Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 
 
 

 



   


            
 

CHÂM CỨU VIỆT NAM
không ngừng phát triển theo ngàn năm Thăng Long

                                                                                                       NGUYỄN TÀI THU*

1.Châm cứu Việt Nam không ngừng phát triển theo ngàn năm Thăng Long lịch sử

Biết bao sự việc “vật đổi sao dời” đến nay đã 1.000 năm lịch sử (1010 - 2010), Thăng Long - Hà Nội luôn là nơi hội tụ tinh hoa của đất nước. Không phải chỉ tinh hoa về ngàn năm văn hiến, mà cả về tinh hoa ngoại cảnh luôn hoà hợp trong cuộc sống hằng ngày, trong ngàn hoa đua nở, vừa có tính chất làng quê dân dã nên thơ, xa xưa đã mang dấu ấn vàng son của kinh thành. Con người và cảnh vật, động vật “Rùa thiêng” cùng chung sống trong thiên nhiên. Thăng Long thanh lịch, có phẩm hạnh độ lượng, đoan trang, có tình yêu đất nước nồng nàn - hội tụ các sao sáng danh nhân đất nước, tập hợp các loại hình văn hoá dân gian của Thủ đô Hà Nội: ca dao, tục ngữ, ca múa nhạc; các nghề thủ công mỹ nghệ, như: kim hoàn - Hàng Bạc, thợ thêu - Hàng Trống, nghề gốm Bát Tràng, làng giấy, dệt tơ, dệt lĩnh, làng Bưởi, nuôi tằm, dệt lụa - Nghi Tàm, Vạn Phúc...

Cuộc sống của người dân Hà Nội có vẻ độc đáo riêng, ngay cả về sức khoẻ con người cũng được bảo vệ bằng nền y học cổ truyền dân tộc với cỏ cây hoa lá, với châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, khí công, gồm những đặc điểm ưu tú nhất của một kinh đô, của một kinh thành. Người xưa nói: “kẻ chợ” hàng năm luôn thay đổi cùng với màu sắc của thiên nhiên, bao gồm một chỉnh thể “Thiên - Địa - Nhân” để bảo vệ sức khỏe của con người Hà Nội.

Sự phát triển của châm cứu ở Thủ đô từ các triều đại phong kiến đều luôn luôn thay đổi, vượt lên mọi khó khăn để bảo vệ con người Hà Nội, bảo vệ Thăng Long qua các thời kỳ

Ngay từ đời Hồng Bàng, khi Hùng Vương dựng nước đã có người thầy thuốc châm cứu là An Kỳ Sinh chữa bệnh cho nhân dân. Đời An Dương Vương, Đô thành là Đông Anh, Hà Nội có Cao Lỗ, Thôi Vĩ, Bảo Cô đi khắp vùng Nam Hải chữa bệnh cho nhân dân.

Về đời Lý Thần Tông, tháng 3-1136 vua ốm nặng vì mắc bệnh “hổ tật”: la hét, rối loạn tâm thần, chữa thuốc không khỏi, nhờ có nhà châm cứu Nguyễn Chí Thành, hiệu Đại sư Minh Không ở Gia Viễn được triệu về Thăng Long đã dùng châm cứu chữa khỏi bệnh cho nhà vua, được nhà vua phong là Lý triều Quốc sư và được nhà vua cho dựng nhà ở Thăng Long (nay là đền thờ Lý Quốc Sư ở quận Hoàn Kiếm - Hà Nội). Thời đó, Đại sư Minh Không là một nhà châm cứu nổi tiếng, chữa bệnh cho nhân dân khắp nơi. Cả một trấn Sơn Nam có đền thờ ông ở Gia Viễn (Ninh Bình), chùa Keo (Thái Bình), chùa Cổ Lễ (Nam Định).

Châm cứu nước ta tính đến đời Trần (1225 - 1400) đã có hàng ngàn năm lịch sử. Thực tiễn được đúc kết thành lý luận. Nguyên lý cao nhất của lý luận châm cứu là nguyên lý duy vật biện chứng cổ xưa. Rồi từ lý luận lại soi sáng thực tiễn, đưa y thuật châm cứu tiến lên không ngừng trong việc kết hợp chặt chẽ châm cứu với thuốc nam, giải quyết nhiều bệnh tật cho nhân dân lao động trong sản xuất, cho chiến sĩ trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trâu Canh là một nhà châm cứu, đã chữa khỏi bệnh cho hoàng tử Hạo, con trai Trần Minh Tông khỏi chết đuối ở Hồ Tây, thành Thăng Long. Khi hoàng tử Hạo lên ngôi tức là vua Trần Dụ Tông, Trâu Canh lại chữa cho nhà vua khỏi bệnh thận hư, sinh được 3 hoàng tử, 6 công chúa. Dưới triều Trần, danh y Nguyễn Bá Tĩnh tức Tuệ Tĩnh, người phủ Thượng Hồng, Hải Dương (nay là huyện Cẩm Giàng, Hải Dương), ngoài việc có nhiều sáng tạo và có thiên tài về dùng thuốc nam chữa bệnh đã viết nên cuốn Nam Dược thần hiệu gồm 3.873 phương thuốc dân tộc, ứng trị 182 loại chứng bệnh. Ông lại viết cuốn Hồng Nghĩa Giác tư y thư, tổng kết chỉ dùng 13 bài thuốc gia giảm để chữa hầu hết các bệnh. Tuệ Tĩnh cũng nổi tiếng thời bấy giờ, biết kết hợp thuốc nam với châm cứu để chữa bệnh chống cấp kinh phong.

Đời nhà Hồ (1400 - 1407), Hồ Quý Ly và con là Hồ Hán Thương chủ trương mở rộng châm cứu chữa bệnh cho nông dân. Nhà Hồ đã cho tổ chức ở khắp nơi các cơ sở chữa bệnh bằng châm cứu, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của nhà châm cứu nổi tiếng hồi đó là Nguyễn Đại Năng (người huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương ngày nay). Nguyễn Đại Năng được nhân dân rất tín nhiệm và đặc biệt được Hồ Hán Thương rất yêu mến. Ông đã soạn quyển Châm cứu Tiệp Hiệu diễn ca bằng thơ chữ Nôm để phổ biến rộng rãi phương pháp châm cứu, như ông đã viết: “Đem lời giản dị đặt thành quốc âm”. Nguyễn Đại Năng đã tìm ra hơn 30 huyệt mới chưa thấy ghi trong sách châm cứu của Trung Quốc, để trị các chứng bệnh ôn nhiệt, phong nhiệt.

Cho đến nay, đây là cuốn sách y học châm cứu ra đời sớm nhất của nước ta từ đầu thế kỷ 15, phải chăng sách châm cứu của Việt Nam trước thời Nguyễn Đại Năng chưa có ai biên soạn? Hoặc là đã có những tác phẩm khác trong hàng ngàn năm trước nhưng đã bị quân xâm lược đốt hết (Nguyễn Đại Năng là một danh y châm cứu của nước ta cuối đời Trần, đầu nhà Hồ).

Sau đời nhà Hồ, đến triều Hậu Lê (1428 - 1788), y học dân tộc ngày càng được chú ý nhiều hơn, châm cứu vẫn tiếp tục phát triển (cũng trong giai đoạn này, cuối thế kỷ 18, châm cứu mới bắt đầu truyền vào châu Âu do các nhà truyền đạo Gia Tô và được chú ý ở châu Âu).

Dưới thời Hậu Lê, đặc biệt là vào đời vua Lê Hiển Tông, Thái y viện (cơ quan y tế cao nhất của nhà nước ở Thăng Long) đã phụ lục sách “châm cứu Tiệp Hiệu diễn ca” của Nguyễn Đại Năng cho phổ cập khắp nơi, khuyến khích đẩy mạnh chữa bệnh bằng châm cứu, đồng thời mở khoa thi “Y khoa đồng tiến sĩ” và xây dựng Y miếu Thăng Long để khuyến khích phát triển y học Việt Nam. Đại Y tôn Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã soạn bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh 28 tập gồm 66 quyển, giới thiệu toàn bộ các môn khoa của nền y học dân tộc Việt Nam một cách toàn diện. Nguyễn Trực (Thanh Oai - Hà Đông), rất giỏi về dùng phương pháp xoa bóp và cứu với hơi lửa của ngọn đèn dầu vào các huyệt để chữa bệnh trẻ em. Hoàng Đôn Hoà (Thanh Oai - Hà Nội) là một danh y có nhiều thành tích chữa bệnh cho nhân dân, quân đội ở kinh đô và các vùng lân cận, đặc biệt là phát triển phương pháp khí công.

Dưới triều Quang Trung (1788 - 1802), khi cả giang sơn đã quy vào một mối, Nguyễn Huệ truyền cho thái y Việt Nam phát triển các hình thức chữa bệnh để bảo vệ sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là nêu cao công tác phòng bệnh chống dịch. Danh y nổi tiếng thời đó là Nguyễn Gia Phan tức Nguyễn Thế Lịch (Hoài Đức - Hà Nội), nhà y học lão luyện Nguyễn Hoành (La Khê - Thanh Hoá) và Nguyễn Quang Tuân (Thanh Oai - Hà Nội) cũng được nhân dân Hà Nội ca ngợi về thuật chữa bệnh.

Tiếp đến triều Nguyễn có danh y Vũ Bình Phủ giỏi về châm cứu, đã biên soạn bộ sách Y thư lược sao, tổng hợp lý luận và thực tiễn châm cứu ở nước ta.

Nói chung, dưới các triều đại phong kiến, bắt đầu từ thế kỷ XII nước ta đã có tổ chức về y tế tương đối hoàn thiện ở Thủ đô và đến thế kỷ XV thì nền y học Việt Nam căn bản đã hình thành. Phương pháp chẩn đoán bệnh tật đều theo một hệ thống lý luận hoàn chỉnh của y học phương Đông, định ra các hình thức chữa bệnh bằng thuốc nam, châm cứu và xoa bóp khí công... Việc phòng chống bệnh dịch cũng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, đặc biệt là trong kỷ nguyên mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là trong 25 năm đổi mới, Đảng và Chính phủ đã chủ trương đẩy mạnh công tác thừa kế, phát huy vốn quý y học dân tộc, kết hợp Đông y và Tây y phục vụ sức khoẻ nhân dân, nhằm xây dựng một nền y học Việt Nam xã hội chủ nghĩa có đầy đủ tính chất khoa học, dân tộc và đại chúng.

2. Thành tựu của châm cứu của ngành y tế Thủ đô trong 25 năm qua

Tổ chức thực hiện đường lối hiện đại hoá châm cứu, xã hội hoá châm cứu ở Thủ đô cũng như trong toàn quốc, đẩy mạnh phương pháp châm cứu với các hình thức không dùng thuốc khác (xoa bóp, bấm huyệt, khí công, dưỡng sinh) để phòng bệnh, chữa bệnh, góp phần tích cực vào việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân, mở ra một hướng đi lớn trong việc mở rộng phạm vi y học nước nhà. Các hình thức châm cứu ngày càng phong phú, như: châm ở thân thể, ở loa tai, châm kim to, kim dài, thuỷ châm, điện châm, nhĩ châm, mai hoa châm, phối hợp hài hoà với nhau một cách tổng hợp để chữa khỏi nhiều bệnh tật. Nhiều bệnh được các thầy thuốc ở Hà Nội và các vùng phụ cận dùng châm cứu làm phương pháp chính để chữa, như: đau đầu mất ngủ, đau lưng, thấp khớp, liệt mặt, mất tiếng, sốt cao, rối loạn thần kinh, liệt... Ngày nay, châm cứu ở Thủ đô Hà Nội cũng đã giành được kết quả tốt trong việc chữa các bệnh hiểm nghèo mà nhiều nước vẫn cho là khó chữa hoặc không chữa được, như: liệt do tai biến mạch máu não, do viêm màng não, do tổn thương tuỷ sống...

Để đáp ứng nhu cầu chữa bệnh bằng châm cứu, Hội Châm cứu ngày càng phát triển, Viện Châm cứu Việt Nam được hình thành đã bồi dưỡng được một đội ngũ nhân viên châm cứu đông đảo (25.650 hội viên ở 64 tỉnh, thành Hội), đã giải quyết được rất nhiều bệnh tật thường gặp và khó chữa cho nhân dân ta ở các địa phương.

Để phục vụ công tác huấn luyện và bồi dưỡng châm cứu ở Thủ đô cũng như ở các tỉnh, đội ngũ thầy thuốc châm cứu của Thủ đô Hà Nội đã biên soạn và xuất bản nhiều tài liệu quan trọng về châm cứu, xoa bóp, dưỡng sinh, châm tê trong phẫu thuật, như: Châm cứu đơn giản (Lê Khánh Đồng), Châm cứu vấn đáp (Vũ Xuân Quang), Sổ tay châm cứu (Nguyễn Mạnh Phát), Châm cứu thực hành (Nguyễn Hữu Hách), Tân châm (Nguyễn Tài Thu), Nghiên cứu châm tê trong phẫu thuật tập I + II (Nguyễn Tài Thu, Hoàng Bảo Châu, Trần Quang Đạt); Thuỷ châm, Nhĩ châm, Mai hoa châm (Nguyễn Tài Thu, Lê Nguyên Khánh); Châm tê trong ngoại khoa chấn thương (Nguyễn Tài Thu); Dưỡng sinh (Nguyễn Văn Hưởng); Xoa bóp, khí công (Hoàng Bảo Châu); Châm cứu học (Viện Y học dân tộc Hà Nội); Châm cứu chữa bệnh (Viện Châm cứu Việt Nam); Bài giảng đông y (Khoa Y học dân tộc Trường đại học Y Hà Nội, Sémiơlogie - thérapeutique - Analge sie en acupuncture (Nguyễn Tài Thu, Bossy, Roccia xuất bản tại Paris), Acupuncture - Medecine traditionelle (Nguyễn Tài Thu do ACCT và UNESCO xuất bản tại Paris), Mãng châm chữa bệnh (Nguyễn Tài Thu); Châm cứu sau đại học (Nguyễn Tài Thu, Trần Thuý); Điện châm hỗ trợ cai nghiện ma tuý (Nguyễn Tài Thu)...

Trong 25 năm đổi mới, châm cứu Thủ đô đã kiên trì và nghiêm túc nghiên cứu không những trên lâm sàng mà đặc biệt phát triển mạnh hiện đại hoá châm cứu, nghiên cứu cơ chế của châm cứu về cận lâm sàng, trong đó có nghiên cứu châm cứu trên động vật (châm cứu thú y). Nhờ có nghiên cứu cận lâm sàng với sự kết hợp lý luận y học dân tộc với các máy móc hiện đại (điện cơ, điện não, X-quang, siêu âm, điện tim...) mà chẩn đoán được chính xác, kết quả chữa bệnh được nâng cao.

Trong các công trình nghiên cứu đề tài cấp nhà nước, cấp bộ về châm cứu như: Châm tê trong phẫu thuật, Điều trị cai nghiện ma tuý bằng điện châm, điều trị các chứng liệt (tai biến mạch máu não, đột quỵ, di chứng bại liệt trẻ em, viêm não Nhật Bản trẻ em, chữa hội chứng đau...) đã được giới y học trong và ngoài nước đánh giá cao.

Ngày nay từ Thủ đô Hà Nội đến thủ đô của các nước như Paris, Roma, Bruxen, Sophia, New York, Mexico, Bắc Kinh, Seoul, Tokyo... châm cứu Việt Nam đã hoà nhập được với ngành y tế thế giới một cách bình đẳng, được các bạn quốc tế tin tưởng, quý mến.

Chúng ta vô cùng vinh dự được giới thiệu các phương pháp châm cứu đặc biệt của Việt Nam tại Thủ đô Hà Nội trong các hội nghị trên thế giới, như: Thuỷ châm, Điện châm, Mãng châm, được các bạn rất hoan nghênh và tích cực học tập.

Cây kim châm cứu Việt Nam ngày nay đã bay xa ra ngoài biên giới đến 40 nước ở châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Úc, châu Mỹ La-tinh, châu Đại Dương... được bạn bè thế giới tín nhiệm, ca ngợi và vô cùng vinh dự được nhận những danh hiệu mà thế giới tặng cho châm cứu Việt Nam: Cây kim kỳ diệu, Cây kim thần kỳ... Các bài giảng, các bản báo cáo về lý luận cũng như kỹ thuật châm cứu của Việt Nam được đánh giá cao. Nhiều giáo sư, bác sĩ nước ngoài làm công tác châm cứu bày tỏ tình cảm mến phục, tin tưởng và muốn tăng cường hợp tác hơn nữa với châm cứu Việt Nam, với tư tưởng quý báu là: “Đến Hà Nội - trở về nguồn để học tập châm cứu phương Đông”. Đó cũng là niềm vinh dự mà ngành châm cứu Thủ đô Hà Nội chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

*  GS. TSKH, Chủ tịch Hội Châm cứu Việt Nam.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |        



                              Chữ Tài xưa & nay

                                                                                         BÙI ANH CHƯỞNG

     Tầm quan trọng của Tài không có gì phải nghi ngờ. Trong bài ký đề danh tiến sỹ năm Nhâm Tuất (1443), niên hiệu Đại Bảo đời Lê Thái Tông có đoạn viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh ắt thế nước vững mạnh mà sung túc; nguyên khí đuối hụt ắt thế nước yếu mà suy. Cho nên, bậc quân vương sáng suốt chẳng vị nào không đặt việc bồi dưỡng nhân tài, tuyển chọn quốc sĩ, vun trồng nguyên khí làm nhiệm vụ đầu tiên vậy”. Tầm nhìn của các bậc trị quốc hàng trăm năm trước đã khẳng định rõ vị trí và tầm quan trọng của Hiền tài. Hiền tài chính là “nguyên khí”, là sức sống, là động lực, là sức mạnh quyết định đến vận mệnh của đất nước. Vậy, thế nào được gọi là Tài, và Tài thế nào mới được coi là “nguyên khí quốc gia”?

Ta tạm chia Tài ra làm hai loại, là Tiểu tài và Đại tài. Gọi là Tiểu tài không có ý coi thường, mà chỉ muốn bàn đến tác dụng và tầm ảnh hưởng của Tài mà thôi. Trong mỗi người, ai cũng có một ít khả năng mà ta hay gọi là tài lẻ, tức là khả năng thực hiện cùng một công việc thường, giỏi hơn người khác. Ví dụ như múa, hát, văn nghệ quần chúng... chẳng hạn, là những tiểu tài hữu ích; cho đến những Tiểu tài có phần “đen tối” như trộm gà bắt chó, đào tường khoét ngạch... tai hại xóm làng. Tuy nhiên, Tiểu tài không có nghĩa là chỉ có thể sử dụng vào những công việc nhỏ. Tiểu tài nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ cũng có thể mang lại tác dụng lớn. Theo sử Tàu, Mạnh Thường Quân lúc xuất quan, nếu không nhờ một tay trộm gà bắt chó, có khả năng giả tiếng động vật thì sao ra nổi cổng thành; hoặc như một khúc tiêu của Trương Tử Phòng mà làm tan nát lòng quân của Hạng Vũ... Còn Đại tài là chỉ những loại khả năng có tầm ảnh hưởng to lớn, có tác dụng, hiệu quả cao. Người ta thường nhắc tới đức Khổng Tử có tài kinh bang tế thế, khai mở cả một nền triết học, ảnh hưởng lâu dài tới văn hóa Trung Quốc và cả văn hóa phương Đông; hoặc như Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, với tài năng xuất chúng đã cùng với quân dân Đại Việt chặn đứng gót ngựa Mông Nguyên từng làm châu Âu kinh hoàng. Việc cứu dân, cứu nước, khai tông dựng nghiệp hoặc đóng góp cho nền văn minh nhân loại những giá trị còn mãi với thời gian thì không nghi ngờ gì, chính là những Đại tài. Nói thế không có nghĩa là ai có Đại tài thì làm được việc lớn, ai có Tiểu tài thì chỉ làm việc nhỏ. Tiểu tài qua trui rèn, phấn đấu có thể thành Đại tài và ngược lại Đại tài mà không được thử thách thì cũng thui chột dần mà thôi. Vậy sự hữu ích của Đại tài hay Tiểu tài là ở tự con người quyết định. Người xưa cho rằng, con người ai cũng có khả năng như nhau nhưng do điều kiện xung quanh, rồi ham muốn cá nhân khiến cho có người còn giữ được nhiều tài năng trời ban, có người bị che lấp khiến cho không phát huy được cái mình vốn có. Chỉ có dựa vào học hành tu dưỡng, nhờ vào đó tự mài giũa bản thân mới có thể biến Tiểu tài thành Đại tài. Việc rèn đức luyện tài ngày nay cũng cho thấy, dù anh là Thiên tài nhưng anh không biết nhân cái ưu thế ấy mà phát huy, phát triển nó lên thì anh cũng chỉ dừng tại chỗ; nếu trong cuộc đua rùa và thỏ mà chú thỏ chạy một đoạn rồi đứng lại thì dẫu trời có phú cho chú thỏ chạy nhanh bao nhiêu chăng nữa chú rùa dù có chậm chạp mà cứ tiến tới, ắt cũng có lúc bò vượt chú thỏ đang đứng yên với cái thiên phú của mình.

Thế còn Nhân tài thì thế nào. Nhân tài phải là những người có tài năng thực sự mà tài năng ấy có thể cống hiến những giá trị đích thực cho nhân loại nói chung, cho đất nước, xã hội, cộng đồng nói riêng, khiến những người xung quanh khâm phục và công nhận. Hitler có khả năng, hoặc tài năng lôi kéo biết bao nhiêu con người và tạo ra một sức mạnh làm đảo điên thế giới, nhưng Hitler quyết không phải là nhân tài.

Ở trên có nhắc tới cụm từ Hiền tài, vậy Hiền là gì? Hiền có đẳng lập với Tài hay không. Xin thưa, có thể coi Hiền là một cấp độ nhân tài bậc cao, mà hội tụ trong nhân tài ấy cả tài năng và đạo đức. Những bậc Hiền, theo quan niệm xưa, là những con người có khả năng giúp vua trở thành vua sáng, giúp dân được yên ổn mà sung túc, giáo hóa dân chúng về đạo đức, sửa sang phong tục tốt đẹp trong dân gian. Với quan niệm ấy, không chỉ thuở xưa mà thời nay chúng ta cũng khát khao người Hiền. Hồ Chủ tịch từng nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng; có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Xem ra đây chính là sự đúc kết, là cái nhìn sáng suốt khoáng tuyệt cổ kim, đáng để chúng ta nghiền ngẫm. Tài năng tất nhiên luôn được coi trọng không kể là xưa hay nay, nhưng nếu không lấy đức mà sử dụng tài năng thì tài năng ấy có thể mang lại điều hại cho cả xã hội, hoặc cho chính người sở hữu tài năng ấy. Cho nên mới nói, người có tài mà không có đức thì cũng chẳng làm được gì. Có thể ví Tài là một loại công cụ của con người, Đức là phương hướng để vận dụng tài năng, là thứ để giữ cho tài năng ấy đi đúng hướng, tạo ra ích lợi cho cộng đồng.

Tuy cặp Tài - Đức đã đủ để tạo thành một nhân tài có ích cho cộng đồng, nhưng Tài - Đức chưa phải là hoàn thiện, còn cần cả cặp Tài - Trí nữa. Tài là công cụ, Đức là phương hướng để sử dụng, còn Trí chính là phương cách sử dụng tài năng.

Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của sức mạnh trí tuệ, việc mỗi quốc gia bồi dưỡng, thu hút nhân tài là xu hướng tất yếu. Đào tạo một nhân tài đã khó, đào tạo hiền tài vẹn cả đức và tài lại càng khó hơn. Kết quả của đào tạo phải là tạo ra những người có ích cho xã hội chứ không phải là tạo ra những thành phẩm khiếm khuyết, có khả năng nhưng không thể sử dụng được. Có như vậy mới không lãng phí nguồn lực con người, mới duy trì được một nền văn minh phát triển toàn diện, kể cả về nhân văn.

Một sinh viên đại học ra trường không được sử dụng đúng ngành nghề là một sự lãng phí lớn. Đó là lãng phí khối kiến thức chuyên sâu sinh viên ấy thu được trong những năm đại học của mình; là lãng phí tiền của của nhà nước, của xã hội, của chính gia đình sinh viên ấy đã tiêu tốn cho sinh viên ăn học; rồi lãng phí thời gian, sức lực sinh viên đã bỏ ra để hoàn thành chương trình học tập. Đây còn là lãng phí nhân tài, thui chột “nguyên khí quốc gia”. Hơn ai hết, các nhà quản lý có trách nhiệm giải quyết vấn đề bằng một kế hoạch đào tạo và sử dụng hợp lý, tránh việc đào tạo mà không sử dụng đến. Đối với những “nhân tài tương lai” thì phải biết suy nghĩ và tìm hiểu về công việc tương lai của mình, tự suy xét khả năng bản thân và nhu cầu xã hội để có những lựa chọn đúng đắn, tránh cho bản thân phải tiếc nuối sau này. Nguồn nhân tài và có thể là “nguyên khí quốc gia” không nên bị lãng phí, mà nên được tích lũy, được tạo điều kiện, môi trường để ngày càng lớn mạnh, để thăng hoa, đưa đất nước vươn lên tầm cao mới.

* Trung tâm Dịch thuật - Dịch vụ Văn hóa và Khoa học công nghệ.

 

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |        


 

 
 
 

  

 

 

 

 

 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |        

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn