúc cũng ''bất đồng'' với công chúng hoặc diễn viên vì làm sao mà sự tán đồng khen chê, bình giá khi thưởng thức nghệ thuật qua tất cả mọi người đều giống nhau được. Vì vậy người ''cầm chầu'' cái là đại diện cho trăm họ khi thưởng thức nhưng cũng là ''dâu trăm họ''. Cũng bởi thế câu hát ở trên đã xếp việc đánh chầu vào bốn thứ ngu trên đời.
      Tiếng trống chầu có sức kích thích đặc biệt, bắt đầu từ hồi trống ''khai trương''. Hồi trống khai trương của người cầm chầu cái mở đầu cho đêm diễn báo hiệu cho nhạc công, diễn viên hoàn thành việc chuẩn bị cuối cùng để bước vào tối diễn, tiếng trống nhắc nhở người ở xa mau bước chân, thúc giục người còn ở nhà mau đến kịp. Tiếng trống chầu khi vào buổi diễn gây không khí rạo rực, say mê cuốn hút khán giả. Tiếng trống chầu cũng động viên, khuyến khích, hay nhắc nhở diễn viên hát hay hơn, diễn xuất thành công hơn.
         Trong biểu diễn của những ngành nghệ thuật hiện đại như ca, múa, nhạc ngày nay luôn có tiếng vỗ tay hưởng ứng của khán giả sau mỗi tiết mục (thường dài từ một phút, đến vài phút là cùng) hay ở những buổi biểu diễn ca khúc của các ban nhạc Boneyem, Smoki, Abba, "Rốc- en roi" v.v... cho phép sự hưởng ứng của khán giả với người biểu diễn bằng cách gõ nhịp theo phối bè theo, hát theo là hoàn toàn thích hợp thì với những đặc trưng riêng của nghệ thuật tuồng, tất cả những biểu hiện tình cảm của đông đảo khán giả như vỗ tay, gõ nhịp hay hát theo v.v... lại không phù hợp. Dù vậy, nhu cầu giao lưu giữa người biểu diễn và khán giả trong biểu diễn tuồng lại vẫn nảy sinh. Chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi với nhiều diễn viên và công chúng xem tuồng, những người say mê và hiểu biết nghệ thuật tuồng ở Bắc Ninh, Thanh Hoá, Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế. Hầu như tất cả những người được tham khảo, trao đổi đều có ý kiến cho rằng nên duy trì tiếng trống chầu cổ truyền như một chiếc cầu nối đặc biệt, rất cần thiết giữa khán giả và diễn viên mà trong những đêm biểu diễn của các đoàn tuồng chuyên nghiệp ngày nay dường như đã bị lãng quên.
        Tất nhiên ngày nay việc động viên người biểu diễn bằng cách ném tiền lên sân khấu hoàn toàn không phù hợp nữa, nhưng tiếng trống chầu cổ truyền đầy ý nghĩa thiết tưởng không nên bỏ. Gần đây được sự quan tâm của nhiều người, nhiều ngành bàn đến việc khôi phục và phát triển nghệ thuật đặc sắc này của dân tộc bên cạnh những biện pháp khác cần thiết theo chúng tôi chúng ta nên duy trì hình thức ''giao lưu'' ''thưởng thức'' độc đáo giữa công chúng và người diễn biểu hiện qua tiếng trống chầu./.
                                                                    Đông Ngàn Tử Kinh Bắc
 


   
Về thăm quê hương nhãn lồng

    Hưng Yên là một tỉnh nhỏ nằm giữa đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã nổi tiến là quê hương của nhãn lồng, của táo Thiện Phiến, dưa hấu Đình Cao, của những cánh đồng lúa vàng "tam thiên mẫu" cò bay mỏi cánh và những đồng đay, soi mía, bãi ngô, nương dâu xanh dờn, tít tắp dọc theo bờ bãi sông Hồng đỏ nặng phù xa...
                                                                                   Kinh Bắc
    Người Việt Nam hầu như ai cũng một lần được nghe chuyện Đầm Dạ Trạch với Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung- thiên tình sử diễm lệ vào bậc nhất của nhân dân Đại Việt; chuyện Tống Trân-Cúc Hoa chồng tài giỏi vợ thuỷ chung, hay câu ca dao: "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Cho đến những năm sau này nhiều người vẫn còn nuối tiếc:"Đồn rằng phố Hiến vui hơn Kinh Kỳ". Vâng, nhiều thế kỷ trước Phố Hiến đã từng là cửa sông Cái thông ra biển, nơi tàu thuyền các nước đến giao thương buôn bán, trên bến dưới thuyền tạo cho phố Hiến cái không khí phồn thịnh, tấp nập và sầm uất chỉ sau có Kinh thành Thăng Long. Phố Hiến ngày xưa chính là thị xã Hưng Yên thủ phủ của tỉnh Hưng Yên mới được tách ra từ tỉnh Hải Hưng ngày 1 tháng 1 năm 1997.
     Tỉnh Hưng Yên đời Ngô gọi là Đằng Châu, đời Trần gọi là Long Hưng và Khoái Lộ. Đời Lê, Hưng Yên thuộc Nam Định sau gọi là Thiên Trường thừa tuyên rồi Sơn Nam thượng. Tỉnh Hưng Yên ngày nay là một phần của trấn Sơn Nam cũ, là phên giậu về phía nam của Kinh thành Thăng Long. Năm 1831 đời Nguyễn, Hưng Yên được lập thành tỉnh như ngày nay và còn thêm các huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhân nay thuộc tỉnh Thái Bình. Tỉnh Hưng Yên ngày nay có diện tích 923 km­2  với 10 đơn vị hành chính là thị xã Hưng Yên và 9 huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động, Khoái Châu, Văn Giang,  Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ.
    Từ thời Hùng Vương giặc Ân sang cướp ta  nhân dân vùng Hưng Yên đã nô nức theo Phù Đổng Thiên Vương đánh tan quân giặc, giữ yên bờ cõi. Thời Bắc thuộc Triệu Quang Phục đã dùng đầm lầy Dạ Trạch-Màn trò Khoái Châu làm căn cứ đánh giặc lâu dài, sau giết được tướng giặc Dương Sàn, chiếm được Long Biên giành lại đất nước. Ông tự xưng là Triệu Việt Vương nhưng dân gian thường gọi ông là Dạ Trạch Vương. Ngày nay về xã Dạ Trạch huyện Châu Giang bạn sẽ được nghe kể về Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung, về Triệu Quang Phục với những chiến công đầy huyền thoại. Thời nhà Trần đánh giặc Nguyên lại có Phạm Ngũ Lão người làng Phù ủng châu Thượng Hồng xuất thân từ quân lính lập nhiều chiến công phá Nguyên, bình Chiêm sau trở thành một danh tướng có tài được thăng đến Thân vệ đại tướng quân. Ông cũng được quân dân hết sức yêu quý, kính trọng vì lòng nhân ái, chia ngọt xẻ bùi, thương quân lính như con. Ông còn để lại bài Thuật Hoài nổi tiếng với những câu thơ đầy khí phách: "Nam nhi vị liễu công danh trái. Luống thẹn tai nghe chuyện Võ Hầu". Cùng thời với Ngũ Lão còn có Yết Kiêu quê ở Hạ Bì, có tài bơi lặn đục thuyền giặc, Nguyễn Chế Nghĩa ở Cối Xuyên dũng cảm tuyệt vời đều là những tướng tài danh của nước nhà. Khi giặc Pháp xâm lược nước ta, năm 1888 quận Kỳ dã chỉ huy diệt đồn Bình Phú ở Hưng Yên. Bền bỉ nhất là phong trào Bãi Sậy do Tán Thương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy. Lúc làm quan ông đã đánh Pháp đến khi triều đình Huế chịu thua, Ông vẫn tiếp tục mộ quân đánh Pháp. Căn cứ của nghĩa quân là vùng bãi Sậy rậm rạp vùng Khoái Châu. Từ năm 1883 đến 1891 nghĩa quân đã đánh giặc rất nhiều trận Khắp Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh. Sát Hà Nội, lại ở ngay giữa đồng bằng nhưng phong trào Bãi Sậy đã tồn tại suốt một thời gian dài trên một điạ bàn rộng lớn gây cho giặc Pháp rất nhiều tổn thất. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai (1945-1954) tỉnh Hưng Yên khi ấy chỉ có diện tích hơn 800km 2 với 127 xã nhưng có đến hơn 400 đồn bốt giặc đóng. Trong các cuộc càn quét chúng đã giết hàng vạn người, đốt phá hàng trăm thôn, xóm, hàng vạn ngôi nhà nhưng nhân dân Hưng Yên kiên cường quyết không khuất phục. Trên mảnh đất này đã diễn ra hàng trăm trận đặt chông mìn, đánh độn thổ "cướp súng giặc đánh giặc". Đường số 5 địch rào thép gai đặt tháp canh giày đặc nhưng đêm đêm cán bộ du kích và từng đoàn dân công vẫn gánh gạo tải lương vượt đường. Giặc đóng đồn bốt lập tề, ta phá tề, trừ gian mở rộng khu du kích. Giặc càn quét bắc sông Luộc, Khoái Châu, Văn Giang bị ta tiêu diệt 2000 tên. Chiến công của đội nữ du kích Hoàng Ngân và những vua mìn đường 5 đã nhiều phen khiến lũ xâm lăng phải bạt vía kinh hồn.
    Từ Hà Nội, theo Quốc Lộ số 5 đến Như Quỳnh chúng ta vào đất Hưng Yên, đi khoảng 7km nữa bạn sẽ gặp thị trấn lớn mang tên Bần Yên Nhân. Hẳn có bạn sẽ hỏi rằng câu ca: "Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần..." là tương ở đây ư? Vâng! đây chính là nơi có tương Bần ngon nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc. Xin bạn hãy nhớ để đến khi về có thể mua một can nhỏ làm quà. Cách Bần Yên Nhân 1km về phía tây bắc bạn có thể thăm chùa Thái Lạc với những bức chạm gỗ rất đẹp và gạch hoa từ đời Trần. Ai đó trong chúng ta thủa thơ bé đã được bà, được mẹ hát ru: "Cái Bống đi chợ cầu Nôm. Sao mày chả rủ cái Tôm đi cùng.." Xin bạn hãy xác định thêm một địa danh cầu Nôm ở làng Đại Đồng thờ đức thánh Tam Giang. Gần đó là Hương Lãng có chùa Lạng được xây từ thời Lý hiện vẫn còn nhiều tượng đá rất đẹp. Theo đường 5 cách Bần 2km là phố Nối bạn gặp ngã ba đường 39 đi thị xã Hưng Yên. Chúng ta rẽ phải theo đường 39 khoảng 2km là làng Liêu Xá huyện Yên Mỹ quê hương của danh y Hải Thựơng lãn ông Lê Hữu Trác, tác giả 66 tập Hải Thượng Y tôn tâm lĩnh. Cạnh Liêu Xá là làng Thanh Xá thờ Phạm Công Trứ, sử gia đời Lê, tác giả Quốc sử tục biên, hiện còn nhiều bia ở đình thờ. Đi tiếp 3 km là Sài Trang lị sở huyện Yên Mỹ, ở đây từ xa xưa đã có chợ bán chàm, Nhà máy xay Yên Mỹ cũng đặt ở đây. Qua khỏi thị trấn là cầu Lực Điền bắc qua sông Nghĩa Trai sang đất Châu Giang, bạn sẽ gặp những cánh đồng lúa, đồng đay bạt ngàn. Dọc theo hai bên đường 39 cũng như các đường vào làng, đường liên thôn liên xã là những dặng nhãn chạy dài tít tắp. Đi thêm chừng 3 cây số có Trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật I, ta cũng gặp đường bên phải đi huyện lị Khoái Châu cũ nay là huyện Châu Giang. Vùng đất này có nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như đầm Dạ Trạch, bãi Tự Nhiên với câu chuyện Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung; Bãi lầy Màn Trò nơi vang tiếng thét của Trần Bình Trọng "thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất bắc"; Hàm Tử quan, nơi Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật và Trần Quốc Toản đã thắng quân Nguyên; làng Đông Kết, Tây Kết nơi bại tướng Nguyên là Toa Đô bị chém đầu. Tiếp tục hành trình trên đường 39 qua Bô Thời vài km bạn có thể dừng chân nghỉ uống thử hớp rượu Trương Xá được coi là nổi tiếng nhất vùng mía vùng đay Hưng Yên. Bên trái là đường đi Ân Thi quê hương Nguyễn Trung Ngạn, nhà thơ nổi tiếng thời Trần, vốn là con một người đào hát mà đỗ Hoàng Giáp(tiến sỹ) năm1304 khi mới 16 tuổi. Từ Trương Xá đi tiếp 6 km bạn gặp thị trấn lị sở huyện Kim Động, có đền thờ Đinh Điền một tướng giỏi, khai quốc công thần của nhà Đinh ở trại Đằng Man. Qua khỏi huyện lị Kim Động vài cây bạn gặp dốc Lã lên đê sông Hồng, nơi đây có nghề làm hương khá nổi tiếng. Từ đây đến thị xã Hưng Yên bạn sẽ tự do phóng tầm mắt chiêm ngưỡng những bờ soi, bãi mật, của ngô, của dâu, của những xóm làng trù phú ven dòng sông Cái đỏ nặng phù xa. Xe chạy chừng dăm phút bạn đã gặp thị xã Hưng Yên nơi xa xưa có địa danh phố Hiến. Ngồi nghỉ dưới gốc cây nhãn tổ bạn có thể bắt đầu tự tìm hiểu, khám phá những bí ẩn về vùng đất này. Phố Hiến được đặt từ thời Lê Quang Hưng(1578-1599) là cảng sông Cái có bến, có phố cho người nước ngoài đến buôn bán, nộp thuế, bốc rỡ hàng. Khi ấy ở Phố Hiến đã có đến 2000 nhà gạch. Từ năm 1637 có các lái buôn Bồ Đào Nha, Hà Lan và sau đó là người Pháp đến mở hiệu buôn. Năm 1672 Công ty ấn Độ của Anh cũng đến và ở 25 năm. Việc giao thương buôn bán với người nước ngoài một thời đã tạo cho Phố Hiến sự đông vui sầm uất thực sự chứ không phải qua lời đồn. Thị xã Hưng Yên được đặt thành tỉnh lị từ năm 1831. Trải qua bao biến thiên của lịch sử ngày nay thị xã lại được đặt làm tỉnh lỵ.
   Sau hai mươi năm đổi mới cùng với đà phát triển của đất nước thị xã đã có tốc độ phát triển đô thị hơn hẳn mấy chục năm trước đây. So với các thị xã và tỉnh bạn bè trong cả nước, hôm nay Hưng Yên còn là một thị xã nhỏ. Tuy chưa giàu nhưng vài năm nay tỉnh Hưng Yên đã tham gia câu lạc bộ các tỉnh có nguồn thu nân sách trên 1000 tỷ đồng. Chắc chắn trong những năm tới Hưng Yên sẽ phát triẻn mạnh mẽ sánh vai cùng bè bạn xa gần, xứng đáng với truyền thống của quê hương./.

Đông Ngàn Tử



                     MỘT THOÁNG BẠC LIÊU
    

    Tỉnh Bạc Liêu thời Nguyễn, thế kỷ 18 thuộc phủ Bãi Xâu, tỉnh An Giang. Trải qua biết bao biến thiên của lịch sử với công sức tạo dựng, mở mang của con người, vùng đất mới nhiều nắng gió phương nam này đã trở nên trù phú vào bậc nhất của dải đất cực nam. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Nam Kỳ khởi nghĩa, Bạc Liêu và Cà Mau lập chính quyền nhân dân. Đồng chí Trần Văn Thời, bí thư Bặc Liêu, bị đày ra Côn Đảo rồi bị giết. Các đồng chí hy sinh nhưng phong trào vẫn âm ỷ trong quần chúng. Ta cướp chính quyền ở Bạc Liêu ngày 25-8-1945...
    Tỉnh Bạc Liêu ngày nay có diện tích tự nhiên 2.584km2, số dân 82 vạn người, với 7 đơn vị hành chính gồm thị xã Bạc Liêu là tỉnh lỵ và 6 huyện: Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Đông Hải, Hoà Bình. Toàn tỉnh có 207.000 ha diện tích đất nông nghiệp mầu mỡ, bằng phẳng đã được đầu tư cải tạo. Chương trình thuỷ lợi ngọt hoá bán đảo Cà Mau với công trình Quản Lộ Phụng Hiệp được thi công, đưa nước sông Hậu về cải tạo hơn 100.000 ha ruộng cấy một vụ thành ruộng hai vụ lúa, một vụ màu, tạo thêm bước phát triển mới về kinh tế nông nghiệp. Miền Bạc Liêu, đồng đất tốt, trồng trọt đã lâu, nghề chính là trồng lúa, có thể nói trên trời, dưới lúa. Ngoài ra cũng trồng nhiều hoa màu, dứa, cây ăn quả. Chăn nuôi có nhiều điều kiện để phát triển.
    Bạc Liêu có bờ biển dài là thế mạnh để phát triển ngành khai thác, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất muối. Biển Bạc Liêu rất nhiều cá như cá cơm, cá chim, cá nhám, cá ria, cá chét, cá thu, cá gộc, tôm hùm, mực, nên nghề đánh cá biển phát đạt. Ngoài bãi biển làm muối, nuôi tôm, ở Bạc Liêu đồng ruộng nào cũng thả được cá...  các vùng Vĩnh Lợi, Năm Căn, Thanh Hoa, có những đồng muối rất lớn, rộng đến 5.000ha. Lâm sản ở Bạc Liêu có gỗ đước, lá dừa nước, mật ong, sáp ong. Thủ công nghiệp có nghề làm muối, làm chiếu, đốt than, nấu đường và chế biến thức ăn gia súc...
    Theo đường trục lộ số 4 từ Cần Thơ qua Sóc Trăng xuống 114 km là thị xã Bạc Liêu, (đi tiếp 180 km đến Cà Mau, 35km nữa đến Cái Nước và 20km nữa đến vùng đất mũi Năm Căn). Thị xã xây trên rạch Bạc Liêu, xa biển 10km, trung tâm lúa gạo lớn. Từ thị xã có đường 57 km, đi cửa biển Mỹ Thạnh, phía đông tỉnh. Từ Bặc Liêu đi, đi thành phố Hồ Chí Minh 280km, đi Hà Nội 2005km... Thị xã Bạc Liêu vốn là tỉnh lỵ cũ của tỉnh Minh Hải đã hình thành một trung tâm kinh tế sầm uất và trong tương lai gần, thị xã Bạc Liêu sẽ là khu công nghiệp lớn với nhiều thế mạnh về công nghiệp và du lịch. Những thắng cảnh độc đáo như vườn nhãn, sân chim Bạc Liêu, cùng với các di tích lịch sử - văn hoá: Tháp cổ Vĩnh Hưng ở huyện Vĩnh Lợi, di chỉ đồng Nọc Nạn quê hương cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu người khai sinh ra bài vọng cổ Nam Bộ không chỉ là niềm tự hào của người dân Bạc Liêu mà còn là những địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách bốn phương./.

Hà Phương Nhân



                   
VỀ THĂM ĐẤT QUẢNG  

                                                                  Tuấn Anh

Ai dã có một lần qua dải đất miền Trung hẳn từng nghe câu ca:
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đã ngà say.

    Vâng! Đất Quảng, quê hương của những chí sỹ yêu nước Hoàng Diệu, Ông ích Khiêm, Phan Châu Trinh, Thái Phiên, Huỳnh Thúc Kháng...của những mẹ Nhu, mẹ Thứ và biết bao bà mẹ Việt Nam anh hùng khác đã sản sinh ra những Nguyễn Văn Trỗi, Lê Thị Thanh, Trần Thị Lý cùng những người dân xứ Quảng "trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ". Đất Quảng còn là xứ sở của những quế Trà Bồng, Tiên Phước, vàng Bồng Miêu, tháp Chàm Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng Dương, phố cổ Hội An...
    Mảnh đất của sóng biển và cát, của đại ngàn Trường Sơn ấy đời Hùng thuộc bộ Việt Thường. Trong những năm Bắc thuộc người Chàm dựng nước Chăm Pa đóng đô ở Trà Kiệu. Năm Bính Ngọ 1306 vua Trần gả công chúa Huyền Chân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân mới đặt đất dẫn cưới là châu Hoá. Năm 1402 nhà Hồ "mở nước" đặt các châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, thuộc địa phận Quảng Nam. Thế kỷ 15 Lê Thánh Tông đặt Thừa tuyên Quảng Nam. Đến nhà Nguyễn đặt thành dinh Quảng Nam, năm 1842, Minh Mệnh mới đặt Quảng Nam thành tỉnh.
    Tỉnh Quảng Nam ngày nay có diện tích 11.989 km2, dân số khoảng 1.500.000 người. Sau khi huyện Hoà Vang cắt về thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam còn 17 đơn vị hành chính, gồm thị xã Hội An, thành phố Tam Kỳ, các huyện: Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Núi Thành, Tiên Phước, Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà Mi, Đông Giang, Tây Giang, Phú Ninh. Tỉnh lỵ Quảng Nam đặt tại thị xã Tam Kỳ.
    Theo Quốc lộ 1A, đường sắt Xuyên Việt hay đường Trường Sơn vào Nam ra Bắc chúng ta đều phải qua đất Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam, phía bắc đèo Hải Vân giáp Thừa Thiên Huế, phía nam giáp Quảng Ngãi và Công Tum, phía đông nhìn ra biển Đông và ôm gọn thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước bạn Lào. Chiều dài từ đông sang tây 170km, từ bắc xuống nam 127 km. Đèo Hải Vân phía bắc tỉnh có núi Bạch Mã cao 1516m, từ trên đèo nhìn ra bể Đông phong cảnh đẹp tuyệt vời làm rung động trái tim biết bao "tao nhân mặc khách" từ ngàn xưa đến ngàn sau. Phía nam tỉnh có núi Chúa cao 1363 m, phía đông giáp biẻn là đồng bằng Điện Bàn, Hội An và đồng bằng nhỏ Tam Kỳ. Toàn bộ phía tây tỉnh là rừng núi Trường Sơn bạt ngàn đến tận biên giới với rất nhiều lâm sản, chim thú quý , có hai đỉnh núi cao 2500m và 1207m quanh năm mây phủ. Tỉnh có nhiều suối nước nóng, đặc biệt là khu vực quanh núi Chúa có đến 6 suối nước nóng chữa được nhiều bệnh tật, hứa hẹn một tiềm năng lớn về du lịch.
    Đến thăm Quảng Nam bạn không thể không đến thị xã Hội An. Từ Hoà Mỹ theo đường số 1 thẳng vào hay từ Đà Nẵng đi về hướng đông 9km chúng ta gặp thị xã cổ Hội An. Hội An nằm ở bờ bắc sông Thu Bồn, gần cửa sông, cửa Đại, tàu thuyền từ biển vào hết sức thuận tiện mà thuyền buôn, xà lan, ca-nô từ sông Thu Bồn, sông Vĩnh Điện, sông Trường giang đến bốc rỡ hàng cũng dễ dàng. Thời cổ nơi đây từng được gọi là Đại Chiêm hải khẩu, các thuyền buôn Trung quốc, Nhật Bản, Nam Dương thường qua lại buôn bán. Đến thế kỷ 15 người Hà Lan, Pháp, Anh, Bồ Đào Nha cũng đến đây đặt tiệm buôn. Ngay phía nam Hội An là huyện Duy Xuyên có Trà Kiệu là kinh đô đầu tiên của người Chăm xưa, nay còn dấu tích thành đất dài 3 km. Từ dây đi khoảng 30 km bạn sẽ gặp thung lũng Mỹ Sơn có vét tích đền đài xây từ thế kỷ thứ 4 với 68 đền trong đó có 25 ngôi còn thấy khá rõ.  Ai cũng biết miền Trung nằm ở giữa của dải đất hình chữ S, nhiều người biết tỉnh Quảng Nam nằm ở giữa miền Trung nhưng ít ai biết thị xã Tam Kỳ chính là điểm giữa của cả hai cái giữa trên, nghĩa là từ Tam Kỳ ra Hà Nội hay vào thành phố Hồ Chí Minh có độ dài bằng nhau- vì nằm ở giữa ba miền nên thị xã có tên là Tam Kỳ. Thị xã ngày nay là tỉnh lị của tỉnh Quảng Nam mới. Thị xã nằm ở giữa đồng bằng màu mỡ, là nơi giao thương đi lại hết sức thuận lợi cả đường sắt, đường bộ và đường sông, từ xưa đã nổi tiếng là nơi đô hội, sầm uất. Cách Tam Kỳ khoảng 27 km về phía nam là mỏ vàng Bồng Miêu nổi tiếng đã được khai thác từ xưa để dựng các lâu đài, đền chùa Chăm, con sông chảy qua thung lũng này cũng được gọi là sông Vàng. Khu vực này cũng có cả các mỏ kẽm, chì, đồng. Từ đây đi tiếp 3 km nữa là đất Trà Mi với những rừng quế bạt ngàn nổi tiếng nhất Việt Nam, từ xưa vẫn từng được gọi là "Quế Quảng"
    Từ Đà Nẵng về Hội An chúng ta gặp những địa danh nổi tiếng một thời Điện Nam, Điện Ngọc, Điện Dương với những trận chiến đâu kiên cường người dân đất Quảng giữa vành đai trắng. Mới đây Chính phủ đã phê duyệt dự án xây dựng Khu công nghiệp tập trung. Với diện tích 418 ha khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc sẽ là nơi phát triển ngành công nghiệp sản xuất các loại sản phẩm công nghệ cao và công nghiệp chế biến thực phẩm phục vụ các khu du lịch và công nghiệp trong khu vực- là trung tâm của một đô thị lớn trong tương lai. Tỉnh Quảng Nam cũng đang quyết tâm xây dựng cảng Kỳ Hà giáp khu công nghiệp Dung Quất(Quảng Ngãi) và sân bay Chu Lai cùng với Khu công nghiệp Điện Ngọc như một trọng tâm phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sự triển kinh tế toàn tỉnh.
     Quảng Nam ngày nay vẫn đang còn rất nhiều khó khăn. Trong tiến trình phát triển Tỉnh phải chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế từ một tỉnh thuần nông sang một tỉnh công-nông nghiệp và thương mại dịch vụ. Với tiềm năng và lợi thế về khoáng sản, nông lâm sản, hải sản và du lịch, lại nằm ở điểm giữa khu vực trọng điểm kinh tế miền trung được quy hoạch nối dài từ Liên Chiểu đến Dung Quất, chắc chắn tỉnh Quảng Nam sẽ có bước phát triển mới xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang trong kháng chiến chống ngoại xâm./.



              
Bắc Cạn - miền sơn cước
             "Bắc Cạn có suối đãi vàng
              Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh "

    Lần theo câu hát, ngược dòng tìm về với lịch sử chúng ta được biết, từ thời các vua Hùng dựng nước Bắc Cạn đã thuộc bộ Vũ Định. Trải các triều đại tiền Lê, Lý, Trần đều thuộc Bắc đạo rồi thuộc Thái Nguyên thừa tuyên, sau lại đổi ra Ninh Sóc thừa Tuyên, sóc ở đây chính là phương bắc; đến thời Hồng Đức gọi là Thái Nguyên xứ, năm 1649 được gọi là trấn Thái Nguyên. Cho đến năm 1831 thời Nguyễn được gọi là tỉnh Thái Nguyên bao gồm cả tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Cạn bây giờ. Đến năm 1900 trong công cuộc bình định Bắc Kỳ thực hiện chính sách "chia để trị" người Pháp đã chia Thái Nguyên làm 2 tỉnh, phía bắc gọi là Bắc Cạn, phía nam là Thái Nguyên.
    Trong trường kỳ lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, nhân dân vùng sơn cước "Bắc đạo"-"Ninh Sóc thừa tuyên" luôn đoàn kết sát cánh cùng quân dân cả nước đánh giặc. Cùng với các tỉnh Việt Bắc, Bắc Cạn là căn cứ địa kháng chiến, nơi xuất phát của những chiến sỹ Việt Minh, của những đoàn quân giải phóng từ rừng xanh tiến về trung du, đồng bằng và thành phố. Mảnh đất Na Rì chính là nơi đồng chí Phùng Chí Kiên uỷ viên Trung ương Đảng đã hy sinh trên đường đi tiếp viện cho du kích Đình Cả. Tháng 5.1945, sau khi khi Bộ tư lệnh quân giải phóng thành lập ở Định Biên thượng đã ra lệnh tấn công địch ở khắp Việt Bắc. Quân dân ta đã vây chặt quân Nhật ở Bắc Cạn, đánh các đường giao thông, cắt đường tiếp tế của địch rồi chiếm Ngân Sơn, Bắc Cạn. Ta giành chính quyền ở thị xã tỉnh lị và toàn tỉnh Bắc Cạn 23 tháng 8 năm 1945. Tháng 10 năm 1947 thực dân Pháp tấn công lên Việt Bắc hòng tiêu diệt thủ đô kháng chiến; chúng nhảy dù xuống Bắc Cạn rồi một mặt theo sông Lô lên, một mặt nhảy dù ở Cao Bằng kéo xuống bao vây âm mưu cất vó những người đứng đầu Chính Phủ Hồ Chí Minh. Quân địch đã bị quân và dân ta đánh đánh tơi bời ở khắp các chiến trường Yên Thịnh, Đầm Hồng, Sông Lô, đường số 4...cuối cùng phải dẫn tàn quân bại trận rút chạy khỏi Bắc Cạn.
    Tỉnh Bắc Cạn ngày nay có diện tích tự nhiên rộng 4.795km2, dân số: 30 vạn người, thuộc 8 dân tộc anh em, đa số là người Tày, người Dao sống trên 8 đơn vị hành chính là: Thị xã Bắc Cạn, các huyện Bạch Thông, Na Rì, Ngân Sơn, Ba Bể, Chợ Đồn, Chợ Mới, Pác Nạm.
Bắc Cạn có  Hồ Ba Bể là phong cảnh thiên nhiên nổi tiếng. Bắc Cạn có sông Năng và sông Cầu cung cấp nước cho đồng ruộng. Đỉnh Phia I Oắc (núi Hoa) có chiều cao hơn 1.000m. Là một tỉnh miền núi với hơn 80% diện tích tự nhiên là núi rừng, phần lớn đồng bào làm nghề nông, tập quán canh tác của nhiều vùng dân cư còn tự cấp tự túc, lạc hậu. Lâm nghiệp chủ yếu là vào rừng khai thác tự nhiên các loại gỗ, tre, vầu, giang, củ nâu, nấm hương, sa nhân mộc nhĩ, một phần phục vụ nhu cầu tại chỗ, một phần bán, đổi lấy gạo, thực phẩm, và các đồ gia dụng khác. Tiềm năng kinh tế của Bắc Cạn chủ yếu là lâm nghiệp, khai khoáng và vật liệu xây dựng. Câu ca "Bắc cạn có suối đãi vàng" đã phản ánh một nét thực trạng về sự giàu có tài nguyên ở tỉnh vùng cao này. Không chỉ có "suối đãi vàng" từ lâu, nhân dân vùng Ngân Sơn đã quen làm mỏ bạc, miền Chợ Điền, bản Ty đã làm mỏ kẽm, mỏ thiếc.v.v.
    Theo Quốc lộ số 3 từ Hà Nội đến thành phố Thái Nguyên 79km, bạn mới đi được gần nửa chặng đường Hà Nội-Bắc Cạn. Tiếp tục hành trình qua Thái Nguyên 44 km nữa bạn gặp thị trấn Chợ Mới, đây cũng là bến cuối cùng của sông Cầu mà thuyền bè có thể về xuôi dễ dàng. Đi tiếp 23 km nữa bạn gặp địa danh mang tên Cao Kỳ, còn đấu tich thành đất cũ dài 800m. Thêm 9km nữa bạn đã đến thị xã Bắc Cạn. Thị xã được đặt làm tỉnh lị Bắc Cạn từ năm 1900. Thị xã Bắc Cạn ngày nay chỉ có khoảng hai vạn dân, cơ sở vật chất hạ tầng của đô thị tỉnh lị mới trở lại còn nghèo. Bù lại, thị xã có địa thế đẹp, ngay trong thị xã cũng có đồi cao và núi đá vôi xen lẫn phố phường tạo cho Bắc Cạn mang một nét riêng của thị xã miền sơn cước với những con người chất phác dễ mến, dễ gần. Bắc Cạn có nhiều cảnh đẹp nhưng nổi tiếng nhất xưa nay với du khách xa gần vẫn là hồ Ba Bể. Từ thị xã Bắc Cạn 60km qua Phủ Thông bạn sẽ đến Chợ Rã. Chợ Rã chỉ còn cách hồ Ba Bể 17 km bạn đi bộ hay đi thuyền đều được. Gọi là hồ Ba Bể bởi hồ được tạo thành từ ba hồ nhỏ thông với nhau. Đây là hồ nước tự nhiên rộng và đẹp vào bậc nhất ở nước ta, thiên nhiên còn mang dấu vẻ hoang sơ, kỳ thú. Hồ ở độ cao 145m so với mặt nước biển, có chiều dài 7km, chiều ngang chỗ rộng nhất xấp xỉ 1 km. Xung quanh hồ được bao bọc bởi những dải núi đá với hai đỉnh cao nhất là 795m và 1042m, có rừng cây cối đại ngàn che phủ. Hồ rộng, lắm ngóc ngách, nhiều đảo nhỏ xinh xắn, trên có cổ thụ, có hang động, đường luồn, sông ngầm. Thỉnh thoảng, bất ngờ hiện ra một nếp nhà sàn, một ngọn khói lam uốn lượn bay ra từ vách núi, một chiếc thuyền độc mộc của ngư phủ thấp thoáng trong sương mờ trông như cõi phật, cảnh tiên. Khoảng giữa hồ là đảo An Mạ, có đền thờ vua thuỷ. Đi tiếp vào các vịnh bạn sẽ gặp những hòn đảo nhỏ như đảo Chuồng Gà, hòn Trống, hòn Mái và bản Phiac ở phía nam hồ. Hồ Ba Bể có nhiều thứ cá nổi tiếng như cá pioc, cá nai, cá teng, cá chép, cá cao, ba ba; Chim có các loài sếu, cò, vẹt, phượng hoàng núi, nhạn, vạc, yến.v.v; thú có các loại lợn rừng, hươu nai, chồn, sóc, vượn, khỉ. Đặc biệt trên núi, trong hồ còn nhiều loại gỗ quý như lát vân, lát hoa, chò chỉ, chò xanh, trắc, sến, gụ, mun... Hồ là nơi chứa nước suối chảy ra từ các núi Phia Bióc, Nam Mẫu, Pu Long Ca, rồi chảy tất cả vào sông Năng chỗ sông thông với hồ Ba Bể gọi là cửa hồ. Núi Lung Nham dầm chân bên sông Năng, có hang thờ trong lòng núi, có vết tích thành nhà Mạc và nhà Tây Sơn. Quá cửa hồ 3 km đến Thác Đầu Đẳng. Dòng thác bị một đảo đá tách làm đôi, thác dổ xuống ba bậc, mỗi bậc cao 7m đến 8m, bọt tung trắng xoá, tiếng ầm vang xa hang cây số. Bạn cũng có thể vào Thượng Giáo, lên núi, qua làng người Dao, lên cao ngắm toàn cảnh hồ nước, trời, mây, sông núi hồ Ba Bể. Trước mắt bạn sẽ là cảnh kỳ vĩ nên thơ không giấy bút nào tả xiết. Tôi chắc rằng bạn sẽ tự hào ít nhất đã có một lần đến với Bắc Cạn, đến với hồ Ba Bể, với những ấn tượng suốt cuộc đời không thể nào quên./.

                                                                                                Tuấn Anh


 
Độc đáo - hội đả ngư (Hà Tây)

Lễ hội đả ngư (đánh cá), lễ hội truyền thống của vùng non Tản, được tổ chức vào ngày 15/9 hàng năm, bắt nguồn từ một truyền thuyết về lần Đức Thánh Tản kéo vó trên sông Tích.

Chuyện kể rằng, có một hôm, Thánh Tản giả dạng thành một lão nông đi dạo trên sông Tích, đến đoạn giữa Cầu Vang và Má Mang thấy một ông già ngồi kéo vó. Lúc trời đứng bóng, ông già mở cơm nắm muối vừng rồi mời Ngài cùng ăn. Cảm kích trước tấm lòng của ông, Ngài hỏi thăm và muốn giúp ông việc kéo cá. Ông già than phiền vì từ sáng đến giờ chả được con nào. Ngài vui vẻ xin ông kéo thử một mẻ. Thật kỳ lạ, khi cầm vó kéo lên ông già thấy bao nhiêu là cá, cá lớn, cá nhỏ thi nhau quẫy đành đạch làm ông hoa cả mắt. Ông sung sướng vội vàng bắt cá vào giỏ. Hai người vừa bắt vừa đếm được 99 con. Thấy đáy vó còn duy nhất một con cá trê đang mang bụng chửa, ông già đã nghe lời Ngài thả nó về sông để làm phúc. Rồi vì mải vui vì được nhiều cá, khi ngoảnh lại ông già đã không thấy vị khách qua đường đâu. Nhớ lại phong độ đạo mạo và việc làm dị thường của người khách lạ, ông biết rằng mình vừa được gặp Thánh nhân nên vội về làng loan báo tin vui. Từ đấy hàng năm, dân trong vùng lại mở hội đánh cá trên trên sông Tích, chọn 99 con cá làm lễ vật dâng lên Thánh Tản để cảm tạ ân đức của Ngài. Lại nói chuyện con cá trê, sau khi được phóng sinh đã sinh nở đầy đàn. Nhớ ơn cứu mạng, khi sắp chết, cá trê nọ đã cố bơi về gần đền Và, ngoảnh đầu bái lạy. Nơi này về sau gọi là xóm Trê.

Ngoài mục đích dựng lại tích Thánh Tản kéo vó, lễ hội đả ngư còn mang tính khuyến ngư và giữ gìn môi trường sinh thái vùng sông Tích. Lệ vùng này quy định, mùa đánh cá trên sông Tích được diễn ra trong 3 tháng, nhất thiết chỉ được bắt đầu từ ngày mở hội, trước đó, ai lén lút phạm luật sẽ bị thánh giáng họa. Mỗi khi vào hội, dân hai bờ sông Tích đổ ra kín cả một khúc sông, dưới nước trai đinh nhộn nhịp bơi lội úp xúc, trên bờ dân làng thôi thúc trống chiêng cổ vũ. Dù bắt được ít hay nhiều cá, ai cũng có lộc. Số cá được chọn để dâng lên Đức Thánh Tản là 99 con. Theo quan niệm dân gian đây là con số thiêng như là có 99 núi Voi quay đầu về đền Hùng, 99 núi voi quay về Chùa Hương... Con số 99 ở hội đả ngư còn nhắc chuyện con cá trê mang bụng trứng được phóng sinh năm xưa. Nghĩa cử ấy hợp với việc bảo tồn nguồn thủy sản ngày nay.

Hội đả ngư là nét đẹp văn hóa truyền thống đặc trưng của vùng xứ Đoài. Chính bởi điều này nên trong dịp Đường Lâm đón Bằng công nhận Di tích quốc gia làng Việt cổ, dân làng đã dựng lại trò đả ngư xưa. Hội đả ngư được tổ chức trên một đoạn sông Tích với sự tham gia của 50 tráng đinh (tượng trưng cho 50 người con theo mẹ lên núi), vật dụng cho mỗi người là một chiếc giỏ, một chiếc dập sào và một chiếc vợt. Khai hội, vị trưởng lão mặc trang phục truyền thống tay cầm trống khẩu hướng về núi Tản cầu Thánh phù hộ dân khang, vật thịnh. Kết thúc phần lễ, một ngư đồng sẽ đánh mõ cá và tất cả tráng đinh nhảy xuống sông dập úp cá trong tiếng cổ vũ, reo hò của mọi người. Người nào bắt được cá, đem đến dâng cho vị trưởng lão để cho vào một chiếc giỏ cho đến khi đủ 99 con. Lễ dâng cá thờ được diễn ra ngay tại bờ sông Tích. Vị trưởng lão hành lễ, tráng đinh và nam nữ múa mừng công.

(HC - Theo báo Hà Tây)


 
Hội làng là tinh hoa văn hóa Việt Nam

Hàng năm, có lẽ không có làng quê Việt Nam nào lại không mở hội làng, nhỏ thì một ngày, lớn thì nhiều ngày, nhất là những năm được mùa thì hội làng vui không kể xiết. Hội làng ở các làng quê nước ta thường được tổ chức vào mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt, lòng người hân hoan. Có thể nói, trên cái nền hết sức phong phú và đa dạng của hội hè, đình đám ở nông thôn Việt Nam, hội làng được coi là thời điểm cuốn hút nhất, tưng bừng nhất với những nghi thức tôn nghiêm và thuần Việt nối đời: tế lễ, rước, trò vui và hát xướng...

Ngoài các quốc lễ do Nhà nước phong kiến tổ chức, hội làng thường do một làng đứng ra tổ chức, hoặc có thể do một số làng gần nhau cùng thờ chung một thành hoàng, cùng có mối liên hệ lịch sử thông qua sự tích thánh mà họ tôn phụng. Nhưng, dù là hội của một làng hay liên làng thì hội làng như một mạch nước ngầm xuyên thời gian, bừng chảy tràn trề trong đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh người Việt.

Hội làng đã có từ xa xưa, theo sử sách, nhiều hội làng nổi tiếng tiêu biểu cho tín ngưỡng phồn thực được bảo lưu từ thời thượng cổ. Ngay trên trống đồng cổ, cũng có những nét hoa vǎn, dấu ấn của hội làng. Có những hội làng trở nên tiêu biểu, nức tiếng gần xa như hội: Đền Hùng-tỉnh Phú Thọ, hội Cổ Loa, Lệ Mật, Phù Đổng của Hà Nội, hội Liễu Đôi (Nam Hà), Bắc Ninh có hội Đồng Kỵ, hội Lim... Bắc Giang có hội Yên Thế, Xương Giang, Thổ Hà, Vạn Vân, các hội làng ở Hà Tây, Hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), hội chùa Dâu, Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), hội chùa Keo (Thái Bình) và hội đua ghe ngo của đồng bào Khơme Nam Bộ, hội vùng núi Sam (Châu Đốc - An Giang)...

Có thể nói, hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc, đó là đỉnh cao của sự hòa hợp, đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã. Hội làng thường được tổ chức thật vui, thật đầm ấm tình làng nghĩa xóm, điều đó thể hiện qua những khâu chuẩn bị cho đến khi nuối tiếc lúc tan hội. Có xem hội làng mới cảm nhận hết ý nghĩa và lòng tự hào dân tộc với một truyền thống vàng son.

Cũng như Lễ hội truyền thống, hội làng gồm hai phần lễ và hội, thường diễn ra ở các ngôi đình làng. Nhưng, ở hội làng, phần hội bao giờ cũng nổi trội hơn. Lễ thể hiện lòng ngưỡng mộ, sùng bái anh hùng, tôn vinh danh nhân, người có công với dân, tổ nghề, có thể là những thần, thánh, phật, mẫu, những nhân vật siêu phàm, những đại diện cho tôn giáo, người bảo trợ tinh thần và đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho cộng đồng. Phần lễ thường gồm các hoạt động rước nước và mộc đục, rước và tế... Hội là dịp thể hiện những sinh hoạt văn hóa cộng đồng từ múa, hát giao duyên, hát thờ, các diễn xướng sân khấu cổ truyền, các cuộc thi tài mang tính thượng võ (bơi trải - hội làng Đăm, chạy cờ - làng Triều Khúc, thú chơi cờ người - làng Xuân Phương...), các trò diễn phong tục (thổi cơm thi - làng Thị Cấm, bơi cạn và bắt chạch trong chum - làng Hồ, trình nghề - làng Sài Đồng, thú chơi thi thơ, thú chơi tạo cây cảnh, con giống bằng sáp nến, thú chơi chọi gà, vùng Bưởi)...

Trong các sinh hoạt hội, mọi người tham gia trình diễn, sáng tác, thưởng thức và hưởng thụ sau những ngày lao động vất vả, không kể sang hèn. Vì thế, có thể cho rằng, hội làng đã tạo nên niềm cộng cảm sâu sắc giữa các thành viên trong cộng đồng, là sự nhất quán trong việc trao truyền các giá trị vǎn hóa giữa các thế hệ.

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực là khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức hướng về cội nguồn, hội làng còn tồn tại một số tập quán lạc hậu, những biểu hiện mê tín, những tệ nạn xã hội. Ở một số nơi, hội làng được tổ chức không phải để tôn vinh các giá trị truyền thống mà để kinh doanh kiếm lời. Họ rào làng, bịt lối, bán vé vào cửa, bán vé vào lễ, gây phiền hà cho người đến lễ hội, trái ngược hẳn với tục mở rộng vòng tay đón bạn mười phương về chung vui hội làng thời xưa. Các tệ nạn mê tín dị đoan như: lên đồng, bói toán, đội bát nhang, uống nước thánh, đốt vàng mã, cúng tế, rước xách linh đình kéo dài ngày càng có chiều hướng gia tǎng. Hơn nữa, trong hội làng đã bắt đầu xuất hiện các tệ nạn xã hội như: đánh bạc, cá cược, hút thuốc phiện...


Một mùa lễ hội mới đã về trên khắp nẻo làng quê Việt Nam. Chúng ta mong rằng hội làng vẫn giữ nguyên sức cuốn hút, hấp dẫn của nó, giảm trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội. Bởi hội làng là tinh hoa văn hóa Việt Nam, là chìa khóa vĩnh cửu - một sự đảm bảo chắc chắn góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

(HC – Theo dangnangpt)

NGƯỜI THỂ HIỆN THƠ BÁC HỒ BẰNG NGHỆ THUẬT THƯ HỌA

Nhân dịp kỷ niệm 62 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh  nước CHXHCN Việt Nam (2.9.1945 - 2.9.2007) Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc T.P Hồ Chí Minh xuất bản tập thơ "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đặc biệt, đây là lần đầu tiên tác phẩm văn học lớn - một văn kiện lịch sử vô giá của Đảng ta được các nghệ sỹ thể hiện bằng "nghệ thuật thư họa" để tỏ lòng biết ơn và kính trọng đối với công lao và sự nghiệp của Bác Hồ và mong muốn góp phần trong cuộc vận động toàn Đảng, toàn dân: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Một trong những nghệ sỹ tiên phong trong việc thể hiện thơ Bác Hồ bằng "nghệ thuật thư họa" là họa sỹ Trương Hán Minh.

Các nhà thư pháp trong và ngoài nước cũng như đông đảo độc giả đánh giá rất cao các tác phẩm "nghệ thuật thư họa" của họa sỹ Trương Hán Minh thể hiện thơ chữ Hán của Bác Hồ trong tập "Nhật ký trong tù" như các tác phẩm: "Khai quyển" (Mở đầu tập Nhật ký), "Phân thủy" (Chia nước), "Dã cảnh" (cảnh ngoài đồng), "Vãng Nam Ninh" (Đi Nam Ninh), "Công kim" (Tiền công), "Anh phỏng Hoa đoàn" (Đoàn đại biểu Anh thăm Trung Hoa), "Lai Tân ", "Đáo Đệ tứ chiến khu Chính trị bộ" (Đến Cục Chính trị chiến khu 4), "Thu cảm"... Không những thế, Trương Hán Minh cũng là người đi tiên phong và cũng rất thành công khi dùng nghệ thuật vẽ tranh thủy mặc thể hiện và minh họa thơ Bác Hồ như các tác phẩm: "Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên", "Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên", "Yên ba thâm xứ đàm quân sự", "Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền", "Nhớ chiến sỹ"... với lối điểm bút phá mặc, vẽ mây trên núi, khói sương phủ rừng cây rất sinh động.

Các tác phẩm tranh thủy mặc của Trương Hán Minh đã nhiều lần được in vào tuyển tập tranh vẽ mỹ thuật toàn quốc và tuyển tập tranh danh nhân nhiều nước trên thế giới. Tranh Trương Hán Minh đã từng triển lãm cá nhân, tại Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Australia, Malaixia, Lào... hoặc triển làm gây quỹ từ thiện, ủng hộ quỹ "Vì người nghèo" trong và ngoài nước hơn 50 lần. Tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Viện Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Viện Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM cũng như các bảo tàng cá nhân, người sưu tập, người yêu nghệ thuật các nước Đông Nam Á và Thế giới treo tranh thủy mặc của Trương Hán Minh. Khi đến thăm Nghệ Uyển Lĩnh Nam của Họa sỹ ở T.P Hồ Chí Minh tháng 7/1996 ông Quách Siêu Nhân - Tổng giám đốc Tân Hoa xã Trung Quốc nhận xét: "Trương Hán Minh là họa sỹ hàng đầu của tranh Thủy mặc của Việt Nam và cả cộng đồng người Hoa trên thế giới, tài năng của anh được ghi nhận, tấm lòng nhân ái của anh được trân trọng..."

Ngày nay nhiều người biết Trương Hán Minh là: Hội viên hội Mỹ thuật Việt Nam; Thường vụ Ban chấp hành Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam; Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Hội văn hóa các dân tộc TP HCM; Hội trưởng Hội Mỹ thuật người Hoa; Chủ nhiệm CLB Mỹ thuật người Hoa TP HCM... Nhưng lại không nhiều người biết từ nhiều năm nay Anh là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cả 4 cấp từ cơ sở đến Trung ương với rất nhiều cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như các đóng góp nhân đạo, từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người tàng tật một cách khiêm nhường, bền bỉ theo đúng nghĩa "thương người như thể thương thân".

Cùng tham gia Hội đồng Tư vấn về lĩnh vực Văn hóa Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, tôi có nhiều dịp được trò chuyện cùng họa sỹ trong những dịp đi công tác thành phố Hồ Chí Minh cũng như khi họa sỹ ra Hà Nội họp Hội đồng Tư vấn, họp Ủy ban Trung ương Mặt trận hoặc đi công cán, giao lưu, sáng tác. Có lần tôi hỏi Anh về chuyện "nhắm mắt vẽ tranh". Anh cho biết báo chí viết về anh khá nhiều, nói chung là chân thực, nhưng cũng có những tác giả có thể vì quá yêu mến hoặc hiểu sai, tiếp nhận thông tin không chính xác nên gây ngộ nhận, hiểu lầm trong công chúng. Thí dụ có báo viết Anh được sinh ra trong gia đình "gia phả" (?) có truyền thống nhiều đời vẽ tranh thủy mặc. Có người lại viết anh thường "không cần nhìn giấy, nhắm mắt để vẽ tranh"...?

Anh cho biết: Hội họa với tôi không phải là nghề gia truyền vì cha mẹ tôi là nhà nông thì truyền cái gì. Gia đình tôi chỉ có ba biết chữ còn má thì không biết chữ. Ba, má tôi quê ở Triều Châu (Quảng Đông), sau chiến tranh với Nhật Bản do đói nghèo không có ăn nên đã chạy qua Việt Nam ở khu Chợ Lớn mới sanh ra tôi. Đầm Sen, Chợ Lớn là nơi "chôn nhau cắt rốn" của tôi. Lúc đầu ba, má tôi không có nghề nghiệp gì sau bà con bày cho mới biết đi trồng trọt, khai hoang, chặt tre, chặt trúc, nuôi heo, đào ao nuôi cá, qua mười mấy năm mới có ăn và khá giả hơn chút xíu. Hồi nhỏ tôi học hết lớp tư phải nghỉ 2, 3 năm để giúp nhà trồng trọt sau gia đình khá giả mới học tiếp được, nên học thức của tôi đâu có cao chỉ học hết lớp 10/10. Hồi đó học Đại học phải đi nước ngoài mà mình đâu có khả năng. Sau đó mình tự học nhưng không dám công khai. Hồi tôi 17 tuổi vừa học vẽ vừa làm cơ khí, sản xuất dây thun (chun), các ngón chân tôi đều bị thương hết do nước ăn chân khổ cực lắm không ai biết đâu. Ngay từ lúc học phổ thông tôi đã vừa học vừa làm. Hội hoạ là học lén chứ cha mẹ đâu có cho học. Ba tôi không đồng tình việc học vẽ vì cho rằng hoạ sĩ nghèo nên mình phải học lén từ bé nên bị đánh hoài vào tay. Tôi học văn hoá không khá nhưng vẽ thì lần nào cũng được khen. Tôi phải mất trên mười lăm năm vất vả làm kinh tế, vừa học vẽ, vừa làm thuê. Sau này sản xuất phát triển có thuê thêm công nhân nhưng mình cũng kiêm luôn các việc vừa là giám đốc, thủ quỹ, người giao hàng... làm vất lắm nên bị dau dạ dày từ sớm. Mấy chục năm vừa "cầm búa" vừa "cầm cọ" (bút vẽ) cho đến bây giờ vừa "cầm cọ" vừa làm công tác Mặt trận và làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo.  

Nói về tranh thủy mạc Anh tâm sự: Mỗi bức vẽ đều phải có thần, có khi luyện mấy chục năm mới thành được. Mỗi bức vẽ đều là "độc nhất, vô nhị". Vẫn người đó vẽ bức thứ hai đã không hoàn toàn giống bức đầu nữa. Nói về bút pháp, ngày xưa thày Lương Thiếu Hằng thuộc họa phái Lĩnh Nam ở Nghệ uyển Đông phương. Thày dạy tôi chỉ có "tứ quân tử" (mai, lan, trúc, cúc) mà tôi tập mất 3 năm. Mình tập rồi mới biết tại sao như vậy. Thành ra trong đó nó có nguyên tắc, biết được thì rất dễ dàng. Ban đầu thày dạy chỉ có mấy nét phất qua, phất lại cũng thành cành trúc rất là đẹp, rất là mạnh mẽ. Nhưng tất cả cũng từ mấy nét phất qua, phất lại đó bao gồm đủ thứ hết. Qua thực tế mấy tháng khổ luyện mình mới vẽ được thân trúc. Rồi qua mấy tháng nữa mới vẽ được cái lá trúc... Ban đầu mình không biết cả chùm lá trúc phải xử lý thế nào, vẽ nét nào trước, nét nào sau. Sau đó mình tìm ra phương pháp, nhìn ra cấu tạo giống như bàn tay mình, mình vẽ như bàn tay xen kẽ, đưa trước, đưa sau, đắp qua đắp lại như những chữ nhân, chữ cái 3 nét chồng vô, thấy hơi mỏng lại chồng vô tiếp chữ nhân ở dưới. Có thể bên cạnh thấy còn thiếu laị chồng thêm chữ nhân, tạo ra chùm lá rất đẹp. Trong bố cục chồng chữ cái, với chữ giới thành chữ phân rồi từ đó mình có 3 chữ cái mình mới chồng lên có tầng cao tầng thấp, cành thì thêm chút lá cây vô có chỗ trống không cần vẽ bút không tới mà ý tới rồi. Lúc mình dạy học sinh vẽ cái cành thì mình nhấn thêm vài nét lá thành chữ nhân cứ chéo qua chéo lại thành ra nét bút có chỗ đậm có chỗ nhạt có chỗ dày, có chỗ thưa nên bố cục nó mới tinh tuý, chứ đều quá thì không được. Mình tự học và nghiên cứu mất 3 năm, đúc rút tổng kết lại để giải thích cho học sinh có 1 tiếng đồng hồ các em hiểu để trong 3 tháng luyện tập có thể vẽ được. Cái đó gọi là phương pháp sư phạm. Ngày xưa thày dạy mình đâu có sư phạm như vậy. Mình phải tự tìm ra cái sư phạm để dạy học sinh. Anh đã dạy nhiều năm và đã tìm ra phương pháp dạy thành công, cho tới bây giờ Anh đã dạy ở Trường đại học Mỹ thuật Huế, dạy Đại học Sư phạm và  Đại học Mỹ thuật Quảng Tây, Trung Quốc.

Anh dẫn tôi đi thăm và giới thiệu các phòng vẽ, phòng trưng bày tranh thuỷ mặc ở Nghệ Uyển Hán Minh, Nghệ Uyển Lĩnh Nam và tư gia. Gặp lại những chủ đề hoa điểu, sơn thủy quen thuộc của anh qua những: Sơn xuyên đa tình, Nhất giang xuân thủy, Tùng hạc diên niên, Thanh sơn lệ thủy, Giang sơn đa tình, Xuân phong đắc ý, Hạ nhật phong tình, Anh hùng đại triển, Hoa thơm bướm lượn, Hạ đàm thanh thúy, Ưu nhiên tự đắc, Tùng hạc trường xuân,  Hoa mẫu đơn, Uyên ương... nét vẽ đậm nhạt, xa gần, mơ hồ, huyền ảo như có thần sắc sống động rất lạ, khiến người thưởng ngoạn phải trầm trồ thán phục. Bên cạnh những chủ đề, phong cách truyền thống Trương Hán Minh lại có những tác phẩm, đề tài gần gũi, mang phong cách mới lạ như: Ký ức Trường Sơn, Sắc Thu hồ Hoàn Kiếm, Xuân Sa Pa, Nhà ở Mường Khương Lào Cai, Thác Bản Giốc, Vịnh Hạ Long, Góc biển Cà Mau, Ký ức Sa Pa, Ký họa Cần Giờ..., vẫn là sắc nước hương trời, là thiên nhiên bốn mùa, nhưng đường nét, màu sắc rất phóng khoáng, sinh động và hiện đại.

Trả lời nhận xét của tôi Anh nói: Tranh thuỷ mặc chú trọng cả ba thứ: Hình, thần và ý. Hình là cái cốt để gửi ý. Thần là cái chủ yếu làm cho tranh sống động. Thuỷ mặc gửi cái thần và cái ý dưới các hình thức phong cảnh, tre trúc, hoa lá, điểu ngư... nhằm biểu đạt niềm vui và nỗi buồn của con người qua tác phẩm. Tranh thuỷ mặc của mình vẫn giữ cái truyền thống nhưng phát triển thêm cái hiện đại. Có truyền thống mà không theo kịp thời đại thì sẽ bị lạc hậu, lạc hậu thì chỉ những người thích cái cũ cái truyền thống họ thích thôi. Nên phải kết hợp giữa cái cũ và mới nên tranh của mình kết hợp vừa cổ vừa kim. Vừa học hỏi, vừa sáng tạo, từ cái một biến thành cái mười, từ cái mười biến thành cái trăm, vì thế càng ngày càng phong phú rộng rãi hơn. Vì thế, tranh của mình vẽ đủ thứ hết không chỉ là hoa lá, chim muông đâu mà cả thú vật, động vật... Như khi đi Sa Pa mình chỉ để ý tìm chất riêng của phong cảnh miền Bắc và mình lấy phong cảnh sơn thuỷ truyền thống đưa vào rồi mình biến lại, trang điểm lại một chút hiện đại nhưng nhìn không thể biết. Thành ra mình đi thực tế để từ cái cũ người xưa để lại, rồi mình thêm cái mới vô và lấy cái truyền thống làm nền tảng, lấy cái của mình mới khám phá tới thành cái của mình, nên cái họ có mình cũng có và cái họ không có mình cũng có.

Nghe anh nói tới đây tôi chợt nhớ hôm vừa xuống sân bay Tân Sơn Nhất thì nghe Truyền hình Thành phố đưa tin: Họa sĩ Trương Hán Minh vừa khai mạc phòng triển lãm "Tranh thủy mặc" ủng hộ quỹ "Vì người nghèo" sáng nay tại nhà triển lãm 92 Lê Thánh Tôn, TP Hồ Chí Minh. Triển lãm khai mạc hôm nay và kéo dài đến hết ngày 20/10. Số tiền bán được của phòng tranh này sẽ được chuyển vào quĩ ủng hộ "Vì người nghèo"... Thực ra người dân Thành phố và các tỉnh biết đến anh, gọi Anh là con người của công chúng không phải vì Anh là họa sỹ vẽ "Tranh thủy mặc" hàng đầu Việt Nam mà vì họ thường thấy Anh xuất hiện trong các buổi từ thiện để quyên góp, giúp đỡ người nghèo, ủng hộ đồng bào bị bão lụt thiên tai, ủng hộ quỹ khuyến học, quỹ "đền ơn đáp nghĩa" v.v. với số tiền hàng nhiều trăm triệu đồng mà anh không thể nhớ hết và cũng không muốn kể với ai. Có điều anh rất tự hào khẳng định là họa sỹ duy nhất ở Việt Nam tham gia Ủy ban Mặt trận ở cả 4 cấp: cấp phường, cấp quận, cấp Thành phố và cấp Trung ương. Anh bảo: khi mình làm công tác Mặt trận các cấp (từ năm 1982) càng được gần dân, sống với dân và sống vì dân... nó vơi đi nhiều nỗi buồn. Tại tư gia của Anh tôi đã thấy xếp hàng chồng các loại bằng khen, của các tỉnh, thành, các ngành, các cấp vì những thành tích và công lao đóng góp của Anh với cộng đồng, với đất nước, với nhân dân. Anh đã tham gia 3 khóa Mặt trận Trung ương và tôi được biết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII Anh vẫn tiếp tục cống hiến trí tuệ, sức lực, của cải vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó cũng là cách Anh "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" một cách thiết thực, dản dị và đáng trân trọng biết bao./.

TUẤN ANH


VÕ NGUYÊN GIÁP - KỶ NIỆM NHỮNG NĂM ĐẦU CÁCH MẠNG VỚI HỒ CHÍ MINH VÀ HUỲNH THÚC KHÁNG

(Tuấn Anh lược ghi theo lời kể của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp)

Từ năm 1929, khi tôi (Võ Nguyên Giáp) làm biên tập cho báo Tiếng Dân (với bút danh là Vân Đình, hoặc Hải Thanh) do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập, được tiếp xúc nhiều với cụ, vì thế tôi rất biết chính kiến của cụ Huỳnh - một nhà chí sỹ đầy khí phách, không dừng bước trước mọi gian nguy, sẵn sàng đem cả tính mệnh ra cứu nước.

Những người trong phong trào Duy Tân thời ấy, ý kiến tuy có chỗ khác nhau nhưng đều cho rằng dân ta sở dĩ phải khổ sở như vậy là do bọn tham quan ô lại. Vì vậy, nếu diệt trừ được bọn tham quan ô lại, nói rõ sự thật cho chính phủ Pháp, đem nền văn minh mà cải hoá đất nước thì cũng có thể đi đến tiến bộ. Đó cũng là tâm niệm của Cụ Huỳnh cũng như nhiều chí sỹ yêu nước cùng thế hệ ông. Khi tôi tham gia hoạt động trong chi bộ báo Tiếng Dân, dù tư tưởng khác nhau nhưng biết chúng tôi là những người cộng sản có lần cụ Huỳnh nói với tôi: Cậu là một thanh niên thông minh, yêu nước, nhưng các cậu chưa từng trải cho nên chưa hiểu rằng chủ nghĩa Bôn-sê-vích thì không hợp với nước ta. Mặc dầu nói như vậy, nhưng vì lòng yêu nước cụ vẫn giúp những người cộng sản chúng tôi hoạt động.

 

Bác Hồ và cụ Huỳnh Thúc Kháng (người mặc áo dài đen, đeo kính, đứng hàng trên) và các vị trong Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội bầu tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa 1 (3-11-1946)

Lúc bấy giờ để tờ báo có thể tố cáo được chế độ thực dân tôi đã viết nhiều bài cho báo Tiếng Dân mà có bài từ đầu chí cuối bị kiểm duyệt hết. Thí dụ như bài về 29 công ty tư bản ở Việt Nam gọi vốn hơn một triệu đồng trong đó người Việt Nam chỉ có một thôi. Sau khi in ra, trên báo kể tên những người góp vốn thì bài báo bị kiểm duyệt. Rất khảng khái cụ Huỳnh nói rằng bài này bị kiểm duyệt, ta không lấy bài khác thay vào mà cứ để trang báo trắng như vậy. Nhiều tin tức về Xô - viết Nghệ Tĩnh, hay về các chiến sỹ cộng sản bị bắn, khi báo đăng bị kiểm duyệt cắt bỏ, tin tức bị xoá thì cụ chỉ thị là cứ để giấy trắng. Vì vậy, báo Tiếng Dân nhiều lúc phát hành để một nửa trang hay một phần ba trang trắng. Điều ấy khẳng định chính kiến của Cụ là một cái riêng, nhưng cụ là người yêu nước, cho nên chúng tôi vẫn làm việc vui vẻ và có kết quả trong báo Tiếng Dân. Nhiều bài theo chỉ thị của Trung ương các đồng chí viết để phổ biến chủ nghĩa Mác bằng lời lẽ cổ phong ở trong báo thì cụ vẫn để đăng.

Biết cụ Huỳnh là con người như vậy, cho nên hoàn cảnh nước ta sau cách mạng Tháng Tám gặp khó khăn, các đảng phái đối lập đề ra việc thành lập Chính phủ liên hiệp có thành phần Việt Minh và thành phần Việt Quốc, Việt Cách với hai bộ chính là Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng phải cử người trung lập đứng đầu thì tôi có đề nghị với Bác Hồ và anh Trường Chinh là nên mời cụ Huỳnh vào làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Khi nhận bức thư mời thứ nhất, cụ Huỳnh chưa trả lời, đến bức thư thứ hai thì cụ đồng ý ra Bắc nhưng không mang theo hành lý mà dự định ra gặp Bác Hồ rồi cụ sẽ trở vô. Khi gặp nhau, Bác Hồ đã nói chuyện với cụ Huỳnh suốt một giờ đồng hồ và đã thuyết phục được cụ Huỳnh ra gánh vác việc nước. Sau khi gặp Bác Hồ, cụ Huỳnh có nói một câu rằng: "Đã gặp tri kỷ, tiếc rằng khi gặp tri kỷ thì tuổi đã già..." dù vậy, cụ vẫn ra làm việc. Đó cũng chính là tấm lòng cụ Huỳnh với dân với nước, với Bác Hồ vậy.

 Trong thời gian Bác Hồ đi Pháp giao quyền cho cụ Huỳnh làm Chủ tịch nước thì những đảng phái Việt Quốc, Việt Cách hoành hành rất mạnh ở Thủ đô Hà Nội. Lúc đó, vì còn quân Tưởng, cho nên bộ đội ta đóng ở Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai. Trong Chính phủ liên hiệp có "Quân sự uỷ viên hội", tôi được cử làm Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, còn Vũ Hồng Khanh thủ lĩnh Quốc dân đảng được cử làm Phó chủ tịch. Trước khi đi Pháp, Bác Hồ có bàn với cụ Huỳnh việc giao quyền Chủ tịch nước cho Cụ và để lại cho Cụ mấy chữ: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" vì biết tình hình sẽ rất khó khăn. Trong báo chí công khai chỉ nói chừng ấy, nhưng tôi xin nói thêm rằng lúc Bác Hồ nói với cụ Huỳnh câu "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" thì cả tôi và anh Trường Chinh đều có mặt. Bác Hồ dặn chúng tôi: Các chú ở nhà làm sao mà Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Trung ương làm việc phải bàn bạc, thuyết phục, thống nhất, không có cái gì được ép buộc. Phải làm sao cho Cụ đồng tình để cùng làm việc thì mới đạt kết quả tốt được.

Như vậy, đi đôi với việc giao quyền cho cụ Huỳnh, Bác Hồ hết sức coi trọng sự lãnh đạo của Đảng. Vì thế, khi Bác đi vắng những công việc báo cáo với cụ Huỳnh đều được bàn bạc trước ở trong Thường vụ dưới sự chỉ đạo của anh Trường Chinh. Lúc bấy giờ rất may mắn cụ Huỳnh là người yêu nước và chuộng công lý cho nên khi xảy ra vụ phản động ở phố Ôn Như Hầu là cụ quyết liền. Tình thế lúc đó nếu không có chứng cớ rõ ràng mà bắt bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách thì không làm được mà còn ảnh hưởng đến Mặt trận Việt Minh. Ngay một số người nào đó trong Mặt trận cũng chưa chắc đã tán thành. Nhưng công an ta lúc đó có anh Lê Giản và anh Nguyễn Tạo lo tìm được chứng cớ đầy đủ.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày với Hồ Chủ Tịch và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng về phương án mở Chiến dịch Điện Biên

Hồi đó, nhiều đồng chí, đồng bào ta bị bắt, bị giết, bị chôn ở phố Ôn Như Hầu. Khi chúng tôi có chứng cớ đầy đủ, thuyết phục, lập tức báo cho cụ Huỳnh rằng ở phố Ôn Như Hầu đang in truyền đơn phản động và có vấn đề bắt cóc, hối lộ, tống tiền, thủ tiêu... thì với tinh thần khảng khái của người yêu nước, chuộng công lý, cụ cầm ba-toong đập xuống đất một cái và nói: Phải diệt chúng nó, bọn này là bọn phản quốc. Thế là cụ tán thành xử lý "vụ Ôn Như Hầu"...  Sau đó, chúng tôi bàn ở trong Thường vụ và ở trong Quân uỷ Trung ương chủ trương phải tiêu diệt bọn Quốc dân đảng ở Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai đều được cụ Huỳnh đồng ý.

Như thế, trong khi Bác Hồ đi vắng, theo lời Bác dặn, ở nhà đã giải quyết được mối đoàn kết chung, kiên quyết tiêu diệt bọn phản động, không phải chỉ vụ phản động ở phố Ôn Như Hầu mà tiêu diệt toàn bộ quân đội của Việt Quốc, Việt Cách từ Vĩnh Yên cho đến Yên Bái, Lào Cai. Đến khi Bác Hồ về thì mọi việc đã được giải quyết. Lúc tham gia gánh vác công việc của đất nước thì tuổi Cụ đã cao và thời gian cũng ngắn, nhưng cụ Huỳnh đã để lại cho chúng ta một thực tiễn sinh động về thành công trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận. Tháng 5.1946, cụ Huỳnh còn đảm nhiệm chức vụ Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt (Bác Hồ làm Hội trưởng danh dự) nhằm mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân. Mặc dù lúc bấy giờ Đảng đã rút vào hoạt động bí mật nhưng Việt Minh và Liên Việt đoàn kết toàn dân làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng non trẻ đối phó với thù trong, giặc ngoài. Về chiến lược chúng ta rất vững vàng, nhưng về sách lược lại rất mềm mỏng, kể cả trong cách làm. Như thế, công lao của cụ Huỳnh đối với đất nước, với dân tộc là rất lớn.

Điều cuối cùng tôi muốn nói về tấm gương cụ Huỳnh, bài học lớn của cụ Huỳnh, cùng với bài học của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh. Cụ Phan Bội Châu như Bác Hồ đã nói là thiên sứ đi thức tỉnh đồng bào và đã tán thành Nguyễn ái Quốc để đi đến Chủ nghĩa xã hội. Cụ Phan Châu Trinh đến lúc vận nước lâm nguy thì thấy rằng vận mệnh nước nhà lúc này là do Nguyễn ái Quốc gánh vác. Cụ Huỳnh Thúc Kháng thì không những có chuyển biến về tư tưởng như vậy là do yêu nước, thương dân, thực sự muốn mang hạnh phúc tự do đến cho đồng bào, cuối cùng cũng đi đến cộng tác với Hồ Chí Minh. Như vậy con đường chủ nghĩa yêu nước chân chính, yêu nước thương dân mang lại tự do, độc lập, thống nhất cho dân tộc, cho thời đại, hạnh phúc cho nhân dân thì ở nước Việt Nam ta quy luật là đi đến với Chủ nghĩa xã hội. Từ tấm gương cụ Huỳnh Thúc Kháng và các nhà yêu nước khác càng chứng tỏ sự đúng đắn của con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Cho nên Đảng ta càng tin tưởng, dân ta càng tin tưởng vào đường lối của Đảng, mà đường lối đó đã đưa chúng ta đến thắng lợi ngày nay²

 (Tuấn Anh lược ghi theo lời kể

 của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp)


 

HUỲNH THÚC KHÁNG - NGƯỜI ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC

VÀO SỰ NGHIỆP CỦNG CỐ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

                                                         Nguyễn Tuấn Anh

                                                     Ủy viên Trung ương MTTQ Việt Nam

Cụ Huỳnh Thúc Kháng – Hội trưởng

Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (5.1946)

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam nói riêng, tên tuổi và sự nghiệp của Nhà chí sỹ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng có vị trí đặc biệt quan trọng. Sau ngày nước nhà giành độc lập không lâu cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (29/5/1946). Cũng thời gian này từ 31/5/1946 đến 20/10/1946 Cụ Huỳnh được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Người đi Pháp. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được ghi nhận là người hết lòng yêu nước, thương nòi, người đóng góp tích cực vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Chúng ta đều biết, ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về thành lập Hội Phản đế đồng minh – hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam - Ngày nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ đó đến nay, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, các hình thức tổ chức Mặt trận đã lần lượt ra đời. Hội Phản đế đồng minh đã tuyên truyền vận động nhân dân dấy lên cao trào phản đế mạnh mẽ trong cả nước, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Trong những năm 1936 -1939 Mặt trận dân chủ Đông Dương và Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân chống đế quốc và bè lũ tay sai, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, dân quyền. Ngày 19/5/1941 Mặt trận Việt Minh ra đời đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, thu hút mọi giới đồng bào yêu nước, tạo thành cao trào đánh Pháp - đuổi Nhật và là một nhân tố quyết định đưa Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 29/5/1946 Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời đã mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam đã cùng với Mặt trận Việt Minh huy động sức mạnh của nhân dân làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng còn non trẻ và đối phó có hiệu quả với thù trong, giặc ngoài, để vượt qua thử thách trước tình thế cách mạng và vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự. Việc trọng dụng nhân tài như cụ Huỳnh và nhiều nhân sỹ, trí thức từng làm việc cho chế độ cũ, không phải là đảng viên cộng sản càng khẳng định tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, trong bài viết có nhan đề "Nhân tài và kiến quốc” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 14-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển thêm nhiều”. Các bộ trưởng của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ những ngày đầu trứng nước như: Nguyễn Văn Huyên (Bộ Giáo dục), Trần Đăng Khoa (Bộ Giao thông công chính), Hoàng Tích Trí (Bộ Y tế), Vũ Đình Hòe (Bộ Tư pháp), Ngô Tấn Nhơn (Bộ Canh nông), Chu Bá Phượng (Bộ Cứu tế), Nguyễn Văn Tố, Bồ Xuân Luật (Bộ Không bộ), Huỳnh Thúc Kháng - Bộ Trưởng Bộ Nội vụ đồng thời cũng là Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, đều là các nhân sĩ, trí thức lớn và là người ngoài Đảng và họ đã hoàn thành trọng trách được giao, hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình trước quốc gia, dân tộc. Ngày 3/3/1951 Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt đã động viên sức mạnh toàn dân, toàn quân tập trung sức người, sức của đẩy mạnh cuộc kháng chiến với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến” làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/9/1955 như sau: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là vô địch, và Mặt trận dân tộc thống nhất đã nhiều lần thắng lợi. Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng tháng Tám thành công. Mặt trận Thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi. Chúng ta có thể tin chắc rằng: với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh."

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 11.1946

(Cụ Huỳnh Thúc Kháng người đeo kính đứng hàng đầu cạnh Bác Hồ)

Từ tư tưởng đại đoàn kết toàn dân và trọng dụng nhân tài mà Đảng và Bác Hồ đã trọng dụng cụ Huỳnh Thúc Kháng và chính cụ Huỳnh là người đóng góp tích cực vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cách đây vừa đúng 20 năm, trong dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của cụ Huỳnh Thúc Kháng (10/1876 - 10/1996), tôi (Nguyễn Tuấn Anh - tác giả bài viết này) có may mắn được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cử đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Cù Huy Cận là những người trực tiếp có thời gian cùng hoạt động và có nhiều kỷ niệm với cụ Huỳnh để nghe kể và ghi chép về những hoạt động của cụ Huỳnh và những đóng góp của Cụ với đất nước, với việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Những tư liệu ghi chép được trong những lần nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Cù Huy Cận kể lại càng khẳng định công lao đóng góp to lớn của cụ Huỳnh với Tổ quốc, với nhân dân, với Cách mạng Việt Nam.

Chúng ta đều biết vì các hoạt động cứu nước, chống đế quốc đô hộ, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo 13 năm (1908 -1921). Sau khi ra tù, cụ lập ra Báo Tiếng Dân trực tiếp làm chủ bút và tổng biên tập báo. Tiếng dân là tờ báo công khai, tiến bộ, bênh vực người nghèo, thức tỉnh đồng bào sống trong ách áp bức của chế độ thực dân phong kiến. Sau đó Cụ tham gia rồi được bầu làm Chủ tịch Viện Dân biểu Trung kỳ. Khi Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền thành công, Cụ đã 70 tuổi nhưng uy tín và tinh thần yêu nước của Cụ vẫn có ảnh hưởng rất lớn trong các tầng lớp nhân dân cả nước. Chính vì thế, cuối năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi hai bức thư mời cụ Huỳnh ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Lần đầu Cụ chưa nhận lời vì lý do tuổi cao sức yếu, nhưng lần thứ hai thì Cụ đồng ý ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh nhưng cũng chưa có ý định làm việc với chính quyền Việt Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: Khi tôi làm biên tập cho báo Tiếng Dân (với bút danh là Vân Đình, hoặc Hải Thanh) do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập, được tiếp xúc nhiều với cụ, vì thế tôi rất biết chính kiến của cụ Huỳnh - một nhà chí sỹ đầy khí phách, không dừng bước trước mọi gian nguy, sẵn sàng đem cả tính mệnh ra cứu nước.

Những người trong phong trào Duy Tân thời ấy, ý kiến tuy có chỗ khác nhau nhưng đều cho rằng dân ta sở dĩ phải khổ sở như vậy là do bọn tham quan ô lại. Vì vậy, nếu diệt trừ được bọn tham quan ô lại, nói rõ sự thật cho chính phủ Pháp, đem nền văn minh mà cải hoá đất nước thì cũng có thể đi đến tiến bộ. Đó cũng là tâm niệm của Cụ Huỳnh cũng như nhiều chí sỹ yêu nước cùng thế hệ ông. Khi tôi (Võ Nguyên Giáp) tham gia hoạt động trong chi bộ báo Tiếng Dân, dù tư tưởng khác nhau nhưng biết chúng tôi là những người cộng sản có lần cụ nói với tôi: Cậu là một thanh niên thông minh, yêu nước, nhưng các cậu chưa từng trải cho nên chưa hiểu rằng chủ nghĩa Bôn-sê-vích thì không hợp với nước ta. Mặc dầu nói như vậy, nhưng vì lòng yêu nước cụ vẫn giúp những người cộng sản chúng tôi hoạt động.

Lúc bấy giờ để tờ báo có thể tố cáo được chế độ thực dân, tôi đã viết nhiều bài cho báo Tiếng Dân mà có bài từ đầu chí cuối bị kiểm duyệt hết. Thí dụ như bài về 29 công ty tư bản ở Việt Nam gọi vốn hơn một triệu đồng, trong đó người Việt Nam chỉ có một thôi. Sau khi in ra, trên báo kể tên những người góp vốn thì bài báo bị kiểm duyệt. Rất khảng khái cụ Huỳnh nói rằng bài này bị kiểm duyệt, ta không lấy bài khác thay vào mà cứ để trang báo trắng như vậy. Nhiều tin tức về Xô - Viết Nghệ Tĩnh, hay về các chiến sỹ cộng sản bị bắn, khi báo đăng bị kiểm duyệt cắt bỏ, tin tức bị xoá thì Cụ chỉ thị là cứ để giấy trắng. Vì vậy báo Tiếng Dân nhiều lúc phát hành để một nửa trang hay một phần ba trang trắng. Điều ấy khẳng định chính kiến của Cụ là một cái riêng, nhưng Cụ là người yêu nước, cho nên chúng tôi vẫn làm việc vui vẻ và có kết quả trong báo Tiếng Dân. Nhiều bài theo chỉ thị của Trung ương các đồng chí viết để phổ biến chủ nghĩa Mác bằng lời lẽ cổ phong ở trong báo thì Cụ vẫn để đăng.

Biết cụ Huỳnh là con người như vậy, cho nên hoàn cảnh nước ta sau Cách mạng Tháng Tám gặp khó khăn, các đảng phái đối lập đề ra việc thành lập Chính phủ liên hiệp có thành phần Việt Minh và thành phần Việt Quốc, Việt Cách với hai bộ chính là Bộ Nội Vụ và Bộ Quốc Phòng phải cử người trung lập đứng đầu thì tôi có đề nghị với Bác Hồ và anh Trường Chinh là nên mời cụ Huỳnh vào làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Khi nhận bức thư mời thứ nhất, cụ Huỳnh chưa trả lời, đến bức thư thứ hai thì cụ đồng ý ra Bắc nhưng không mang theo hành lý mà dự định ra gặp Bác Hồ rồi cụ sẽ trở vô. Khi gặp nhau, Bác Hồ đã nói chuyện với cụ Huỳnh suốt một giờ đồng hồ và đã thuyết phục được cụ Huỳnh ra gánh vác việc nước. Sau khi gặp Bác Hồ, cụ Huỳnh có nói một câu rằng: "Đã gặp tri kỷ, tiếc rằng khi gặp tri kỷ thì tuổi đã già..." dù vậy, Cụ vẫn ra làm việc. Đó cũng chính là tấm lòng cụ Huỳnh Thúc Kháng với dân với nước, với Hồ Chí Minh vậy.

 Trong thời gian Bác Hồ đi Pháp, giao quyền cho cụ Huỳnh làm Chủ tịch Nước thì những đảng phái Việt Quốc, Việt Cách đang hoành hành mạnh ở Thủ đô Hà Nội. Lúc đó, vì còn quân Tưởng, cho nên bộ đội ta đóng ở Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai. Trong Chính phủ liên hiệp có "Quân sự uỷ viên hội", tôi được cử làm Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, còn Vũ Hồng Khanh thủ lĩnh Quốc dân đảng được cử làm Phó Chủ tịch. Trước khi đi, Bác Hồ có bàn với cụ Huỳnh việc giao quyền Chủ tịch Nước cho Cụ và để lại cho Cụ mấy chữ: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" vì biết tình hình sẽ rất khó khăn. Trong báo chí công khai chỉ nói chừng ấy, nhưng tôi xin nói thêm rằng lúc Bác Hồ nói với cụ Huỳnh câu "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" thì cả tôi và anh Trường Chinh đều có mặt. Bác nói với Cụ Huỳnh: "Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong cụ "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"". Đồng thời, Bác Hồ dặn riêng chúng tôi: Các chú ở nhà làm sao mà Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Trung ương làm việc với Cụ phải bàn bạc, thuyết phục, không có cái gì được ép buộc. Phải làm sao cho Cụ đồng tình để cùng làm việc thì mới đạt kết quả tốt được.

Như vậy, đi đôi với việc giao quyền cho cụ Huỳnh, Bác Hồ hết sức coi trọng sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, những công việc báo cáo với cụ Huỳnh đều được bàn bạc trước ở trong Thường vụ dưới sự chỉ đạo của anh Trường Chinh. Lúc bấy giờ rất may mắn cụ Huỳnh là người yêu nước mà chuộng công lý cho nên khi xảy ra vụ việc ở phố Ôn Như Hầu, Hà Nội (ngày nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội. Ôn Như Hầu là tên chữ của nhà văn Nguyễn Gia Thiều) là cụ quyết liền. Nếu không có chứng cớ rõ ràng mà bắt Việt Quốc, Việt Cách thì không làm được mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt. Ngay một số người nào đó trong Mặt trận cũng chưa chắc đã tán thành. Nhưng công an ta lúc đó có anh Lê Giản và anh Nguyễn Tạo lo tìm được chứng cớ. Khi chúng tôi có chứng cớ báo cho cụ Huỳnh rằng ở phố Ôn Như Hầu đang in truyền đơn phản động và có chuyện bắt cóc, hối lộ, tống tiền, thủ tiêu... thì với tinh thần khảng khái của người yêu nước, chuộng công lý, cụ cầm ba-toong đập xuống đất một cái và nói: Phải diệt chúng nó, bọn này là bọn phản quốc. Thế là Cụ tán thành xử lý vụ Ôn Như Hầu... Hồi đó nhiều đồng chí, đồng bào ta bị bắt, bị giết, bị chôn ở trong đó. Chúng tôi bàn ở trong Thường vụ và ở trong Quân uỷ Trung ương quyết định phải tiêu diệt bọn Quốc dân đảng ở Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai và cụ Huỳnh đồng ý.

Như thế, trong khi Bác Hồ đi vắng, ở nhà giải quyết được mối đoàn kết chung, kiên quyết tiêu diệt bọn phản động, không phải chỉ vụ Ôn Như Hầu mà tiêu diệt toàn bộ quân đội của Việt Quốc, Việt Cách từ Vĩnh Yên cho đến Yên Bái, Lào Cai trong đó có sự đóng góp trực tiếp của cụ Huỳnh. Đến khi Bác Hồ về thì những việc đó đã được giải quyết ổn thoả. Lúc cụ Huỳnh tham gia gánh vác công việc của đất nước thì tuổi Cụ đã cao và thời gian cũng ngắn, nhưng cụ Huỳnh đã để lại cho chúng ta một thực tiễn sinh động về thành công trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận, về chính sách đại đoàn kết dân tộc. Mặc dù lúc bấy giờ Đảng đã rút vào hoạt động bí mật. Về chiến lược, chúng ta rất vững vàng, nhưng về sách lược lại rất mềm mỏng, kể cả trong cách làm. Và, cần khẳng định: công lao của cụ Huỳnh đối với đất nước, với dân tộc là rất lớn.

Điều cuối cùng tôi muốn nói về tấm gương cụ Huỳnh, bài học lớn của cụ Huỳnh, cùng với bài học của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh. Cụ Phan Bội Châu như Bác Hồ đã nói là thiên sứ đi thức tỉnh đồng bào và đã tán thành Nguyễn Ái Quốc để đi đến CNXH. Cụ Phan Châu Trinh đến lúc vận nước lâm nguy thì thấy rằng vận mệnh nước nhà lúc này là do Nguyễn Ái Quốc đảm nhiệm. Huỳnh Thúc Kháng thì không những có chuyển biến về tư tưởng như vậy là do yêu nước thương dân, thực sự muốn mang hạnh phúc tự do đến cho mọi người, mà cuối cùng cũng đi đến cộng tác với Hồ Chí Minh. Như vậy con đường chủ nghĩa yêu nước chân chính, yêu nước thương dân mang lại tự do độc lập thống nhất cho dân tộc, cho thời đại, hạnh phúc cho nhân dân thì ở nước Việt Nam ta quy luật là đi đến với CNXH. Đó là tấm gương cụ Huỳnh Thúc Kháng và các nhà yêu nước khác càng chứng tỏ sự đúng đắn của con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Cho nên Đảng ta càng tin tưởng, dân ta càng tin tưởng vào đường lối của Đảng, mà đường lối đó đã đưa chúng ta đến thắng lợi ngày nay.

Nhà thơ Cù Huy Cận[1] kể lại: Tôi (Cù Huy Cận) có một vinh dự lớn được làm Thứ trưởng Bộ Nội Vụ giúp cụ Huỳnh Thúc Kháng từ cuối tháng 5/1946 đến tháng 11/1946 tức là trong thời gian Cụ Hồ đi Pari. Tôi còn nhớ rất rõ trư­ớc hôm lên đường đi Pháp, Cụ Hồ có nói với tôi: Tối hôm nay chú ở lại với tôi để nói chuyện với cụ Huỳnh nhé. Khi hai Cụ ngồi bàn công việc thì tôi được ngồi dự. Tối hôm đó bên ấm trà nóng hai Cụ đã nói chuyện, bàn bạc với nhau rất nhiều về kế sách giữ nước, về quốc kế dân sinh, trong đó tôi nhớ nhất chi tiết Cụ Huỳnh nói với Cụ Hồ rằng:

- Cụ đi vắng, ở nhà có nhiều việc khó khăn, bất trắc xảy ra thì làm thế nào?. Cụ Hồ nói ngay một câu: - "Dĩ bất biến, ứng vạn biến".

Là một nhà nho, cụ Huỳnh đã hiểu toàn bộ ý tứ cụ Hồ gửi gắm. Cụ Hồ còn nói nhiều về những khó khăn do các đảng phái, các thế lực phản động sẽ gây ra và thực dân Pháp sẽ tiếp tục gây hấn, nhưng xin Cụ (Huỳnh Thúc Kháng) cứ yên tâm.

Sau đó tôi có làm một bài thơ tứ tuyệt với nhan đề Lời dặn: "Tôi đi Cụ chớ lo chi cả. Quyền nước, lòng dân Cụ ở nhà. Hai chén trà khuya hương nhẹ toả.Một câu bất biến dặn phòng xa”. Bài thơ này có đăng trên báo và sau đó được phổ biến nhiều.

Thời kỳ cụ Huỳnh làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ có một việc thể hiện khá rõ tính cách khảng khái của cụ Huỳnh và cũng là vì chăm lo cho khối đại đoàn kết toàn dân. Lúc đó có một số cụ lương y xin thành lập Hội Đông y và có xin ý kiến Bộ Y Tế. Mấy hôm sau, có một số bác sĩ (Tây y) xin đến gặp cụ Huỳnh để phản đối việc thành lập Hội Đông y. Cụ Huỳnh nghe nói được nửa chừng liền ngắt lời:

- Thôi các ngài đừng nói nữa, không có Đông y thì mấy ngàn năm nay dân tộc ta chữa bệnh bằng cái gì. Và tôi đây, bao nhiêu lần ốm cũng Đông y cứu tôi, thuốc Bắc, thuốc Nam cứu tôi. Tôi chưa dùng thuốc Tây bao giờ. Các ngài Tây y thì cứ dùng Tây y, tôi không phản đối Tây y, nhưng mà các bác sỹ Tây y cũng không được phản đối Đông y cũng như việc thành lập Hội Đông y.  

Trước thái độ kiên quyết của cụ Huỳnh những người phản đối Đông y phải rút lui. Sau này chúng ta cũng có chính sách Đông - Tây y kết hợp rất thành công đó cũng chính là phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhà thơ Cù Huy Cận kể lại: có một buổi chiều không lâu trước khi đảm nhiệm trọng trách "Đặc phái viên Chính phủ" đi kinh lý miền Trung, vào làm việc với Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung bộ cụ Huỳnh có hỏi:    - Anh Cận, anh làm thơ, có biết thơ Đường không? Tôi nói:

- Thưa Cụ, tôi có đọc thơ Đường qua các bản dịch nhưng mà không giỏi chữ Hán, nhưng tinh thần thơ Đường thì hiểu được. Cụ nói:

- Thơ Đường hay lắm, sâu sắc lắm! Rồi Cụ đọc cho nghe câu thơ Đường, tôi còn nhớ đại ý: Buồn như buổi tà dương sắp lặn đi. Cụ nói câu đó với tinh thần không buồn lắm đâu, nhưng mà bâng khuâng như linh cảm thấy sức khỏe bản thân đang yếu đi nhiều... Trong chuyến đi công tác ở miền Trung, lúc bệnh nặng cụ Huỳnh đã đánh mấy bức điện cho Bác Hồ và Chính phủ. Tôi là một trong những người được đọc bức điện ấy. Trong điện, Cụ hết sức thiết tha kêu gọi quốc dân phải nghe theo lệnh của Hồ Chủ Tịch mà tiếp tục kháng chiến cho đến thắng lợi...  

Tháng 3/1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và qua đời ngày 21/4/1947 tại thôn Phú Bình, xã Hành Phong, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế: Hỡi đồng bào yêu quý, Vị chiến sĩ lão tiền bối Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân vừa tạ thế. Trước sự đau xót đó, Chính phủ ta đã ra lệnh làm Quốc tang. Nhân dịp này, tôi có vài lời báo cáo cùng đồng bào. Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà trước đây Cụ bị bọn thực dân làm tội, đầy ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết.

 Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

 Đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy đã hơn 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc”. Nay chẳng may Cụ Huỳnh sớm tạ thế, trước khi được thấy kháng chiến thành công. Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của cụ vẫn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta…”

Đánh giá về vai trò Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam do cụ Huỳnh làm Hội Trưởng, Bác Hồ từng nói: "Hội Liên hiệp Quốc dân là do những người lão thành có danh vọng đạo đức như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Bùi Bằng Đoàn… và những người yêu nước không có đảng phái đứng ra tổ chức. Hội đó đã thực hiện sự đại đoàn kết của toàn dân gồm tất cả các tầng lớp, đảng phái, tôn giáo và dân tộc trong nước Việt Nam. Tinh thần của Hội đó là yêu nước, chương trình là quyết tranh đấu cho Tổ quốc được thống nhất, độc lập, thống nhất và dân chủ, phú cường”. Tâm sự của Nhà chí sỹ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc” đã thể hiện rõ tấm lòng của con người suốt đời yêu nước, thương dân với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, vì hạnh phúc của Nhân dân./.


[1] Nhà thơ Cù Huy Cận (1919 - 2005) đã trải qua nhiều trọng trách trong Chính Phủ, trong hoạt động văn học nghệ thuật và trong công tác Mặt trận. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Huân chương Sao vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Ông nguyên là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá II, III, IV và Uỷ viên danh dự Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá V, khoá VI.

Về đầu trang


 
 
 
 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội


   

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn