|
|
|
DIỄN ĐÀN ĐẠI
ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC |
Vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Thực hiện chính sách dân tộc ở nước
ta - thực trạng và giải pháp |
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN
GIÁO
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
PGS-TS. NGUYỄN
ĐỨC LỮ
Viện Nghiên
cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng,
Học viện Chính
trị - Hành chính Quốc gia Hồ chí Minh.
Quan điểm, chính sách đối với
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta luôn lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận. Trong
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chính sách “tín ngưỡng
tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra
đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân kháng
chiến thắng lợi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho
đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đã được vận
dụng vào việc xác lập quan điểm và hoạch định chính sách
đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều thời
kỳ cách mạng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khách quan và chủ
quan khác nhau khiến cho việc vận dụng những tư tưởng ấy
của Người còn có hạn chế nhất định. Nhưng, từ Nghị quyết
24-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 16-10-1990) được coi là
dấu mốc đổi mới tư duy vấn đề tôn giáo của Đảng, cho đến
nay, Đảng và Nhà nước ta có nhiều văn bản tiếp tục đổi mới
tư duy trên lĩnh vực nhạy cảm này. Những quan điểm về tôn
giáo tiến bộ của Người đã thực sự được thể hiện rõ ở chủ
trương của Đảng và chính sách của Nhà nước ta trong thời
kỳ đổi mới. Điều này được thể hiện ở mấy điểm sau:
Một là, quán triệt tư tưởng
lấy dân làm gốc, tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết.
Từ sự nhận thức sâu sắc về vai
trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng của học
thuyết Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Lực lượng
toàn dân là lực lượng vĩ đại nhất. Không ai chiến thắng
được lực lượng đó”1. Đoàn kết toàn dân, trong đó có đoàn
lết lương giáo là yếu tố cơ bản đưa tới mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam.
Dù cho công tác tôn giáo bao
gồm nhiều mặt, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội; đến các cấp, các ngành, các địa bàn, nhưng Nghị
quyết 24 đã xác định: “Nội dung cốt lõi của công tác tôn
giáo là công tác vận động quần chúng”. Đến Nghị quyết 25:
“Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu
tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ
thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng”.
Thực ra, đoàn kết tôn giáo,
tín ngưỡng tự do trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thể
hiện trong hầu hết các văn bản của Đảng về tôn giáo, nhưng
chỉ đến thời kỳ đổi mới quan điểm ấy mới rõ rệt cả trong
những văn bản của Nhà nước mang tính pháp quy cao. Nghị
quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá
IX) đặc biệt nhấn mạnh yếu tố đoàn kết: “Đồng bào theo các
tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo”. Ngay trong lời phát biểu
khai mạc Hội nghị, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh:
“Vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc và tôn
giáo là những vấn đề chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược
đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta”2 “Đoàn kết các
dân tộc và các tôn giáo là bộ phận rất quan trọng”3.
Hai là, về mối quan hệ giữa
tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ biện chứng giữa tôn giáo với dân tộc thực sự là
độc đáo và sâu sắc khi Người nêu: kính Chúa gắn liền với
yêu nước, phụng sự Tổ quốc cũng là làm theo ý Chúa, nước
có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng
mới được tự do. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, một người
dân Việt Nam có thể vừa là một người dân yêu nước đồng
thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính. Người cho rằng,
người Công giáo tốt phải là người công dân tốt, kính Chúa
và yêu nước vừa là trách nhiệm công dân vừa là bổn phận
dân Chúa.
Dân tộc và tôn giáo có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng trong mối quan hệ này,
Người cho rằng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự
do.
Về mối quan hệ giữa tôn giáo
với chủ nghĩa xã hội vốn là vấn đề mà người theo đạo
thường trăn trở. Hiểu tâm tư ấy, Hồ Chí Minh khẳng định rõ:
“Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do.
Ở Việt Nam cũng vậy”4. Người còn nói rõ thêm, người cộng
sản tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây
dựng chủ nghĩa xã hội: “Chẳng những không tiêu diệt tôn
giáo mà còn bảo hộ tôn giáo. Đảng cộng sản chỉ tiêu diệt
tội ác người bóc lột người”5.
Về vấn đề này, Nghị quyết 24
của Bộ Chính trị năm 1990 cũng khẳng định: “Tôn giáo là
một vấn đề còn tồn tại lâu dài”. Đến Nghị quyết 25 của Ban
Chấp hành Trung ương, năm 2003, Đảng ta còn nêu cụ thể hơn:
“Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” và: “Làm cho các tôn
giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội,
hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Vấn đề hiện
nay đặt ra là làm sao cho hoạt đông tôn giáo phù hợp với
chủ nghĩa xã hội.
Ba là, về mối quan hệ giữa tôn
giáo với đạo đức và văn hóa
Hồ Chí Minh không chỉ ghi nhận
giá trị đạo đức của tôn giáo mà còn thấy vai trò đạo đức
của tôn giáo trong việc giáo dục nhân cách con người. Việc
nâng cao phẩm chất, đạo đức cho toàn xã hội có nhiều biện
pháp, trong đó không thể xem nhẹ vai trò của tôn giáo.
Người viết:
“Chúa Giê-su dạy: đạo đức là
bác ái.
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là
từ bi.
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân
nghĩa”6.
Hồ Chí Minh luôn tỏ lòng kính
trọng, ngưỡng mộ các danh nhân của thế giới, không phân
biệt họ thuộc tôn giáo nào, vô thần hay hữu thần, là người
phương Đông hay người phương Tây... Người đã chắt lọc, rút
ra những giá trị tư tưởng lớn lao ở họ để kế thừa và phát
triển. Từ Phật Thích Ca, Khổng Tử, Chúa Giê-su đến Các Mác,
Lênin, Tôn Dật Tiên... Hồ Chí Minh đều coi họ là những vĩ
nhân của lịch sử, những bậc thày mà Người nguyện là người
học trò nhỏ của các vị ấy. Từ sự nhìn nhận, đánh giá một
cách khách quan những giá trị đạo đức có trong tôn giáo,
Hồ Chí Minh đã chắt lọc những gì là tinh túy về đạo đức
của tôn giáo, khuyên mọi người cần tiếp thu, kế thừa và
phát triển.
Trong Nghị quyết 24 của Bộ
Chính trị năm 1990, lần đâu tiên Đảng ta thừa nhận đạo đức
tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã
hội mới, Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị năm 1998, công nhận:
“Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được
tôn trọng và khuyến khích phát huy”. Đến Hội nghị lần thứ
V Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) còn nêu cả mục 8 về
“chính sách văn hoá đối với tôn giáo”. Và Đại hội IX, Đảng
ta chính thức khẳng định trong Báo cáo Chính trị: “Phát
huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức của tôn
giáo”7. Một lần nữa, tại Đại hội X, Văn kiện Đảng Cộng sản
Việt Nam lại nhắc lại quan điểm này: “ Phát huy những giá
trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”. Quan điểm
ấy của Đảng còn được thể chế hóa lần đầu tiên ở Pháp lệnh
Tín ngưỡng, Tôn giáo. Tại Điều 5 của Pháp lệnh này có ghi:
“Tôn trọng giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và
phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng
tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với
nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.
Lâu nay không ít người quan niệm tôn giáo chủ yếu là vấn
đề chính trị phản động, đã đến lúc ta cần hiểu sâu hơn và
ứng xử với tôn giáo không chỉ dưới góc độ chính trị mà còn
như hiện tượng đạo đức, văn hóa nữa.
Bốn là, chăm lo đời sống vật
chất và tinh thần, động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và
các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”.
Sự tồn tại của con người luôn
đặt ra nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật
chất là bức xúc của lẽ sinh tồn, song xã hội càng phát
triển con người càng đòi hỏi về nhu cầu tinh thần. Tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng có
tín ngưỡng. Nếu hạn chế hoặc thủ tiêu nhu cầu này là đi
ngược lại quy luật khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
trăn trở và nhắc nhở: “Các cấp uỷ phải thật quan tâm đến
phần đời và phần đạo của đồng bào công giáo”8, làm thế nào
để: “Sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm no
thì phần hồn cũng được yên vui”9.
Trên tinh thần ấy, trong Văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) có ghi:
“Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ
làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt
đời, đẹp đạo”10. Đại hội IX, Đảng ta nhắc lại: Đồng bào
theo đạo và chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách
nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời đẹp đạo”.
Đến Đại hội X, một lần nữa lại nêu và nhấn mạnh trách
nhiệm của Đảng và chính quyền là: “ Động viên, giúp đỡ
đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời,
đẹp đạo”.
Năm là, nhấn mạnh sự tương
đồng, chấp nhận sự khác biệt.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tương
đồng về lý tưởng của tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản, Người
cho rằng, học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự
tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó
là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là
phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có
ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện
nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng những có
điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài
người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống
trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ
nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người
bạn thân thiết. Và Người cố gắng làm người học trò của các
vị ấy.
Hay Người nêu: Đường lối mục
đích của Chính phủ gồm 3 mục tiêu sau đây:
1. Giải phóng nhân dân khỏi
đói rét (khổ sở) và khỏi dốt.
2. Đem lại cho nhân dân tự do,
tự do sống, tự do tín ngưỡng.
3. Bảo vệ nền độc lập của Tổ
quốc.
Nếu cộng sản mà thực hiện
những việc trên đây, tôi tin chắc rằng mọi người sẽ chấp
nhận thứ cộng sản đó.
Còn nhận thức về thế giới khác
nhau là điều tất nhiên của cuộc sống, Hồ Chí Minh khẳng
định: mỗi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa, có
quyền theo hoặc không theo một tôn giáo và yêu cầu mọi
người cần tôn trọng niềm tin của nhau. Tôn trọng tự do tín
ngưỡng phải trên cơ sở hiểu biết, độ lượng, vị tha và xoá
bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, đố kị, hiềm khích lẫn nhau. Hồ
Chí Minh đề cao điểm tương đồng, tìm mẫu số chung đồng
thời chấp nhận sự khác biệt để mọi người không phân biệt
lương giáo phấn đấu cho nó.
Vận dụng tư tưởng của Người,
Nghị quyết số 25 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu:
“Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn
giáo với sự nghiệp chung” và: “Tôn trọng tín ngưỡng truyền
thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, thông
qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những người có tín
ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo;
giữa những người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau;
đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo,
những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại
đến lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân”.
Sáu là, giữ gìn và phát huy
truyền thống thờ cúng tổ tiên
Tín ngưỡng truyền thống và có
tính phổ quát ở Việt Nam, được Hồ Chí Minh rất coi trọng
và cho rằng: “Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện
tượng xã hội”11. Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, đảng
viên tôn trọng phong tục, tập quán, tín ngưỡng của mọi
người. Đối với những người có công với dân với nước, những
bậc tiên hiền, liệt sĩ đã hy sinh vì dân, vì nước, Người
luôn tỏ lòng ngưỡng mộ. Bản thân Người đã nhiều lần nhắc
đến “tổ tiên” với tình cảm chân tình, tôn kính và nhận
thấy “tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà”. Hồ Chí Minh luôn
nhắc nhở hậu thế ghi lòng, tạc dạ công ơn của các bậc tiền
bối có công với dân với nước. Tư tưởng của Người phù hợp
với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ
người trồng cây”. Người thường khơi dậy trong mỗi con
người niềm tự hào về con Rồng cháu Lạc, về nghĩa “đồng bào”
và khuyên mọi người dân Việt dù có khác nhau về tín ngưỡng,
dân tộc, giới tính, thế hệ... cũng đều phải có trách nhiệm
với ông cha để gìn giữ những gì mà tổ tiên để lại “các Vua
Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ
lấy nước”.
Trong Nghị quyết 25 nói trên,
lần đầu tiên Đảng ta nêu quan điểm: “Giữ gìn và phát huy
những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên,
tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân”. Coi
trọng truyền thống này, không chỉ thể hiện ở quan điểm của
Đảng mà còn được thể hiện ở Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo
- một văn bản có tính pháp quy cao nhất gần đây của Nhà
nước. Điều 5 của Pháp lệnh này có ghi: “Giữ gìn và phát
huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ
tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước,
với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.
Quan điểm của Đảng về thờ cúng
Tổ tiên là sự kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh và cũng phù
hợp với nguyện vọng của nhân dân. Bên cạnh những giá trị
tốt đẹp, trường tồn của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn
vinh các vị anh hùng dân tộc, chúng ta đang chứng kiến sự
trỗi dậy của hiện tượng mê tín dị đoạn và hủ tục lạc hậu
là biểu hiện phi giá trị, phản văn hoá. Hồ Chí Minh cũng
đã từng phê phán hiện tượng này. Nhưng, Người cũng nhắc
nhở bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây
dựng nếp sống văn hoá mới, xây dựng thuần phong mỹ tục.q
___________________
1. Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, tr.20.
2. Đảng cộng
sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành
Trung ương khoá IX, Nxb CTQG, H, 2003, tr.5.
3. Sđd, tr.6.
4. Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1996, t.9, tr.176.
5. Báo Nhân
dân. Ngày 27-1-1955.
6. Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.6, tr.225
7. Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb CTQG, H, 2001,
tr.128.
8. Sđd, t.11,
tr.83.
9. Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1996, t.8, tr.285.
10. Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb ST, H, 1996
tr.126.
11. Hồ Chí
Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, tr.35.
[về
đầu trang]
|
|
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở NƯỚC TA
- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
NGUYỄN MẠNH
QUANG
Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trong những năm gần đây, Đảng
ta đã ra nhiều nghị quyết quan trọng về công tác dân tộc.
Các nghị quyết đó đã được triển khai rộng rãi và được
Chính phủ thể chế hoá làm chỗ dựa vững chắc cho việc chỉ
đạo, xử lý cụ thể; các cơ chế, chính sách phát triển kinh
tế - xã hội được bổ sung, đổi mới và cụ thể hoá phù hợp
với tình hình thực tế ở từng vùng. Nhờ có sự chỉ đạo, điều
hành tích cực, có hiệu quả của Chính phủ, các bộ, ngành và
các địa phương nên công tác dân tộc đã có những chuyển
biến tích cực.
Theo thống kê của Uỷ ban Dân
tộc, Chương trình 135 (giai đoạn I), Nhà nước đã đầu tư
trực tiếp 9.142,2 tỷ đồng, triển khai trên địa bàn 2.410
xã (trong 330 huyện thuộc 52 tỉnh, thành phố), với gần 5,5
triệu đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng. Trong giai
đoạn I, đã có 671 xã đặc biệt khó khăn hoàn thành mục tiêu
chương trình, còn 1.644 xã đang tiếp tục được đầu tư giai
đoạn II. Do có sự đầu tư lớn của Nhà nước, cơ sở hạ tầng
vùng dân tộc và miền núi từng bước phát triển. Hệ thống
đường bộ được nâng cấp, mở mới với 6.658 công trình, tạo
thành mạng lưới giao thông phục vụ giao lưu, phát triển
kinh tế, xã hội cho các tỉnh vùng dân tộc, đã có 97,42% số
xã có đường ô tô đến trung tâm xã; đã xây dựng 1.425 công
trình điện sinh hoạt, đưa tỷ lệ hộ dân được dùng điện quốc
gia lên 64%; xây dựng 3.297 công trình thuỷ lợi nhỏ, 2.574
công trình nước sinh hoạt; các công trình phúc lợi xã hội
được xây dựng đã góp phần quan trọng phát triển sản xuất,
nâng cao đời sống đồng bào. Kinh tế vùng có bà con người
dân tộc thiểu số sinh sống từ một nền sản xuất phân tán,
tự cung, tự cấp đã chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hoá;
tốc độ tăng trưởng kinh tế các tỉnh vùng dân tộc thiểu số
tăng đều, năm sau cao hơn năm trước (năm 2006, các tỉnh
Tây Bắc đạt 11,2%, các tỉnh Tây Nguyên đạt 11,7% tốc độ
tăng trưởng). Giáo dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc
thiểu số đã có những chuyển biến tích cực, hệ thống trường
phổ thông dân tộc nội trú trong cả nước từ Trung ương đến
địa phương đã được củng cố và phát triển (có 804 trường,
trong đó cấp Trung ương có 11 trường, cấp tỉnh 48 trường,
cấp huyện 226 trường...) thu hút gần 60.000 học sinh theo
học. Hệ thống trường bán trú ở các địa phương đang phát
triển mạnh; riêng trường bán trú cụm xã có 519 trường,
tiếp nhận 52.000 học sinh theo học. Hệ thống trường dự bị
đại học và các khoa dự bị đại học đang được phát triển về
qui mô đào tạo và cơ sở vật chất. Mạng lưới y tế cơ sở đã
có những bước tiến cơ bản. Công tác thông tin, tuyên
truyền cũng đạt những kết quả đáng kể. Đài Tiếng nói Việt
Nam đã phủ sóng quốc gia tới 95% dân cư, 98% lãnh thổ, đã
phát thanh 9 thứ tiếng dân tộc; 26 đài phát thanh tỉnh có
chương trình phát thanh bằng 18 thứ tiếng dân tộc. Đài
Truyền hình Việt Nam đã phủ sóng trên 90% lãnh thổ quốc
gia, truyền hình 11 thứ tiếng dân tộc, trên 80% đồng bào
vùng dân tộc, miền núi được xem truyền hình. Nhà nước đã
cung cấp không thu tiền 20 loại báo, tạp chí, bản tin cho
48.491 thôn, bản, buôn; 5.309 xã vùng dân tộc và miền núi,
415 đồn biên phòng, hơn 100 nghìn trường học của 41 tỉnh
có đông đồng bào dân tộc sinh sống. Đời sống vật chất,
tinh thần của đồng bào được cải thiện và nâng cao hơn
trước. Nhiều hộ gia đình làm giàu từ kinh tế trang trại,
kinh tế VAC có thu nhập cao. Chính trị, quốc phòng, an
ninh được giữ vững. Hệ thống các tổ chức chính trị - xã
hội ở vùng dân tộc được củng cố và tăng cường, năng lực
cán bộ, đảng viên được nâng cao, từng bước phát huy được
vai trò đảng viên, cựu chiến binh, già làng, trưởng bản,
người có uy tín ở vùng dân tộc, phát triển thêm nhiều đảng
viên, đoàn viên, hội viên mới..., khối đoàn kết các dân
tộc được củng cố và tăng cường, gắn bó cùng nhau xây dựng
cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Bên cạnh những mặt tích cực,
những kết quả đạt được, công tác dân tộc trong những năm
qua vẫn còn những tồn tại, như:
+ Một số chủ trương, chính
sách về công tác dân tộc đã triển khai trong nhiều năm qua
nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Có những mục
tiêu đến nay chưa hoàn thành. Theo báo cáo của Uỷ ban Dân
tộc, năm 2006, tình trạng thiếu đói, đói giáp hạt trong
đồng bào còn cao, như: Sơn La còn 3.012 hộ, với 14.274
khẩu; Lai Châu 3.123 hộ, với 15.990 khẩu; Yên Bái 5.174 hộ,
với 26.482 khẩu; Cao Bằng 10.948 hộ, với 47.246 khẩu;
Thanh Hoá 18.967 hộ, với 84.457 khẩu... Tình hình di cư tự
do vẫn còn diễn ra, như: Điện Biên có 46 hộ với 222 khẩu,
Yên Bái 14 hộ, với 85 khẩu... Tình hình buôn bán ma tuý,
tái trồng cây thuốc phiện ở vùng miền núi phía Bắc có nơi
trở thành “điểm nóng”. Năm 2006, tỉnh Sơn La đã phát hiện
và thu giữ 33,897 kg hêrôin; 8.542 viên ma tuý tổng hợp.
Tình trạng nghiện hút và tiêm chích ma tuý gia tăng. Toàn
vùng còn gần hai ngàn xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo
vẫn còn cao và chủ yếu là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa.
Theo thống kê hiện còn 333.313 hộ cần hỗ trợ nhà ở, 83.984
hộ cần đất ở (1.884 ha), 237.616 hộ cần đất sản xuất
(73.535 ha), cần nước sinh hoạt phân tán là 280.994 hộ,
với 7.398 công trình, nước tập trung cần sự hỗ trợ theo
Chương trình 134. Như vậy, kết quả thực hiện Chương trình
trong 2 năm qua đạt thấp ở tất cả các mục tiêu đề ra, kinh
tế miền núi nhìn chung còn chậm phát triển. Một số vùng
còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xác định
phương hướng sản xuất. Công tác tổ chức sản xuất, chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa theo qui hoạch hợp lý,
chất lượng sản phẩm hàng hoá thấp, sản xuất chưa gắn với
thị trường, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ. Công nghiệp địa
phương ở miền núi chưa phát triển, nhất là công nghiệp chế
biến. Hàng hoá xuất ra thị trường chủ yếu còn ở dạng sản
phẩm thô, giá trị thấp, sức cạnh tranh không cao. Thương
mại chủ yếu phát triển tập trung ở thị xã, thị trấn, nên
chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống của đồng
bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Tình trạng giải quyết
nước sinh hoạt cho đồng bào vùng cao, biên giới, đưa cán
bộ lên vùng dân tộc, xây dựng các trung tâm khoa học - kỹ
thuật vùng... vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra.
+ Cơ sở hạ tầng vẫn còn ở tình
trạng thấp kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, giao lưu hội nhập và quốc phòng, an ninh.
Giáo dục và đào tạo ở miền núi còn hạn chế. Cơ sở vật chất,
trang thiết bị cho giáo dục các cấp học còn thiếu, một số
vùng sâu, vùng xa tỷ lệ trẻ em đến trường chưa cao, việc
dạy chữ dân tộc chưa đáp ứng được yêu cầu. Đội ngũ giáo
viên ở vùng sâu, vùng xa còn chưa đảm bảo yêu cầu cả về số
lượng và chất lượng, dẫn đến chất lượng, hiệu quả đào tạo
còn thấp. Hệ thống y tế vùng dân tộc còn bất cập, người
nghèo khó tiếp cận với các dịch vụ y tế; công tác quản lý
còn yếu kém, chính sách đối với cán bộ y tế chưa hợp lý.
Một số vùng dân tộc còn tiểm ẩn những nguy cơ gây mất ổn
định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, như: truyền
đạo trái phép, di cư tự do, tranh chấp đất đai đang diễn
biến phức tạp. Các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng,
kích động, chống phá, gây mất ổn định chính trị, xã hội...
Nguyên nhân của những hạn chế
trên là do địa bàn miền núi rộng lớn, địa hình hiểm trở,
chia cắt, phức tạp, có độ dốc lớn lại luôn bị thiên tai,
lũ lụt gây khó khăn cho giao lưu, phát triển. Nhiều vùng
sâu, vùng xa cách biệt vì hệ thống giao thông chưa được
xây dựng, đồng bào khó có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ
thông tin, y tế, giáo dục, tiến bộ khoa học kỹ thuật...
Điểm xuất phát của vùng dân tộc còn thấp, cơ sở hạ tầng
yếu kém, kinh tế chưa phát triển, phụ thuộc vào thiên
nhiên. Còn tồn tại các phong tục tập quán lạc hậu ảnh
hưởng rất lớn tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Các thế lực thù địch thường xuyên tập trung chống phá. Một
số địa phương, cấp uỷ đảng, chính quyền nhận thức về vai
trò, vị trí công tác dân tộc chưa đầy đủ, chưa thấy hết
tầm chiến lược của địa bàn dân tộc. Một số chính sách chưa
được cụ thể hoá phù hợp từng vùng, từng dân tộc nên hiệu
quả thấp. Một số chương trình, dự án chưa thật sự đáp ứng
nguyện vọng của đồng bào. Công tác chỉ đạo điều hành chưa
đồng bộ, thiếu tập trung, còn nhiều yếu kém, khuyết điểm.
Vừa qua, nhiều địa phương chỉ chú trọng tập trung phát
triển kinh tế, ít chú ý đến giải quyết các vấn đề xã hội,
chính sách dân tộc. Nhiều địa phương, bộ, ngành chưa kịp
thời đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm để uốn nắn, điều
chỉnh những vấn đề phát sinh, còn buông lỏng công tác kiểm
tra, thanh tra, để xảy ra nhiều sai phạm trong thực hiện
chính sách dân tộc và các chương trình dự án chưa thật
hiệu quả. Hệ thống chính trị, nhất là cấp cơ sở còn thiếu
về số lượng, nhiều yếu kém về năng lực, cán bộ làm công
tác dân tộc nhưng lại không biết tiếng dân tộc... nên chưa
nắm được dân, chưa hiểu dân, chưa sát dân. Công tác phát
triển Đảng ở nông thôn vùng đồng bào dân tộc còn chậm. Một
số tổ chức chính trị - xã hội hoạt động chưa hiệu quả,
chưa tập hợp được đồng bào. Hệ thống bộ máy tổ chức cán bộ
làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương chưa
hoàn chỉnh, chậm được kiện toàn, chưa đáp ứng yêu cầu đặt
ra. Một số vấn đề bức xúc về cán bộ chưa được giải quyết
triệt để như đào tạo, tạo nguồn cán bộ dân tộc, chính sách
huy động cán bộ lên vùng dân tộc, sử dụng, đãi ngộ cán bộ...
Công tác cán bộ chậm đổi mới so với yêu cầu nhiệm vụ cách
mạng trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng ỷ lại, trông chờ,
cơ chế xin - cho còn ăn sâu trong nếp nghĩ, cách làm của
một bộ phận cán bộ, đảng viên. Một số địa phương chưa phát
huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, tự vươn lên của đồng
bào.
+ Chính sách cho vùng dân tộc
và miền núi có nhiều nhưng tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ,
còn dàn trải, chưa hội đủ các điều kiện thuận lợi để đẩy
nhanh nền kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi phát
triển. Một số chính sách còn trùng lặp về đối tượng, địa
bàn. Việc xây dựng chính sách mới và rà soát, đánh giá
tổng thể các chính sách chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực
tiễn công tác dân tộc. Việc kiểm tra, thanh tra, giám sát
thực hiện chính sách chưa sâu sát. Việc sử lý các vi phạm
chưa nghiêm, chưa kịp thời, thiếu tính răn đe, giáo dục.
Nguồn đầu tư cho phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc
còn hạn chế, một số chính sách không đủ nguồn vốn đề triển
khai thực hiện.
Để khắc phục những hạn chế,
yếu kém, phát huy những thành tích đã đạt được trong việc
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, huy
động được mọi nguồn lực trong dân, các địa phương vùng dân
tộc cần tiếp tục:
Một là, quán triệt sâu sắc chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng sáng tạo
vào điều kiện cụ thể từng địa phương. Thực tế cho thấy địa
phương nào nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo, cụ thể hoá
chính sách, xây dựng các bước đi phù hợp thì đạt kết quả
cao, ngược lại sẽ lúng túng, bị động, dẫn đến phát triển
kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn.
Hai là, xây dựng hệ thống
chính trị vững mạnh, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện là yếu tố
quyết định thắng lợi. Qua thực tế đã chứng minh rằng:
những địa phương có hệ thống chính trị mạnh, cán bộ lãnh
đạo có năng lực tổ chức thực hiện thì tình hình kinh tế -
xã hội phát triển, quốc phòng - an ninh được đảm bảo.
Ba là, phải kết hợp tốt nguồn
vốn đầu tư hỗ trợ của Nhà nước và phát huy nội lực của địa
phương, của đồng bào các dân tộc. Các địa phương thực hiện
tốt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, động viên
ý thức vươn lên của đồng bào thì kinh tế - xã hội phát
triển một cách bền vững.
Bốn là, tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát. Vùng miền núi rộng lớn, phức tạp, năng
lực tổ chức thực hiện ở cơ sở còn thấp. Vì vậy, công tác
kiểm tra, thanh tra, giám sát là rất quan trọng vừa nhằm
uốn nắn, điều chỉnh những thiếu sót, vừa nâng cao hiệu quả
các chương trình, dự án.
Năm là, thực hiện tốt qui chế
dân chủ ở cơ sở, đảm bảo sự ổn định xã hội, phát triển bền
vững kinh tế - xã hội. Các chương trình, dự án nếu thực
hiện tốt chủ trương công khai hoá, chính quyền và nhân dân
cùng bàn bạc, lựa chọn, huy động sức dân tham gia thực
hiện và giám sát thì hiệu quả đầu tư sẽ cao, quản lý sử
dụng tốt hơn, hạn chế tiêu cực, thất thoát.
Sáu là, đẩy mạnh các hoạt động
hợp tác quốc tế. Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo,
vốn đầu tư có hạn, tất yếu phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế,
thu hút thêm vốn đầu tư, đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã
đề ra. Hợp tác quốc tế còn mở ra các cơ hội để trao đổi,
học tập kinh nghiệm, nâng cao năng lực cho cán bộ chính
quyền các cấp.
[về
đầu trang]
|
|
|
|