VĂN KIỆN ĐẠI HỘI II



ĐIỀU LỆ MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Được thông qua tại Đại hội II (1983)

 

CHƯƠNG I

PHẦN CHUNG

Hơn nửa thế kỷ qua, được Đảng tiền phong của giai cấp công nhân và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập và lãnh đạo. Mặt trận dân tộc thống nhất trải qua các thừi kỳ cách mạng khác nhau, đã không ngừng phát huy truyền thống đoàn kết đấu tranh yêu nước của dân tộc, tăng cường sức mạnh vô địch của khối đoàn kết toàn dân, luôn là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc và xây dựng cuộc sống mới.

Ngày nay, cả nước ta cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, kế tục sự nghiệp đoàn kết đấu tranh vẻ vang của các tổ chức Mặt trận trước đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập ở Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toà quốc năm 1977, là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng trên cơ sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Vị trí và chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định :

"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - bao gồm các chính đảng,Tổng công đoàn Việt Nam, tổ chức Liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các thành viên khác của Mặt trận là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước.

Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc"

Thực hiện chính sách Đại đoàn kết của Đảng cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương đoàn kết các tầng lớp nhân dân, bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, những người lao động khác, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ, những người Hoa sống trên đất nước Việt Nam và đồng bào ở nước ngoài, không phân biệt già trẻ, gái trai, không phân biệt thành phần xã hội, không phân biệt quá khứ như thế nào, miễn là thực tâm tán thành đường lối chính trị, chương trình hành động và Điều lệ của Mặt trận, cùng nhau phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Về tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa có tính chất liên hiệp rộng rãi, vừa có tính chất quần chúng sâu sắc, vừa tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, vừa có những hoạt động thiết thực động viên nhân dân tham gia thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở tường địa phương, từng cơ sở.

Với tinh thần cơ bản trên đây. Điêu lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các điều khoản cụ thể như sau:

CHƯƠNG II

THÀNH VIÊN CỦA MẶT TRẬN

Điều 1 - Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các tổ chức chính trị -xã hội và những công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thiết tha với sự nghiệp đoàn kết đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Điều 2 - Nhiệm vụ của thành viên:

-Tôn trọng điều lệ, tuyên truyền các chủ trương, chính sách và các nghị quyết của Mật trận.

- Thực hiện các nhiệm vụ và tham gia đầy đủ các hoạt động của Mặt trận.

Điều 3 - Quyền hạn của thành viên: Mỗi thành viên của Mặt trận, có quyền thảo luận, chất vấn, đề nghị và phê bình công việc của Mặt trận, có quyền đề cử vào cơ quan chấp hành của Mặt trận

CHƯƠNG III

HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA MẶT TRẬN

Điều 4 - Hệ thống tổ chức Mặt trận bao gồm cấp trung ương, cấp tỉnh, thành phố và đạc khu trực thuộc trung ương, cấp huyện, quận và tương đương, cấp xã phường và tương đương.

Điều 5 - Ở cấp trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện quận và tương đương, cấp phường, xã và tương đương có Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp.

Thành phần của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện quận và tương đương gồm:

-Đại biểu của Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam.

-Đại biểu của các tổ chức thành viên khác.

-Đại biểu của Uỷ ban Mặt trận các địa phương cấp dưới trực tiếp.

-Những uỷ viên là cán bộ có uy tín, có kinh nghiệm trong công tác Mặt trận hoặc trong các hoạt động chính trị , kinh tế, văn hoá và xã hội có liên quan đến hoạt động của Mặt trận.

Khi một uỷ viên là đại biểu của một tổ chức thành viên hoạc đai biểu của Uỷ ban Mặt trận một điạ phương không còn giữ nhiệm vụ trong tổ chức của mình nữa thì đoàn thể hay địa phương đó cử đại biểu khác thay thế.

Điều 6 - Uỷ ban Mặt trận mỗi cấp là cơ quan chấp hành do hiệp thương dân chủ qua Đại hội Mặt trận cấp đó cử ra. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban Mặt trận mỗi cấp có trách nhiệm thực hiện thống nhất hành động giữa các thành viên trong Mặt trận và phối hợp với các cơ quan Nhà nước để đoàn kết và động viên nhân dân thực hiện những nhiệm vụ và công tác như sau:

-Tiến hành công tác giáo dục chính trị và tư tưởng, giúp nhân dân hiểu và tự giác, tự nguyện thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.

-Động viên và tổ chức nhân dân tham gia xây dựng chế độ làm chủ tập thể hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố chính quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

-Động viên toàn dân tham gia hăng hái tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tăng cường đoàn kết quân dân, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội.

-Vận động nhân dân thực hiện nếp sống mới, xây dựng gia đình văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

-Thường xuyên chăm lo việc đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, đoàn kết các đồng bào tôn giáo, các nhân sĩ, chăm lo công tácvận động phụ lão, bảo vệ bà mẹ, trẻ em và giáo dục thiếu niên, nhi đồng.

-Tập hợp các tầng lớp nhân dân và các hình thức sinh hoạt chính trị, văn hoá xã hội thích hợp; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp; xây dựng quỹ để bổ sung nguồn tài chính và phương tiện hoạt động ngoài những điều kiện vật chất do chính quyền cung cấp.

-Tham gia đấu tranh gìn giữ hoà bình ở Đông Nam á và thế giới, thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc tế.

Điều 7 - Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ở địa phương Đại hội đại biểu Mặt trận cấp nào là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Mặt trận cấp ấy. Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc, đại hội đại biểu Mặt trận các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương 5 năm họp 1 lần.

Đại hội đại biểu Mặt trận cấp huyện, quậnvà cấp tương đương 5 năm họp 2 lần theo thời gian cụ thể do Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương hướng dẫn. Đại hội đại biểu mặt trận cấp xã, phường và cấp tương đương 2 năm họp 1lần.

Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc quyết định hoặc sửa đổi chương trình hành động và Điều lệ của Mặt trận: quyết định chủ trương và nhiệm vụ của Mặt trận trong từng thời kỳ; cử ra uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội đại biểu Mặt trận các địa phương căn cứ vào chương trình hành động và điều lệ của Mặt trận, vào chủ trương và nhiệm vụ chung của Mặt trận cấp trên căn cứ tình hình thực tế của địa phương, quyết định các nhiệm vụ công tác Mặt trận tại các địa phương và cử ra Uỷ ban Mặt trận của cấp mình.

Điều 8 - Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử ra:

- Đoàn Chủ tịch gồm Chủ tịch và các uỷ viên Đoàn chủ tịch để bàn bạc, quyết định các công việc của Uỷ ban trung ương giữa hai cuộc họp của Uỷ ban.

-Ban thư ký gồm Tổng thư ký, Phó Tổng thư ký và các uỷ viên thư ký để tổ chức thực hiện cácnghị quyết của Uỷ ban trung ương, các chủ trương và kế hoạch công tác của Đoàn. Chủ tịch và giải quyết công việc thường xuyên của Uỷ ban trung ương

-Thành lập các ban chuyên trách từng mặt công tác quan trọng của Uỷ ban.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện, quận và tương đương cử ra Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và cử ra Ban thường trực gồm Chủ tịch hoặc 1 hay 2 phó Chủ tịch và một số uỷ viên thư ký để giải quyết công việc thường xuyên của Uỷ ban Mặt trận và triệu tập các cuộc họp thường kỳ và bất thường của Uỷ ban.

Uỷ ban Mặt trận các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có thể thành lập các tiểu ban chuyên trách từng mặt công tác quan trọng theo sự hướng dẫn của Uỷ ban trung ương.

Điều 9- Uỷ ban trung ương. Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương, 5 năm cử 1 lần Uỷ ban Mặt trận cấp huyện, quận và cấp tương đương 5 năm cử 2 lần. Uỷ ban Mặt trận cấp xã , phường và cấp tương đương 2 năm cử 1 lần.

Điều 10 - Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Vịêt Nam ít nhất mỗi năm họp một lần.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, thầnh phố và đặc khu trực thuộc trung ương họp ít nhất 6 thấng 1 lần.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, quận và cấp tương đương ít nhất 3 tháng họp 1lần.

Uỷ ban Mặt trận xã, phường và cấp tương đương ít nhất 3 tháng họp 1 lần

CHƯƠNG IV

TỔ CHỨC MẶT TRẬN Ở CƠ SỞ

Điều 11- Là tổ chức cơ sở của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban Mặt trận xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ tăng cường đoàn kết nhất trí và động viên nhân dân địa phương phất huy quyền làm chủ tập thể, tích cực thực hiện các nhiệm vụ và công tác của Mặt trận, cùng nhau tạo ra cuộc sống mới ở các khu dân cư.

Tuỳ tình hình cụ thể ở từng địa phương, theo sự hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh hoặc thành phố và Uỷ ban cấp huyện, quận, Uỷ ban Mặt trận cấp xã, phường thị trấn có thể áp dụng những hình thức tổ chức linh hoạt để tập hợp, đoàn kết và động viên các tầng lớp nhân dân trong khu vực dân cư.

Điều 12 - Các tổ chức thành viên của Mặt trận có hội viên trong các sí nghiệp,cơ quan, cửa hàng, trường học, công trường, nông trường, hợp tác xã v.v...cần thường xuyên theo dõi, khuyến khích và giúp đỡ hội viên của mình thực hiện các nhiệm vụ của Mặt trận cơ sở tại nơi cư trú.

Điều 13 - Thành phần của Uỷ ban Mặt trận cấp xã, phường và thị trấn gồm

- Đại biểu đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam ở cấp xã, phường và thị trấn.

- Đại biểu các tổ chức thành viên Khác của Mặt trận cấp xã, phường và thị trấn.

- Những uỷ viên là người có uy tín, có khả năng và điều khiển làm công tác vận động quần chúng ở các khu dân cư.

- Những uỷ viên là cán bộ hoạt động trong một số ngành chính quyền cơ sở và một số cơ quan, xí nghiệp đóng ở địa phương có liên quan đến hoạt động của Mặt trận.

Ở những xã, phường và thị trấn có nhều đồng bào dân tộc thiểu số, có đông người Hoa hoặc có nhiều đồng bào tôn giáo, cần có người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số, trong người Hoa hoặc trong đồng bào tôn giáo tham gia Uỷ ban Mặt trận.

Uỷ ban Mặt trận cấp xã, phường cà cấp tương đương cử ra Ban thường trực gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch và 1 uỷ viên thư ký để làm việc thường xuyên.

CHƯƠNG V

NGUYÊN TẮC LÀM VIỆC CỦA MẶT TRẬN

Điều 14 - Trong Mặt trận, áp dụng 5 nguyên tắc làm việc như sau:

-Thương lượng: về các vấn đề có quan hệ đến lợi ích chung của nhân dân, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng nhau bàn bạc để hiểu rõ và nhất trí hành động.

-Dân chủ: tất cả thành viên trong Mặt trận đều có quyền phát biểu ý kiến, bày tỏ sáng kiến của mình về các vấn đề ích nước lợi dân.

-Thống nhất hành động: sau khi đã làm chủ bà bạc và quyết định, các tổ chức thành viên và tất cả các hội viên của Mặt trận đều phẩi thóng nhất hành động, thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và công tác đề ra.

-Tôn trọng tính chất độc lập của các tổ chức: trên cơ sở tôn trọng, thi hành đúng đắn chương trìng hành động. Đièu lệ và các nghị quyết của Mặt trận, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền giữ tính chất độc lập của tổ chức mình, Mặt trận không can thiệp vào nội bộ của tổ chức thành viên.

Thân ái hợp tác, phê bình và tự phê bình, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ: đây là phương châm sinh hoạt rất quan trọng để các thành viên Mặt trận thân ái giup nhau không ngừng tiến bộ, bảo đảm tăng cường đoàn kết nhất trí trong mặt trận.

Điêu 15 - Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận các cấp theo các nguyên tắc sau đây:

-Uỷ ban Mặt trận cấp trên theo dõi, thông báo tình hình và hướng dẫn công tác đối với Uỷ ban Mặt trận cấp dưới; xét và chuẩn y việc cử ra, bổ sung hoặc thay đổi chức Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận cấp dưới trực tiếp.

-Uỷ ban Mặt trận cấp dướithực hiện các nghị quyết và chủ trương của Uỷ ban Mặt trận cấp trên, báo cáo tình hình và kết quả công tác với Uỷ ban Mặt trận cấp trên.

-Uỷ ban Mặt trận cấp trên cũng có thể trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công tác.

Điều 16 - Quan hệ với các cơ quan Nhà nước:Uỷ ban Mặt trận các cấp xây dựng và thực hiện quan hệ hợp tác chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước theo đúng trách nhiệm và quyền hạn đã được quy định trong Hiến pháp vàm trong các luật về tổ chức các cơ quan Nhà nước.

CHƯƠNG VI

KHEN THƯỞNG - KỶ LUẬT

Điều 17 - Những đoàn thể hay cá nhân hội viên nào có nhiều thành tích trong việc xây dựng Mặt trận, trong việc thực hiện các nhiệm vụ cà công tác của Mặt trận thì được Mặt trận khen thưởng hoạc đề nghị chính quyền khên thưởng.

Điều 18 - Những thành viên nào làm mất uy tín của Mặt trận hoặc vi phạm mục đích, chương trình hành động và Điều lệ của Măt trận thì tuỳ lỗi nặng nhẹ mà bị khiển trách, cảnh cáo hoặc khai trừ ra khỏi Mặt trận.

CHƯƠNG VII

SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ

Điều 19 - Chỉ có Đại hội đậi biểu toàn quốc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới có quyền sửa đổi Điều lệ này.

Điêu 20 - Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm giải thích và hướng dẫn cụ thể nhằm giúp đỡ Uỷ ban Mặt trận các cấp thi hành bản Điều lệ này sát với hoàn cảnh của từng địa phương, trong từng thời gian.

 


 

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

Được thông qua tại Đại hội II (12 - 14/5/1983)

Đại hội lần thứ hai Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp từ ngày 12 đến ngày 14 thánh 5 năm 1983 tại Hà Nội, quyết định chương trình công tác của Mặt trận trong thời gian 5 năm tới như sau :

I- Vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ tập thể, xây dựng và củng cố chính quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Xây dựng những quy chế quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể của Uỷ ban Mặt trận và tổ chức thành viên, thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước.

Hỗ trợ các cơ quan nhà nước thi hành các chính sách và pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Tiến hành việc giáo dục pháp luật sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân; xây dựng ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành pháp luật.

Tăng cường mối quan hệ với các cơ quan dân cử, giúp các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ mối liên hệ đều đặn với cử tri.

Rút kinh mghiệm và làm tốt hơn nữa việc tham gia công tác bầu cử theo đúng Hiến pháp và pháp luật Nhà nước

II - Động viên các tầng lớp nhân dân ra sức thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn thành kế hoạch nhà nước, ổn định và từng bước cải thiện đời sống

Đẩy mạnh mọi hoạt động nhằm động viên, tổ chức,tập hợp mọi lực lượng quần chúng vào phong trào thi đua yêu nước xã hội chủ nghĩa sôi nổi và liên tục.Phát huy tinh thần làm chủ tập thể, tính tự giác và chủ động sáng tạo, tinh thần tự lực vươn lên của mọi tầng lớp nhân dân trên mặt trận lao động sản xuất, trên cơ sở đó mà ổn định và từng bước cải thiện đời sống.

Mục tiêu thi đua nhằm đẩy mạnh 3 cuộc cách mạng, thực hiện thắng lơi những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước năm 1983 và những năm 1984 ;1985 làm đà chuyển biến mạnh mẽ cho những năm kế tiếp.Đặc biệt coi trọng phong trào sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra một bước phát triển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp. Phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và suất khẩu. Đẩy mạnh cuộc vận động nhân dân đi xây dựng, mở mang các vùng kinh tế mới.kết hợp nông lâm nghiệp, trồng rừng và bảo vệ rừng. Vận động nhân dân phát triển kinh tế gia đình đúng hướng. Đẩy mạnh phong trào sáng chế phát minh, cải tiến kỹ thuật. Phấn đấu giảm tốc độ tăng số dân xuống mức hợp lý theo chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước.

Trong việc động viên các phong trào nhân dân xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, cần thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", kết hợp sức mạnh của Nhà nước với sức mạnh của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước.

Vận động toàn dân tham gia phong trào tiết kiệm nghiêm ngặt trong sản xuất và tiêu dùng.Giáo dục mọi người có ý thức tiết kiệm trong tiêu dùng xã hội và tiêu dùng cá nhân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào gửi tiền tiết kiệm.Vận động nhân dân tích cực đấu tranh chống các hiện tượng xâm phạm và lãng phí vật tư, tài sản của Nhà nước, của tập thể và của nhân dân.

III-  Phát động phong trào quần chung đẩy mạnh công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Phát động mạnh mẽ phong trào quần chúng thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về cải tạo quan hệ sản xuất ở các tỉnh phía nam, củng cố và hoàn thiện quan hệ san xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nước. Trước măt, vận động lầm tôt việc điều chỉnh ruộng đất gắn liền với việc xây dựng tổ đoàn kết và phấn đấu đến năm 1985, cơ bản hoàn thành việc tổ chức nông dân ở Nam bộ vào tập trung sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp; đưa một bộ phận những người sản xuất thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp vào làm ăn tập thể, bằng các hình thức thích hợp; thực hiện chính sách vừa sử dụng vừa cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh, triệt để xoá bỏ thành phần tư bản trong thương nghiệp.

Phối hợp với cơ quan chính quyền có những biện pháp cụ thể tăng cường vai trò kiểm tra và giám sát của nhân dân lao động đối với công tác quản lý thị trường ở thành thị cũng như ở nông thôn, đấu tranh chống âm mưu phá hoại của kẻ địch về kinh tế, chống những hành động đầu cơ phá rối thị trường của nhưỡng kẻ làm ăn phi pháp, thiết lập trật tự mới, xã hội chủ nghĩa trên mặt trận phân phối lưu thông, góp phần ổn định đời sống nhân dân và phát triển sản xuất.

IV - Tăng cường vân động thực hiện quốc phòng toàn dân, đẩy mạnh các hoạt động phòng thủ đất nước, chống chiến tranh phá hoại nhiều mặt củam địch, sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ vững chắc tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích, nâng cao nhận thức của nhân dân về đường lối xây dựng quốc phòng toàn dân và đường lối chiến tranh nhân dân.Làm cho mọi người nhận rõ kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất của cách mạng nước ta hiện nay là chủ nghĩa bành trướng và bá quyền Trung Quốc cấu kết với đế quốc Mỹ; khắc sâu lòng căm thù chúng và đề cao cảnh giác, kiên quyết đập tân mọi chiến tranh tâm lý và các hành động phá hoại của chúng. chuẩn bị đầy đủ mọi lực lượng sẵn sàng chiến đấu đánh thắng kẻ địch nếu chúng lại liều lĩnh gây ra chiến tranh xâm lược.

Động viên toàn dân tham gia xây dựng lực lượng vũ trang; nêu cao ý thức cả nước góp phần xây dượng và bảo vệ vững chăc vùng biên giới của Tổ quốc.Phát động và xây dựng phong trào toàn dân giữ vững an ninh chính trị, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Phát huy truyền thống "đoàn kết quân dân ", đẩy mạnh cuộc vận động "quân với dân một ý chí".

Phối hợp chặt chẽ với cơ quan chính quyền vân động nhân dân làm tốt công tác hậu phương quân đội, tân tình chăm sóc và giúp đỡ chu đáo đời sống vật chất và tinh thần của thương binh và các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, gia đình bộ đội,giải quyết việc làm, giúp đỡ ổn định đời sống đối vơi những anh chị em đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương.

Làm cho nhân dân nhận tức rõ việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối vơi cách mạng của hai nước Lào và Cam-pu-chia, vừa là nghĩa vụ quốc tế xã hội chủ nghĩa, vừa là nhiệm vụ đối với Tổ quốc mình.

V - Phát triển phong trào quần chúng xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cách mạng tư tưởng văn hoá

Phát triển sâu rộng cuộc vận động xây dựng cuộc sống mới. Vận động một cách kiên trì tạo ra nếp sống có văn hoá trong xã hội, có mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, làm cho tư tưởng, tinh cảm, lối sống mới thực sự chiêm ưu thế trong nhân dân.Trên cơ sở giáo dục thẩm mỹ cách mạng , đưa cái đẹp lành mạnh vào đơi sống hàng ngày, vào lao động sản xuất, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của đất nước.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới trong các tầng lớp nhân dân ở các khu vực dân cư, các thành phố, thôn xóm, bản làng, các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, cửa hàng. trường học; tạo một chuyển biến sâu sắc trong phong cách sống và làm việc của từng gia đình,từng người dân dưới chế độ mới; kết hợp, vân động phong trào bảo vệ môi trường sinh sống của nhân dân.

Trong cuộc vận động xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, hết sức chăm lo công tác giáo dục thanh niên, thiếu niên, nhi đồng. Chú trọng việc giáo dục truyền thống cách mạng, giải quyết việc làm và quyền lợi thết thực của thanh niên, khắc phục những biểu hiện không lành mạnh trong một bộ phận thanh niên, thiếu niên. Thực hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc bảo vệ và chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng.

Đẩt mạnh hơn nữa cuộc vân động sinh đẻ có kế hoạch để sự phat triển số dân trong phạm vi cả nước ddược hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hoá của xã hội, góp phần vào việc bảo vệ sức khoẻ, hạnh phúc của các bà mẹ và trẻ em.

VI - Tăng cường tình đoàn kết hữu nghị của nhân dân ta và nhân dân thế giới, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình

Kiên quyết góp phần tích cực cùng nhân dân thế giới đấu tranh chống chính sách hiếu chiến, chạy đua vũ trang của đế quốc Mỹ và các lực lượng phản động quốc tế, giữ gìn và củng cố hoà bình ở Đông Nam á và thế giới, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân.

Đẩy mạnh các hoạt động đoàn kết và hợp tác toàn diện giữa nhân dân ta và nhân dân Liên Xô, phát triển quan hệ đặc biệt giữa nhân dân ta với nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu- chia anh em, đoàn kết hợp tác với nhân dân các nước anh em khác trong cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường đoàn kết với các lực lượng cách mạng và tiến bộ thế giới, ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Kiên quyết sát cánh với nhân dân các nước trong phong trào không liên kết, góp phần phát huy vai trò tích cực của phong trào này trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, bảo vệ hoà bình thế giới và độc lập chủ quyền của các dân tộc, xây dưng một trật tự kinh tế thế giới mới công bằng và hợp lý.

Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu xâm lược của giới cầm quyền phản động Trung Quốc, nhưng kiên trì chính sách hữu nghị và láng giềng tốt với nhân dân Trung Quốc. Hoàn toàn ủng hộ chủ trương của Nhà nước khôi phục quan hệ bình thường giữa các nước trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau và giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng con đường thương lượng.

Tiếp tục tăng cường quan hệ với Mặt trận các nước anh em và các nước bạn, mở rộng các hình thức trao đổi kinh nghiệm về công tác Mặt trận và công tác vận động quần chúng trong cáchm mạng dân tộc dân chủ và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

*

*           *

Để hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ trên đây, các cấp mặt trận cần cải tiến và chăm lo công tác chính trị tư tưởng làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ và thực hiện đúng về tình hình ấất nước ta hiện nay, những thành tích và thiếu sót, những thuận lợi và khó khăn, những phương hướng và biện pháp giải quyết, động viên nhân dân hăng há thực hiện các nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước đã đề ra. Cần có những hình thức thích hợp đẩy mạnh công tác vận động, khuyến khích đồng bào Việt Nam sống ở nước ngoài đoàn kết, thương yêu đùm bọc nhau, hăng hái góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tăng cường tình hữu nghị với nhân dân nơi mình đang sống.

Kiện toàn cơ quan chấp hành của Mặt trận các cấp, đảm bảo cho Uỷ ban Mặt trận hoạt động có hiệu lực. Chú trọng và xây dựng, củng cố Mặt trận cấp huyện, quận: kiện toàn bộ máy chuyên trách, tạo điều kiện để Uỷ ban Mặt trận cấp huyện, quận nắm chắc tình hình và hướng dẫn, giúp đỡ hoạt động của Uỷ ban Mặt trận cấp cơ sở xã phường.

Xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng, chú trọng công tác bồi dưỡng về chính trị và nghiệp vụ cho cán bộ Mặt trận.

Tăng cường các hoạt động của Mặt trận cơ sở (xã, phường ), hướng hoạt động của Uỷ ban Mặt trận và các thành viên đi sâu vào các tầng lớp nhân dân ở địa bàn dân cư, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đoàn kết giúp đỡ nhau tổ chức tốt đời sống vật chất và văn hoá.

Thường xuyên coi trọng việc cải tiến nội dung sinh hoạt và phương pháp công tác, làm cho mọi mặt hoạt động của Uỷ ban Mặt trận các cấp phát huy được hiệu thực sự phối hợp và thôngs nhất hoạt động giữa các tổ chức thành viên, giữa Mặt trận với chính quyền.

Uỷ ban Mặt trận cấp trên cần nắm vững tình hình công tác của Uỷ ban Mặt trận cấp dưới, giúp đỡ, hướng dẫn về nội dung và phươntg pháp công tác, Tổ chức trao đổi kinh nghiệm hoạt động của Uỷ ban Mặt trận các địa phương.

*

*         *

Với tinh thần tất cả vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên trong Mặt trận các cấp ra sức phấn đấu thực hiện chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để có đóng góp to lớn hơn vào sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.