DOANH NGHIỆP & THƯƠNG HIỆU VIỆT TIÊU BIỂU


EVN với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

Thiên Long tích cực tham gia cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”: Cơ hội cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng Phú Thọ

Phụ nữ Vĩnh Phúc với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

Để cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" đi vào đời sống ở Quảng Bình

Hiệu quả từ cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" ở tỉnh Nam Định

Cầu nối đưa hàng Việt đến với người tiêu dùng

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” ở Hải Phòng: Thể hiện lòng yêu nước và tự tôn dân tộc

Sức lan tỏa của hàng Việt

Ưu tiên dùng hàng Việt - Điểm hội tụ và tỏa sáng truyền thống văn hóa dân tộc

Siêu thị Big C đồng hành cùng hàng Việt

Cơ hội phát triển ở Công ty  Đường Quảng Ngãi

  Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa Việt Nam với CVĐ “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam

  Vinatex ưu tiên phát triển thị trường nội địa

  SaiGon Co.op nỗ lực đưa hàng Việt đến với người tiêu dùng

 

SIÊU THỊ BIG C ĐỒNG HÀNH CÙNG HÀNG VIỆT

 

Từ siêu thị Big C đầu tiên đặt tại Đồng Nai vào năm 1998, với kinh nghiệm bán lẻ kế thừa từ công ty mẹ là tập đoàn Casino (Pháp), hệ thống siêu thị Big C tại Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên trở thành một trong những nhà bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam và tự hào được góp phần vào việc quảng bá, củng cố vị thế của hàng Việt tại thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, Big C đã có mặt tại 13 tỉnh, thành phố với 21 siêu thị, gần 8.000 nhân viên, phục vụ 45 triệu lượt khách tới tham quan và mua sắm mỗi năm. Kể từ năm 2009, thực hiện Cuộc vận động “Người Viêt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” theo tinh thần Thông báo Kết luận 264 của Bộ Chính trị, các mục tiêu và chiến lược kinh doanh của Big C luôn gắn chặt với Cuộc vận động và được cụ thể hóa bằng nhiều hoạt động cụ thể nhằm đồng hàng cùng hàng Việt.

Trong hoạt động đồng hành cùng hàng Việt, Big C luôn chú trọng phát triển các gam hàng Việt trong siêu thị và tích cực quảng bá đến người tiêu dùng. Chính sách thu mua của Big C luôn ưu tiên hàng nội, hàng nhập khẩu chỉ đóng vai trò đa dạng hóa gam hàng và thêm sự chọn lựa cho khách hàng. Hiện 95% hàng hóa trong siêu thị là hàng sản xuất tại Việt Nam và hầu như tất cả các ngành hàng đều có tỉ lệ hàng Việt rất cao. Big C đã hợp tác với các nhà sản xuất uy tín của Việt Nam phát triển các sản phẩm mang nhãn hiệu riêng của nhà phân phối mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng. Đến nay, Big C đã hợp tác thành công các nhà sản xuất phát triển 3 nhãn hàng riêng sản xuất tại Việt Nam là “WOW!Giá hấp dẫn”, “Big C” và “Hương vị Big C” với tổng số gần 600 mặt hàng Việt và được người tiêu dùng ưa chuộng. Tại mỗi siêu thị, Big C tăng cường các chương trình khuyến mại dành vị trí ưu tiên cho các sản phẩm nội địa. Mỗi đợt khuyến mại có hàng triệu người tiêu dùng biết đến hàng Việt nhờ nhận được catalogue khuyến mại của siêu thị. Bên cạnh đó, nhằm có được nguồn cung ứng hàng Việt ổn định với giá cả và chất lượng tốt nhất để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu mua sắm của khách hàng, Big C đã phát triển các dự án thu mua tận nguồn tại các vùng nguyên liệu lớn trên cả nước như dự án trái cây đồng bằng sông Mê Kông, rau củ quả Đà Lạt,…

Tăng cường liên kết với các nhà cung cấp, nhà sản xuất địa phương để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng Việt. Từ năm 2008, Big C đã phát động chương trình “Big C cùng nhà sản xuất tìm lối ra cho sản phẩm nội” nhằm tăng cường tỉ lệ hàng địa phương trong cơ cấu hàng hóa kinh doanh tại siêu thị thông qua việc tổ chức chuỗi hội thảo kết nối với các nhà sản xuất tại tỉnh, thành phố như: Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, Nam Định… Các buổi hội thảo luôn thu hút hàng trăm nhà sản xuất vừa và nhỏ tại địa phương, tập trung chủ yếu vào các ngành nghề thủ công như bánh trái đặc sản, hàng mỹ nghệ, thực phẩm,... Qua các chuỗi hội thảo, Big C đã trực tiếp ký kết hợp đồng hợp tác với trên 90 nhà sản xuất vừa và nhỏ với tổng giá trị các hợp đồng thu mua ước tính khoảng 100 tỉ đồng. Bên cạnh đó, Big C không chỉ dừng lại ở việc hợp tác mua và bán, mà còn chủ động đồng hành với các nhà sản xuất để phát triển các dự án hướng đến chất lượng sản phẩm như dự án xúc tiến trồng rau củ sạch, dự án thịt chất lượng, … Những dự án này có một mục đích chung là đưa các sản phẩm Việt lên một tầm cao hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

Tích cực tạo điều kiện thuận lợi để người tiêu dùng được tiếp cận mu sắm, sử dụng hàng Việt. Big C đã tích cực tham gia các hội chợ, đưa hàng Việt về nông thôn đã trở thành một phần không thể thiếu trong  hoạt động kinh doanh của các siêu thị. Big C tích cực chủ động phối hợp với các Sở công thương tại các tỉnh, thành phố nơi Big C đang hoạt động để tổ chức các chuyến bán hàng lưu động tại khu công nghiệp hay vùng sâu vùng xa nhằm quảng bá sâu rộng hơn nữa hàng Việt Nam tới người tiêu dùng. Tính từ đầu năm 2012 đến nay, Big C đã tổ chức thành công hơn 40 phiên chợ hàng Việt tại các khu công nghiệp, vùng sâu, vùng xa thuộc Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nam Định, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế... Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ truyền thống của trung tâm thương mại như bãi đỗ xe, nơi gửi đồ, giữ mũ bảo hiểm, thanh toán bằng thẻ và bằng ngoại tệ, gói quà, khu vui chơi dành cho trẻ em… trong những năm qua, Big C triển khai thành công dịch vụ xe buýt miễn phí dành cho khách hàng ở xa, tạo điều kiện cho họ có cơ hội tới siêu thị tham quan mua sắm, tiếp cận với nguồn hàng nguồn hàng Việt phong phú, chất lượng đảm bảo với giá cả hợp lý. Big C tích cực quảng bá Hàng Việt tại nước ngoài. Hằng năm, Big C xuất khẩu khoảng 1.000 containers hàng Việt (gồm nông sản, thủy sản, hàng thủ công mỹ nghệ, vải sợi, đồ gỗ,…), với tổng trị giá 21 triệu USD sang các chuỗi siêu thị của tập đoàn Casino – Tập đoàn mẹ của Big C tại châu Âu, Mỹ La tinh, Ấn Độ Dương,… Qua đó, góp phần quảng bá, tạo cầu nối giữa các nhà sản xuất Việt Nam với các nhà phân phối nước ngoài. Tháng 3/2012, Big C phối hợp với Hội Doanh nghiệp hàng Việt nam chất lượng cao tổ chức hội thảo “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Pháp và châu Âu” với sự tham gia của hơn 100 doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Tháng 11/2012, Big C đã tổ chức Tuần lễ hàng Việt mang tên “Hãy khám phá chất lượng hàng Việt Nam” tại Đại siêu thị Géant Massena – Paris (Pháp) với nhiều hoạt động quảng bá như dùng thử sản phẩm, hội thảo xúc tiến thương mại, trang trí khu vực bán hàng với hình ảnh đặc trưng của Việt Nam,…

Trong thời gian tới, để đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Người Viêt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Big C tiếp tục quảng bá và thúc đẩy phát triển hàng Việt tại thị trường nội địa, đem hàng Việt tiếp cận sâu rộng với người tiêu dùng trong nước và quốc tế với các giải pháp cụ thể như sau: Phát triển hợp tác, sát cánh đồng hàng cùng các nhà sản xuất trong nước, tập trung phát triển hơn nữa các dự án thu mua tận nguồn nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh hàng hóa địa phương. Tích cực tổ chức các chương trình khuyến mại hàng Việt, đặc biệt là các mặt hàng được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao, tăng cường tuyên truyền quảng bá tại siêu thị. Tổ chức các chuyến bán hàng lưu động tại vùng sâu, vùng xa; phát triển thêm các tuyến xe buýt miễn phí giúp người dân vùng sâu vùng xa có điều kiện tiếp cận hàng Việt. Đẩy mạnh quảng bá hàng Việt ra nước ngoài thông qua hoạt động xúc tiến thương mại và xuất khẩu²

                   Văn Vẻ

Về đầu trang


CƠ HỘI PHÁT TRIỂN Ở CÔNG TY  ĐƯỜNG QUẢNG NGÃI 

Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi (tỉnh Quãng Ngãi) tiền thân là Công ty Đường Quảng Ngãi được hình thành từ thập niên 70 của thế kỷ trước và trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn. Trải qua nhiều giai đoạn xây dựng và phát triển, Công ty phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách để vươn lên, đứng vững và không ngừng phát triển; năm 2005 Công ty tiến hành cổ phần hoá và đi vào hoạt động từ năm 2006. Hiện nay, 100% vốn của Công ty do các cổ đông đóng góp và không còn vốn của Nhà nước; quy mô của Công ty gồm 13 đơn vị thành viên, địa bàn hoạt động trên cả nước và một số nước trong khu vực; tổng số công nhân lao động gần 4.500 người.  Công ty tham gia thị trường với các sản phẩm: Đường, cồn thực phẩm, bia, bánh kẹo, nước giải khát, sữa đậu nành, nha công nghiệp, giống mía… đến nay các sản phẩm của Công ty đã được phân phối trên cả nước và xuất khẩu ra một số nước trong khu vực và thế giới.

Cũng như các sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp khác, các sản phẩm của Công ty cũng chịu sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường giữa các sản phẩm trong nước và đặc biệt là các sản phẩm ngoại nhập. Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt ấy thì việc cạnh tranh để giành được sự ủng hộ của người tiêu dùng đối với sản phẩm của Công ty là vô cùng gian nan. Vì vậy, Công ty luôn xác định rằng để tồn tại và phát triển thì phải luôn sáng tạo, tự chỉnh đốn, cải tiến mình, chủ động và không ngừng đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, đầu tư công nghệ mới tiên tiến trên cơ sở nghiên cứu thị trường để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Từ khi Bộ Chính trị ra Thông báo Kết luận số 264-KL/TW về tổ chức Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Công ty nhận thức đây là điều kiện thuận lợi, cơ hội để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đáp ứng được nhu cầu người Việt, tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Xác định được điều đó, ngay từ khi triển khai Cuộc vận động, Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi đã tích cực tham gia hưởng ứng và thực hiện mạnh mẽ Cuộc vận động với các hoạt động thiết thực như: tổ chức tuyên truyền, vận động về Cuộc vận đồng và triển khai thực hiện các chương trình, phương án của Ban chỉ đạo; tổ chức bán hàng khuyến mãi, đưa hàng của Công ty về nông thôn, miền núi và hải đảo; tổ chức các điểm bán hàng bình ổn giá nhằm phục vụ tốt nhu cầu của người tiêu dùng; triển khai sản xuất các sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, mẫu mã bao bì đẹp, giá cả hợp lý, tổ chức phân phối sản phẩm… để cung cấp cho người tiêu dùng. Đồng thời, Công ty luôn nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trước yêu cầu phát triển của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động trong phát triển sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với thị trường; thực hiện xúc tiến quảng bá thương hiệu, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường, đổi mới dịch vụ phân phối… giúp người tiêu dùng có cơ hội tiếp cận và mua sắm hàng hóa của Công ty. Nhiều sản phẩm đã chiếm lĩnh và đứng vững trên thị trường trong nước và xuất khẩu như đường RS, sữa, bia, bánh kẹo, nươc giải khát…

Trong những năm qua, Công ty đã tập trung nghiên cứu, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục tiệu tạo ra những sản phẩm tốt nhất, giá cả hợp lý  và cung cấp đến người tiêu dùng. Trong phong trào thi đua “Lao động sáng tạo”, Công ty đã có 5 tập thể và 99 cá nhân tham gia với 50 đề tài sáng kiến cải tiến kỹ thuật, làm lợi cho Công ty hàng chục tỷ đồng; trong đó, 5 đề tài đoạt giải nhì tại Hội thi sáng tạo Khoa học - Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi và 1 đề tài đoạt giải Quốc gia. Trong sản xuất đường mía, Công ty tập trung xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược mía đường phát triển bền vững trên cơ sở xây dựng vùng nguyên liệu tập trung sản xụất theo hướng công nghiệp; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong các khâu sản xuất mía; đầu tư hàng trăm tỷ đồng mua máy kéo nông nghiệp và nghiên cứu chế tạo các máy nông cụ chuyên dụng cho cơ giới hóa, đầu tư giống mía mới có năng suất, chất lượng cao… nhằm nâng cao năng suất, chất lượng mía góp phần mang lại hiệu quả cho người trồng mía và hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm đường trên thị trường. Trong chế biến đường, Công ty đã đầu tư trên 600 tỷ đồng để mở rộng nâng công suất, thay đổi thiết bị, đổi mới công nghệ sản xuất đường nhằm nâng cao chất lượng, sản lượng đường, hạ giá thành sản phẩm. Đến nay, hàng năm Công ty sản xuất và cung ứng ra thị trường trên 100.000 tấn đường RE đảm bảo chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng.

Trong sản xuất các sản phẩm bánh kẹo, bia, nước khoáng, sữa đậu nành, các năm qua Công ty đã đầu tư mở rộng công suất Nhà máy Sữa Vinasoy  lên 120 triệu lít/năm; mở rộng công suất Nhà máy Bia Dung Quất lên lên 100 triệu lít/năm; mở rộng công suất Nhà máy Bánh kẹo Biscafun, Nhà máy Nước khoáng Thạch Bích, Nhà máy Nha. Đặc biệt chú trọng đầu tư chiều sâu đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm. Đồng thời, tập trung đầu tư xây dựng, quảng bá thương hiệu, không ngừng phát triển sản phẩm mới, củng cố mở rộng thị trường, nâng cao hệ thống phân phối và tổ chức hệ thống phân phối mang tính chuyên nghiệp. Nhiều sản phẩm của Công ty được người tiêu dùng chấp nhận lựa chọn, giữ ưu thế về thị phần, thương hiệu được khẳng định vị thế trên thị trường và được xếp vào nhóm dẫn đầu ngành hàng tại Việt Nam như Đường RS, Vinasoy, Biscafun, Nước khoáng Thạch Bích… Nhờ vậy, các sản phẩm của Công có mặt trên khắp cả nước và xuất khẩu đến các nước Nhật Bản, Trung Đông, Campuchia, Lào…

Công ty luôn quan tâm và chú trọng đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ; xem đây là yếu tố tạo nên nền tảng gắn bó của khách hàng đối với doanh nghiệp, tạo niềm tin của khách hàng trong việc lựa chọn và sử dụng sản phẩm của Công ty. Các sản phẩm của Công ty đều thực hiện quản lý chất lượng theo hệ thống quản lý chất lượng (ISO), hệ thống tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm (HACCP), hệ thống quản lý chất lượng toàn diện (TQM)...

Trong các năm qua, mặc dù phải chịu sự tác động bất lợi rất lớn từ nhiều mặt đối với sản xuất kinh doanh, nhưng với sự nỗ lực, phấn đấu, sự sáng tạo của tập thể cán bộ, công nhân, lao động Công ty, sự tích cực hưởng ứng tham gia thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”  đã giúp Công ty tồn tại, phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Nếu như năm 2006 doanh thu toàn Công ty 1.179 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 47 tỷ, thu nhập của người lao động bình quân 1,9 triệu đồng/người/tháng thì đến năm 2011 doanh thu trên 4.100 tỷ đồng, lợi nhuận đạt trên 21 lần, nộp ngân sách nhà nước trên 350 tỷ đồng (gấp 7,5 lần so với năm 2006) và thu nhập của người lao động bình quân 5,5 triệu đồng/người/tháng (tăng gấp 3 lần so với năm 2006). Đặc biệt năm 2012, mặc dù bị ảnh hưởng và tác động bất lợi của sự suy thoái kinh tế toàn cầu và khó khăn của kinh tế trong nước, nhưng toàn thể cán bô, công nhân, lao động của Công ty đã nỗ lực, phấn đấu duy trì sự phát triển ổn định và tiếp tục tăng trưởng: doanh thu đạt 5.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2011; nộp ngân sách trên 430 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2011; đảm bảo việc làm ổn định; thu nhập bình quân của người lao động trên 6,55 triệu đồng/người/tháng, tăng 16% so với năm 2011; đồng thời, đóng góp hơn 3,6 tỷ đồng vào việc thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và vì cuộc sống cộng đồng. Nhiều năm liền, Công ty được xếp vào 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam và gần đây Công ty nằm trong 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (hạng 447).

Có thể khẳng định rằng, qua 3 năm thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, đến nay tập thể cán bô, công nhân, lao động Công ty đã nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, mục đích và nội dung Cuộc vận động và cũng thấy được trách nhiệm của mình là những người trực tiếp sản xuất những sản phẩm hàng Việt cung cấp cho người tiêu dùng và xác định rằng thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” chính là giúp cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển²

Quế Dương

Về đầu trang


HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM VỚI CVĐ

 “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM”

 

Nhận thức được vai trò quan trọng của các doanh nghiệp, mà phần lớn là các DNNVV, đối với nền kinh tế cũng như trong thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Thường trực Hiệp hội DNNVV Việt Nam đã xây dụng Đề án thực hiện Cuộc vận động với nội dung cơ bản như: Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để các doanh nghiệp nhận thức được việc tiêu dùng hàng hóa Việt không chỉ là trách nhiệm thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, mà còn thể hiện lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc; đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm; xây dựng thương hiệu Việt, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa do Việt Nam sản xuất.

Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc thực hiện Cuộc vận động, Hiệp hội DNNVV Việt Nam đã tiến hành các hoạt động như:

Tổ chức các hội thảo quốc gia như: “Vận hội mới và các giải pháp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nội địa”; “Các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ hàng nông sản, sản phẩm làng nghề”... Tháng 9/2012, Hội đã tổ chức chương trình “Giao lưu đối thoại cùng doanh nghiệp - cơ hội và thách thức”. Qua đó một lần nữa khẳng định: để Cuộc vận động mang tính bền vững thì vấn đề đầu tư, xây dựng thương hiệu và chống gian lận thương mại phải được quan tâm một cách thỏa đáng.

Từ năm 2009 đến nay, Hội đã phối hợp với Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC tại TP.Hồ Chí Minh tổ chức 3 Chương trình “Doanh nghiệp Việt vì người Việt” với các chủ đề như: “Doanh nghiệp Việt vì người Việt” năm 2010 thu hút trên 250 doanh nghiệp; “Sản phẩm chuẩn cho người tiêu dùng Việt” năm 2011 thu hút  270 doanh nghiệp; “Nhà nước và doanh nghiệp cùng làm” năm 2012 với gần 300 doanh nghiệp tham gia. Phối hợp với Đài truyền hình TP.Hồ Chí Minh và các doanh nghiệp tỏ chức Chương trình giao ước thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” với trên 60 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tham gia.  Chương trình “Doanh nghiệp hôm nay” phát trên VTV9 trong 8 tháng đầu năm 2012 đã thực hiện được 72 Chương trình; qua đó, giúp cho các hội viên tự giới thiệu về mình và quảng bá thương hiệu, quảng bá sản phẩm. Đây cũng là cầu nối giữa Chính phủ với doanh nghiệp để phản ảáh những vướng mắc, khó khăn trong sản xuất, kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các tổ chức hội doanh nghiệp các tỉnh, thành phố đã tích cực và chủ động phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, cổ động tại các địa phương; đồng thời, triển khai thực hiện nhiều giải pháp đẩy mạnh và phát triển thị trường nội địa như: tổ chức Hội chợ “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Hội chợ “Kích cầu hàng hóa vì quyền lợi người tiêu dùng”; Hội chợ “Hàng Việt Nam chất lượng cao”… với hàng nghìn doanh nghiệp tham gia và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần thông tin, quảng bá và giới thiệu sản phẩm đến với người tiêu dùng. Điển hình như: Hội Nữ doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội đã cùng với cộng đồng doanh nghiệp Hà Nội kết nối với cộng đồng doanh nghiệp của các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và thành phố Đà Nẵng tổ chức giao lưu, tìm đối tác, mở các đại lý phân phối hàng tại các địa phương. Kết quả 100%  số doanh nghiệp bán được từ 50% - 100% số lượng hàng hóa đem theo và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở các địa phương.

Trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức hội doanh nghiệp từ Trung ương đến địa phương trong việc tổ chức, thu hút cộng đồng doanh nghiệp tham gia Cuộc vận động, Hiệp hội DNNVV Việt Nam sẽ tập trung thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, rà soát Đề án đã xây dựng để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, theo hướng giao cho một Ban của Hiệp hội có nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp, xây dựng các giải pháp thực hiện; đối tượng chủ yếu phải hướng tới là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Định kỳ kiểm tra tình hình thực hiện ở các tổ chức hội doanh nghiệp địa phương và các chi nhánh, văn phòng đại diện của Hiệp hội.

Hai là, Thông qua mạng thông tin nội bộ và các cơ quan báo chí của hệ thống Hiệp hội xây dựng chuyên trang, chuyên mục tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, của Ban Chỉ đạo Trung ương Cuộc vận động về những nội dung có liên quan. Tiếp tục phối hợp với một số báo đài, đơn vi truyền thông tổ chức các Chương trình, các Hội thảo,... nhằm kịp thời biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trao đổi kinh nghiệm và phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Cuộc vận động. Tổ chức thường niên Chương trình “Gala Doanh nhân 3 Miền Chào Xuân Mới” lần thứ hai (dự kiến tổ chức ngày 26/01/2013 tại Hà Nội) để đề cao vai trò của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân trong xã hội và thông qua Chương trình tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền cho Cuộc vận động.

Ba là, huy động các nguồn kinh phí, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan tổ chức nhiều lớp đào tạo cho các doanh nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực: Khởi sự doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, thương mại quốc tế, xây dựng thương hiệu, xây dựng và quản lý dự án đầu tư,...

Bốn là, phối hợp với Bộ Công thương và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tăng cường tổ chức cho các doanh nghiệp tiếp cận và mở rộng thị trường kết hợp với vận động các doanh nghiệp ưu tiên mua sắm hàng hóa sản xuất trong nước.

Năm là, chủ trì cùng các tổ chức hội doanh nghiệp địa phương và các cơ quan liên quan xây dựng danh mục mặt hàng có thương hiệu, có lợi thế cạnh tranh để  kiến nghị với Chính phủ có chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp; nhất là, đối với mặt hàng nông sản thực phẩm, hàng thủ công, hàng sử dụng nguyên liệu trong nước²

                Võ Giang

Về đầu trang


Ưu tiên dùng hàng Việt - Điểm hội tụ và tỏa sáng truyền thống văn hóa dân tộc

Thời gian gây đây, quan niệm thế nào là “Hàng Việt Nam” được đề cập khá nhiều, tuy nhiên hiện vẫn còn những ý kiến khác nhau. Qua thực tế triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong 3 năm qua có thể nhận thức rằng: Hàng Việt Nam là sản phẩm hàng hoá được sản xuất, lắp ráp và các dịch vụ được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam (không phải hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài).

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu hướng phân công lao động quốc tế chuyển dịch từ chiều dọc sang phân công lao động theo chiều ngang, phân công dựa trên lợi thế so sánh của quốc gia, doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chỉ đăng ký thương hiệu và giữ bản quyền công nghệ, còn chi tiết, thiết bị được sản xuất ở nước ngoài. Do vây, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mang thương hiệu của doanh nghiệp, quốc gia không phụ thuộc vào việc sản xuất ở đâu, tỷ lệ nội địa chiếm bao nhiêu, mà là giá trị thương hiệu, bản quyền khoa học – công nghệ, giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thuộc doanh nghiệp, quốc gia nào.

Thông qua tiêu dùng, mỗi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và xã hội, cho dù đó là giá trị nhỏ, thậm chí vô cùng nhỏ. Nhưng giá trị nhỏ đó nếu nhân với tổng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, của cả nền kinh tế sẽ là lợi ích lớn cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách Nhà nước, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho người lao động.v.v…

Trước đây, đất nước ta ở thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cung nhỏ hơn cầu và hoàn toàn do Nhà nước bảo đảm. Trong bối cảnh đó, cung là yếu tố quyết định cầu, kéo theo sự trì trệ của bản thân doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm hàng hóa chất lượng ra sao, giá cả cao hay thấp, người tiêu dùng (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải chấp nhận và không có nhiều sự lựa chọn cho mình.

Hiện nay, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, nền sản xuất xã hội phát triển mạnh mẽ, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ luôn trong trạng thái cung lớn hơn cầu. Bây giờ, cầu đã quyết định cung, người tiêu dùng được quyền lựa chọn sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho mình; doanh nghiệp làm ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng cần chứ không phải làm ra cái gì mình có. Để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành, cải tiến mẫu mã sản phẩm, xây dựng thương hiệu, giới thiệu, quảng bá sản phẩm.v.v… để người tiêu dùng biết, mua sắm và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.

Dưới góc độ vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là kiến tạo kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và phát triển các thị trường hàng hóa, nguyên liệu, lao động, đất đai, tài chính, khoa học – công nghệ.v.v… Điều này có vai trò, ý nghĩa quan trọng vừa tạo lập đầu vào của quá trình sản xuất, vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Có thể nhận thấy rõ rằng, nếu đầu vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp, của nền sản xuất xã hội có hàm lượng khoa học – công nghệ càng cao, chi phí thấp thì sẽ tạo sản phẩm hàng hóa có chất lượng, giá thành hạ, sức cạnh tranh càng cao, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả nền kinh tế.

Người tiêu dùng ưu tiên mua sắm, sử dụng hàng Việt để thỏa mãn nhu cầu và với lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc của mình. Thông qua tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, mang lại thu nhập cho doanh nghiệp và nộp thuế cho Nhà nước. Tiền thuế của doanh nghiệp được Nhà nước sử dụng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, chi trả tiền lương cho cán bộ, công chức, duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước.v.v… Theo truyền thống văn hóa và đạo lý của dân tộc, doanh nghiệp phải mang ơn người tiêu dùng, vì người tiêu dùng mang lợi lợi ích cho mình; cán bộ, công chức, viên chức và bộ máy nhà nước phải mang ơn doanh nghiệp, vì chính mình đang sử dụng tiền thuế của doanh nghiệp nộp cho Nhà nước. Đó là biểu hiện của nền văn minh chính trị, ứng xử có văn hóa, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, đất nước sẽ giàu có, văn minh.

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được phát động theo chủ trương của Bộ Chính trị nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất ra nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đối tượng Cuộc vận động hướng tới là:

Một là, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật, cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh. Cải tiến công tác điều hành, quản lý xã hội để hàng Việt Nam thuận tiện đến tay người tiêu dùng.

Hai là, người sản xuất bao gồm các tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Ba là, người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức; các cá nhân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp trong mua sắm công và các loại hàng hoá, dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh.

Sau 3 năm triển khai thực hiện, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” bước đầu đã đạt những kết quả tích cực, tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân về sản xuất cũng như tiêu dùng hàng hóa Việt Nam. Các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức rà soát, ban hành bổ sung các qui định, cơ chế hỗ trợ khuyến khích sản xuất, tiêu dùng (không trái với các quy định của WTO). Các doanh nghiệp đã phát huy vai trò tiên phong, đi đầu trong thực hiện Cuộc vận động, không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu Việt Nam có chất lượng cao, cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, chiếm được niềm tin của người tiêu dùng. Tỷ lệ tiêu dùng hàng Việt đã tăng lên mạnh mẽ và từng bước hình thành nét đẹp văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam. Thay vì lựa chọn các sản phẩm có xuất xứ nước ngoài, người tiêu dùng đã chú trọng lựa chọn các mặt hàng được sản xuất trong nước.

Trước đây, hàng hóa của nước ngoài như cơn lốc tràn ngập trên thị trường Việt Nam, nhất là hàng giá rẻ nhập lậu từ Trung Quốc, Thái Lan; tâm lý sính hàng ngoại khá phổ biến trong một bộ phận nhân dân. Đến nay, gió đã đổi chiều, hàng Việt Nam không những chiếm lĩnh thị trường nội địa và được người tiêu dùng ưu tiên mua sắm, sử dụng, mà hàng Việt còn xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới, ngay cả những thị trường khó tính như: Mỹ, Nhật Bản, EU.v.v…

Tuy nhiên, trên thực tế triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục. Thứ nhất, về nhận thức, một số cán bộ, đảng viên, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, tổ chức, đơn vị và một bộ phận nhân dân nhận thức về ý nghĩa, mục đích, nội dung Cuộc vận động chưa thật sâu sắc, quan niệm còn đơn giản “nếu chất lượng hàng Việt tốt, giá cả thấp người tiêu dùng sẽ mua sắm, sử dụng” mà không cần “vận động”.v.v… Từ đó buông lỏng công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện Cuộc vận động ở địa phương, đơn vị; không thấy rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện Cuộc vận động. Thứ hai, về công tác quản lý nhà nước, các cơ chế, chính sách chưa thật thông thoáng, thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường. Chưa quan tâm xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh (không trái với qui định của Tổ chức Thương mại thế giới) như: Hỗ trợ đổi mới, ứng dụng khoa học – công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thông phân phối… Công tác quản lý thị trường, hải quan, thuế; đấu tranh chống hàng nhập lậu, hàng giả, hàng nhái, hàng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế, bất cập. Thứ ba, đối với doanh nghiệp, chưa nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp đi đầu trong thực hiện Cuộc vận động, sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đảm bảo chất lượng, giá cả thấp, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thậm chí không ít doanh nghiệp vẫn còn tư tưởng “bao cấp”, chạy theo cơ chế “xin – cho”, chưa chú trọng đầu tư, nâng cao hàm lượng khoa hoc – công nghệ, giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; chưa thực hiện đầy đủ cam kết về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho người tiêu dùng, làm ăn “chụp giật”. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực cũng như giữa các lĩnh vực sản xuất và nhà phân phối chưa chặt chẽ, thống nhất. Thứ tư, trong công tác truyên truyền, một số cơ quan tuyên truyền, thông tấn, báo chí, các đoàn thể chính trị - xã hội tuyên truyền về Cuộc vận động chưa thường xuyên, liên tục, chỉ rộ lên ở những đợt cao điểm; nội dung, hình thức tuyên truyền về Cuộc vận động còn nghèo nàn chưa thật phong phú, hấp dẫn; chưa đi sâu phát hiện, nhân rộng các điển hình thực hiện tốt Cuộc vận động. Thứ năm, vai trò của Ban chỉ đạo Cuộc vận động, một số Ban chỉ đạo Cuộc vận động còn lúng túng, bị động trong triển khai thực hiện Cuộc vận động ở địa phương, phương đơn vị; chưa làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền và ban ngành, đoàn thể trong triển khai thực hiện Cuộc vận động. Công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cấp, các ngành trong triển khai thực hiện Cuộc vận động chưa được quan tâm đúng mức. Vai trò, trách nhiệm của một số ngành thành viên tham gia Ban Chỉ đạo Cuộc vận động các cấp thể hiện chưa rõ nét, hiệu quả chưa cao, nặng về cơ cấu, hình thức.

Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, góp phần đưa nền kinh tế vượt qua giai đoạn khó khăn, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, cần thiết phải đẩy mạnh thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm như: Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu sắc bốn nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Cuộc vận động theo tinh thần Thông báo Kết luận số 264 - TB/TW của Bộ Chính trị. Làm rõ vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, người tiêu dùng trong thực hiện Cuộc vận động. Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Ban chỉ đạo Cuộc vận động trong triển khai thực hiện Cuộc vận động ở địa phương. Các cơ quan quản lý nhà nước chủ động nắm tình hình và kịp thời phát hiện những vướng mắc khó khăn trong sản xuất, phân phối lưu thông của các doanh nghiệp; rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành các cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hoá sản xuất trong nước. Tăng cường công tác quản lý thị trường, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, hàng giả, hàng nhái, hàng không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.v.v...  Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Cuộc vận động; lồng ghép nội dung thực hiện Cuộc vận động với các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, đơn vị và bình xét các danh hiệu thi đua của các tập thể, cá nhân.

Trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn, bờ cõi của Tổ quốc, lòng yêu nước và sức mạnh trí tuệ Việt Nam được phát huy cao độ, thể hiện ở tinh thần mưu trí, sáng tạo, vượt mọi hiểm nguy gian khó, quyết giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Ngày nay đất nước hoà bình thống nhất, câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào Việt Nam thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Lòng yêu nước và phẩm chất trí tuệ của người Việt Nam đang đứng trước thử thách không kém phần gay go, quyết liệt trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế; đó là phải nâng cao sức cạnh tranh của cả nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của cả quốc gia - doanh nghiệp - hàng hoá. Bởi lẽ, thương hiệu hàng hoá, sức cạnh tranh của hàng hoá và cả nền kinh tế của một quốc gia xét đến cùng đó là sự hội tụ của tinh hoa văn hóa, sức mạnh quốc gia, dân tộc đó. Không thể có một quốc gia hùng cường, thịnh vượng trong khi hàng hoá, sức cạnh tranh nền kinh tế của quốc gia đó lại thua kém nhiều so với các nước. Nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp và của cả quốc gia là yêu cầu đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

                 Nguyễn Văn Vẻ

Về đầu trang


VINATEX ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) là tổ hợp các công ty đa sở hữu gồm có công ty mẹ là Tập đoàn Dệt may Việt Nam; các đơn vị nghiên cứu đào tạo; và gần 120 công ty con, công ty liên kết là các công ty cổ phần, kinh doanh đa lĩnh vực từ sản xuất - kinh doanh hàng dệt may đến hoạt động thương mại dịch vụ; có hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ; hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư vào lĩnh vực hỗ trợ ngành sản xuất chính dệt may... Trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt, may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Vinatex sẽ tập trung phát triển theo hướng chuyên môn hoá, hiện đại hoá, tạo ra bước nhảy vọt về giá trị gia tăng của sản phẩm dệt, may thông qua việc thực hiện ba chương trình trồng bông, dệt vải chất lượng cao và đào tạo nguồn nhân lực có tính quyết định đến sự phát triển bền vững, ổn định lâu dài của ngành Dệt may Việt Nam.

Vinatex đã và đang tham gia tích cực nhất vào chiến lược chung của toàn ngành đã đề ra, theo đuổi mục tiêu đưa Vinatex trở thành một tập đoàn đa sở hữu trong top 10 các tập đoàn dệt may trên toàn thế giới vào năm 2015. Hiện tại Vinatex đã có quan hệ thương mại với hơn 400 tập đoàn, công ty đến từ 65 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may cả nước. Vinatex chủ trương mở rộng hợp tác với mọi đối tác trong và ngoài nước thông qua các hình thức liên doanh, hợp tác kinh doanh, tạo thị trường xuất khẩu lớn và ổn định; gọi vốn các nhà đầu tư chiến lược để hợp tác lâu dài trên tinh thần bình đẳng hai bên cùng có lợị.

Trong thời gian qua, cùng với mở rộng thị trường xuất khẩu, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã tích cực triển khai thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, chú trọng ưu tiên phát triển, từng bước vươn lên chiếm lĩnh thị trường nội địa, với mục tiêu doanh thu nội địa tăng trưởng bình quân từ 15 – 20%/năm và tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm đạt 60% vào năm 2015. Năm 2012, trước tình hình kinh tế khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm sút, doanh thu nội địa của Vinatex vẫn đạt mức tăng trưởng khoảng 6%, đây cũng là nỗ lực rất lớn của tập thể cán bộ, công nhân viên, lao động của Vinatex trong hoạt động sản xuất, quản lý và điều hành kinh doanh. Các đơn vị thành viên Vinatex có doanh số kinh doanh đạt từ 500 tỷ đồng trở lên tại thị trường nội địa gồm có: Tổng công ty cổ phần Phong Phú,  Tổng công ty cổ phần May Việt Tiến, Tổng công ty Việt Thắng, Tổng công ty cổ phần Dệt May Nam Định, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thương mại Thời trang Dệt May Việt Nam, Tổng công ty cổ phần May Nhà Bè, Tổng công ty May 10…

Việc phát triển mạng lưới phân phối được Vinatex quan tâm chú trọng, nhằm đưa hàng dệt may đến với người tiêu dùng. Trong 3 năm thực hiện Cuộc vận động, hệ thống Vinatex Mart đã mở được thêm gần 30 siêu thị, tăng tổng số siêu thị bán lẻ lên 82 với mạng lưới tại 24 tỉnh, thành phố vào cuối năm 2012, góp phần quan trọng vào việc đưa hàng dệt may Việt Nam đến mọi miền của Tổ quốc. Ngoài ra, các đơn vị thành viên của Vinatex như: May 10, Nhà Bè, Việt Tiến, May Đức Giang, Hanosimex, Phong Phú… cũng tích cực mở rộng hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm, đại lý chính thức về hầu khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước với gần 4.000 điểm bán tại đại lý, cửa hàng. Kênh phân phối này đã trực tiếp đưa hàng dệt may chất lượng tốt, giá cả hợp lý tới tay người tiêu dùng, tích cực hưởng ứng cuộc vận động.

Các hoạt động xúc tiến hương mại, tổ chức hội chợ, thông tin, quảng bá sản phẩm dệt may được Vinatex tổ chức thường xuyên. Vinatex đã định kỳ tổ chức Triển lãm thiết bị dệt may vào tháng 4 hằng năm, nhằm giới thiệu tới nhà sản xuất hàng dệt may Việt Nam những thiết bị và công nghệ tiên tiến trên thế giới, qua đó lựa chọn đầu tư thiết bị, công nghệ, vật tư, nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản xuất sản phẩm may mặc chất lượng cao, tăng tỷ lệ nội địa hóa trong từng sản phẩm cung cấp cho thị trường Việt Nam. Hướng đến mục tiêu phục vụ tối đa người tiêu dùng trong nước, Vinatex thường xuyên tổ chức 2 hội chợ Thời trang hằng năm vào tháng 9 tại TP.Hồ Chí Minh với quy mô gần 300 gian hàng và tháng 12 tại Hà Nội với quy mô 400 gian hàng, trong đó trọng tâm là sản phẩm thời trang thương hiệu Việt. Đây có thể coi là hoạt động nổi bật nhất trong các hoạt động hưởng ứng Cuộc vận động mà Vinatex đã thực hiện trong thời gian qua và trong những năm tới đây. Đồng thời, Vinatex thường xuyên tổ chức các Tuần lễ thời trang xuân hè, thu đông, hội tụ các doanh nghiệp trong, ngoài Tập đoàn để giới thiệu những sản phẩm thời trang có thiết kế mới, có tính ứng dụng cao, chất lượng tốt, giá cả hợp lý, thực sự đang dần thay đổi cách nhìn của người tiêu dùng về các sản phẩm thời trang do các thương hiệu Việt Nam sản xuất.

Trong dịp Tết Nguyên đán những năm qua, Vinatex đã chỉ đạo các đơn vị triển khai chương trình bán hàng giảm giá mạnh trong dịp Tết, qua đó góp phần bình ổn mặt bằng giá thị trường, đồng thời thông tin, giới thiệu để người tiêu dùng nhận biết các thương hiệu dệt may Việt Nam. Vinatex đã thực hiện trên 15 đợt bán hàng phục vụ công nhân tại các khu công nghiệp khắp cả nước như: khu vực miền núi phía Bắc, miền Trung, khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ. Các doanh nghiệp thành viên của Vinatex liên tục duy trì các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu, bán hàng về nông thôn.

Bên cạnh việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm thời trang Việt Nam, Vinatex đã  phối hợp với các đơn vị trong nước, các tập đoàn, tổng công ty lớn nhằm sử dụng sản phẩm trong nước sản xuất được có chất lượng tương đương hàng ngoại nhập. Tháng 7/2012, Vinatex và các công ty thành viên đã tổ chức Hội nghị giới thiệu năng lực sản xuất vải và đồng phục, trang phục bảo hộ lao động với khách mời là các tổ chức, đơn vị thuộc các ngành: Năng lượng, Khoáng sản, Ngân hàng, Y tế, Giáo dục… Tháng 11/2012, trong chương trình ký kết thỏa thuận hợp tác tiêu thụ sản phẩm của nhau giữa các Tập đoàn và Tổng công ty thuộc Bộ Công Thương, Vinatex đã ký kết 7 biên bản ghi nhớ với các Tập đoàn, Tổng công ty như: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội, Tổng công ty Giấy Việt Nam.

Phát huy những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, Vinatex tiếp tục phấn đấu hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, trong đó mục tiêu sản xuất kinh doanh năm 2013 tăng 12% so với năm 2012. Tập trung triển khai thực hiện tốt Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn với mở rộng chiếm lĩnh thị trường nội địa, đưa hàng hóa thương hiệu dệt may Việt Nam đến với người tiêu dùng. Đẩy mạnh đầu tư mở rộng, tìm kiếm thị trường; làm tốt công tác dự báo để có những giải pháp  phù hợp để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn và ngành Dệt may Việt Nam.

                                       (V)



SAIGON CO.OP NỖ LỰC ĐƯA HÀNG VIỆT ĐẾN VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trong 3 năm thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (CVĐ) đã góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong tâm lý tiêu dùng của người dân, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh đã có hơn 80% người tiêu dùng (NTD) đã ưu tiên lựa chọn hàng Việt. Tâm lý sính ngoại của một bộ phận NTD đã có sự thay đổi, phong cách tiêu dùng mới từng bước được xây dựng theo hướng ưu tiên hàng nội địa, thành quả đáng tự hào này là kết quả của sự nỗ lực không ngừng của Nhà nước và doanh nghiệp (DN); trong đó Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP. Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) đã có những đóng góp tích cực cho sự “lên ngôi” của hàng Việt trên thị trường nội địa.

Saigon Co.op là một đơn vị kinh tế tập thể có quy mô hoạt động trên phạm vi cả nước với hệ thống 59 siêu thị Co.opmart  trên toàn quốc, 52 cửa hàng thực phẩm Co.op Food và 152 cửa hàng Co.op. Với lợi thế về hệ thống phân phối rộng khắp, Saigon Co.op đã không ngừng cố gắng vươn lên trở thành “cầu nối” giữa nhà sản xuất và khách hàng. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Saigon Co.op đã xác định mục tiêu lấy sứ mệnh lịch sử "làm cầu nối và là người bạn đồng hành của hàng Việt với người tiêu dùng Việt"; từ đó quyết định lựa chọn con đường kinh doanh hàng Việt, là nhà phân phối thuần Việt. Từng bước xây dựng, thực hiện và phát triển chiến lược “nội địa hóa” nhằm hỗ trợ mạnh mẽ các DN Việt trong việc quảng bá và phân phối sản phẩm tới tay NTD trong nước. Chú trọng tổ chức nhiều chương trình kích cầu nhằm đẩy mạnh hơn nữa hàng Việt đến với NTD, đồng thời tăng cường các chính sách hỗ trợ dành cho các DN sản xuất hàng tại Việt Nam như: ưu tiên trong chính sách mua hàng, diện tích, vị trí trưng bày, truyền thông, khuyến mại cho các doanh nghiệp hàng Việt… Trong năm 2006, tỷ lệ hàng Việt trong hệ thống Co.opMart là 60% thì hiện nay tỷ lệ này đã tăng lên trên 90%. Năm 2009, khi Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được triển khai, Saigon Co.op đã nhanh chóng vào cuộc với nhiều chương trình cụ thể, hấp dẫn và hiệu quả. Hằng năm, Saigon Co.op chủ trương chọn lọc hàng hóa Việt Nam thay thế dần hàng hóa nhập khẩu đưa vào kinh doanh trong hệ thống siêu thị. Quán triệt từng cán bộ, nhân viên, lao động có ý thức trong từng phần việc của mình nhằm tôn vinh các thương hiệu Việt; tích cực vận động mỗi cán bộ, nhân viên, khách hàng, người thân trở thành “đại sứ hàng Việt”, ưu tiên sử dụng hàng Việt. Cũng trong năm 2009, hiểu rõ được quy luật: khi lòng tin được củng cố, tất yếu sẽ thúc đẩy hành động của NTD, cũng như nhận thấy nhu cầu tiêu dùng hàng Việt là có thật và ngày càng tăng cao trong cả nước, Saigon Co.op đã nâng tầm chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” bằng chương trình khuyến mãi “Tự hào hàng Việt” được tổ chức định kỳ tháng 9 hằng năm tại hệ thống Co.opMart, Co.opFood với kinh phí gần 100 tỷ đồng. Trong đó phần lớn kinh phí tập trung thực hiện giảm giá sản phẩm (đặc biệt là các sản phẩm thiết yếu) nhằm hỗ trợ tiêu dùng trực tiếp cho khách hàng, qua đó đã giúp nâng cao uy tín và gia tăng sức mua của các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam, thu hút sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo NTD. Doanh số của hệ thống Co.opMart luôn tăng gấp đôi so với ngày thường và hơn 50% so với cùng kỳ. Doanh số của các nhà cung cấp nội địa tham gia chương trình tăng gần 70%.

Chương trình “Tự hào hàng Việt” của Saigon Co.op không chỉ góp phần thực hiện sứ mệnh đưa hàng Việt đến tận tay người Việt, giúp NTD xóa dần quan niệm “sính ngoại” mà còn chứng minh cam kết của Saigon Co.op trong việc hỗ trợ, hợp tác cùng phát triển với các nhà sản xuất Việt Nam, đồng thời góp phần tác động tích cực đáng kể trong mối quan hệ tiêu dùng giữa DN Việt và NTD Việt theo định hướng chung của CVĐ. Qua quá trình đồng hành cùng phát triển, các DN đã chú trọng đầu tư nhiều hơn vào việc nghiên cứu nhu cầu NTD Việt, cải tiến, phát triển sản phẩm về chất lượng, mẫu mã, chủng loại và giá cả hợp lý. Số lượng các DN, nhà cung cấp (NCC) tham gia chương trình Tự hào hàng Việt ngày càng tăng cao. Cụ thể với chương trình “Người tiêu dùng và hàng Việt Nam chất lượng cao” năm 1998 có 28 nhà sản xuất hàng Việt tham gia, đến năm 2009 khi chương trình được mở rộng và đổi tên thành “Tự hào hàng Việt” nhằm tích cực hưởng ứng CVĐ thì đã có đến 150 nhà sản xuất hàng Việt tham gia, tăng lên con số 400 NCC trong năm 2010, với 450 NCC vào năm 2011 và con số này đã lên đến 600 nhà sản xuất tham gia vào năm 2012. Sự gặp gỡ giữa nhà sản xuất, hệ thống phân phối và nhu cầu của người tiêu dùng đã tạo ra những thành công nhất định của CVĐ nói chung và chương trình “Tự hào hàng Việt” của Saigon Co.op nói riêng trong suốt thời gian qua. Thành công đáng kể nhất của chương trình đó là Saigon Co.op đã trở thành cầu nối giới thiệu đến NTD một hình ảnh mới, một niềm tin mới về hàng Việt với chất lượng cao có thể thay thế hàng ngoại nhập, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hàng hóa trong nước cũng như thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển.

Đặc biệt, Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" và chương trình “Tự hào hàng Việt” của Saigon Co.op càng thành công hơn khi tạo được sự liên kết chặt chẽ với chương trình bình ổn giá từ khởi xướng của TP. Hồ Chí Minh cùng các tỉnh, thành phố trên cả nước với hàng loạt các giải pháp; trong đó tập trung cho chiến lược tạo nguồn hàng, nhất là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong danh mục hàng bình ổn, nên dù giá cả thị trường tăng gấp nhiều lần nhưng hệ thống Co.opMart, Co.op Food và cửa hàng Co.op vẫn đảm bảo đủ hàng hóa phục vụ người tiêu dùng với giá ổn định, giá rau củ quả luôn thấp hơn thị trường từ 15 – 20%. Số lượng mặt hàng bình ổn được Uỷ ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh giao ngày một gia tăng; năm 2011, Saigon Co.op tham gia bình ổn suốt cả năm với doanh số bán hàng bình ổn hơn 622 tỷ đồng, tăng trưởng trên 46% so cùng kỳ. Các chương trình khuyến mại dành cho các sản phẩm hàng nhãn riêng mang thương hiệu Co.opMart được thực hiện thường xuyên, giúp NTD có thêm nhiều lựa chọn phong phú.

Hoạt động đầu tư hợp tác liên kết các nhà sản xuất trong nước nhằm đẩy mạnh chiến lược tạo nguồn hàng và giá cả ổn định cũng được Saigon Co.op chú trọng triển khai. Việc liên kết với các nhà sản xuất uy tín trong nước để phát triển hàng nhãn riêng cũng là biện pháp hữu hiệu giúp tối đa hóa năng lực sản xuất của các DN Việt Nam, đồng thời giúp NTD tiết kiệm hơn với lựa chọn mới khi sản phẩm luôn đảm bảo chất lượng nhưng giá thấp hơn thương hiệu dẫn đầu cùng loại từ 5 đến 30%. Năm 2011, Saigon Co.op đã tiến hành ký kết với 40 NCC chiến lược, và các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh để hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp sản xuất cung ứng hàng nông sản đạt tiêu chuẩn VietGap cung cấp cho NTD. Hiện nay khi tiến hành chuẩn bị mở rộng mạng lưới phân phối tại các tỉnh thành trong cả nước, Saigon Co.op chủ trương liên kết với các tổ chức HTX, DN địa phương, ưu tiên tiêu thụ sản phẩm của các HTX (ví dụ như: mặt hàng ra sạch, trái cây an toàn từ HTX Nhơn Đức ở Củ Chi TP.HCM, Bà Rịa Vũng tàu, Lâm Đồng, Bình Định, Bến Tre, Vĩnh Long…). Ngoài ra, với mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm, mang lại giá trị gia tăng cho khách hàng, Saigon Co.op đã chủ động đầu tư dây chuyền sơ chế đóng gói rau an toàn với liên tổ sản xuất rau an toàn Ấp Đình thuộc HTX Tân Phú Trung nhằm phục vụ tốt nhất cho NTD.

Đặc biệt, để nâng cao hiệu quả quảng bá các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam, đồng thời giúp các DN giới thiệu sản phẩm đến NTD, năm 2011, Kênh HTV Co.op đi vào hoạt động do Saigon Co.op và Đài Truyền hình TP.Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện theo chỉ đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh nhằm triển khai thực hiện tốt Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Đặc biệt chuyên mục “Tự hào hàng Việt” đã đem đến cho người xem một góc nhìn mới về các sản phẩm Việt tập trung vào tính ứng dụng của sản phẩm trong đời sống người tiêu dùng. Với tiêu chí Biết hàng Việt – Hiểu hàng Việt – Tin hàng Việt – Dùng hàng Việt”, chương trình thật sự cánh cửa thông tin mở ra những cơ hội để các DN quảng bá sản phẩm đến với NTD, giúp NTD biết thông tin, hiểu cách sử dụng, tin dùng và ủng hộ hàng Việt.

Để tăng độ phủ của hàng Việt, Saigon Co.op tiếp tục đẩy mạnh chương trình đưa hàng Việt về nông thôn. Các siêu thị phối hợp với các đoàn thể tổ chức mỗi năm trên 1.000 chuyến bán hàng lưu động với cơ cấu hàng hóa là 100% hàng sản xuất trong nước. Năm 2011, Saigon Co.op đã tổ chức bán hàng lưu động tại 1.110 điểm (trong đó trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh là 527 điểm, các địa phương khác là 583 điểm) phục vụ bà con nhân dân ở vùng sâu vùng xa, khu công nghiệp, khu chế xuất với giá giảm 3% đến 5% so với giá bán lẻ tại siêu thị. Hiện hệ thống phân phối đã đưa hàng bình ổn đến 10/14 khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh và các DN có đông công nhân. Những mặt hàng mang đi phục vụ bà con là hàng tiêu dùng thiết yếu của các doanh nghiệp hàng Việt chất lượng cao với mức giảm giá hấp dẫn từ 5 - 40% cùng nhiều quà tặng kèm theo. Những việc làm hết sức có ý nghĩa trên đã góp phần khẳng định vai trò của hệ thống siêu thị Co.opMart trong việc cổ vũ hàng Việt, tham gia bình ổn thị trường, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội đã góp phần nâng cao uy tín thương hiệu Co.opMart trong lòng NTD. Kết quả thực hiện CVĐ của Saigon Co.op đã được các cấp, các ngành đánh giá cao và dư luận rất đồng tình ủng hộ. Saigon Co.op xác định mục đích tham gia chương trình Đưa hàng Việt về nông thôn không phải là doanh số mà điều quan trọng là quảng bá và giúp NTD nông thôn được tiếp cận nhiều hơn với những sản phẩm mang thương hiệu Việt chất lượng cao, giá cả phù hợp. 

"Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" là một cuộc vận động sáng tạo, một khẩu hiệu hành động đúng đắn, kịp thời, thông minh, mềm dẻo và cần thiết, nhất là trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giời. Saigon co.op luôn xác định: Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” không phải là giải pháp tình thế, mà là chủ trương nhất quán, thể hiện đường lối chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Saigon Co.op cam kết sẽ luôn đồng hành, sát cánh cùng Nhà nước và các DN Việt Nam, hưởng ứng thực hiện nhất quán và triệt để mục tiêu của Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, góp phần tích cực cùng với toàn Đảng, toàn dân làm nên mùa xuân của hàng Việt trong lòng người dân Việt Nam.

NGUYỄN VẺ

Về đầu trang


SỨC LAN TỎA VÀ VỊ THẾ MỚI CỦA HÀNG VIỆT           

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã gây được ấn tượng mạnh mẽ đối với công chúng trong việc thay đổi thói quen mua sắm theo hướng ngày càng quan tâm tới các thương hiệu và doanh nghiệp (DN) sản xuất trong nước. Đây là thành quả của toàn xã hội cùng vào cuộc, là cơ sở để hàng Việt từng bước khẳng định vị thế trên thị trường.

Kết quả nghiên cứu của Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen công bố vào đầu tháng 10/2011 đã cho thấy, người tiêu dùng ngày càng đánh giá cao hàng Việt Nam; 90% người tiêu dùng tại TP.HCM và 83% người tiêu dùng tại Hà Nội cho biết sẽ ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam. Có thể nói cho đến lúc này DN Việt Nam đã có điểm tựa rất lớn là niềm tin yêu của người tiêu dùng. Chính vì thế trong những năm qua các DN hàng Việt Nam chất lượng cao đã và đang tiếp tục lao động, sản xuất, cải tiến năng suất kỹ thuật, tiên phong hành động vì mục tiêu của Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Hàng trăm phiên chợ hàng Việt về nông thôn, các hội chợ hàng Việt nam chất lượng cao (HVNCLC) các tỉnh, chương trình đưa hàng Việt vào chợ truyền thống, đại sứ hàng Việt... càng củng cố thêm niềm tin, sự yêu mến hàng nội của người tiêu dùng, cũng như tạo điều kiện cho DN thâm nhập và phát triển thị trường tốt hơn. Chính nhờ sự vào cuộc của toàn xã hội trong việc triển khai thực hiện Cuộc vận động đã thu hút cả xã hội cùng “xắn tay áo” để cùng làm nên những vị thế ngoạn mục cho hàng Việt.

Trong lĩnh vực bán lẻ, việc đưa hàng Việt cũng như nâng tỷ trọng hàng trong nước tại các siêu thị đã trở thành xu hướng của các nhà kinh doanh trên địa bàn cả nước. Không dừng lại ở các siêu thị trong nước như Co.opMart, Maximark, Citimart, tại nhiều hệ thống siêu thị có vốn đầu tư nước ngoài như Lotte Mart, Giant, Big C, Metro… hàng Việt cũng chiếm tới 90%, đặc biệt tại một số siêu thị, con số này lên tới 96% tổng lượng hàng hóa bày bán. Ngoài nguyên nhân kinh tế khó khăn buộc người tiêu dùng phải tính toán kỹ hơn trong mua sắm thì còn một yếu tố quan trọng đó là hàng nội đã không ngừng hoàn thiện về mẫu mã và chất lượng, giúp DN có cơ hội phát huy những thế mạnh, có chiến lược tiếp thị, mở rộng thị trường, mạnh dạn đầu tư, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm mới với chất lượng ngày càng cao, mẫu mã đa dạng, giá cả cạnh tranh với hàng ngoại nhập, đáp ứng nhu cầu trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu. Điển hình, Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) đạt doanh số trên 1 tỷ USD, tham gia hiệu quả bình ổn mặt hàng sữa nội. Công ty Vissan đảm bảo cung cấp lượng thực phẩm sạch, an toàn phục vụ nhu cầu trong nước, từng bước khôi phục thị trường nước ngoài. Hệ thống Co.op Mart từ nhiều năm qua không ngừng phát triển hệ thống phân phối nâng tổng số điểm bán trong hệ thống lên 59 siêu thị, 44 cửa hàng Co.op Food, 124 cửa hàng Co.op. Doanh thu hàng Việt của hệ thống ngày càng gia tăng, năm 2010 doanh thu đạt 10.500 tỷ đồng, năm 2012 đạt gần 18.000 tỷ đồng.

Kết quả thăm dò dư luận xã hội về Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam TP.HCM cho thấy người nông dân, công nhân đã có chú ý hơn đến hàng Việt, cảnh giác trước hàng rẻ tiền không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Nhiều cơ quan, đơn vị, DN nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đã có chuyển biến tích cực trong việc mua sắm chi tiêu công bằng cách ưu tiên dùng hàng Việt.

Là địa phương đi đầu cả nước trong việc kêu gọi người tiêu dùng ưu tiên dùng hàng Việt bằng nhiều phương pháp phong phú và đa dạng, TP.HCM sẽ tiếp tục phát huy thành quả này và nhân rộng thêm sức lan tỏa. Ông Nguyễn Lâm Viên, Phó Chủ tịch Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao cho biết, một trong những điểm nhấn của chương trình hành động năm 2013 là thực hiện chương trình kết nối sản phẩm đặc sản, làng nghề với hệ thống phân phối các trung tâm tiêu dùng lớn. Cụ thể, Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao đang xúc tiến chương trình hợp tác với Cục Công nghiệp địa phương (Bộ Công thương) nhằm tư vấn, huấn luyện, kết nối nhà sản xuất công nghiệp nông thôn với thị trường; Đẩy mạnh phát triển theo chiều sâu chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, Hội DN hàng Việt Nam chất lượng cao sẽ thực hiện thí điểm chương trình nâng cấp chợ huyện tại 7 tỉnh, thành phố miền Tây Nam bộ, Đông Nam bộ và miền Trung; tập trung thúc đẩy đưa hàng Việt vào các thị trường ASEAN và Trung Quốc thông qua việc tăng cường liên kết chặt chẽ với các cơ quan đại diện thương mại tại Việt Nam của các quốc gia, các hiệp hội DN các nước để tìm kiếm nhiều hơn nữa những cơ hội kết nối, tổ chức nhiều hơn nữa những chuyến đi thực địa thị trường trong những dịp hội chợ triển lãm quan trọng của khu vực.

Ngoài ra trong thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động bằng những kế hoạch cụ thể, để cùng các địa phương khác xây dựng kế hoạch thực hiện cuộc vận động mang tầm vóc quốc gia. Phấn đấu đến năm 2015, 100% cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước sẽ mua sắm hàng hóa sản xuất trong nước theo quy định của Chính phủ và UBND thành phố (ngoại trừ một số trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn trong nước chưa sản xuất được); 100% tổ chức mặt trận đoàn thể các cấp tuyên truyền về Cuộc vận động và vận động cán bộ, hội viên, đoàn viên và nhân dân hưởng ứng thực hiện cuộc vận động… Bên cạnh đó thành phố xem xét rà soát, bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp trong chương trình hành động của thành phố thực hiện Cuộc vận động gắn với chương trình bình ổn thị trường. Tiếp tục nghiên cứu để có các chính sách cụ thể hơn, mạnh hơn, thiết thực hơn giúp DN đổi mới thiết bị, sản xuất sản phẩm mới, quảng bá sản phẩm; Có cơ chế ưu tiên giới thiệu các DN sản xuất trong nước, nhất là các đơn vị làm ăn có hiệu quả²

            Lan Anh- Thanh Thanh

Về đầu trang


Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” ở Hải Phòng: Thể hiện lòng yêu nước và tự tôn dân tộc

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam, sản xuất nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Ba năm qua, việc triển khai cuộc vận động thu được những kết quả đáng kể, góp phần làm thay đổi nhận thức các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và các tầng lớp nhân dân.

Doanh nghiệp tích cực vào cuộc

Bà Vũ Thị Thu Hương, Giám đốc siêu thị Big C Hải Phòng cho biết, công ty có nhiều hoạt động hưởng ứng cuộc vận động như tổ chức các chương tình “Tuần khuyến mại”, “Tháng khuyến mại”, “Giá rẻ không ngờ”, “Sinh nhật Big C”. Công ty áp dụng chính sách giá rẻ nhất với 20 sản phẩm thiết yếu, thực hiện thu mua hàng hóa tận nguồn. Bên cạnh đó, công ty duy trì dịch vụ xe ô tô miễn phí cho khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng ở ngoại thành có thể đến mua sắm tại siêu thị. Hiện tỷ trọng hàng hóa do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất được tiêu thụ tại Big  C Hải Phòng chiếm 95%.

Tại Công ty cổ phần thương mại Minh Khai, mọi trang bị, nhu yếu phẩm, văn phòng phẩm sử dụng tại công ty phải là hàng Việt Nam mới được lãnh đạo công ty phê duyệt mua sắm. Công ty tập huấn cho đội ngũ nhân viên bán hàng nâng cao hiểu biết về từng mặt hàng, giới thiệu, mô tả được tính năng, tác dụng, hiệu quả của hàng hóa do Việt Nam sản xuất. Những năm qua, hưởng ứng  tháng khuyến mại Hải Phòng, công ty xây dựng ba điểm vàng bán hàng khuyến mại giảm giá từ 3-10%. Công ty còn thường xuyên đàm phán với nhà sản xuất để cải tiến, thay đổi mẫu mã và hạ giá thành sản phẩm.

Theo Phó giám đốc Sở Công Thương thành phố Lê Minh Sơn, ba năm qua, Sở Công Thương hướng dẫn, tổ chức 46 hội chợ, thu hút 70-90 doanh nghiệp tham gia với quy mô từ 80-120 gian hàng/ hội chợ. Hàng chục nghìn người dân đã đến các hội chợ mua sắm hàng hóa, giúp các doanh nghiệp đạt doanh thu từ 10-20 tỷ đồng/hội chợ. Đặc biệt, các chương trình “Đưa hàng Việt về nông thôn” nhận được sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp tại thành phố. Kết quả thực hiện cuộc vận động góp phần nâng tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của thành phố.

Chuyển biến từ nhận thức đến hành vi

Ông Nguyễn Đình Then, Trưởng ban Dân vận Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, Trưởng Ban chỉ đạo cuộc vận động thành phố cho biết, Ban chỉ đạo cuộc vận động chủ động tham mưu với cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể triển khai kế hoạch, nội dung cuộc vận động với hình thức phong phú, phù hợp với thực tế mỗi địa phương, đơn vị. Các thành viên ban chỉ đạo gồm Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội đo lường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thành phố thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, có những hoạt động hưởng ứng thiết thực. Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, doanh nghiệp và nhân dân về mục đích, ý nghĩa của cuộc vận động được nâng lên đáng kể. Các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhận thức rõ đây là cơ hội để mở rộng sản xuất, kinh doanh, quảng bá và giới thiệu sản phẩm. Thực tế, nhiều doanh nghiệp mở rộng thị trường, đẩy mạnh sản xuất, lưu thông phân phối hàng hóa, người dân ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa cũng được mua hàng Việt Nam bảo đảm chất lượng, giá cả phù hợp.

Để trở thành văn hóa tiêu dùng của người dân

Theo Phó giám đốc Sở Công Thương Lê Minh Sơn tâm lý sính dùng hàng ngoại còn khá phổ biến trong một bộ phận người tiêu dùng. Lý giải nguyên nhân của tình trạng này, ông Đỗ Huy Số, Phó chủ tịch Hội đo lường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thành phố cho rằng, một phần có lỗi của các doanh nghiệp trong nước, chậm cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh còn yếu. Bên cạnh đó, các ngành chức năng chưa đủ sức phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng...

Bởi vậy, để cuộc vận động trở thành thói quen, văn hóa tiêu dùng của người dân, Phó chủ tịch UBND thành phố Lê Văn Thành cho rằng, cần phối hợp chặt chẽ giữa công tác tuyên truyền, vận động, huy động sự vào cuộc tích cực của các cấp, ngành, doanh nghiệp và nhân dân. Quan trọng hơn, các doanh nghiệp tích cực đầu tư, cải tiến công nghệ, dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành và xây dựng thương hiệu quốc gia cho nhiều sản phẩm hơn nữa. Các ngành chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, có biện pháp hữu hiệu phòng, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Bích Hạnh

Về đầu trang


Cầu nối đưa hàng Việt đến với người tiêu dùng

Sau 4 năm Bộ chính trị phát động Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, Vĩnh Phúc được đánh giá là địa phương thực hiện tốt cuộc vận động, với kết quả  tỷ lệ người Việt dùng hàng Việt tăng lên, chiếm 75-80%… Trong thành công đó có đóng góp không nhỏ của Trung tâm XTTM- cầu nối giúp BCĐ phối hợp cùng DN đưa hàng đến với người tiêu dùng.

Nhằm phát huy lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam, thúc đẩy, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, trong 4 năm qua, Trung tâm Thông tin – Xúc tiến Thương mại (Sở Công Thương) đã  phối hợp chặt chẽ với các Công ty tổ chức sự kiện, các doanh nghiệp và các siêu thị thương mại trên địa bàn tỉnh tích đã tổ chức 46 phiên chợ hàng Việt, 27 điểm bán hàng lưu động trên địa bàn tỉnh. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2013, Trung tâm đã xây dựng kế hoạch phối hợp, tổ chức thêm được 6 điểm bán hàng lưu động, 4 phiên chợ hàng Việt tại các huyện Lập Thạch, Bình Xuyên, Tam Dương, Vĩnh Tường. Cùng với tổ chức thành công các hội chợ, điểm bán hàng lưu động, Trung tâm Thông tin còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên Website của ngành, vận động mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ công chức, viên chức ưu tiên sử dụng hàng Việt, kể cả trong mua sắm công. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, niềm tin của người Việt Nam đối với hàng Việt.

Với sự tích cực của Trung tâm, từ việc tìm nguồn hàng, kết nối với các nhà sản xuất, các nhà phân phối, ngày càng nhiều doanh nghiệp từ các địa phương lân cận và trong vùng tham gia chương trình. Từ chỗ chỉ có 15-20 doanh nghiệp tham gia mỗi đợt, đến nay, con số tham gia mỗi chuyến hàng Việt về nông thôn ở tỉnh đã tăng lên đến 35-40 doanh nghiệp với đầy đủ các mặt hàng, ngành hàng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt, của người dân các vùng thôn quê hẻo lánh. Chương trình không chỉ giúp các nhà SX, phân phối, hàng hóa của mình ra thị trường mà còn giúp người dân nông thôn tiện lợi đi mua sắm. Chính sách bán hàng chính hãng với giá ưu đãi của các nhà SX, những phiên chợ của chương trình “Hàng Việt về nông thôn” đã trở nên quen thuộc đối với người dân thôn quê Vĩnh Phúc, góp phần kích cầu tiêu dùng trong thời điểm kinh tế khó khăn như hiện nay. Đặc biệt là tạo thói quen mua sắm, tiêu dùng hàng Việt của người Việt. Trong số các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia với chương trình phải kể đến như: Siêu thị Co.op Mart Vĩnh Phúc, BigC Vĩnh Phúc, Siêu Thị Trang Đạt thị xã Phúc Yên, Công ty TNHH Ong Tam Đảo, Công ty TNHH sản xuất &TM An Toàn, Công ty Giấy Việt. Các doanh nghiệp này đã phối hợp với Trung tâm thông tin và xúc tiến thương mại tổ chức nhiều đợt bán hàng lưu động, phiên chợ hàng việt và các điểm bán hàng bình ổn giá tại các địa phương trong tỉnh.

Nói về đóng góp của Trung tâm vối cuộc vận động, Ông Nguyễn Văn Bình, Phó Giám đốc Sở Công Thương, Phó BCĐ Cuộc vận động người Việt nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam cho biết: Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, sức mua ở các vùng nông thôn vẫn nhiều, chứng tỏ thị trường nông thôn rất tiềm tàng và nhu cầu tiêu dùng nội địa rất lớn. Trung tâm thông tin- Xúc tiến thương mại tổ chức đều đặn các hội chợ, điểm bán hàng lưu động về nông thôn, giúp DN mở rộng kênh phân phối bán hàng, kích cầu tiêu dùng. Đặc biệt, thông qua các chương trình tuyên truyền, đưa hàng Việt về vùng nông thôn bước đầu đã làm thay đổi nhận thức và hành vi của người tiêu dùng và người sản xuất, có tác động tích cực đến tâm lý người tiêu dùng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân địa phương dễ dàng tiếp cận với hàng hoá do các doanh nghiệp trong nước sản xuất với giá thành hợp lý, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Đồng thời, từng bước làm thay đổi dần thói quen của người dân trong việc mua sắm, người tiêu dùng dần quen sử dụng hàng Việt, tạo điều kiện phát triển sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần vào ổn định thị trường nội địa và phát triển KT-XH.

Để sức lan tỏa của cuộc vận động ngày càng mạnh mẽ, trong 6 tháng cuối năm, Trung tâm đã có kế hoạch tiếp tục phối hợp với các Công ty Tổ chức sự kiện, các siêu thị và các doanh nghiệp tổ chức 09 phiên chợ hàng Việt, 24 điểm bán hàng lưu động trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tạo điều kiện thuận lợi để người tiêu dùng có thêm thông tin về ý nghĩa của cuộc vận động. Việc tổ chức các sự kiện sẽ góp phần kích cầu thị trường, giới thiệu sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng, đồng thời giúp các doanh nghiệp giao thương, hợp tác kinh doanh và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu.

Bài ảnh: Văn Cường

Về đầu trang


Hiệu quả từ cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" ở tỉnh Nam Định

Sau 4 năm triển khai thực hiện, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tỉnh Nam Định, theo ước tính của ngành chức năng, hiện tại 100% đơn vị, tổ chức đều có sử dụng hàng Việt Nam và hàng Việt Nam chiếm trên 80% trong cơ cấu hàng hóa bày bán tại các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ trên địa bàn; đa số người tiêu dùng trong tỉnh tin tưởng lựa chọn và sử dụng các sản phẩm do các doanh nghiệp của tỉnh và trong nước sản xuất.

 

Phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn do Trung tâm Thương mại MiCom Plaza tổ chức tại Thị trấn Cổ Lễ (Trực Ninh).

Để cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đi vào cuộc sống, cùng với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, các ngành chức năng của tỉnh đã ban hành cơ chế khuyến khích việc mua sắm, sử dụng các sản phẩm được sản xuất trong tỉnh và trong nước; tổ chức sử dụng nguyên vật liệu sản xuất trong nước trong sản xuất; hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng và công bố tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu sản phẩm và các giải pháp giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh, kích thích nhu cầu tiêu thụ hàng hóa được sản xuất trong tỉnh; tạo điều kiện cho các Tổng Cty, tập đoàn kinh tế lớn phát triển mạng lưới phân phối, bán hàng tại địa phương, khuyến khích các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh liên doanh, liên kết mở rộng kênh phân phối, tổ chức thu mua, chế biến, tiêu thụ hàng hóa… Bên cạnh đó, các ngành chức năng tích cực hỗ trợ và tổ chức cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia Tuần lễ hàng Việt và đưa hàng Việt về nông thôn; làm tốt công tác xúc tiến thương mại giới thiệu sản phẩm hàng Việt đi đôi với tăng cường các biện pháp ổn định thị trường, ngăn chặn hàng giả, hàng nhái và tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông thông suốt; phát huy vai trò của các hiệp hội ngành nghề, hiệp hội doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ; thực hiện các cam kết bảo vệ người tiêu dùng, tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa tại thị trường trong nước và xuất khẩu. Bằng những biện pháp đồng bộ của các ngành chức năng, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã có sức lan tỏa mạnh mẽ trong toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp. Chuyển biến tích cực nhất trong quá trình thực hiện cuộc vận động là phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, hiệp hội ngành nghề trong việc khuyến khích các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng nguyên vật liệu có xuất xứ trong nước làm tư liệu sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ của nhau bằng cơ chế tương hỗ, giảm giá, ưu đãi đặc biệt. Qua đó, mối liên kết trong tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu giữa các doanh nghiệp trong tỉnh được hình thành và phát triển. Cụ thể, các nhà phân phối bán lẻ như Siêu thị Big C Nam Định, Trung tâm Thương mại Micom Plaza lựa chọn hầu hết các sản phẩm làng nghề, đặc sản địa phương và mặt hàng mỹ nghệ, công nghệ phẩm của các doanh nghiệp trong tỉnh vào cơ cấu hàng hóa. Nhóm các doanh nghiệp sản xuất cơ khí, chế tạo máy liên kết trong việc sản xuất chi tiết máy, động cơ và lắp ráp hoàn thiện sản phẩm theo thế mạnh của từng đơn vị, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của khách hàng. Nhóm các doanh nghiệp dệt may gia công sử dụng phần lớn nguyên liệu phụ trợ như vải sợi, khuy móc của các Cty lớn và phân công lao động cho các đơn vị khác theo từng phần trên một sản phẩm… Cơ chế tương hỗ đã tận dụng được thế mạnh về chuyên môn của từng đơn vị thành viên trong tổ chức hội nghề nghiệp, tạo ra sản phẩm hoàn thiện mang thương hiệu Nam Định, đồng thời giảm chi phí đầu tư máy móc, quản lý nhân công và là cơ hội để các doanh nghiệp hỗ trợ nhau vượt qua khó khăn để ổn định sản xuất và tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Trong năm qua, các doanh nghiệp trong tỉnh đã có hàng trăm sáng kiến cải tiến kỹ thuật, sáng chế các chi tiết máy mới với tính năng ưu việt, giá thành rẻ, tiết kiệm hàng tỷ đồng so với việc thuê chuyên gia và mua nguyên liệu máy móc thiết bị của nước ngoài. Ngoài ra, yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng hàng hóa sản xuất trong nước, trong tỉnh là các doanh nghiệp đã chủ động đưa ra thị trường những sản phẩm chất lượng cao để thu hút thị trường tiêu thụ nội địa. Hầu hết các doanh nghiệp may mặc, chế biến lương thực, thực phẩm và hàng lâm sản chế biến đã thành công trong việc tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa với doanh thu từ bán hàng nội địa luôn chiếm từ 20-25% tổng doanh thu hằng năm. Tiêu biểu là Cty CP May Sông Hồng, Xí nghiệp May Vị Hoàng, Cty CP Chế biến lương thực thực phẩm Nam Định; Cty CP Bia NaDa, Cty TNHH Sản xuất bao bì kim loại CFC… với hệ thống đại lý cung ứng hàng hóa được mở rộng ở các trung tâm kinh tế trọng điểm của tỉnh. Đồng chí Trần Trọng Kim, Giám đốc Xí nghiệp May Vị Hoàng thuộc Tổng Cty May 10 (TP Nam Định) cho biết: Sản xuất hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa là mục tiêu mà doanh nghiệp đã thực hiện thành công. Sản phẩm áo sơ mi, quần âu, veston, váy, áo nữ… của xí nghiệp được người tiêu dùng tin tưởng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao. Hiện tại xí nghiệp có hệ thống đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Riêng trên địa bàn tỉnh, xí nghiệp đã xây dựng được hàng chục điểm phân phối tại Thành phố Nam Định và các huyện Hải Hậu, Giao Thủy, Vụ Bản. Góp phần làm nên thành công của cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” còn phải kể đến vai trò của các ngành chức năng, các doanh nghiệp trong việc tổ chức đưa hàng Việt về nông thôn. Đây là kênh tiếp thị sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng hiệu quả nhất, giúp các doanh nghiệp mở rộng thị phần, tăng sức tiêu thụ sản phẩm, đồng thời khuyến khích người dân nông thôn sử dụng hàng Việt. Trong năm 2013, Sở Công thương, Sở KH và ĐT, UBND các huyện đã phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phân phối hàng hóa tổ chức hàng chục phiên chợ hàng Việt về nông thôn. Trung tâm Thương mại Micom Plaza là đơn vị tích cực trong việc tổ chức đưa hàng Việt về nông thôn với nguồn hàng phong phú, bao gồm các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt, học tập và sản xuất… Trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ, Trung tâm đã tổ chức 4 đợt đưa hàng Việt về các huyện Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Trực Ninh phục vụ nhu cầu mua sắm dịp Tết của nhân dân. 

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là cơ hội để cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Nam Định củng cố, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm để lấy lại niềm tin của người tiêu dùng cũng như thị phần vốn có. Để thúc đẩy hơn nữa cuộc vận động trong cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, các ngành chức năng tiếp tục hỗ trợ tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh phát triển; phối hợp với UBND các huyện vận động, tạo cơ chế, chính sách cho các Tổng Cty, Tập đoàn phát triển mạng lưới phân phối, bán hàng ở nông thôn; tiếp tục tổ chức, hỗ trợ các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia hội chợ thương mại trong và ngoài nước để giới thiệu, quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm, hàng hóa của tỉnh Nam Định… 

Bài và ảnh: Nguyễn Hương

Về đầu trang


Phụ nữ Vĩnh Phúc với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

Thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, những năm qua, Hội LHPN tỉnh Vĩnh Phúc đã vận động hội viên dùng hàng Việt đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần làm thay đổi nếp nghĩ của người dân, tác động mạnh đến sức tiêu thụ hàng hóa tại thị trường nội địa.

Nhằm phát huy lòng yêu nước, ý trí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam, qua cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” không chỉ nhằm thúc đẩy sản xuất ra nhiều mặt hàng mang thương hiệu Việt Nam có chất lượng, tăng sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ngay khi có kế hoạch của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về việc thực hiện cuộc vận động, Ban Thường vụ Hội LHPN tỉnh đã ban hành kế hoạch tổ chức đẩy mạnh tuyên truyền, đồng thời tổ chức các hội nghị triển khai cuộc vận động tới 9/ 9 huyện, thành thị trên địa bàn tỉnh. Từ đó xác định việc tổ chức thực hiện cuộc vận động là một trong những nội dung quan trọng gắn với những nhiệm vụ trọng tâm và phong trào thi đua yêu nước của Hội. Hội LHPN các cấp thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền tại các buổi sinh hoạt chi hội, phối hợp với các cấp, ngành, cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn, tăng cường đăng tải tin, bài trên bản tin công tác Hội và các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ… đã thu hút trên 90% cán bộ, hội viên tham gia.

Bên cạnh đó, Hội LHPN tỉnh Vĩnh Phúc còn phối hợp với các ban ngành, cơ quan truyền thông, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để tuyên truyền phụ nữ sử dụng hàng Việt và quảng bá sản phẩm đến đông đảo người dân trong tỉnh. Gắn thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” với các phong trào thi đua, các cuộc vận động thường xuyên của Hội như: Phong trào “Phụ nữ cả nước thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng đồng”, “Gia đình 5 không, 3 sạch”. Một số cấp Hội đã chủ động, sáng tạo trong triển khai tuyên truyền về cuộc vận động và đạt được được hiệu quả thiết thực

Cuộc vận động đã thu hút trên 8000 lượt hội viên toàn tỉnh tham gia tham quan mua sắm. Điển hình là Hội LHPN huyện Bình Xuyên, do nhận thức được tầm quan trọng của cuộc vận động đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đồng thời xác định được vai trò, vị trí của người phụ nữ trong cuộc vận động, phụ nữ là người trực tiếp, thường xuyên trao đổi hàng hóa tiêu dùng, là người đưa ra các quyết định nên mua các sản phẩm trong nước hay ngoài nước. Vì vậy, Hội LHPN huyện Bình Xuyên đã tổ chức thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như phối hợp với siêu thị Big C thường xuyên tổ chức cho chị em đi tham quan, mua sắm các sản phẩm tại siêu thị, phối hợp với các công ty sản xuất hàng việt giúp chị em nhận biết được hàng giả, hàng thật …Qua công tác tuyên truyền, các hội viên Hội phụ nữ huyện đã ủng hộ bằng các hình thức mua nhiều hàng Việt, từ đó giúp các hội viên nhận thức được ưu điểm của hàng Việt so với hàng ngoại và đưa ra những lựa chọn đúng đắn khi mua hàng.

Bên cạnh công tác tuyên truyền, vận động chị em phụ nữ sử dụng hàng Việt, Hội LHPN tỉnh còn phối hợp với hội doanh nhân nữ của tỉnh tổ chức giao lưu, xúc tiến thương mại với các doanh nghiệp tỉnh bạn như ở Hà Nội, Yên Bái, Thái Nguyên…để tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm trong nước. Mặt khác tham gia, góp ý đến các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, nâng cao trách nhiệm xã hội đối với người tiêu dùng; đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa, giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh hàng Việt trên thị trường. Tiêu biểu trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phải nói đến cơ sở sản xuất bánh mứt kẹo Hòa Cúc (Phường Tích Sơn- TP Vĩnh Yên). Là một cơ sở sản xuất bánh mứt kẹo truyền thống, hơn 30 năm qua, mứt tết ở đây không chỉ có thương hiệu mà còn được ngành y tế chứng nhận đảm bảo vệ sinh ATTP, trung bình mỗi năm cơ sở sản xuất trên 30 tấn sản phẩm cung ứng ra thị trường trong và ngoài tỉnh. Hưởng ứng cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, cơ sở sản xuất của chị không ngừng đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị phần cạnh tranh trên thị trường. Chị Dương Thị Cúc- chủ cơ sở cho biết: Các sản phẩm cơ sở sản xuất ra đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng, nguồn nguyên liệu có xuất xứ rõ ràng, đảm bảo VSATTP… Hiện nay, doanh nghiệp thường xuyên tạo việc làm cho 12 lao động với thu nhập ổn định từ 2,5- 3 triệu đồng/ người/ tháng.

Trong thời gian tới, để đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động tới đông đảo chị em hội viên, Hội LHPN tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của cuộc vận động, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực đáp ứng yêu cầu đặt ra của cuộc vận động.

Thu Hồng

Về đầu trang


Để cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" đi vào đời sống ở Quảng Bình

Cuộc vận động (CVĐ) "Người Việt Nam ưu tiên  dùng hàng Việt Nam" tính đến nay đã bước sang năm thứ 4. Có thể nói, qua 4 năm triển khai, CVĐ đã tạo ra sức lan tỏa sâu rộng, nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Từ sự nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị, trong đó công tác tuyên truyền của mặt trận các cấp có đóng góp quan trọng, tác động không nhỏ, tâm lý mua sắm và ưu tiên dùng hàng Việt của người Việt trên địa bàn tỉnh ta đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung CVĐ, Mặt trận và các đoàn thể đã tổ chức tuyên truyền đến hàng chục nghìn cán bộ, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân nhằm góp phần đưa việc thực hiện CVĐ trở thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của các cấp, các ngành trong tỉnh.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người Việt ưu tiên dùng hàng Việt là việc làm cần phải được thực hiện thường xuyên và liên tục.

Tuy nhiên, việc đẩy mạnh không có nghĩa chỉ là kêu gọi mà kế hoạch của việc tuyên truyền, vận động cần phải được cụ thể bằng những việc làm thiết thực hơn. Đặc biệt là các địa phương, việc tuyên truyền, vận động không chỉ dừng lại ở việc phối hợp với các ngành mà cần có sự linh hoạt hơn trong việc vận động các doanh nghiệp, tiểu thương buôn bán ngay trên địa bàn cùng vào cuộc, cùng tham gia vào CVĐ với những hoạt động giới thiệu, quảng bá hàng Việt ngay tại địa phương.

Với tinh thần đó, Ban Thường trực Ủy ban MTTQVN tỉnh đã chỉ đạo, hướng dẫn mặt trận các xã, thị trấn và Ban công tác mặt trận khu dân cư triển khai thực hiện CVĐ, tập trung đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, quán triệt sâu sắc 4 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện CVĐ theo tinh thần Thông báo kết luận số 264 của Bộ Chính trị.

Đề cao vai trò, trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đoàn viên, hội viên trong việc ưu tiên mua sắm, sử dụng hàng hóa thương hiệu Việt. Nội dung tuyên truyền, vận động được lồng ghép trong các buổi họp dân, sinh hoạt thôn, tổ dân phố, sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể, hội nghị tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ, gắn thực hiện CVĐ với các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động thường xuyên của Mặt trận.

Đồng thời, Mặt trận luôn giữ vai trò nòng cốt trong chỉ đạo các thành viên tham gia xây dựng các mô hình tuyên truyền hiệu quả như: Hội Nông dân làm cầu nối giữa các doanh nghiệp với nông dân, tập huấn khuyến nông-khuyến ngư, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hàng Việt; Hội Liên hiệp thanh niên có chương trình "Thanh niên Việt Nam đồng hành cùng hàng Việt Nam"; Liên đoàn Lao động đẩy mạnh CVĐ thông qua các phong trào thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để sản xuất chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm, kích thích tiêu dùng; Hội phụ nữ với phong trào ưu tiên hàng Việt trong mua sắm gia đình, phối hợp với nhà sản xuất giới thiệu hàng Việt...

Song song với đó là vận động các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ưu tiên sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước khi mua sắm tài sản, vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động của cơ quan và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; vận động các doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh doanh đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Ủy ban MTTQVN tỉnh đã phối hợp với Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh, Báo Quảng Bình duy trì và nâng cao chất lượng các chuyên mục, diễn đàn trên sóng phát thanh và truyền hình, đăng tải nhiều tin, bài tuyên truyền về CVĐ, cung cấp những thông tin đến người tiêu dùng như: giới thiệu sản phẩm, giá cả, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, các hoạt động quản lý thị trường... thu hút sự quan tâm đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Qua đó mang lại nhiều thông tin bổ ích; góp phần nâng cao nhận thức, kịp thời định hướng tiêu dùng trong xã hội, nâng cao tỷ lệ số người tiêu dùng ở địa phương ưu tiên lựa chọn hàng Việt, giới thiệu, quảng bá chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, sản xuất kinh doanh trong tỉnh, trong nước.

Có thể thấy sau 4 năm triển khai thực hiện CVĐ, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và đa số người dân ở địa phương đã nhận thức đầy đủ hơn về mục đích, ý nghĩa CVĐ, thay đổi hành vi theo hướng ưu tiên mua sắm hàng hóa thương hiệu Việt. Các ban, ngành, cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước khi trang bị, mua sắm tài sản công đã ưu tiên lựa chọn những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ là hàng sản xuất tại Việt Nam.

Các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia hưởng ứng cuộc vận động, ưu tiên mua sắm, sử dụng hàng hóa thương hiệu Việt. Các doanh nghiệp, nhà sản xuất đã chú trọng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Trên thị trường tỉnh nhà, hàng Việt ngày càng được ưa chuộng, nhất là người tiêu dùng vùng nông thôn. Kết quả thực hiện CVĐ đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, cuộc vận động vẫn còn những hạn chế, tồn tại như: một số địa phương, đơn vị chưa xác định được tầm quan trọng của cuộc vận động nên công tác tuyên truyền chưa đạt yêu cầu. Tâm lý, thói quen dùng hàng ngoại vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân. Một số mặt hàng nội địa chưa bảo đảm cạnh tranh với hàng ngoại. Công tác kiểm tra chưa chặt chẽ, hàng nội kém chất lượng còn phổ biến trên thị trường...

"Để thực sự đi vào đời sống nhân dân, CVĐ này cần được xã hội hoá một cách tích cực, cần có sự nỗ lực nhiều hơn nữa của các cấp, ngành cũng như sự phấn đấu của các doanh nghiệp làm ra sản phẩm, chữ tín của nhà phân phối sản phẩm trong hoạt động thương mại nhằm tạo dựng được niềm tin vững chắc của người tiêu dùng đối với sản phẩm sản xuất trong nước; tích cực tuyên truyền, quảng bá những mặt hàng Việt có chất lượng, mẫu mã tốt, giá cả phải chăng để người tiêu dùng lựa chọn sử dụng. Ngoài ra, cần kiên quyết tẩy chay đối với hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng", ông Trương Văn Hởi, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh khẳng định.

Đ.V

Về đầu trang


 

 

 

 

 

 
 
 
 
 

 

 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
             
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   

© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;