Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 
 
 

 



   


            
 

Phát huy truyền thống lịch sử và cách mạng
ĐẤT NƯỚC LÀO ĐANG ĐỔI MỚI VƯƠN LÊN

    LTS: Năm 2010, nhân dân Lào tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước. Đó là kỷ niệm 55 năm Ngày thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, 450 năm Ngày thành lập Thủ đô Viêng Chăn, 35 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, kỷ niệm 90 năm Ngày sinh của Chủ tịch Kaysỏn Phômvihản và đang chuẩn bị tiến hành Đại hội IX của Đảng Nhân dân cách mạng Lào vào đầu năm 2011. Nhân dịp này, Tạp chí Mặt trận có bài phỏng vấn bà Sủnthon Xaynhachắc, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tại Việt Nam.
    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Đại sứ Sủnthon Xaynhachắc với các cựu chiến binh Sư đoàn Quân tình nguyện 968 Anh hùng                     
                     Ảnh: QUANG MINH

PV: Thưa bà Đại sứ! Năm nay, Thủ đô Viêng Chăn tròn 450 năm; lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Lào tổ chức kỷ niệm Ngày thành lập Thủ đô với những hoạt động phong phú, đầy ý nghĩa, đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong nước cũng như bạn bè quốc tế. Đề nghị bà giới thiệu một số nét về Viêng Chăn trong lịch sử và sự phát triển của Thủ đô Viêng Chăn ngày nay?

Đại sứ Sủnthon Xaynhachắc: Chúng ta có thể khái quát qua những mốc lịch sử nổi bật sau: Cách đây hơn 2.000 năm, Viêng Chăn ra đời và được đặt theo tên của người sáng lập, là Bulychăn. Năm 1353, vua Chao Phangum đã thống nhất đất nước và thành lập Vương quốc Lạn Xạng (Triệu Voi) với Kinh đô là Xiêng Thong (Luông Phabang hiện nay) và Viêng Chăn lúc bấy giờ cũng thuộc Vương quốc Lạn Xạng. Xiêng Thong là Kinh đô trong thời gian 207 năm. Đến năm 1560, vua Xaynhasệt Thạthilát - ông vua thứ 10 của Vương quốc

Lạn Xạng đã dời đô từ Xiêng Thong sang Viêng Chăn, đặt tên Kinh đô mới là Chănthabuly Sisắttanác, với lý do là Xiêng Thong nằm quá sát đường qua lại của phong kiến Miến Điện lúc bấy giờ và địa bàn chật hẹp, không thể mở rộng diện tích sản xuất được; còn Viêng Chăn nằm ở trung tâm đất nước và là nơi có đồng bằng, thuận tiện cho việc sản xuất của nhân dân.

Sau khi dời đô, Vương quốc Lạn Xạng đã phát triển khá mạnh trong suốt 333 năm độc lập và thống nhất. Nhưng sau khi vua Chao Sulinhavôngsa mất (năm 1695), Vương quốc Lạn Xạng lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, mất đoàn kết và tranh giành quyền bính, đất nước suy yếu và đến năm 1779 Vương quốc Lạn Xạng đã trở thành nước lệ thuộc của Xiêm và tình trạng đó kéo dài trong hơn 100 năm. Trước tình hình mất độc lập, nhân dân khổ nghèo, vua Anuvông đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh anh dũng chống lại sự thống trị của Xiêm, nhưng không giành được thắng lợi, mà còn bị đàn áp, bản thân vua Anuvông bị Xiêm giết hại một cách dã man, Kinh đô Viêng Chăn thời đó bị phá hoại hoàn toàn...

Năm 1893, cũng như các nước khác trên bán đảo Đông Dương, Lào bị thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ thống trị trong suốt 80 năm. Nhân dân Lào cùng với nhân dân Việt Nam, Campuchia anh em đứng lên làm cách mạng, giành thắng lợi vẻ vang trong năm 1975: Việt Nam thống nhất được đất nước, Lào lập nên Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào vào ngày 2-12-1975.

Trong suốt 35 năm chính thể Cộng hoà Dân chủ Nhân dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Thủ đô Viêng Chăn đã có sự đổi thay rõ rệt về mọi mặt: Chính trị ổn định, trật tự xã hội được bảo đảm, kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng cao. Giai đoạn 2006 - 2010, kinh tế của Thủ đô Viêng Chăn phát triển mạnh (trung bình tăng 11,5%/năm), thu nhập bình quân năm 2010 hơn 2.000 USD/người; nông nghiệp, công nghiệp đều phát triển, cơ sở hạ tầng được củng cố, văn hoá - xã hội, y tế được cải thiện... Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 450 năm thành lập, chính quyền Thủ đô đã thông qua 21 công trình kỷ niệm, cụ thể là: Công trình khu đô thị mới; công trình sân vận động SEA Games 25 và sân gôn; công trình phát triển khu ven sông Mêkông; công trình xây dựng cơ sở hạ tầng; công trình cải tạo lại quảng trường, vườn Xaysệtthả; công trình xây dựng Trụ sở chính quyền Thủ đô; công trình nâng cấp đường Xuphanuvông; công trình tu sửa lại chùa Sisakệt; công trình phát triển khu Nongtha; công trình quy hoạch Thủ đô lần thứ 3; công trình tu sửa lại chùa Phakẹo; công trình cải tạo, nâng cấp 4 ngôi chợ lớn tại trung tâm thành phố; công trình xây dựng vườn hoa, cây cảnh tại cổng ra vào thành phố; công trình xây dựng bộ phim về Viêng Chăn 450 năm; công trình xây dựng chợ biên giới; công trình cải tạo Cột Thành phố; công trình xây dựng công viên Nong Chăn và chợ Nong Chăn; công trình xây dựng Bản và Cụm bản phát triển; công trình sản xuất tặng phẩm kỷ niệm 450 năm Viêng Chăn; chương trình giải quyết những tiêu cực; công trình chỉnh trang đường sá, nhà cửa và công trình tu sửa lại công viên chùa Xiêng Khuôn và tháp Thìnsói. Qua các hoạt động kỷ niệm ngày hội của mình, Thủ đô Viêng Chăn có sự đổi thay khá nhiều cả về kiến trúc, hạ tầng cơ sở và đời sống văn hoá của nhân dân. Cuộc sống mới ở Thủ đô ngày càng nhộn nhịp và đậm đà bản sắc dân tộc, để lại ấn tượng tốt đẹp cho nhân dân cả nước và bạn bè gần xa.

PV: Sau khi Hiệp định hoà bình Viêng Chăn được ký kết (ngày 21-2-1973), nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã tiếp tục cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ phong kiến và lập nên Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân (ngày 2-12-1975), đưa nhân dân Lào tiến lên con đường no ấm. Xin bà cho biết những thành tựu mà nhân dân Lào anh em đã đạt được trong 35 năm qua?

Đại sứ Sủnthon Xaynhachắc:  Việc thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (ngày 2-12-1975) đã mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên nhân dân Lào thực sự làm chủ vận mệnh và đất nước của mình. Trong suốt 35 năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Bảo vệ và Xây dựng đất nước. Từ khi Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thực hiện đường lối đổi mới năm 1986 đến nay, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đã có sự biến đổi tích cực về mọi mặt: Chính trị ổn định, kinh tế phát triển liên tục, đời sống của nhân dân được cải thiện. Những thay đổi đó thể hiện qua những con số sau đây: Kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, trong giai đoạn 1986-1990 tốc độ tăng trưởng là 4,8%/năm, giai đoạn 1991 - 1995 là 6,4%/năm, giai đoạn 1996 - 2000 là 6,2%/năm, giai đoạn 2001 - 2005 là 6,2%, giai đoạn 2006 - 2010 là hơn 7%/năm. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng lên từ 114 USD năm 1985 lên hơn 900 USD năm 2010. Quan hệ quốc tế được mở rộng, tính đến nay Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào có quan hệ ngoại giao với 132 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; vị thế và vai trò của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trên trường quốc tế và khu vực được nâng cao rõ rệt. Đặc biệt trong những năm gần đây Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đã tổ chức thành công nhiều Hội nghị quốc tế (nổi bật là Hội nghị Bộ trưởng Cộng đồng Pháp ngữ, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ X vào năm 2004, đăng cai SEA Games 25 vào tháng 12-2009, Hội nghị quốc tế về cấm bom chùm tại Viêng Chăn vào tháng 11-2010 với sự tham gia của hơn 100 nước trên thế giới,...). Đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, tính từ năm 1988, sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Lào được thông qua, đến cuối năm 2010 đã có hơn 1.100 dự án đầu tư với trị giá hơn 12 tỷ USD; tỷ lệ hộ nghèo giảm dần hàng năm, đến năm 2010, số hộ nghèo còn 21,6% số hộ cả nước; sản xuất lương thực tăng mạnh, từ 600.000 tấn trước năm 1975 lên 3,15 triệu tấn trong năm 2010; sản xuất điện tăng từ 33 MW năm 1975 lên 690,2 MW năm 2005. Năm 2008 Chính phủ đã cho phép phát triển 63 dự án thuỷ điện với công suất 18.048 MW mà phần lớn sẽ xuất khẩu đi các nước láng giềng trong tương lai không xa. Lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng thu được những thành tựu đáng khích lệ, bản sắc văn hoá được bảo vệ, giữ gìn. Về trật tự - an ninh, năm 2010 Lào được xếp thứ 34 trên thế giới và thứ 3 trong ASEAN. Hệ thống chính trị được củng cố, Hiến pháp đầu tiên được thông qua vào năm 1991 và tính đến năm 2010 đã thông qua 87 luật, góp phần vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào.

Đại hội VIII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (năm 2006) đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 là: Phấn đấu đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, bảo đảm ổn định chính trị và trật tự xã hội, kinh tế phát triển liên tục với tốc độ nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện gấp 3 lần hiện nay, nền kinh tế có cơ sở vững chắc với cơ cấu nông - lâm nghiệp gắn kết với công nghiệp và dịch vụ, đủ khả năng hội nhập với khu vực và quốc tế; tăng cường hệ thống chính trị dân chủ nhân dân mà Đảng là hạt nhân; truyền thống văn hoá tốt đẹp được bảo vệ, giữ gìn và phát triển không ngừng; Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào có quan hệ rộng mở với các nước trên thế giới nhằm mang lại lợi ích cho đất nước và góp phần vào sự nghiệp hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

PV: Tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc chúng ta đã được xây dựng qua những năm tháng kề vai, sát cánh chống kẻ thù chung. Xin bà cho biết mối quan hệ truyền thống đó đến nay đang tiếp tục được vun đắp và phát triển như thế nào?

Đại sứ Sủnthon Xaynhachắc:  Kỷ niệm 450 năm Ngày thành lập Thủ đô Viêng Chăn và 35 năm Ngày Quốc khánh, chúng tôi luôn nhận thức sâu sắc rằng, những thành tựu mà nhân dân Lào đạt được trong suốt thời gian qua không tách rời sự hỗ trợ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam anh em. Chúng tôi vô cùng tự hào nhận thấy rằng, mặc dù tình hình khu vực và thế giới có nhiều diễn biến rất phức tạp, nhanh chóng, nhưng mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa Lào và Việt Nam trong thời gian qua luôn được tăng cường cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trên các lĩnh vực, như:

- Quan hệ chính trị vững chắc: các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của hai Đảng, hai Nhà nước đã có những chuyến thăm viếng lẫn nhau thường xuyên. Riêng trong năm 2010, đã có chuyến thăm chính thức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong tháng 4 và tháng 8, chuyến thăm chính thức Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Thủ tướng Chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Buasỏn Búpphảvăn trong tháng 9.

- Quan hệ kinh tế - thương mại, khoa học - kỹ thuật, giáo dục, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại cũng đều không ngừng được tăng cường, nhất là quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại và đầu tư giữa hai nước đã có bước tiến triển mới. Tính từ năm 1989 đến cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 200 dự án với tổng số vốn gần 3 tỷ USD, đứng hàng đầu trong các nước đang đầu tư tại Lào.

Ngoài ra, các tỉnh và thành phố của Việt Nam cũng đang hợp tác chặt chẽ với các tỉnh và thành phố của Lào, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Lào chúng tôi.

Nhân dịp trọng thể này, tôi xin chúc mừng những thành tựu to lớn, quan trọng mà nhân dân Việt Nam anh em đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đặc biệt là trong 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới mà Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, làm cho đất nước Việt Nam phát triển toàn diện: chính trị ổn định, kinh tế phát triển nhanh và tăng trưởng cao liên tục. Đặc biệt, từ cuối năm 2007 đến nay, dù có những khó khăn do thiên tai gây ra và do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng Đảng, Chính phủ Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, ổn định được cuộc sống, duy trì được mức tăng trưởng khá cao, nhiều chỉ tiêu đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010 đã đạt được trước thời hạn; vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực ngày càng cao. Chúng tôi xin nhiệt liệt chúc mừng thành công của Việt Nam trong việc tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và trong việc đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN-2010, được bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Một lần nữa, tôi xin kính chúc nhân dân Việt Nam anh em dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu mới, to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh, đưa đất nước trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Xin kính chúc Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức thành công Đại hội XI của mình.

Chúc mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Đại sứ đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này và mong bà tiếp tục cộng tác với Tạp chí Mặt trận!

         (BÙI THƯỢNG TOẢN  thực hiện)

  | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



ĐỀ TÀI
Những sự kiện chính trị quốc tế lớn trên báo in Việt Nam

     LTS: Tạp chí Mặt trận đã có những tin, bài giới thiệu đề tài, hội thảo, sách.…Từ tháng 7-2010, việc giới thiệu các sản phẩm nghiên cứu được tiếp tục nhưng theo hướng sâu rộng hơn và cách thể hiện ngày càng đa dạng. Giới thiệu Dự án có: Dự án nghiên cứu phát triển kinh tế biển (số 81, tr 47 ), Dự án Papi (số 85, tr 58), Dự án CVSC.2010 (số 86). Giới thiệu Đề tài có: Đề tài KHMT 1.3.10 (số 83, 84, 85...); Đề tài KHMT 1.4.10 (số 86). Dạng luận văn, luận án sẽ giới thiệu thường xuyên, với sự cộng tác của Trường Đại học khoa học xã hội & nhân văn, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Trung tâm hỗ trợ đào tạo & khoa học... Dưới đây, giới thiệu một luận văn thạc sỹ báo chí.

    Đây là công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn thạc sỹ ngành báo chí do tác giả Lê Thị Diệu Thuý thực hiện, theo hướng dẫn của Phó giáo sư Đinh Hường (Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn), được Hội đồng chấm luận văn vào tháng 12-2010, do giáo sư Tạ Ngọc tấn (Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản) làm chủ tịch, xếp loại giỏi.

Đề tài có cơ cấu 3 chương, đã tham khảo trên 30 nguồn tư liệu, có phụ lục minh họa cùng với phương pháp nghiên cứu cơ bản hợp lý nên góp phần giải quyết tốt những nội dung đặt ra.

Các nội dung như: Công tác thông tin đối ngoại của báo in Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; Nội dung và hình thức thông tin các sự kiện chính trị quốc tế lớn năm 2008-2009 của báo in Việt Nam (sự kiện bầu cử Tổng thống Nga và bầu cử Tổng thống Mỹ, biến động chính trị ở Thái Lan, sự kiện Triều Tiên phóng tên lửa) được trình bày khá rõ. Nhìn chung, tác giả đạt được những kết quả tích cực trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt đưa ra 6 giải pháp có giá trị tham khảo phục vụ hoạt động thực tiễn.

                                                                             ĐẶNG NGỌC THUÝ
                                                                    (Trung tâm hỗ trợ đào tạo & khoa học)

  | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



Vài nét về quá trình phiên dịch Kinh thánh sang tiếng Việt

                                                                                                       NGÔ ĐẠI ĐỨC*

     Ki tô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất trên thế giới hiện nay với khoảng 2,1 tỉ tín đồ (Thuật ngữ Ki tô giáo để chỉ các giáo phái có chung nguồn gốc như: Công giáo, Tin Lành, Anh giáo, Chính thống giáo). Trong đó tín đồ Đạo Công giáo có 1,1 tỉ người; Đạo Tin lành khoảng 600 triệu, Chính Thống giáo 220 triệu, Anh giáo gần 90 triệu. Bên cạnh đó còn có khoảng 160 triệu tín đồ độc lập không gia nhập hệ phái nào và khoảng gần 30 triệu tín đồ theo những giáo hội ngoại vi (như Mormon, Chứng nhân Jehova…). Các giáo phái này tự nhận mình thuộc Ki tô giáo nhưng họ không được cộng đồng Ki tô giáo công nhận bởi vì các học thuyết của họ không chính thống trên nền tảng Kinh thánh (Kinh thánh Cựu Ước và Tân ước). Như vậy Ki tô giáo là một tôn giáo lớn nhất trên thế giới, có mặt ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ; có một bộ máy truyền giáo khổng lồ, ước tính mỗi năm lượng tín đồ theo Ki tô giáo tăng khoảng 1,12%.

 Ở Việt Nam, từ những thập niên đầu thế kỷ 16 đức tin Công giáo đã được truyền bá thông qua các tu sĩ dòng Franciscan và các tu sĩ Dòng Tên. Năm 1911, các tu sĩ truyền giáo thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (Christian and Missionary Alliance - CMA) đã đến Đà Nẵng để truyền bá Phúc âm theo đức tin đạo Tin Lành. Ước tính ở Việt Nam hiện nay có khoảng trên 6 triệu tín đồ đạo Công giáo (xếp thứ 32 trong số các quốc gia có tín đồ đạo Công giáo) và khoảng 800 nghìn tín đồ theo đạo Tin Lành của các hệ phái khác nhau (xếp thứ 59 trong các quốc gia có tín đồ đạo Tin Lành).

Khi mới đến Việt Nam, để cho việc truyền giáo được hiệu quả, các tu sĩ Dòng Tên đã dành nhiều thì giờ tìm hiểu văn hoá, tập quán của dân Việt. Vì chữ Nôm khó học nên các giáo sĩ đã nghĩ đến một phương pháp mới là dùng mẫu tự Latinh để ghi âm tiếng Việt, về sau này gọi là chữ Quốc ngữ. Trong giai đoạn phôi thai của loại chữ viết mới, Linh mục Gaspard de Amaral đã soạn cuốn Từ vựng Việt Nam - Bồ Đào Nha bằng chữ Quốc ngữ . Linh mục Antoine de Barbosa soạn tiếp cuốn Từ vựng Bồ Đào Nha - Việt Nam. Dựa vào đó, về sau Linh mục Alexandre de Rhodes hệ thống lại và soạn ra bộ Từ Điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - Latinh. Sách này được phát hành tại La Mã vào năm 1651, đồng thời Linh mục Alexandre de Rhodes cũng xuất bản một số sách vở khác bằng chữ Quốc ngữ và ông được xem là cha đẻ của chữ Quốc ngữ như chúng ta biết. Sau đó chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Nôm trở thành chữ viết chính thức của người Việt. Theo một thống kê mới đây, trong số gần 6.000 ngôn ngữ hiện đang được sử dụng trên thế giới, chữ Quốc ngữ là một trong 20 ngôn ngữ được dùng phổ thông nhất, bởi vì tính đến ngày 1-4-2009, dân số nước ta khoảng gần 86 triệu người và gần 3 triệu người Việt đang sống ở nước ngoài sử dụng chữ Quốc ngữ.

Mặc dù chữ Quốc ngữ được phát minh từ thế kỷ XVII với mục đích phổ biến và truyền đạo Ki tô, nhưng phải mất gần 250 năm sau, đến năm 1872, Giáo hội Công giáo Việt Nam mới phát hành những phần Kinh Thánh rời rạc đầu tiên bằng Việt ngữ. Suốt 100 năm kế tiếp, các bản dịch Kinh Thánh Việt ngữ của Giáo hội Công giáo chỉ nhằm phục vụ cho hàng giáo phẩm, chứ không phổ biến rộng rãi cho giáo dân. Mãi đến sau Cộâng đồng Vatican II (1963), Giáo hội Công giáo Việt Nam mới thực hiện phiên dịch và phổ biến Kinh Thánh bằng Việt ngữ.

Về phía Giáo hội Tin Lành, trước khi Tin Lành được truyền bá vào Việt Nam, một số sách Phúc Âm đã được dịch ra tiếng Việt với mục đích chuẩn bị cho công việc truyền giáo. Chỉ năm năm sau khi Tin Lành truyền vào Việt Nam (1911) thì vào năm 1916 các nhà lãnh đạo Giáo hội Tin Lành đã bắt đầu cho phiên dịch toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng Việt. Công trình này kéo dài gần 10 năm và đến năm 1926, các tín hữu Tin Lành Việt Nam đã có bộ Kinh Thánh đầu tiên bằng ngôn ngữ của mình.

Căn cứ vào những tài liệu từ Giáo hội Tin Lành, Giáo hội Công giáo và các tài liệu khác, quá trình phiên dịch và xuất bản Kinh Thánh Việt ngữ có thể sơ lược như sau:

- Vào năm 1872, Giáo hội Công giáo Việt Nam xuất bản một cuốn sách hướng dẫn về giáo nghi, trong đó có dịch một số sách Phúc Âm trong Kinh Thánh. Cuốn sách này được phát hành tại Băng Cốc, Thái Lan.

- Về phía Giáo hội Tin Lành, năm 1890 ông M. Bonnet, Giáo sư Trường Ngôn ngữ Đông Phương tại Paris (Paris School of Oriental Language) đã dịch Phúc Âm sang tiếng Việt. Sau khi dịch xong, Phúc Âm Lu - ca đã được Thánh Kinh Hội Anh quốc (British & Foreign Bible Society- BFBS, Paris) xuất bản và sách này được tái bản lần đầu tiên năm 1898. Năm 1899, Thánh Kinh Hội Anh quốc (BFBS) cho xuất bản Phúc Âm Mác tại Singapore.

- Năm 1900, Thánh Kinh Hội Anh quốc xuất bản Phúc Âm Giăng và đến năm 1903 xuất bản sách Công vụ Các sứ đồ tại Paris. Hai bản dịch này do Walter James, nhân viên của Thánh Kinh Hội Anh quốc thực hiện.

- Năm 1913 - 1914, Giáo hội Công giáo đã xuất bản Kinh Thánh Cựu ước, bản dịch này được in song ngữ với bản La tinh Vulgate. Năm 1916 phát hành Tân ước và cũng in song ngữ, một bên chữ Việt một bên chữ Latinh. Bản dịch này do Linh mục Albert Schlicklin thực hiện, dịch từ bản Kinh Thánh Latinh Vulgate, là bản Kinh Thánh được Vatican chính thức công nhận. Linh mục Albert Schlicklin thường được các học giả Công giáo Việt Nam gọi là Cố Chính Linh, bản dịch này được các Giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris tại Hồng Công phát hành.

- Năm 1917, Thánh Kinh Hội đã xuất bản Phúc Âm Mác tại Hà Nội. Có lẽ đây là phần Kinh Thánh đầu tiên của Giáo hội Tin Lành in tại Việt Nam.

- Năm 1923, Thánh Kinh Hội Anh quốc xuất bản Kinh Thánh Tân ước tại Hà Nội. Toàn bộ Kinh Thánh được thực hiện xong năm 1925 và xuất bản năm 1926 tại Thượng Hải, Trung Quốc. Bản dịch này do một nhóm học giả gồm có cụ Phan Khôi, ông bà giáo sĩ William C. Cadman, giáo sĩ John D. Olsen thực hiện với sự giúp đỡ của các cụ Trần Văn Dõng, sinh viên Trường Cao đẳng Đông Dương, cụ Tú Phúc và một số học giả khác, người phiên dịch chính là cụ Phan Khôi. Trong suốt 70 năm qua, bản Kinh thánh này được tái bản nhiều lần tại nước Anh, Hồng Công, Hoa Kỳ, Đức, Hàn Quốc và Việt Nam. Đây là bản Kinh Thánh Việt ngữ được ấn hành và sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Mặc dù chưa có thống kê chính thức nhưng ước tính số lượng mỗi lần tái bản Kinh Thánh là: từ 5.000 - 10.000 cuốn. Trong suốt 70 năm qua, số Kinh Thánh phát hành đã được khoảng vài trăm ngàn cuốn, có lẽ đây là cuốn sách Việt ngữ được phát hành nhiều nhất từ trước đến nay.

- Năm 1951, Thánh Kinh Hội Anh quốc tại Hồng Công cho xuất bản sách Giăng và sách Công vụ. Bản dịch mới này do Mục sư Văn Huyên, Giáo sĩ John D. Olsen, Mục sư Nguyễn Văn Vạn và Mục sư Phan Đình Liệu thực hiện. Đến năm 1952, Thánh Kinh Tân ước Nhuận Chánh được dịch xong, Ban Chấp hành Trung ương của Hội thánh Tin Lành Việt Nam chấp thuận và cho ấn hành. Năm 1954, Thánh Kinh Hội Anh quốc cho phát hành bản dịch Tân ước Nhuận Chánh nêu trên tại Sài Gòn, sau đó bản dịch này được tái bản nhiều lần vào các năm 1957, 1960 và 1968. Bản dịch Tân ước này được các học giả gọi là bản dịch Việt văn 1952.

- Năm 1962, Thánh Tâm Biệt Thư tại Đà Lạt đã xuất bản Ngũ Kinh Môi Se, Thi Thiên và Thánh Kinh Tân ước do Linh mục Gerard Gagnon thực hiện; năm 1963, tiếp tục xuất bản những phần còn lại của Thánh Kinh Cựu ước gồm những sách Giôsuê cho đến sách Gióp và các sách Tiên tri từ Ê sai cho đến Malachi.

Năm 1969, Nhà xuất bản Đức Mẹ tại Sài Gòn phát hành Thánh Kinh Tân ước do Linh mục Nguyễn Thế Thuấn phiên dịch. Năm 1970, Linh mục Trần Hữu Thanh đã sửa chữa lại bản dịch này cho phổ cập lại với giọng văn hiện đại và xuất bản nó để sử dụng trong Nha Tuyên uý Công giáo của Quân đội Việt Nam Cộng hoà.

- Năm 1969, Thánh Kinh Hội Việt Nam cho ấn hành các sách Công vụ, Phi-lê-môn, Gia-cơ, I & II Phi-e-rơ tại Sài Gòn. Đây là một phần trong một đề án phiên dịch mới gọi là bản dịch phổ thông của Thánh Kinh Hội Việt Nam.

- Năm 1970, thi sĩ Nguyễn Xuân Hồng đã dịch Phúc Âm Mác và được in với nhan đề Vào Đời, bản dịch mới này được phòng sách Tin Lành Sài Gòn xuất bản. Công tác phiên dịch và xuất bản được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Living Bible International (LBI).

- Năm 1971, Nhà xuất bản Ra Khơi tại Sài Gòn đã phát hành Kinh Thánh toàn bộ do Linh mục Trần Đức Huân thực hiện với sự giúp đỡ của một Uỷ ban phiên dịch, Uỷ ban này đặt dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của Giám mục Trương Cao Đại.

- Vào năm 1973, Thánh Kinh Hội Quốc tế đã tổ chức một khoá huấn luyện cho các nhân viên phiên dịch Kinh Thánh tại Đà Lạt. Đại diện của các giáo phái Tin Lành và Công giáo đã đến tham dự, các đại biểu đã bàn thảo về một đề án phiên dịch Kinh Thánh dựa theo khuôn mẫu bản dịch Jêrusalem, là bản dịch mà cả hai Giáo hội Công giáo và Tin Lành cùng phối hợp thực hiện. Năm 1974, Mục sư Nguyễn Thỉ và Mục sư Trần Đào đại diện cho Hội thánh Tin Lành Việt Nam phối hợp bàn thảo với Linh mục Hoàng Đắc Ánh, Linh mục Trần Phúc Nhân về những đường lối và nguyên tắc thực hiện. Sau ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975) Mục sư Nguyễn Thỉ và Mục sư Trần Đào ra nước ngoài, hai linh mục Công giáo ở lại tiếp tục dự án phiên dịch Kinh Thánh. Năm 1985, Thánh Kinh Tân ước được dịch xong và đã được Toà Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh phát hành vào năm 1994 với sự hỗ trợ của Thánh Kinh Hội Liên Hiệp (UBS).

- Năm 1976, toàn bộ Thánh Kinh do Linh mục Nguyễn Thế Thuấn thực hiện đã được phổ biến tại Sài Gòn. Phần Tân ước trong bản dịch này được phiên dịch nguyên văn chữ Hy Lạp, đến năm 1980 các linh mục dòng Chúa Cứu Thế tại La Verne, California đã cho xuất bản toàn bộ bản dịch Kinh Thánh của Linh mục Nguyễn Thế Thuấn tại California.

- Năm 1982, Hội Living Bible International tại Hồng Công đã phát hành Thánh Kinh Tân ước do Mục sư tiến sĩ Lê Hoàng Phu thực hiện. Bản dịch này thường được độc giả biết đến dưới tên Thánh Kinh Tân ước Diễn ý. Cũng vào đầu thập niên 1980 Giáo hội Công giáo Việt Nam phát hành bản dịch Kinh Thánh Tân ước do Hồng Y Trịnh Văn Căn thực hiện tại Hà Nội, bản dịch này được cộng đồng Công giáo Việt Nam tái bản lần thứ nhất vào năm 1985 tại Orange County, CA.

- Năm 1987, Vietnamese Bible Inc được thành lập tại Midland, Taxas với mục đích thực hiện một bản Kinh Thánh Việt ngữ trung thực, hiện đại, truyền đạt được chân lý của Chúa Jêsu. Lúc đầu, Vietnamese Bible Inc do các mục sư Báp Tít Việt Nam khởi xướng, sau đó dự án mở rộng và mời các mục sư thuộc các giáo phái Tin Lành khác nhau cùng cộng tác. Thành phần của Uỷ ban phiên dịch gồm có các Mục sư Lê Hoàng Phu, Võ Ngọc Thiên Ân, Trần Đào, Nguyễn Hữu Cường, Mai Hữu Phước… Năm 1991, Vietnamese Bible Inc tại Midland (TX) đã phát hành thử nghiệm một bản dịch bốn sách Phúc Âm.

Đến năm 1994, Toà Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất bản 30.000 Thánh Kinh Tân ước, công trình này được thực hiện bởi Linh mục Hoàng Đắc Ánh và Linh mục Trần Phúc Nhân. Năm 1995 toàn bộ Kinh Thánh của Giáo hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đã được tái bản ở Đà Nẵng. Bộ Kinh Thánh tái bản lần này là bản Kinh Thánh năm 1926.

Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng tự do tôn giáo và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tính đến thời điểm này việc phiên dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt đã được Giáo hội Công giáo Việt Nam và các Giáo hội Tin Lành dịch và cho in ấn tương đối phong phú và đầy đủ. Nhờ đó, mà tín đồ đạo Công giáo và Tin Lành trong cả nước được tiếp xúc, tìm hiểu, cầu nguyện Kinh Thánh bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình, góp phần thực hiện đường hướng “Sống Phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” và “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của đạo Công giáo và đạo Tin Lành.

* Chuyên viên Ban Dân tộc và Tôn giáo, cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 

  | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       


 

 
 
 

  

 

 

 

 

 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn