TRANG CHỦ

Vấn đề sự kiện

Diễn đàn Đại đoàn kết

Kinh nghiệm thực tiễn

Thông tin lý luận

  DIỄN ĐÀN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC


Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới

Thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta - thực trạng và giải pháp


VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

 

PGS-TS. NGUYỄN ĐỨC LỮ

Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng,

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ chí Minh.

 

Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân kháng chiến thắng lợi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đã được vận dụng vào việc xác lập quan điểm và hoạch định chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều thời kỳ cách mạng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khách quan và chủ quan khác nhau khiến cho việc vận dụng những tư tưởng ấy của Người còn có hạn chế nhất định. Nhưng, từ Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 16-10-1990) được coi là dấu mốc đổi mới tư duy vấn đề tôn giáo của Đảng, cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta có nhiều văn bản tiếp tục đổi mới tư duy trên lĩnh vực nhạy cảm này. Những quan điểm về tôn giáo tiến bộ của Người đã thực sự được thể hiện rõ ở chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới. Điều này được thể hiện ở mấy điểm sau:

Một là, quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết.

Từ sự nhận thức sâu sắc về vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại nhất. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”1. Đoàn kết toàn dân, trong đó có đoàn lết lương giáo là yếu tố cơ bản đưa tới mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Dù cho công tác tôn giáo bao gồm nhiều mặt, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; đến các cấp, các ngành, các địa bàn, nhưng Nghị quyết 24 đã xác định: “Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”. Đến Nghị quyết 25: “Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng”.

Thực ra, đoàn kết tôn giáo, tín ngưỡng tự do trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thể hiện trong hầu hết các văn bản của Đảng về tôn giáo, nhưng chỉ đến thời kỳ đổi mới quan điểm ấy mới rõ rệt cả trong những văn bản của Nhà nước mang tính pháp quy cao. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đặc biệt nhấn mạnh yếu tố đoàn kết: “Đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”. Ngay trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh: “Vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc và tôn giáo là những vấn đề chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta”2 “Đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo là bộ phận rất quan trọng”3.

Hai là, về mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa tôn giáo với dân tộc thực sự là độc đáo và sâu sắc khi Người nêu: kính Chúa gắn liền với yêu nước, phụng sự Tổ quốc cũng là làm theo ý Chúa, nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, một người dân Việt Nam có thể vừa là một người dân yêu nước đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính. Người cho rằng, người Công giáo tốt phải là người công dân tốt, kính Chúa và yêu nước vừa là trách nhiệm công dân vừa là bổn phận dân Chúa.

Dân tộc và tôn giáo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng trong mối quan hệ này, Người cho rằng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do.

Về mối quan hệ giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội vốn là vấn đề mà người theo đạo thường trăn trở. Hiểu tâm tư ấy, Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam cũng vậy”4. Người còn nói rõ thêm, người cộng sản tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Chẳng những không tiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo. Đảng cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột người”5.

Về vấn đề này, Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị năm 1990 cũng khẳng định: “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài”. Đến Nghị quyết 25 của Ban Chấp hành Trung ương, năm 2003, Đảng ta còn nêu cụ thể hơn: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” và: “Làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Vấn đề hiện nay đặt ra là làm sao cho hoạt đông tôn giáo phù hợp với chủ nghĩa xã hội.

Ba là, về mối quan hệ giữa tôn giáo với đạo đức và văn hóa

Hồ Chí Minh không chỉ ghi nhận giá trị đạo đức của tôn giáo mà còn thấy vai trò đạo đức của tôn giáo trong việc giáo dục nhân cách con người. Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức cho toàn xã hội có nhiều biện pháp, trong đó không thể xem nhẹ vai trò của tôn giáo. Người viết:

“Chúa Giê-su dạy: đạo đức là bác ái.

Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi.

Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”6.

Hồ Chí Minh luôn tỏ lòng kính trọng, ngưỡng mộ các danh nhân của thế giới, không phân biệt họ thuộc tôn giáo nào, vô thần hay hữu thần, là người phương Đông hay người phương Tây... Người đã chắt lọc, rút ra những giá trị tư tưởng lớn lao ở họ để kế thừa và phát triển. Từ Phật Thích Ca, Khổng Tử, Chúa Giê-su đến Các Mác, Lênin, Tôn Dật Tiên... Hồ Chí Minh đều coi họ là những vĩ nhân của lịch sử, những bậc thày mà Người nguyện là người học trò nhỏ của các vị ấy. Từ sự nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan những giá trị đạo đức có trong tôn giáo, Hồ Chí Minh đã chắt lọc những gì là tinh túy về đạo đức của tôn giáo, khuyên mọi người cần tiếp thu, kế thừa và phát triển.

Trong Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị năm 1990, lần đâu tiên Đảng ta thừa nhận đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị năm 1998, công nhận: “Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy”. Đến Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) còn nêu cả mục 8 về “chính sách văn hoá đối với tôn giáo”. Và Đại hội IX, Đảng ta chính thức khẳng định trong Báo cáo Chính trị: “Phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức của tôn giáo”7. Một lần nữa, tại Đại hội X, Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam lại nhắc lại quan điểm này: “ Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”. Quan điểm ấy của Đảng còn được thể chế hóa lần đầu tiên ở Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Tại Điều 5 của Pháp lệnh này có ghi: “Tôn trọng giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”. Lâu nay không ít người quan niệm tôn giáo chủ yếu là vấn đề chính trị phản động, đã đến lúc ta cần hiểu sâu hơn và ứng xử với tôn giáo không chỉ dưới góc độ chính trị mà còn như hiện tượng đạo đức, văn hóa nữa.

Bốn là, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Sự tồn tại của con người luôn đặt ra nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là bức xúc của lẽ sinh tồn, song xã hội càng phát triển con người càng đòi hỏi về nhu cầu tinh thần. Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng có tín ngưỡng. Nếu hạn chế hoặc thủ tiêu nhu cầu này là đi ngược lại quy luật khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở và nhắc nhở: “Các cấp uỷ phải thật quan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bào công giáo”8, làm thế nào để: “Sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũng được yên vui”9.

 Trên tinh thần ấy, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) có ghi: “Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo”10. Đại hội IX, Đảng ta nhắc lại: Đồng bào theo đạo và chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời đẹp đạo”. Đến Đại hội X, một lần nữa lại nêu và nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và chính quyền là: “ Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Năm là, nhấn mạnh sự tương đồng, chấp nhận sự khác biệt.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tương đồng về lý tưởng của tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản, Người cho rằng, học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng những có điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Và Người cố gắng làm người học trò của các vị ấy.

Hay Người nêu: Đường lối mục đích của Chính phủ gồm 3 mục tiêu sau đây:

1. Giải phóng nhân dân khỏi đói rét (khổ sở) và khỏi dốt.

2. Đem lại cho nhân dân tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng.

3. Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc.

Nếu cộng sản mà thực hiện những việc trên đây, tôi tin chắc rằng mọi người sẽ chấp nhận thứ cộng sản đó.

Còn nhận thức về thế giới khác nhau là điều tất nhiên của cuộc sống, Hồ Chí Minh khẳng định: mỗi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa, có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo và yêu cầu mọi người cần tôn trọng niềm tin của nhau. Tôn trọng tự do tín ngưỡng phải trên cơ sở hiểu biết, độ lượng, vị tha và xoá bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, đố kị, hiềm khích lẫn nhau. Hồ Chí Minh đề cao điểm tương đồng, tìm mẫu số chung đồng thời chấp nhận sự khác biệt để mọi người không phân biệt lương giáo phấn đấu cho nó.

Vận dụng tư tưởng của Người, Nghị quyết số 25 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu: “Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung” và: “Tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa những người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân”.

Sáu là, giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên

Tín ngưỡng truyền thống và có tính phổ quát ở Việt Nam, được Hồ Chí Minh rất coi trọng và cho rằng: “Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội”11. Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, đảng viên tôn trọng phong tục, tập quán, tín ngưỡng của mọi người. Đối với những người có công với dân với nước, những bậc tiên hiền, liệt sĩ đã hy sinh vì dân, vì nước, Người luôn tỏ lòng ngưỡng mộ. Bản thân Người đã nhiều lần nhắc đến “tổ tiên” với tình cảm chân tình, tôn kính và nhận thấy “tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà”. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở hậu thế ghi lòng, tạc dạ công ơn của các bậc tiền bối có công với dân với nước. Tư tưởng của Người phù hợp với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”. Người thường khơi dậy trong mỗi con người niềm tự hào về con Rồng cháu Lạc, về nghĩa “đồng bào” và khuyên mọi người dân Việt dù có khác nhau về tín ngưỡng, dân tộc, giới tính, thế hệ... cũng đều phải có trách nhiệm với ông cha để gìn giữ những gì mà tổ tiên để lại “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Trong Nghị quyết 25 nói trên, lần đầu tiên Đảng ta nêu quan điểm: “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân”. Coi trọng truyền thống này, không chỉ thể hiện ở quan điểm của Đảng mà còn được thể hiện ở Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo - một văn bản có tính pháp quy cao nhất gần đây của Nhà nước. Điều 5 của Pháp lệnh này có ghi: “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.

Quan điểm của Đảng về thờ cúng Tổ tiên là sự kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh và cũng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Bên cạnh những giá trị tốt đẹp, trường tồn của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, chúng ta đang chứng kiến sự trỗi dậy của hiện tượng mê tín dị đoạn và hủ tục lạc hậu là biểu hiện phi giá trị, phản văn hoá. Hồ Chí Minh cũng đã từng phê phán hiện tượng này. Nhưng, Người cũng nhắc nhở bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn hoá mới, xây dựng thuần phong mỹ tục.q

___________________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, tr.20.

2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb CTQG, H, 2003, tr.5.

3. Sđd, tr.6.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1996, t.9, tr.176.

5. Báo Nhân dân. Ngày 27-1-1955.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.6, tr.225

7. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb CTQG, H, 2001, tr.128.

8. Sđd, t.11, tr.83.

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1996, t.8, tr.285.

10. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb ST, H, 1996 tr.126.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, tr.35.

[về đầu trang]


THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở NƯỚC TA

- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

 

NGUYỄN MẠNH QUANG

Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

Trong những năm gần đây, Đảng ta đã ra nhiều nghị quyết quan trọng về công tác dân tộc. Các nghị quyết đó đã được triển khai rộng rãi và được Chính phủ thể chế hoá làm chỗ dựa vững chắc cho việc chỉ đạo, xử lý cụ thể; các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội được bổ sung, đổi mới và cụ thể hoá phù hợp với tình hình thực tế ở từng vùng. Nhờ có sự chỉ đạo, điều hành tích cực, có hiệu quả của Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương nên công tác dân tộc đã có những chuyển biến tích cực.

 Theo thống kê của Uỷ ban Dân tộc, Chương trình 135 (giai đoạn I), Nhà nước đã đầu tư trực tiếp 9.142,2 tỷ đồng, triển khai trên địa bàn 2.410 xã (trong 330 huyện thuộc 52 tỉnh, thành phố), với gần 5,5 triệu đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng. Trong giai đoạn I, đã có 671 xã đặc biệt khó khăn hoàn thành mục tiêu chương trình, còn 1.644 xã đang tiếp tục được đầu tư giai đoạn II. Do có sự đầu tư lớn của Nhà nước, cơ sở hạ tầng vùng dân tộc và miền núi từng bước phát triển. Hệ thống đường bộ được nâng cấp, mở mới với 6.658 công trình, tạo thành mạng lưới giao thông phục vụ giao lưu, phát triển kinh tế, xã hội cho các tỉnh vùng dân tộc, đã có 97,42% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; đã xây dựng 1.425 công trình điện sinh hoạt, đưa tỷ lệ hộ dân được dùng điện quốc gia lên 64%; xây dựng 3.297 công trình thuỷ lợi nhỏ, 2.574 công trình nước sinh hoạt; các công trình phúc lợi xã hội được xây dựng đã góp phần quan trọng phát triển sản xuất, nâng cao đời sống đồng bào. Kinh tế vùng có bà con người dân tộc thiểu số sinh sống từ một nền sản xuất phân tán, tự cung, tự cấp đã chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hoá; tốc độ tăng trưởng kinh tế các tỉnh vùng dân tộc thiểu số tăng đều, năm sau cao hơn năm trước (năm 2006, các tỉnh Tây Bắc đạt 11,2%, các tỉnh Tây Nguyên đạt 11,7% tốc độ tăng trưởng). Giáo dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú trong cả nước từ Trung ương đến địa phương đã được củng cố và phát triển (có 804 trường, trong đó cấp Trung ương có 11 trường, cấp tỉnh 48 trường, cấp huyện 226 trường...) thu hút gần 60.000 học sinh theo học. Hệ thống trường bán trú ở các địa phương đang phát triển mạnh; riêng trường bán trú cụm xã có 519 trường, tiếp nhận 52.000 học sinh theo học. Hệ thống trường dự bị đại học và các khoa dự bị đại học đang được phát triển về qui mô đào tạo và cơ sở vật chất. Mạng lưới y tế cơ sở đã có những bước tiến cơ bản. Công tác thông tin, tuyên truyền cũng đạt những kết quả đáng kể. Đài Tiếng nói Việt Nam đã phủ sóng quốc gia tới 95% dân cư, 98% lãnh thổ, đã phát thanh 9 thứ tiếng dân tộc; 26 đài phát thanh tỉnh có chương trình phát thanh bằng 18 thứ tiếng dân tộc. Đài Truyền hình Việt Nam đã phủ sóng trên 90% lãnh thổ quốc gia, truyền hình 11 thứ tiếng dân tộc, trên 80% đồng bào vùng dân tộc, miền núi được xem truyền hình. Nhà nước đã cung cấp không thu tiền 20 loại báo, tạp chí, bản tin cho 48.491 thôn, bản, buôn; 5.309 xã vùng dân tộc và miền núi, 415 đồn biên phòng, hơn 100 nghìn trường học của 41 tỉnh có đông đồng bào dân tộc sinh sống. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được cải thiện và nâng cao hơn trước. Nhiều hộ gia đình làm giàu từ kinh tế trang trại, kinh tế VAC có thu nhập cao. Chính trị, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội ở vùng dân tộc được củng cố và tăng cường, năng lực cán bộ, đảng viên được nâng cao, từng bước phát huy được vai trò đảng viên, cựu chiến binh, già làng, trưởng bản, người có uy tín ở vùng dân tộc, phát triển thêm nhiều đảng viên, đoàn viên, hội viên mới..., khối đoàn kết các dân tộc được củng cố và tăng cường, gắn bó cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Bên cạnh những mặt tích cực, những kết quả đạt được, công tác dân tộc trong những năm qua vẫn còn những tồn tại, như:

+ Một số chủ trương, chính sách về công tác dân tộc đã triển khai trong nhiều năm qua nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. Có những mục tiêu đến nay chưa hoàn thành. Theo báo cáo của Uỷ ban Dân tộc, năm 2006, tình trạng thiếu đói, đói giáp hạt trong đồng bào còn cao, như: Sơn La còn 3.012 hộ, với 14.274 khẩu; Lai Châu 3.123 hộ, với 15.990 khẩu; Yên Bái 5.174 hộ, với 26.482 khẩu; Cao Bằng 10.948 hộ, với 47.246 khẩu; Thanh Hoá 18.967 hộ, với 84.457 khẩu... Tình hình di cư tự do vẫn còn diễn ra, như: Điện Biên có 46 hộ với 222 khẩu, Yên Bái 14 hộ, với 85 khẩu... Tình hình buôn bán ma tuý, tái trồng cây thuốc phiện ở vùng miền núi phía Bắc có nơi trở thành “điểm nóng”. Năm 2006, tỉnh Sơn La đã phát hiện và thu giữ 33,897 kg hêrôin; 8.542 viên ma tuý tổng hợp. Tình trạng nghiện hút và tiêm chích ma tuý gia tăng. Toàn vùng còn gần hai ngàn xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao và chủ yếu là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa. Theo thống kê hiện còn 333.313 hộ cần hỗ trợ nhà ở, 83.984 hộ cần đất ở (1.884 ha), 237.616 hộ cần đất sản xuất (73.535 ha), cần nước sinh hoạt phân tán là 280.994 hộ, với 7.398 công trình, nước tập trung cần sự hỗ trợ theo Chương trình 134. Như vậy, kết quả thực hiện Chương trình trong 2 năm qua đạt thấp ở tất cả các mục tiêu đề ra, kinh tế miền núi nhìn chung còn chậm phát triển. Một số vùng còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xác định phương hướng sản xuất. Công tác tổ chức sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa theo qui hoạch hợp lý, chất lượng sản phẩm hàng hoá thấp, sản xuất chưa gắn với thị trường, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ. Công nghiệp địa phương ở miền núi chưa phát triển, nhất là công nghiệp chế biến. Hàng hoá xuất ra thị trường chủ yếu còn ở dạng sản phẩm thô, giá trị thấp, sức cạnh tranh không cao. Thương mại chủ yếu phát triển tập trung ở thị xã, thị trấn, nên chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống của đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Tình trạng giải quyết nước sinh hoạt cho đồng bào vùng cao, biên giới, đưa cán bộ lên vùng dân tộc, xây dựng các trung tâm khoa học - kỹ thuật vùng... vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra.

+ Cơ sở hạ tầng vẫn còn ở tình trạng thấp kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu hội nhập và quốc phòng, an ninh. Giáo dục và đào tạo ở miền núi còn hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo dục các cấp học còn thiếu, một số vùng sâu, vùng xa tỷ lệ trẻ em đến trường chưa cao, việc dạy chữ dân tộc chưa đáp ứng được yêu cầu. Đội ngũ giáo viên ở vùng sâu, vùng xa còn chưa đảm bảo yêu cầu cả về số lượng và chất lượng, dẫn đến chất lượng, hiệu quả đào tạo còn thấp. Hệ thống y tế vùng dân tộc còn bất cập, người nghèo khó tiếp cận với các dịch vụ y tế; công tác quản lý còn yếu kém, chính sách đối với cán bộ y tế chưa hợp lý. Một số vùng dân tộc còn tiểm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, như: truyền đạo trái phép, di cư tự do, tranh chấp đất đai đang diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng, kích động, chống phá, gây mất ổn định chính trị, xã hội...

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do địa bàn miền núi rộng lớn, địa hình hiểm trở, chia cắt, phức tạp, có độ dốc lớn lại luôn bị thiên tai, lũ lụt gây khó khăn cho giao lưu, phát triển. Nhiều vùng sâu, vùng xa cách biệt vì hệ thống giao thông chưa được xây dựng, đồng bào khó có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ thông tin, y tế, giáo dục, tiến bộ khoa học kỹ thuật... Điểm xuất phát của vùng dân tộc còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, kinh tế chưa phát triển, phụ thuộc vào thiên nhiên. Còn tồn tại các phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Các thế lực thù địch thường xuyên tập trung chống phá. Một số địa phương, cấp uỷ đảng, chính quyền nhận thức về vai trò, vị trí công tác dân tộc chưa đầy đủ, chưa thấy hết tầm chiến lược của địa bàn dân tộc. Một số chính sách chưa được cụ thể hoá phù hợp từng vùng, từng dân tộc nên hiệu quả thấp. Một số chương trình, dự án chưa thật sự đáp ứng nguyện vọng của đồng bào. Công tác chỉ đạo điều hành chưa đồng bộ, thiếu tập trung, còn nhiều yếu kém, khuyết điểm. Vừa qua, nhiều địa phương chỉ chú trọng tập trung phát triển kinh tế, ít chú ý đến giải quyết các vấn đề xã hội, chính sách dân tộc. Nhiều địa phương, bộ, ngành chưa kịp thời đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm để uốn nắn, điều chỉnh những vấn đề phát sinh, còn buông lỏng công tác kiểm tra, thanh tra, để xảy ra nhiều sai phạm trong thực hiện chính sách dân tộc và các chương trình dự án chưa thật hiệu quả. Hệ thống chính trị, nhất là cấp cơ sở còn thiếu về số lượng, nhiều yếu kém về năng lực, cán bộ làm công tác dân tộc nhưng lại không biết tiếng dân tộc... nên chưa nắm được dân, chưa hiểu dân, chưa sát dân. Công tác phát triển Đảng ở nông thôn vùng đồng bào dân tộc còn chậm. Một số tổ chức chính trị - xã hội hoạt động chưa hiệu quả, chưa tập hợp được đồng bào. Hệ thống bộ máy tổ chức cán bộ làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương chưa hoàn chỉnh, chậm được kiện toàn, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Một số vấn đề bức xúc về cán bộ chưa được giải quyết triệt để như đào tạo, tạo nguồn cán bộ dân tộc, chính sách huy động cán bộ lên vùng dân tộc, sử dụng, đãi ngộ cán bộ... Công tác cán bộ chậm đổi mới so với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Tư tưởng ỷ lại, trông chờ, cơ chế xin - cho còn ăn sâu trong nếp nghĩ, cách làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Một số địa phương chưa phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, tự vươn lên của đồng bào.

+ Chính sách cho vùng dân tộc và miền núi có nhiều nhưng tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, còn dàn trải, chưa hội đủ các điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh nền kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi phát triển. Một số chính sách còn trùng lặp về đối tượng, địa bàn. Việc xây dựng chính sách mới và rà soát, đánh giá tổng thể các chính sách chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác dân tộc. Việc kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện chính sách chưa sâu sát. Việc sử lý các vi phạm chưa nghiêm, chưa kịp thời, thiếu tính răn đe, giáo dục. Nguồn đầu tư cho phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc còn hạn chế, một số chính sách không đủ nguồn vốn đề triển khai thực hiện.

 Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, phát huy những thành tích đã đạt được trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, huy động được mọi nguồn lực trong dân, các địa phương vùng dân tộc cần tiếp tục:

Một là, quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể từng địa phương. Thực tế cho thấy địa phương nào nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo, cụ thể hoá chính sách, xây dựng các bước đi phù hợp thì đạt kết quả cao, ngược lại sẽ lúng túng, bị động, dẫn đến phát triển kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn.

Hai là, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện là yếu tố quyết định thắng lợi. Qua thực tế đã chứng minh rằng: những địa phương có hệ thống chính trị mạnh, cán bộ lãnh đạo có năng lực tổ chức thực hiện thì tình hình kinh tế - xã hội phát triển, quốc phòng - an ninh được đảm bảo.

Ba là, phải kết hợp tốt nguồn vốn đầu tư hỗ trợ của Nhà nước và phát huy nội lực của địa phương, của đồng bào các dân tộc. Các địa phương thực hiện tốt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, động viên ý thức vươn lên của đồng bào thì kinh tế - xã hội phát triển một cách bền vững.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Vùng miền núi rộng lớn, phức tạp, năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở còn thấp. Vì vậy, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát là rất quan trọng vừa nhằm uốn nắn, điều chỉnh những thiếu sót, vừa nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án.

Năm là, thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo sự ổn định xã hội, phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Các chương trình, dự án nếu thực hiện tốt chủ trương công khai hoá, chính quyền và nhân dân cùng bàn bạc, lựa chọn, huy động sức dân tham gia thực hiện và giám sát thì hiệu quả đầu tư sẽ cao, quản lý sử dụng tốt hơn, hạn chế tiêu cực, thất thoát.

Sáu là, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế. Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, vốn đầu tư có hạn, tất yếu phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút thêm vốn đầu tư, đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Hợp tác quốc tế còn mở ra các cơ hội để trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao năng lực cho cán bộ chính quyền các cấp.

[về đầu trang]


 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TẠP CHÍ MẶT TRẬN

Cơ quan chủ quản : UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Hội đồng biên tập: Chủ tịch Hội đồng Nhà báo Lê Truyền, GS Phan Hữu Dật, GS Phan Đình Diệu, Nhà báo Đỗ Phượng, GS-VS Nguyễn Duy Quý, GS Văn Tạo, Nhà báo Trần Trọng Tân, GS Lý Chánh Trung, Nhà báo Hoàng Tùng, GS Đặng Nghiêm Vạn.
Tổng Biên tập : TS Nguyễn Quang Du, Phó Tổng Biên tập : Bùi Thượng Toản.
Toà soạn : 46 Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội, Điện thoại: 04-9287010
E-Mail : tapchi@mattran.org.vn, tapchi_mattran@vol.vnn.vn , Website : WWW.MATTRAN.ORG.VN