Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân
 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân 

 
 

    TIN MỚI :                                                                    thông tin được cập nhật liên tục  



 SỐ 71   (9-2009 )


 

 MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM
 NHỮNG TRANG SỬ HÀO HÙNG

Từ kinh nghiệm của Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong lịch sử, suy nghĩ về đổi mới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay

Những sự kiện lịch sử đánh dấu mốc trưởng thành và phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam 



TỪ KINH NGHIỆM CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ,
SUY NGHĨ VỀ ĐỔI MỚI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NGÀY NAY
(Tiếp theo số trước)

                                                                                      PGS-TS. TRẦN HẬU*

2. Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam từ sau khi nước nhà thống nhất (1977) đến nay

Từ sau khi nước nhà thống nhất, đất nước ta trải qua 2 thời kỳ:

- Thời kỳ trước đổi mới, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội, hoạt động của Mặt trận cũng rơi vào tình trạng hình thức.

- Thời kỳ đất nước đổi mới, hoạt động của Mặt trận cũng từng bước thay đổi.

2.1. Những quan điểm của Đảng trong thời kỳ mới về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc Thống nhất.

Vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất đã được nhấn mạnh trong Chỉ thị 17 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (4-1983) và trong Nghị quyết số 8b của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3-1990) trong đó chủ trương phải “phát huy khả năng to lớn, tạo nên sức mạnh của cộng đồng dân tộc” trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới công tác Mặt trận, hướng về cơ sở, tạo ra cuộc sống mới ở khu dân cư bằng những hình thức phương pháp linh hoạt thích hợp với đặc điểm từng nơi.

Tháng 11-1993, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 07-NQ/TW về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất, đánh dấu bước chuyển biến rất quan trọng về vai trò, vị trí vấn đề dân tộc và về những chủ trương, biện pháp nhằm mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Nghị quyết khẳng định đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản của Đảng, cần thể hiện trong mọi chủ trương, chính sách, pháp luật trên mọi lĩnh vực. Nhiều quan điểm mới quan trọng đã được đề ra, như: xóa bỏ mặc cảm, hận thù, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, đại đoàn kết phải lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau, nhưng không trái với lợi ích dân tộc.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) đã khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân”, đồng thời chỉ rõ muốn đoàn kết thì phải đảm bảo lợi ích của các tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội.

Những quan điểm của Đảng đã khẳng định nhu cầu cần thiết khách quan của khối đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó chứng tỏ rằng: dù trong cách mạng dân tộc, dân chủ hay trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, thì đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc Thống nhất vẫn có vai trò quan trọng trong xã hội.

2.2. Vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đường lối đổi mới toàn diện đất nước đã tác động tích cực đến việc đổi mới Mặt trận và các đoàn thể. Tuy chưa có những đột phá về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của Mặt trận Tổ quốc, nhưng công cuộc đổi mới đất nước đã thúc đẩy Mặt trận tích cực tham gia đổi mới cơ chế quản lý, chuyển mạnh hoạt động về cơ sở, vận động nhân dân phát triển sản xuất, làm kinh tế gia đình, tổ chức lưu thông, dịch vụ, tham gia các sinh hoạt văn hoá, giáo dục, bảo vệ sức khỏe, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Một số nhiệm vụ, chức năng mới đề ra tuy khó thực hiện (kiểm tra công việc của Nhà nước, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế...), nhưng sự đổi mới về kinh tế diễn ra sôi động trong xã hội đã dần dần thúc đẩy việc đổi mới hoạt động của Mặt trận.

Đại hội Đảng lần thứ IX và lần thứ X đều nhấn mạnh: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trách nhiệm của Mặt trận trong việc thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với công tác, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và cơ quan nhà nước. Đồng thời Mặt trận và các đoàn thể cần đẩy mạnh tổ chức các phong trào thi đua yêu nước thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là những vấn đề tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (10-2003) về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, với sự khẳng định đây là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, trong đó Mặt trận Tổ quốc vừa trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trọng đại ấy, vừa tổ chức tập hợp lực lượng và là hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết dân tộc. Trong Nghị quyết này, vai trò tham chính trực tiếp của Mặt trận lần đầu tiên đã được khẳng định rõ và được Đại hội lần thứ X của Đảng đặt thành nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội.

Việc cụ thể hóa vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận, đặc biệt là vai trò phối hợp hoạt động còn được thể hiện qua việc ký kết và thực hiện Quy chế phối hợp, Nghị quyết liên tịch từ cấp Trung ương đến cấp địa phương giữa Mặt trận với các cơ quan chính quyền, các ngành chức năng, các tổ chức đoàn thể, các hội quần chúng. Nhằm khẳng định vai trò Mặt trận trong thực tế đời sống xã hội, Quốc hội đã ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (6-1999) và sau đó Chính phủ đã có Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật này. Sự ra đời của Luật Mặt trận đánh dấu một bước trưởng thành của Mặt trận.

2.3. Những tồn tại, hạn chế trong nhận thức lý luận, hoạt động thực tiễn về đại đoàn kết dân tộc và vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

a. Về thực hiện chủ trương đoàn kết hòa hợp dân tộc sau chiến tranh.

Sau khi thống nhất nước nhà, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của số đông người đã từng sống và làm việc dưới chế độ cũ là thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc. Ngay sau ngày giải phóng miền Nam, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với binh lính, sĩ quan, công chức, nhân viên chính quyền của chế độ Sài Gòn cũ, đặc biệt với trí thức, nhân viên kỹ thuật theo tinh thần khoan dung, không phân biệt đối xử, tạo điều kiện để họ hòa nhập với chế độ mới. Nhưng trong thực tế nhiều khi vẫn còn có sự thành kiến, phân biệt đối xử. Vì lợi ích toàn cục thì càng thực hiện sớm, đầy đủ chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc thì càng có lợi cho cách mạng. Tuy nhiên có nơi, có lúc sự thiếu nhất quán trong việc thực hiện chủ trương hòa hợp dân tộc đã ảnh hưởng nhất định đến khối đoàn kết dân tộc.

Chủ trương sớm thống nhất nước nhà là đúng đắn và cần thiết. Song còn một số chính sách chưa thể hiện rõ những đặc điểm khác biệt giữa hai miền. Sau Đại hội lần thứ IV của Đảng, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã được triển khai mạnh mẽ và gấp rút trong thời gian ngắn đã gây nên những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, xã hội.

Những sai lầm, khuyết điểm mà Đại hội VI của Đảng chỉ ra, đã ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Mặt trận cũng chưa vươn lên để đổi mới nhận thức, nội dung, phương thức hoạt động khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, chưa thể hiện là người đại diện cho nguyện vọng, tiếng nói của các tầng lớp nhân dân, càng chưa làm tốt việc đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân trong thời kỳ mới. Mặt trận chưa có đóng góp cần thiết vào những vấn đề thuộc đường lối, chủ trương, chính sách trong những năm đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, chưa có hoạt động tích cực ủng hộ những nhân tố mới, tham gia tổng kết thí điểm để kiến nghị với Đảng, Nhà nước những giải pháp tháo gỡ khó khăn thúc đẩy nhanh hơn quá trình đổi mới đất nước.

Bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, một trong những khuyết điểm, hạn chế nổi lên vẫn là vấn đề nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Do khuyết điểm máy móc giáo điều, nên nhiều lúc, nhiều nơi đã xem nhẹ vấn đề dân tộc và chưa nhận thức rõ những yếu tố mới trong nội dung vấn đề dân tộc.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình truyền thống không có khả năng động viên cao độ sức mạnh của lực lượng toàn dân tộc, không những chưa chứng minh được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa hạ tầng cơ sở với thượng tầng kiến trúc. Cho nên việc đổi mới Mặt trận gắn liền với quá trình đổi mới nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, gắn liền với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội.

Sự nghiệp tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới đang đặt ra không ít những vấn đề lý luận và thực tiễn. Đại đoàn kết dân tộc đã được xác định là đường lối cơ bản của Đảng. Công cuộc đổi mới đã tạo ra nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực, nhưng còn nhiều vấn đề, như: nhận định về tính chất và mâu thuẫn thời đại, về liên minh công nông, về giai cấp và đấu tranh giai cấp... cần được làm rõ. Còn nhiều vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng chưa tìm được lời giải thỏa đáng.

Khối đại đoàn kết dân tộc từ khi bước vào thời kỳ đổi mới đang đứng trước những thách thức của nhiều nhân tố có thể gây mất ổn định đang tiềm ẩn, như: sự phân hóa giàu nghèo, hiện tượng bất công xã hội, tiêu cực và quan liêu, tham nhũng ngày càng tăng... Sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng ở nhiều nơi còn tình trạng mất đoàn kết trong Đảng tác động không tốt đến khối đại đoàn kết dân tộc.

b. Những hạn chế trong việc phát huy vai trò của Mặt trận trong thời kỳ mới.

Tuy đã có một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và chính sách, pháp luật cụ thể hóa vai trò, nhiệm vụ Mặt trận, nhưng việc thực hiện còn nhiều bất cập. Nhiều năm qua, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận từng bước được nâng lên, nhưng vai trò của Mặt trận vẫn còn cần được khẳng định rõ hơn trong thực tế cuộc sống. Mặt trận các cấp tuy đã làm rất nhiều việc tốt được nhân dân hoan nghênh, nhưng chưa tham gia nhiều vào những chủ trương, chính sách lớn có tầm quan trọng đối với quốc kế dân sinh. Các nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận như thực hiện vai trò giám sát xã hội... tuy đã đề ra từ lâu1, nhưng việc thực hiện vẫn còn hạn chế. Tuy đã tổ chức, phát động được nhiều phong trào, cuộc vận động, nhưng vẫn chưa đạt nhiều kết quả thiết thực như yêu cầu đã đề ra. Sự phối hợp tổ chức thực hiện giữa Mặt trận với chính quyền, với các tổ chức thành viên còn cần được đổi mới. Việc đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của Uỷ ban Mặt trận các cấp vẫn chưa có những chuyển biến mạnh mẽ, còn nhiều biểu hiện của bệnh hành chính, quan liêu, xa dân, bệnh thành tích và bệnh hình thức.

Những vấn đề rút ra qua thực tế hoạt động của Mặt trận cho thấy một bức tranh toàn cảnh về Mặt trận. Muốn đổi mới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần có cái nhìn tổng thể và xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại, từ lý luận đến thực tiễn, từ lời nói đến hành động, từ thành tựu đến khuyết điểm. Muốn có một sự bứt phá trong đổi mới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, không thể không rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử và phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và về Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Có nhiều bài học có thể rút ra từ lịch sử, song một trong những bài học nổi bật là cần quán triệt tính linh hoạt, mềm dẻo, sinh động trong hoạt động của Mặt trận theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Nội dung, phương thức, tổ chức, phong cách công tác Mặt trận không thể và không nên theo một khuôn mẫu nào đó, tùy thời gian, không gian, sự việc, con người cụ thể mà thay đổi cho phù hợp.

Từ lịch sử Mặt trận đã hình thành nên phong cách công tác Mặt trận mang đậm dấu ấn phong cách Hồ Chí Minh. Đó là phong cách gần dân, sát dân, nghe dân nói, nói dân nghe, làm cho dân theo, đối thoại chân thành, chịu trách nhiệm đến cùng với dân, khổ trước, sướng sau dân, vui buồn cùng dân. Đó còn là phong cách bao dung, nhân ái, thấu tình đạt lý, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng, cầu đồng tồn dị, dĩ bất biến ứng vạn biến...

Tổng kết, kế thừa, vận dụng, phát triển những bài học quý báu đó, sẽ khắc phục được những yếu kém, đưa Mặt trận Tổ quốc lên tầm cao mới, hình thành nên lý luận và phương pháp, phong cách công tác Mặt trận trong giai đoạn mới.q

(Kỳ sau: Mấy suy nghĩ về đổi mới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay).

1. Chỉ thị 17 (4-1983) đã đề ra: “Phát biểu ý kiến đối với những vấn đề trong nước và quốc tế, khi Uỷ ban Mặt trận thấy cần thiết...”: Văn kiện Đảng về Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, t.3, tr.117.

* Ủy viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 | Trở Về đầu trang    |



NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐÁNH DẤU MỐC TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM

     LTS: Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Tạp chí Mặt trận xin giới thiệu với bạn đọc một số sự kiện lịch sử chủ yếu đánh dấu sự hình thành và phát triển của Mặt trận (tư liệu chủ yếu được trích trong bộ “Biên niên Sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004).

                                                                                                         BAN BIÊN TẬP

    Ngày 18-11-1930: Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị về thành lập Hội Phản đế Đồng minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu phụ lão và thiếu nhi dự Đại hội Thống nhất Việt Minh - Liên Việt, và lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam 3-1951

 

Chỉ thị nêu rõ để mở rộng Hội phản đế phải “hấp thụ” mọi tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc... tới cả những người địa chủ có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp, mong muốn độc lập quốc gia... Bản Chỉ thị có tác dụng giúp các cấp ủy đảng phát triển mạnh mẽ được Hội Phản đế Đồng minh.

Năm 1986, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định lấy ngày 18-11 hàng năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

Ngày 29 đến 30-3-1938: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra chủ trương, biện pháp mở rộng Mặt trận Thống nhất Dân chủ.

Hội nghị họp tại làng Tân Thới Nhất, gần Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định (Nam Kỳ).

Hội nghị đã quyết định việc lập Mặt trận Thống nhất Dân chủ và coi đây là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại. Hội nghị còn đề ra nhiều chủ trương, biện pháp cụ thể để đẩy mạnh công tác vận động, giác ngộ quần chúng tham gia các tổ chức đoàn thể như công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ...

Ngày 6 đến 8-11-1939: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng chiến lược, lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương.

Hội nghị họp tại Bà Điểm (Gia Định) đã phân tích diễn biến chiến tranh, tình cảnh các giai cấp, tầng lớp nhân dân Đông Dương, từ đó xác định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược về hai nhiệm vụ cơ bản cách mạng. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ và chỉ rõ: “Mặt trận Dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không còn thích hợp nữa. Mục đích của Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương là “Đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc phản bội dân tộc...”.

Ngày 19-5-1941: Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh.

Hội nghị họp tại Pắc Bó (tỉnh Cao Bằng), do Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì. Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, hội nghị xác định cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc.

Theo sáng kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, hội nghị đã nhất trí quyết định thành lập Mặt trận có tên gọi là Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.

Việt Minh lấy lá cờ đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh làm huy hiệu, khẩu hiệu chính của Việt Minh là phản Pháp - kháng Nhật - liên Hoa - độc lập. Về cách thức tổ chức Việt Minh lấy làng, đường phố, nhà máy làm cơ sở.

Cùng ngày, Việt Minh công bố Chương trình gồm 10 điểm hiệu triệu toàn dân giương cao cờ đỏ sao vàng, đánh Pháp, đuổi Nhật, cứu nước, giữ nhà; kêu gọi toàn dân hãy phấn đấu tự cường, tự lực cánh sinh, vì “việc giải phóng của ta phải do ta làm”.

Ngày 29-5-1946: Thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Hội nghị thông qua Cương lĩnh, Điều lệ với tôn chỉ mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường. Chính để thực hiện sự đoàn kết đó mà Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời.

Hội nghị đã bầu cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự, cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ tịch, cụ Tôn Đức Thắng làm Phó Chủ tịch.

Ngày 27-2-1949: Ban Thường vụ Trung ương Liên Việt thông báo việc hòa hợp Việt Minh - Liên Việt.

Bản thông báo tóm tắt trình bày diễn biến Hội nghị Trung ương Hội mở rộng ngày 18-2-1949, sau khi đã duyệt chương trình hoạt động của Hội năm 1949, các đại biểu đã nghe đại biểu Tổng bộ Việt Minh thuyết trình lại rõ ràng ý kiến của Mặt trận Việt Minh về việc hòa hợp Việt Minh vào Liên Việt.

Từ ngày 3 đến 7-3-1951: Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt.

Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt được tổ chức từ ngày 3 đến 7-3-1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Đại hội nhất trí suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự và cử cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt.

Cũng chính từ diễn đàn này, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết một chân lý cũng là một quy luật bằng câu nói giản dị: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Ngày 5 đến 10-9-1955: Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất toàn quốc quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thông qua Cương lĩnh 10 điểm (Đại hội I).

Đại hội diễn ra từ ngày 5 đến 10-9-1955 tại thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 360 đại biểu thay mặt các tầng lớp nhân dân, các chính đảng, các đoàn thể, các dân tộc, các tôn giáo, các hội nghề nghiệp, đại biểu lực lượng vũ trang và kiều bào ở nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự và nói chuyện với Đại hội.

Đại hội bầu ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm 81 vị thuộc đủ các chính đảng, đoàn thể nhân dân, tôn giáo, dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Mặt trận, cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch.

Đại hội nhất trí thông qua bản Cương lĩnh đại đoàn kết gồm 10 điểm đề cập đến quyền lợi của các tầng lớp nhân dân.

Ngày 20-12-1960: Thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Ngày 20-12-1960, tại một “làng rừng” (tên gọi các căn cứ lõm ở R) thuộc xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là huyện Tân Biên) tỉnh Tây Ninh trong một khung cảnh giản dị nhưng trang nghiêm, đại diện các lực lượng yêu nước, nhân sĩ, trí thức dự cuộc họp thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cử ra Trung ương lâm thời. Hội nghị đã thông qua và công bố Cương lĩnh và Chương trình hành động.

Chương trình hành động 10 điểm được công bố rất ngắn gọn, súc tích, chỉ ra kẻ thù phải đánh đổ, xây dựng chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục đáp ứng lợi ích, yêu cầu của mọi tầng lớp nhân dân. Lần đầu tiên chương trình của Mặt trận chính thức đề ra chính sách cơ bản đáp ứng lợi ích, yêu cầu của mọi tầng lớp nhân dân, chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập.

Ngày 25 đến 29-4-1961: Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II thể hiện quyết tâm của toàn dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước.

Đại hội tổ chức tại thủ đô Hà Nội, có 496 đại biểu các chính Đảng, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo, đại diện các tầng lớp nhân dân tham dự. Đại hội đã đánh giá việc củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân theo Cương lĩnh 10 điểm của Đại hội I đề ra. Đại hội nhất trí với đường lối do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra và thông qua Nghị quyết, nhấn mạnh nhiệm vụ tích cực đấu tranh thống nhất nước nhà; ra sức củng cố miền Bắc tiến nhanh, mạnh, vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và phát biểu với Đại hội. Đại hội đã nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự của Mặêt trận; cụ Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ngày 20 và 21-4-1968: Thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam.

Ngày 20 và 21-4-1968, đại diện các nhân sĩ, bác sĩ, nhà giáo, nhà văn, nhà báo, người tu hành, sinh viên, tư sản dân tộc, sĩ quan và công chức tiến bộ trong quân đội và chính quyền miền Nam đã họp Hội nghị thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, bầu ra Ủy ban Trung ương của Liên minh do luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch.

Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời đánh dấu bước phát triển mới của khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng kịp thời yêu cầu cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta trên các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao trong giai đoạn phát triển mới, làm cho lực lượng cách mạng ngày càng hùng hậu.

Ngày 14 đến 16-12-1971: Đại hội lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội diễn ra tại thủ đô Hà Nội, ngoài các đại biểu ở miền Bắc, Đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Đoàn đại biểu của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam từ tiền tuyến miền Nam đã ra tham dự Đại hội. Đại hội đã biểu dương những thắng lợi to lớn của quân và dân 2 miền Nam Bắc và biểu thị quyết tâm đoàn kết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đã thông qua bản Nghị quyết đề ra 5 nhiệm vụ và phương hướng công tác Mặt trận cụ thể, bầu ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới, do cụ Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch.

Ngày 31-1 đến 4-2-1977: Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận của cả nước - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I.1

Đại hội được tổ chức tại hội trường Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 31-1 đến 4-2-1977. Đại hội là cuộc vui đoàn tụ của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất suốt mấy chục năm của đồng bào và chiến sĩ cả nước dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến.

Đại hội đã quyết định thông qua việc hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tên mới của Mặt trận thống nhất là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử 191 vị vào Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chủ tịch Tôn Đức Thắng được suy tôn là Chủ tịch danh dự của Mặt trận. Ông Hoàng Quốc Việt được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch. Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận có 44 vị ủy viên. Ban Thư ký có 7 vị do ông Nguyễn Văn Tiến làm Tổng Thư ký và ông Vũ Đức làm Phó Tổng Thư ký.

* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội họp từ ngày 12 đến 14-5-1983 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có gần 500 đại biểu chính thức, hơn 100 đại biểu dự thính và khách mời.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra Ủy ban Trung ương mới gồm 184 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 45 vị và Ban Thư ký gồm 8 vị. Đại hội nhất trí suy tôn ông Hoàng Quốc Việt là Chủ tịch danh dự, ông Huỳnh Tấn Phát được cử giữ chức Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Tiến được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội họp từ ngày 2 đến 4-11-1988 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Ngoài 580 đại biểu chính thức trong nước còn có 14 đoàn đại biểu các tổ chức, phong trào Mặt trận các nước anh em trên thế giới tham dự.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra Ủy ban Trung ương gồm 208 vị, 31 vị tham gia Đoàn Chủ tịch. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được cử là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; hai Phó Chủ tịch là Luật sư Phan Anh và ông Phạm Văn Kiết. Ban Thư ký gồm 6 vị do ông Phạm Văn Kiết là Tổng Thư ký. Chủ tịch danh dự là ông Hoàng Quốc Việt.

* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội họp tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội, từ ngày 17 đến 19-8-1994 với hơn 600 đại biểu tham dự.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm 200 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 41 vị và Ban Thường trực gồm 7 vị. Chủ tịch danh dự là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Ủy viên danh dự Ủy ban Trung ương gồm 8 vị. Ông Lê Quang Đạo được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch, ông Trần Văn Đăng được cử làm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội họp từ ngày 27 đến 28-9-1999 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội với 621 đại biểu tham dự. Dự Đại hội còn có Đoàn đại biểu Mặt trận Lào xây dựng đất nước, Đoàn đại biểu Mặt trận Đoàn kết Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc Cămpuchia, Đoàn đại biểu Uỷ ban toàn quốc Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc, Đoàn đại biểu Ủy ban bảo vệ cách mạng Cuba, Đoàn đại biểu Hội đoàn kết và phát triển Liên bang Mianma, các tổ chức quốc tế, các đoàn ngoại giao có mặt tại Hà Nội và đông đảo các phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa V gồm 253 vị. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm 45 vị, Ban Thường trực gồm 9 vị. Đại hội đã suy tôn các vị: Nghiêm Xuân Yêm, Bùi Thị Cẩm, Phạm Khắc Quảng, Nguyễn Lân, Cù Huy Cận, Trần Ngọc Liễng làm Ủy viên danh dự Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông Phạm Thế Duyệt, Ủy viên Thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ông Trần Văn Đăng, Ủy viên Trung ương Đảng được tái cử làm Tổng Thư ký.

* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội họp từ ngày 21 đến ngày 23-9-2004 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.

Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VI là đại hội đầu tiên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước ta, đánh dấu một thời kỳ phát triển quan trọng của dân tộc ta, thời kỳ đẩy nhanh, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.

Tham dự Đại hội có 878 đại biểu và các đoàn đại biểu nước ngoài gồm: Mặt trận Lào xây dựng đất nước, Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc, Ủy ban bảo vệ cách mạng Cuba, Mặt trận Đoàn kết Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc Cămpuchia.

Đại hội đã hiệp thương dân chủ cử ra Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI gồm 320 vị tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu tăng cường và đổi mới công tác Mặt trận trong thời kỳ mới của đất nước. Đoàn Chủ tịch gồm 52 vị. Ban Thường trực gồm 8 vị, Phó Chủ tịch có 9 vị, trong đó có 3 vị chuyên trách và 6 vị không chuyên trách. Ông Phạm Thế Duyệt được tái cử làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ông Huỳnh Đảm, Ủy viên Trung ương Đảng được tái cử làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và từ tháng 1-2008 là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông Vũ Trọng Kim, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

1. Đại hội hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận năm 1977 được gọi là Đại hội I.

 | Trở Về đầu trang    |

 

 

 


                      hoan nghênh bạn đọc góp ý cho tạp chí

 
 
 
                                  Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2008
 
 

 
 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
 

 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội  

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội


   

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn