Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân
 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



 SỐ 69   (7-2009 )


 

 TRANG VĂN HOÁ

Nhân quyền và nhân ái trong truyền thống Việt Nam, một đóng góp vào "đa dạng hoá - phát triển và toàn cầu hoá"

Đức Phật Thích ca Mâu ni - một cuộc đời hiện thị cả học thuyết vĩ đại



NHÂN QUYỀN VÀ NHÂN ÁI TRONG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
MỘT ĐÓNG GÓP VÀO “ĐA DẠNG VĂN HÓA - PHÁT TRIỂN VÀ TOÀN CẦU HÓA”

                                                                                                           GS. VĂN TẠO*

     Bảo vệ nhân quyền và thực hành nhân ái là những phẩm chất đã từng tồn tại hàng ngàn năm trong cuộc sống đời thường của con Lạc cháu Hồng. Từ khi lập quốc đến nay, dân tộc Việt Nam luôn phải đấu tranh giành cho kỳ được quyền được sống trong độc lập tự do - một nhân tố cơ bản trong nhân quyền và xây dựng cuộc sống nhân ái - yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa người và người.

Trong hiện thực xã hội Việt Nam, hai phạm trù nhân quyền và nhân ái luôn gắn bó với nhau một cách hữu cơ và biện chứng. Trong nhân quyền có nhân ái và ngược lại trong nhân ái có nhân quyền. Khi hành động thì cái này là nhân, cái kia là quả, cái này là hiện tượng của cái kia, là bản chất và ngược lại. Cụ thể như trong lời khái quát tinh hoa truyền thống yêu nước của dân tộc ta, Nguyễn Trãi đã viết:

   Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
      Có nhân, có trí, có anh hùng

Thực tế thì, có “trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược” để bảo vệ quyền sống con người mới có được nhân, được trí, được anh hùng. Như vậy là từ cái “nhân” trên mà có cái “quả” dưới. Và ngược lại, người có nhân, có trí, có anh hùng thì tất yếu, không thể không đấu tranh để “trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược”.

Luận đề có tính triết học này có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ hai phẩm chất “Bảo vệ nhân quyền” và “Thực hành nhân ái” của dân tộc ta trong quá khứ trường tồn cũng như trong đấu tranh hiện tại.

Trước hết nói về nhân quyền, từ khi lập quốc ông cha ta đã quyết hy sinh xương máu giành cho kỳ được quyền sống trên dải đất Giao Chỉ, Cửu Chân yêu quý ngày xưa, mà sau là Đại Việt, nay là Việt Nam. Ông cha ta lập quốc trên lưu vực sông Hồng, sông Mã nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Hai dòng tộc Lạc Việt và Âu Việt từng tồn tại cùng với nhiều tộc Việt khác, được mệnh danh là Bách Việt ở phía nam Trung Hoa, mà Hán tộc kỳ thị gọi chung là Nam man. Hiểm họa bị thôn tính và đồng hóa luôn treo trước mắt các tộc phương Nam này. Ấy vậy mà sau khi các tộc Việt khác không còn, thì hai tộc Lạc Việt và Âu Việt hợp nhất vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Đó là nhờ ở đấu tranh kiên trì, bất khuất cho quyền được sống trong độc lập tự do trên dải đất mà ông cha mình đã lựa chọn, tên tuổi mình được khắc ghi.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền đó luôn đi đôi với truyền thống đối xử nhân ái giữa người với người:

     Nhiễu điều phủ lấy giá gương
   Người trong một nước phải thương nhau cùng

Còn đoàn kết, yêu thương giữa các tộc người thì:

      Bầu ơi thương lấy bí cùng
   Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Khi có ngoại xâm thì “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Cả đến thiếu niên nhi đồng cũng đánh - thực tế này đã được ghi thành huyền thoại về “Phù Đổng Thiên Vương”.

Còn trong cuộc sống đời thường thì “thương người như thể thương thân”. Chính vì biết thương thân mình mà mới biết thương thân người khác. Bà Triệu, một nữ anh hùng đã biết thương thân mình, tự hào với vai trò “Người con gái đất Việt anh hùng”, đã nói lên lời bất hủ: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người”1.

Đây cũng là sự khẳng định sớm nhất quyền con người của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử.

Nhờ có sự cố kết cộng đồng làng xã nhằm chống thiên tai địch họa nên chế độ chiếm hữu nô lệ - chế độ người đối với người tàn bạo như người đối với vật đã không tồn tại sâu đâïm trong dân tộc Việt Nam. Những gia nô, nô tỳ - thuộc hình thái đặc thù của nô lệ ở Việt Nam, tuy tồn tại đến tận Lý, Trần nhưng họ vẫn có thân phận con người, có quyền sống và có cơ hội để thành đạt như Dã Tượng, Yết Kiêu từng là gia nô mà trở thành danh tướng.

Cả trong đấu tranh giành độc lập, tự do, cha ông ta cũng cố tránh đổ máu, thực hành nhân ái khoan dung để tránh nạn can qua. Họ Khúc dấy nghiệp ở thế kỷ X giành được quyền tự chủ nhờ khôn khéo, không dùng binh mà dùng cải cách để chiếm lấy quyền lực. Trước đó bọn đô hộ Tùy - Đường chỉ nắm được quyền cai quản từ trên xuống, từ Thái thú, Thứ sử... đến quận lệnh, huyện lệnh; thì nay họ Khúc nắm chính quyền từ thôn xã trở lên. Đối lập với chính sách tàn bạo của Tùy - Đường, họ Khúc đã thi hành chính sách “khoan, giản, an, lạc” tức “khoan sức dân, giảm chính sự, sống an cư, lạc nghiệp”.

Tới các thời đại độc lập tự chủ, từ thế kỷ X đến nay, quyền sống của con người Việt Nam luôn được chăm lo bảo đảm trên hai phương diện: Độc lập dân tộc và cải thiện dân sinh. Các chiến công: thắng Tống, thắng Nguyên, thắng Minh, thắng Thanh xưa; thắng Pháp, Nhật, Mỹ ngày nay đều là những chiến công bảo vệ nhân quyền, bảo vệ quyền sống cho mình và góp phần vào bảo vệ quyền sống của cả loài người tiến bộ. Các cuộc phục hưng kinh tế, văn hoá, xã hội sau chiến thắng cùng với hàng chục cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử đều là từng bước nâng cao quyền sống con người.

Những anh hùng dân tộc trong lịch sử chỉ có thể làm nên sự nghiệp lớn khi biết cố kết cộng đồng, yêu nước thương dân. Nhà Lý dời đô ra Thăng Long để dân giàu, nước mạnh. Nhà Trần thì sau chiến thắng Nguyên Mông đã nhân ái, khoan dung cho thiêu hủy hết sổ sách ghi tên những kẻ phản dân, hàng giặc để lôi kéo họ trở về với dân với nước. Trần Hưng Đạo khuyên vua Anh Tông: “Lúc thường thì khoan sức cho dân làm kế sâu rễ, bền gốc”. Nhân ái đó vừa vì nhân quyền, nhân sinh, vừa để tăng cường nội lực, cảnh giới ngoại xâm.

Đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi thì:

        Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
       Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Nhân quyền Việt Nam đã được đảm bảo với phương châm hành động:

     Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn
      Lấy chí nhân mà thay cường bạo.

Tới thời cận đại, Phan Chu Trinh đi tiên phong trong bảo vệ nhân quyền được Hội nhân quyền Pháp ủng hộ. Phan Bội Châu thì quyết hy sinh xả thân cho quyền độc lập, tự do của dân tộc. Trong “Ái quốc ca”, Phan Bội Châu đã gắn lòng yêu nước thương nòi với tình yêu non sông gấm vóc:

         Nay ta hát một thiên ái quốc
         Yêu gì hơn yêu nước nhà ta
        Trang nghiêm bốn mặt sơn hà
         Ông cha ta để cho ta lọ vàng...

Phan Bội Châu lên án thực dân xâm lược bạo tàn:

Nó coi mình như trâu như chó
Nó coi mình như cỏ như rơm
Trâu nuôi béo cỏ coi rờm
Cỏ moi rễ cỏ, trâu làm thịt trâu...

Để cuối cùng nêu cao đoàn kết, cổ vũ mọi người đứng lên lấy nhân nghĩa mà chống bạo tàn:

Hợp muôn sức ra tay quang phục
Quyết có phen rửa nhục báo thù...

Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học yêu nước bất khuất, khi tình thế buộc phải nổi dậy, biết chưa giành được thắng lợi nhưng cũng tin rằng “không thành công cũng thành nhân”. Cái “nhân” ở đây chính là nhân quyền, nhân sinh, nhân đạo, nhân ái, nhân nghĩa... mà các nhà yêu nước đã lựa chọn và mong đạt tới.

Đến phong trào dân tộc do Đảng lãnh đạo thì đấu tranh cho nhân quyền và nhân ái được phát huy đến đỉnh cao mới: Đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc mình luôn đi đôi với việc đấu tranh giành quyền sống cho mọi con người trên trái đất, giữ quyền tự quyết của dân tộc mình đi đôi với tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc khác, đưa cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta thành lá cờ đầu trong phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa trên thế giới:

    Ta vì ta, ba chục triệu người
    Cũng vì ba ngàn triệu trên đời
                  (Tố Hữu)

Trong cuộc đấu tranh này, cái nhân đi đôi với cái dũng:

        Ngước mắt coi khinh nghìn lực sĩ
        Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng.

Khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” mà Bác Hồ đúc kết đã trở thành một danh ngôn của thời đại. Nhân quyền và nhân ái trong tư duy chính trị của Đảng và Nhà nước ta với khẩu hiệu: “Tất cả do con người, tất cả vì con người” đã bao trùm lên mọi hoạt động đối nội lẫn đối ngoại. Ngay cả trong khi có bất đồng quan điểm trong nội bộ thì cũng lấy “cầu đồng tồn dị”, trị bệnh cứu người là chính, không sát hại lẫn nhau. Năm 1967, khi đoàn dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc đến thăm Bác Hồ, lúc ra về Bác tiễn ra tới cổng còn nhắn nhủ: “Các cô, các chú, lúc chiến đấu gian khổ có nhau thì khi thành công, có cuộc sống hạnh phúc đừng có quên nhau”.

Ngày nay nhân quyền, nhân ái ở Việt Nam được bảo đảm cả trong pháp luật lẫn trong cuộc sống đời thường và vẫn với tinh thần “thương người, trừ bạo”. Có trừ bạo nghịch như bọn phá hoại quốc tế, bọn phản động dưới chiêu bài dân tộc, tôn giáo, bọn sâu mọt xã hội mới bảo đảm được nhân quyền.

Đại đoàn kết toàn dân và phát huy truyền thống nhân quyền, nhân ái Việt Nam là một nét thuộc về bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Nét đặc sắc đó được coi là một đóng góp vào “Đa dạng văn hoá - phát triển và toàn cầu hóa” do UNESCO đề xướng. Bởi vì chính nó đã xác định lập trường vững vàng của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh để thực hiện và bảo vệ nhân quyền, đang được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ.

1. Lịch sử Việt Nam, Nxb KHXH, 1971, t.1, tr.109.

* Giáo sư Sử học.

 | Trở Về đầu trang    |



ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
MỘT CUỘC ĐỜI HIỂN THỊ CẢ HỌC THUYẾT VĨ ĐẠI

                                                                                  ThS. NGUYỄN CÔNG NGUYÊN*

    Phật đản là ngày lễ lớn nhất của Phật giáo - một trong những tôn giáo lớn và lâu đời trên thế giới. Phật giáo đang lan truyền ngày càng rộng trong nhiều quốc gia và thể hiện rõ những giá trị ưu việt trong thời kỳ hiện đại. Với chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, đạo đức tôn giáo ngày càng được phát huy nhập thế vào đời sống cộng đồng nhân dân và là yếu tố gắn kết trong sự đồng hành cùng dân tộc. Vui mừng và xúc động trong không khí tưng bừng Lễ Phật đản, chúng ta cùng góp phần làm sáng rõ ý nghĩa sự xuất hiện Đức Phật Thích Ca Mâu ni với học thuyết vĩ đại mà đồng bào Phật tử Việt Nam vô cùng tôn kính.

1. Đức Phật xuất hiện nơi đời.

Người sáng lập Phật giáo là Thái tử Tất Đạt Đa, sinh năm 563 (trước Công Nguyên), tại vườn Lâm Tỳ Ni, là con của Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) trị vì một xứ nhỏ ở trung lưu sông Hằng là Ca tỳ la vệ. Theo phong tục thời bấy giờ, vua cha cho thỉnh nhiều đạo sỹ Bà la môn xuất sắc đến tham dự lễ đặt tên cho Hoàng tử. Sau khi quan sát tướng mạo đặc biệt của Hoàng tử, bảy vị cho rằng có hai thiên hướng: một là Hoàng tử sẽ trở nên vị Hoàng đế vĩ đại, hai là sẽ đắc quả Phật. Chỉ có vị đạo sĩ thứ 8 trẻ tuổi và thông minh nhất trong tám vị, tên là Kondanna (Kiều Trần Như), đưa lên một ngón tay quả quyết rằng Hoàng tử sẽ hoàn toàn thoát tục và đắc quả Phật.

Năm 17 tuổi, Tất Đạt Đa lấy vợ và sinh được một người con đặt tên là La Hầu La. Sau bốn lần trực tiếp đi ra ngoài thành và tận mắt chứng kiến nỗi khổ của kiếp người, ông quyết noi theo gương các đạo sĩ tu theo lối sống khổ hạnh. Năm 29 tuổi, ông bỏ nhà ra đi để trở thành một ẩn sĩ. Sau 6 năm tu khổ hạnh, ông chợt nhận thấy rằng, lối tu đó cũng không giải thoát con người khỏi nỗi khổ đau sinh, lão, bệnh, tử. Theo ông, tu khổ hạnh hay chủ trương khoái lạc cũng đều là những cực đoan phi lý như nhau. Bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng ông đã phát hiện ra con đường “trung đạo”, một con đường có thể dẫn con người đến sự giải thoát. Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, thiền định dưới gốc cây bồ đề, ông tuyên bố đã đạt đến chân lý, đã hiểu được bản chất của sự tồn tại của nhân sinh. Từ đó, ông được gọi là Thích Ca Mâu ni. Ngài bắt đầu sự nghiệp hoằng hoá của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tăng đoàn Phật giáo. Ngài đi từ nơi này đến nơi khác để truyền bá Giáo Pháp phục vụ nhân loại bằng cả đời sống thực hành và lời giáo huấn qua việc tu chứng. Ngài phổ truyền pháp tu dẫn dắt nhiều người đạt tới đạo quả, ra khỏi vòng sinh tử, luân hồi. Hơn thế nữa, Ngài còn chỉ dạy cho cả các loài Trời, Rồng... và trở thành giáo chủ của muôn loài.

Ngài tạ thế vào năm 483 (trước Công Nguyên).

Học thuyết Phật giáo ra đời với Tam tạng Kinh, Luật, Luận với số lượng đồ sộ, có giá trị không thể lường tính hết. Trải qua hơn 2500 năm, loài người cũng chưa nghiên cứu được bao nhiêu bởi thực chứng tâm linh thật khó có phương tiện mô tả lại, những hạnh phúc chứng ngộ đạo quả không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Chính vì thế chỉ có Phật mới hiểu hết được, Bồ tát, Thanh văn cũng chưa hiểu hết được. Có nghĩa là đạt đến toàn trí, toàn giác mới hiểu được giá trị kinh Phật.

2. Cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu ni là sự hiển thị Giáo pháp vĩ đại.

Ta thử hỏi, trên thế gian có những người bằng xương, bằng thịt và chỉ trong thời gian của một kiếp sống mà có sự thăng tiến siêu phàm, có thể trau dồi trí tuệ đến mức toàn thiện để đạt quả Phật như vậy chăng? Số lượng Bồ tát do Đức Phật giáo hóa được lại nhiều khôn kể xiết. Những người chưa hiểu đạo Phật, với đức tin chưa bền chắc sẽ không khỏi hoang mang và cho rằng đó chỉ là sự không tưởng.

Trong Kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm Như Lai thọ lượng, Đức Phật bảo các Bồ tát và tất cả đại chúng: “Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thực của Như Lai”. Lại bảo: “Các ông lóng nghe! Sức bí mật thần thông của Như Lai... Thực ta thành Phật tới nay đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na-do-tha kiếp”; Ở phẩm phương tiện thứ hai, Đức Phật nói: “ông Xá Lợi Phất! Chư Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sinh khai mở tri kiến thanh tịnh của Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ rõ cho chúng sinh tri kiến của Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh tỏ ngộ tri kiến của Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh chứng nhập vào tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời”. Như vậy, cuộc đời Đức Phật Thích Ca 80 năm từ khi đản sinh, xuất gia, thành đạo, đến nhập Niết bàn chính là một Pháp giáo hóa cho mọi người thực hành tu tập, để theo đó trải qua các tiến trình, từ khai mở tri kiến thanh tịnh đến chứng nhập vào tri kiến thanh tịnh của Phật. Theo các Kinh Phật diễn tả lại, mỗi Thời khắc trong một ngày, kể cả khi ngủ, nghỉ Đức Phật từ Thân, Khẩu, Ý đều đan xen những pháp hữu vi và pháp vô vi nhằm giáo hóa cho người, Trời, Rồng và các loài vô hình khác. Cả cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu ni chính là sự hiển thị toàn bộ học thuyết Phật giáo vĩ đại. Những điểm cơ bản nhất của học thuyết đó là Tam pháp ấn (Vô thường - Khổ - Vô ngã); Bốn Chân lý Thâm diệu, hay Tứ Diệu Đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế); Nghiệp báo; Thập nhị Nhân duyên; Niết Bàn và Bát chính đạo (8 con đường để đạt tới Niết bàn). Hơn 2500 năm qua, giá trị của học thuyết đó đã trải nghiệm cùng lịch sử hưng thịnh, suy vong của các quốc gia có Phật giáo trên cả thế giới. Những giá trị siêu hình, học thuyết Phật giáo mang lại cho chúng ta thật khó có thể định lượng được.

3. Tứ vô lượng Tâm và phẩm chất vĩ đại của Đức Phật.

Kinh Tạp A hàm ghi lại lời Đức Phật: “Niết bàn là gì, hỡi Đạo hữu? Sự tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si. Đó, này Đạo hữu, gọi là Niết bàn”. Đạo quả Niết bàn có thể thành tựu trong kiếp sống hiện tại, tức là đến khi mọi hình thức Ái dục chấm dứt, năng lực của nghiệp tái tạo cũng dứt và người đó đạt Niết bàn, thoát ra khỏi vòng sinh tử triền miên. Để đạt được trạng thái Niết bàn, theo Kinh Pháp Cú: “Chấm dứt mọi hành động bất thiện, phát triển những hành động thiện, thanh lọc tâm. Đó là lời dạy của tất cả chư Phật”. Trong quá trình đó, cùng với phát triển trí tuệ đạt đến Tứ vô lượng tâm (Từ - Bi - Hỷ - Xả).

Tâm từ: Theo tiếng Pali là Metta, nghĩa là cái gì làm cho lòng ta êm dịu. Tâm từ là lòng thành thật ước mong rằng tất cả chúng sinh đều được sống an lành, hạnh phúc. Kinh Từ bi: “Tâm từ phải được rải khắp đồng đều cho mọi chúng sinh, phải bao trùm vạn vật, phải sâu rộng và đậm đà như tình thương của bà từ mẫu đối với người con duy nhất, săn sóc, bao bọc con, dầu nguy hiểm đến tính mạng cũng vui lòng”. Tâm từ không phải sự yêu thương thiên về xác thịt, cũng không phải lòng trìu mến, luyến ái một người nào. Tâm từ không phân biệt người thân, kẻ sơ. Tâm từ không đơn giản chỉ là tình huynh đệ rộng rãi giữa người với người, mà phải bao trùm tất cả chúng sinh. Tâm từ không đơn giản là tình đồng chủng, không phải là tình đồng hương, cũng không phải là tình đồng đạo. Tâm từ êm dịu vượt hẳn lên trên tình cảm hẹp hòi ấy. Tâm từ không có bất luận một loại kỳ thị nào; Phạm vi của Tâm từ không bờ bến, không hạn định. Nhờ Tâm từ mà ta có thể xem tất cả chúng sinh là bạn hữu. Tâm từ trong đạo Phật cao thượng rải khắp đồng đều phước lành thâm diệu cho mọi người, thân cũng như sơ, bạn cũng như thù, không phân biệt giàu nghèo, người sang hèn, nam nữ, hư hèn hay đạo đức. Tâm từ bao la, đồng đều, đối với chính mình cũng như đối với những người thân cận và cả những người có thâm thù, ác ý đối với mình. Người thực hiện Tâm từ đến mức cùng tột sẽ thấy mình hòa đồng với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Ngược lại với Tâm từ là sân hận, thù oán, ghen ghét. Đức Phật dạy rằng, không thể lấy thù oán để diệt sân hận, chỉ có Tâm từ mới dập tắt lòng oán thù, Tâm từ còn diệt trừ các mầm tư tưởng bất thiện đối với người khác. Người có Tâm từ không bao giờ nghĩ đến làm hại ai, không bao giờ sợ ai, cũng không bao giờ làm ai sợ. Nếu quan niệm và thực hành không đúng, có thể thể dễ dàng biến Tâm từ trở thành luyến ái, trìu mến mà đem lại đau khổ. Tình thương luyến ái luôn luôn ích kỷ, hẹp hòi, không sánh được với Tâm từ là tình thương đồng đều đối với tất cả chúng sinh trong vũ trụ bao la. Tâm từ có khả năng chuyển dữ ra lành. Người có Tâm từ gương mặt tươi sáng vì gương mặt là phản ánh của nội tâm. Tâm từ còn có năng lực hấp dẫn mạnh mẽ phi thường, có thể gieo những ảnh hưởng tốt đẹp từ xa đến một người khác, làm cho họ đều cảm thấy yên vui, tin tưởng.

Tâm bi (Karuna): Đức tính cao thượng thứ hai là Tâm bi. Bi là rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, xoa dịu niềm khổ đau sầu não của người. Đặc tính của Tâm bi là ý muốn giúp người khác thoát khỏi một cảnh khổ họ đang chịu. Tâm bi hướng tới những kẻ hoạn nạn, nghèo đói, những người tàn tật, cô đơn, dốt nát, hư hèn. Tâm bi trắc ẩn cao thượng, không luận nam nữ, không phân biệt chủng tộc, giai cấp hoặc tôn giáo. Tâm bi vô lượng, vô biên, vô hạn định, phải được rải đều cho tất cả. Tâm bi không e ngại thế lực và oai quyền của người được xã hội trọng vọng. Tâm bi bao trùm những chúng sinh đau khổ và kể cả an vui.

Tâm hỷ (Mudita): Đức tính cao thượng thứ ba trong Tứ Vô lượng tâm là Tâm hỷ, là phẩm hạnh thành thật chia vui, cùng hoan hỷ với sự thành công của người khác. Vui cười không phải là đặc tính của Tâm hỷ khi ra vẻ hân hoan, thỏa thích, cái đó được coi là kẻ thù gián tiếp của Tâm hỷ; ganh tỵ là kẻ thù trực tiếp của Tâm hỷ. Tâm hỷ không chấp chứa lòng ganh tỵ, Tâm hỷ là niềm vui làm tiêu tan lòng ganh tỵ. Nếu so sánh với Tâm từ và Tâm bi, Tâm hỷ lại càng khó thực hiện. Muốn phát triển Tâm hỷ phải có ý chí mạnh mẽ và phải tận lực cố gắng để chiến đấu với bản ngã của chính mình.

Tâm xả (Upekkha): là đức tính thứ tư trong Tứ Vô lượng tâm. Tâm xả là giữ Tâm chân chính, đúng đắn, vô tư không ngả nghiêng trước sự khen chê; không luyến ái cũng không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn. Tâm xả không có nghĩa là lạnh lùng, lãnh đạm, không màng đến thế sự, không vui thích, không phiền muộn. Tâm xả khó thực hành nhất, mà cũng cần thiết nhất trong bốn phẩm hạnh cao thượng này. Người trau dồi Tâm xả cao thượng luôn luôn giữ tâm bình thản. Kẻ thù trực tiếp của Tâm xả là luyến ái và kẻ thù gián tiếp của Tâm xả là sự lãnh đạm, thái độ lạnh lùng, quay lưng với thế sự. Người có Tâm xả không bị lạc thú trần gian quyến rũ, không thích thú say mê trong hạnh phúc, cũng không bị những gì nghịch ý làm bực tức buồn phiền, bất mãn trong khổ đau.

Tứ Vô lượng tâm là trạng thái Niết bàn trên thế gian. Tâm từ bao trùm tất cả chúng sinh; Tâm bi hướng tới những chúng sinh đau khổ; Tâm hỷ đối với chúng sinh hạnh phúc; Tâm xả phủ khắp những gì tốt đẹp và những gì xấu xa, những điều khả ái và những điều khả ố, những thích thú, thành công và những nghịch lòng, thất bại. Khi thực hành đúng mức, tư tưởng trong sạch giúp con người trở nên lành mạnh. Những ai có thể hằng ngày trau dồi và phát triển bốn phẩm hạnh cao thượng vốn tiềm tàng ngủ ngầm bên trong mọi người đều trở thành bậc Thánh nhân trong chính kiếp sống này.

* Phó Ban Dân tộc và Tôn giáo cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 | Trở Về đầu trang    |

 


 


                      hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí

 
 
 
                                  Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008
 
 

 
 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
 

 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội  

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội


   

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn