Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 
 
 

 



   


              
 

     Sự kiện

   LTS: Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Tạp chí Mặt trận giới thiệu 3 bài bố trí trong chủ đề Sự kiện - Lý luận và 2 bài trong chủ đề nghiên cứu địa phương. Tạp chí trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài của tác giả Trần Trọng Tân.

MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM
VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

                                                                                             TRẦN TRỌNG TÂN*

    Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, đế quốc Mỹ trở thành đế quốc giàu có và hùng mạnh nhất thế giới. Đế quốc Mỹ đã đứng ra bảo vệ và cứu nguy cho cả hệ thống đế quốc chủ nghĩa đang lâm vào một cuộc tổng khủng hoảng mới, trước sức tiến công mạnh mẽ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa. Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là ngọn cờ tiêu biểu cho xu thế phát triển tất yếu của phong trào giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ đầu những năm 60, đế quốc Mỹ trong thực hiện chiến lược toàn cầu đã nhằm vào Việt Nam, vì chúng cho đây là điểm nóng bỏng nhất trong trận tuyến ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam lần thứ hai, mở đầu là ngày 23-9-1945 ở Sài Gòn, Mỹ đã tiếp sức cho Pháp về vũ khí, phương tiện và tài chính. Sau khi thực dân Pháp thua trận, Mỹ vội vã lập ra khối quân sự Đông Nam Á và hất cẳng Pháp. Mỹ tham dự Hội nghị quốc tế ở Giơnevơ tháng 7-1954, nhưng không ký vào Tuyên bố chung để tránh lực cản về pháp lý quốc tế khi xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta, biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở vùng Đông Nam châu Á.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trở thành cuộc đọ sức điển hình, vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc mang tính chất thời đại sâu sắc, là cuộc chiến tranh cứu nước dài ngày nhất, ác liệt và phức tạp nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời vào lúc đế quốc Mỹ thi hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, là cuộc chiến tranh bằng lực lượng quân đội Sài Gòn do Mỹ lập ra với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ (đội lốt cố vấn). Chúng tập trung sức càn quét, bắt lính, gom dân, lập “Ấp chiến lược” hòng tách Đảng ta ra khỏi dân, “tát nước bắt cá”.

Tuy nhiên, về tình hình cách mạng Việt Nam lúc này, Đảng ta đã có nhận định: “Thời kỳ tạm ổn của Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu, các hình thức du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện mở đầu cho một cao trào cách mạng ngày càng rộng lớn”. Về hình thức và phương châm, Đảng ta cũng chỉ rõ: “Đến nay do lực lượng so sánh đã thay đổi, cần phải chuyển phương châm đấu tranh: đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị và quân sự”. Đây chính là điều kiện và thời cơ cách mạng lúc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.

Lúc này cũng là lúc mà mưu lược của Đảng về công cuộc giải phóng miền Nam đã được xác định hoàn chỉnh, với nội dung chủ yếu là:

- Xác định rõ, tuy miền Bắc và miền Nam có chiến lược cách mạng riêng, nhưng cả hai miền đều có nhiệm vụ chung là chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cách mạng miền Nam có tác dụng “quyết định trực tiếp” đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, cách mạng ở miền Bắc có tác dụng “quyết định nhất” đối với sự phát triển của cách mạng cả nước.

- Miền Bắc phải dựa vào Tuyên bố chung ở Hội nghị Giơnevơ, là cơ sở pháp lý quốc tế, để đấu tranh về chính trị và ngoại giao. Miền Nam đấu tranh bằng bạo lực chính trị kết hợp với tấn công về quân sự tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa, nhưng phải giữ thế “tức nước vỡ bờ”. Tuy nhiên khi sử dụng lực lượng tự vệ, vũ trang tuyên truyền cần phải thấu suốt nguyên tắc phục vụ đấu tranh chính trị, tuyệt đối không để địch kiếm cớ cho là có lực lượng miền Bắc đưa vào. Sau khi Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, thì việc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mới nói ra công khai.

 Mục tiêu của cuộc kháng chiến là phải đánh bại cả Mỹ lẫn ngụy nhưng trước tiên phải đánh cho Mỹ cút, sau đó mới đánh cho ngụy nhào.

 - Ở miền Nam cần phải xây dựng lực lượng và phát động phong trào đấu tranh ở cả 3 vùng chiến lược: vùng rừng núi, vùng đồng bằng và vùng đô thị, nhất là đô thị Sài Gòn; tiến hành đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao và làm công tác binh vận, địch vận. Đối với gia đình có con em phải cầm súng cho giặc, cần nhìn nhận là gia đình đau khổ. Về lực lượng vũ trang, chú trọng xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; dựa vào thế trận lòng dân và chú trọng xây dựng căn cứ kháng chiến.

Với tinh thần đó, ngày 15-2-1961 tại chiến khu D, một cuộc hội nghị quân sự quan trọng được tổ chức để thống nhất các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng ở miền Nam. Hội nghị quyết định thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam thành “Giải phóng quân miền Nam” và đặt dưới sự chỉ huy chung là Bộ Tư lệnh Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại biểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã trao cho quân đội và các binh chủng thuộc Giải phóng quân các lá quân kỳ có hàng chữ “Giải phóng quân anh dũng chiến thắng”.

Tháng 10-1961, Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam bàn về phương hướng, nhiệm vụ cách mạng. Hội nghị đã nêu lên 10 công tác cụ thể nhằm góp phần đưa cách mạng tiến lên trong giai đoạn mới. Sau Hội nghị này, căn cứ vào yêu cầu thực tiễn của cách mạng, Đảng bộ miền Nam đề nghị và Trung ương Đảng đã quyết định Đảng bộ miền Nam lấy tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam. Ngày 1-1-1962, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ cương lĩnh của mình. Cũng trong tháng 1-1962, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam thành lập, có điều lệ riêng.

- Miền Nam có tổ chức Mặt trận riêng, nhân sự tiêu biểu phải là người tại chỗ có uy tín đối với nhân dân, công khai hoạt động như là một Mặt trận độc lập. Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam là một thành viên của Mặt trận. Các lực lượng vũ trang cách mạng cũng thuộc Mặt trận.

Ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành thuộc vùng giải phóng tỉnh Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập với Chương trình gồm 10 điểm:

1. Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, thành lập chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ.

2. Thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ.

3. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, thực hiện cải thiện dân sinh.

4. Thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, làm cho người cày có ruộng.

5. Xây dựng nền văn hóa, giáo dục dân tộc, dân chủ.

6. Xây dựng một quân đội bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

7. Thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, bảo hộ quyền lợi chính đáng của ngoại kiều và kiều bào.

8. Thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập.

9. Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.

10. Chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình thế giới.

Sau ngày được giải thoát khỏi nơi bị địch quản thúc tại Tuy Hòa (Phú Yên), luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một vị trí thức có uy tín lớn, được Uỷ ban Trung ương Mặt trận trong kỳ họp tháng 2-1962, bầu làm Chủ tịch.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, có cờ Mặt trận và có bài hát Møặt trận, có Thông tấn xã Giải phóng (LPA:Libération Press Agency), có Đài phát thanh Giải phóng, có Báo Giải phóng, có vùng căn cứ ở Bắc Tây Ninh, có đường dây liên lạc đến các nơi bằng vô tuyến điện, đường bộ, đường bay... Mặt trận Dân tộc Thống nhất ở miền Nam có thành phần rộng rãi, đường đi đến mục tiêu có nhiều bước đệm, linh hoạt và uyển chuyển, coi những bước đệm tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, hoà bình, trung lập là mục tiêu để thu hút... Đại hội Mặt trận lần thứ nhất đã ra một bản tuyên bố quan trọng, trong đó khẳng định nhiệm vụ chung của Mặt trận là: “Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới”. Cuối năm 1965, lúc đế quốc Mỹ bị thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” chuyển qua thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, trên Đài phát thanh Giải phóng, hàng ngày vang lên khẩu hiệu: “Giặc Mỹ vào càng đông, diệt giặc Mỹ càng nhiều, giành thắng lợi càng lớn”. Từ đó, Mặt trận đã phát động phong trào thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.

Tiếp theo sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mang tính chiến lược, còn có Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, một tổ chức đồng minh do luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Ngoài ra còn có các hội, nhóm độc lập của những người có cảm tình với Mặt trận, thậm chí có cả phần tử thân Pháp, phần tử không chống Mỹ triệt để nhưng có khuynh hướng chủ hòa, cũng được vận động hướng về Mặt trận.

Trước khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, trên thực tế là người đại diện chính thức của nhân dân miền Nam. Tại các địa phương, Mặt trận tồn tại và phát triển với tư cách là chính quyền cách mạng ở các vùng giải phóng, là đại diện cho chính quyền cách mạng ngay trong các vùng địch tạm thời kiểm soát. Mặt trận có cơ quan đại diện ở Hà Nội, ở Phnôm Pênh và một số nước khác. Nhiều nhà báo Trung quốc, Liên Xô, Pháp, Ba Lan, Úc... đã vào miền Nam tiếp xúc với Mặt trận và tuyên truyền cho Mặt trận. Đặc biệt, Cu Ba còn lập tòa Đại sứ bên cạnh Mặt trận. Mặt trận đã góp phần hình thành trên thực tế một liên minh ba nước Đông Dương cùng chống Mỹ và tranh thủ nhân dân toàn thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược, trong đó có phong trào yêu nước của Việt kiều, phong trào phản chiến rất quyết liệt ở Mỹ. Qua hoạt động của Mặt trận, uy tín của phong trào kháng chiến chống Mỹ cứu nước không ngừng mở rộng, nâng cao.

Đại biểu của Mặt trận đã tham gia cuộc đàm phán bốn bên ở Pari trong 4 năm, đến ngày 27-1-1973 Mỹ buộc phải ký hiệp định Pari về Việt Nam, chịu rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Ngày 30-4-1975, cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phấp phới tung bay trên nóc dinh Tổng thống Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn theo Mỹ hoàn toàn bị sụp đổ, đánh dấu sự toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thắng lợi đó cho thấy rõ vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đối với công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được thực hiện theo mưu lược của Đảng Cộng sản Việt Nam là vô cùng to lớn.

* Tác giả nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương Đảng: năm 2010, có 4 bài ở các số 78 (tr.4), 83 (tr.3), 84 (tr.12), 86.

                                                                                              | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |         



MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM
VỚI MỤC TIÊU ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

                                                                                                         PHẠM PHÚC VĨNH*

Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đến năm 1959, thực hiện chủ trương của Đảng, nhân dân miền Nam đã kiên trì sử dụng các hình thức đấu tranh hòa bình đòi thi hành Hiệp định, tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước và đòi chấm dứt tình trạng khủng bố, cướp ruộng của nông dân, thực hiện dân chủ. Tuy nhiên, những yêu cầu hợp pháp, ôn hòa của nhân dân miền Nam đã được chính quyền Sài Gòn trả lời bằng những chiến dịch khủng bố đẫm máu. Chính sách khủng bố của chính quyền Sài Gòn đã đặt nhân dân miền Nam vào thế phải vùng lên để tự bảo vệ sinh mạng và tài sản của mình, giành độc lập cho miền Nam và thống nhất đất nước.

Đầu năm 1959, Hội nghị 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua nghị quyết chuyển chiến lược cách mạng miền Nam từ đấu tranh hòa bình lên thành cuộc đấu tranh có kết hợp sử dụng lực lượng vũ trang. Từ chủ trương mới của Đảng, phong trào đồng khởi bắt đầu từ tỉnh Bến Tre đã bùng lên thành cuộc đồng khởi mãnh liệt, nhân dân miền Nam đã làm chủ nhiều thôn, làng, ấp, bản; vùng giải phóng được mở rộng nhanh chóng. Cách mạng miền Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới, với thế và lực được nâng lên một bình độ cao hơn.

Bên cạnh phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh hòa bình chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn của các lực lượng yêu nước tiến bộ khác, như: các nhân sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên, phụ nữ, giai cấp tư sản dân tộc, các vị chức sắc, tu sĩ tiến bộ trong các tôn giáo diễn ra khá mạnh mẽ ở Sài Gòn và các đô thị lớn khắp miền Nam. Ngoài ra, một bộ phận trong lực lượng vũ trang của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và lực lượng Bình Xuyên lúc bấy giờ cũng quay lại chống chính quyền Sài Gòn và Mỹ. Và ngay cả trong nội bộ chính quyền Sài Gòn cũng đã có sự phân hóa, nhiều nhân viên và sĩ quan quân đội Sài Gòn cũng không đồng tình với chính sách của Ngô Đình Diệm, tiêu biểu là cuộc đảo chính ngày 11-11-1960 của Nguyễn Chánh Thi.

Có thể nói, sau phong trào Đồng khởi, các lực lượng yêu nước chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn phát triển đa dạng, nhanh chóng và mạnh mẽ, song vẫn phân tán. Các lực lượng trên tuy có khác nhau về đường lối, phương pháp đấu tranh, nhưng tất cả đều có một điểm chung là lòng yêu nước thiết tha, mong muốn nước nhà được giải phóng, độc lập, tự do và thống nhất. Nếu bỏ qua những điểm khác biệt nhỏ, đặt mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, dân chủ và hòa bình lên hàng đầu, thì tất cả các lực lượng này sẽ trở thành một khối đoàn kết to lớn, không sức mạnh nào có thể địch nổi.

Thực tế trên đặt ra yêu cầu hết sức cấp thiết đối với Đảng ta là cần phải có một tổ chức công khai để tập hợp tất cả các lực lượng yêu nước ở miền Nam dưới một ngọn cờ duy nhất, tạo nên sức mạnh thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ và chính quyền tay sai của Mỹ để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết của tổ tiên và kinh nghiệm tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thực tiễn đấu tranh cách mạng ở miền Nam, Đảng ta đã chủ trương thành lập một Mặt trận Dân tộc Thống nhất ở miền Nam nhằm tập hợp tất cả các tổ chức, đoàn thể, cá nhân yêu nước phục vụ cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Sài Gòn tay sai của Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành thuộc vùng giải phóng Tây Ninh (nay thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh), đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và các đảng phái đã tiến hành Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Chương trình của Mặt trận khẳng định: “Phải hòa bình! Phải độc lập! Phải dân chủ! Phải cơm no, áo ấm! Phải hòa bình, thống nhất Tổ quốc! Đó là nguyện vọng thiết tha, cấp bách nhất của chúng ta. Nguyện vọng đó đã trở thành ý chí sắt đá, sức mạnh phi thường thúc đẩy đồng bào ta, phải đoàn kết lại, phải kiên quyết đứng lên đấu tranh đánh đổ ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và bọn tay sai để cứu nước nhà”.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời là một tất yếu, là kết quả của sự kết hợp giữa truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc Việt Nam với thực tế nhu cầu đấu tranh cách mạng ở miền Nam Việt Nam.

Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tập hợp tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước tán thành hòa bình, trung lập, vì lợi ích tối cao của Tổ quốc để cùng nhau phấn đấu cho độc lập, dân chủ, hòa bình ở miền Nam Việt Nam và thống nhất đất nước là chủ trương nhất quán của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, kể từ khi ra đời cho đến khi hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (4-2-1977). Chương trình của Mặt trận đã xác định: “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước miền Nam Việt Nam, không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình, trung lập ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

Trả lời câu hỏi: “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho ai?” của phóng viên báo L’Humanité ngày 20-7-1964, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã khẳng định: “Ở miền Nam Việt Nam, chỉ có một nhóm rất ít người cam tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ để đổi lấy đô la của chúng, còn tất cả nhân dân miền Nam đều thiết tha yêu nước, mong muốn nước nhà được giải phóng, độc lập, tự do. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam bao gồm tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo và nhân sĩ yêu nước tán thành hòa bình, trung lập”.

Ngoài ra, Mặt trận còn chủ trương sẵn sàng đón nhận cả những sĩ quan, binh lính, nhân viên của chế độ Sài Gòn đã bỏ hàng ngũ địch, trở về với nhân dân; tranh thủ, thuyết phục và luôn để ngỏ khả năng hợp tác với cả những lực lượng không tán thành chương trình của Mặt trận nhưng có cùng chủ trương chống Mỹ - Diệm với Mặt trận. Trong bài trả lời câu hỏi về thái độ của Mặt trận đối với những người ngoài Mặt trận ở miền Nam Việt Nam, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ viết: “Có những phe phái, những nhóm trong các tổ chức chính trị khác, trong các tôn giáo, trong binh lính và nhân viên ngụy quyền miền Nam, tuy chưa hoàn toàn tán thành chương trình của Mặt trận, nhưng đã liên hiệp hành động với Mặt trận. Chúng tôi biết rõ hiện nay, có nhiều người vì lẽ này hay lẽ khác chưa tham gia Mặt trận, nhưng trong những hoàn cảnh thuận lợi nào đó họ sẽ gia nhập Mặt trận, hoặc liên hiệp hành động chặt chẽ với Mặt trận. Đối với những người ngoài Mặt trận hiện đang ở trong nước hoặc ở ngoài nước, nhưng tán thành hòa bình, trung lập, vì lợi ích tối cao của Tổ quốc, Mặt trận sẵn sàng bắt tay với họ để cùng nhau phấn đấu cho độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập ở miền Nam Việt Nam”.

Trong bối cảnh đất nước bị mất độc lập, chủ quyền, bị kẻ thù chà đạp, quyền lợi chung nhất của tất cả những người Việt Nam yêu nước giờ đây chính là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, hòa bình và dân chủ. Và đó cũng chính là lợi ích cao nhất, vượt lên trên cả lợi ích cá nhân, lợi ích giai cấp và lợi ích tôn giáo. Chủ trương đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, đấu tranh vì hòa bình, độc lập, cải thiện dân sinh, dân chủ và trung lập ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đáp ứng được quyền lợi cao nhất và nguyện vọng thiết tha, cấp bách nhất của tất cả những người Việt Nam yêu nước.

Với chủ trương đúng đắn, Mặt trận đã nhanh chóng trở thành một tổ chức chính trị lớn mạnh,  là trung tâm đoàn kết mọi lực lượng yêu nước ở miền Nam Việt Nam với nhiều chính đảng và tổ chức đoàn thể, như: Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Nam Việt Nam, Đảng Dân chủ miền Nam Việt Nam đại diện cho giới trí thức và những nhà kinh doanh công thương nghiệp, Đảng Xã hội cấp tiến đại diện cho giới trí thức yêu nước và tiến bộ; Hội Lao động giải phóng, Hội Nông dân giải phóng, Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng, Hội Liên hiệp Sinh viên, học sinh giải phóng, Hội Văn nghệ giải phóng, Hội Nhà báo yêu nước và dân chủ, Hội Nhà giáo yêu nước, Hội Những người kháng chiến cũ, Hội Những người công giáo kính Chúa yêu nước, Hội Lục Hòa phật tử miền Nam và một số Nhóm yêu nước trong đạo Cao đài, Hòa hảo, Phong trào tự trị Tây Nguyên... Mặt trận còn là nơi quy tụ của nhiều cá nhân xuất thân từ nhân viên trong Quân đội, Quốc hội và chính quyền Sài Gòn, Việt kiều yêu nước và cả những người chỉ có những yêu sách nhân đạo, yêu sách lành mạnh hóa xã hội, thậm chí một bộ phận trong “lực lượng thứ ba”, sau hiệp định Pa-ri cũng dần dần ngả hẳn về phía Mặt trận.

Khối đại đoàn kết dân tộc được tập hợp dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thực sự là một nguồn lực to lớn, không ngừng tăng lên và trở thành sức mạnh vô địch, bảo đảm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Sau đại thắng Mùa xuân năm 1975, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Chính sách trước sau như một của Chính phủ Cách mạng là thực hiện đại đoàn kết toàn dân, thực hiện hòa hợp dân tộc, nghiêm cấm mọi hành động gây chia rẽ, thù hằn, nghi kị trong nội bộ nhân dân và giữa các dân tộc”. Đến đầu năm 1977, hai miền Nam - Bắc đã thống nhất cả về lãnh thổ lẫn nhà nước, một yêu cầu mới đặt ra là cần phải thống nhất toàn bộ lực lượng yêu nước trên toàn quốc thành một khối đoàn kết mới, chặt chẽ hơn, rộng rãi hơn để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tại Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (từ ngày 31-1 đến ngày 4-2-1977), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam đã hòa vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời trên cơ sở nhu cầu của thực tiễn đấu tranh cách mạng ở miền Nam và kế thừa truyền thống yêu nước, đại đoàn kết của dân tộc. Trong 17 năm tồn tại, trong đó đặc biệt là 15 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã liên tục giương cao ngọn cờ dân tộc, nhờ vậy đã động viên được một cách cao nhất tinh thần yêu nước ở mọi tầng lớp nhân dân, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết được, tạo ra khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Đảng lãnh đạo cộng với sự chi viện của miền Bắc và sự ủng hộ của bè bạn quốc tế đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn đưa sự nghiệp cách mạng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi này một lần nữa khẳng định sức mạnh to lớn của truyền thống đại đoàn kết dân tộc của Việt Nam, đồng thời thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng.

Trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập với thế giới, những bài học kinh nghiệm về việc xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong lịch sử dân tộc nói chung và trong kháng chiến chống Mỹ nói riêng cần phải được kế thừa và phát huy một cách có hiệu quả để tạo ra nội lực mạnh mẽ, làm nền tảng vững chắc cho việc tranh thủ có hiệu quả các nguồn ngoại lực, đưa đất nước phát triển ổn định và bền vững.

 Tài liệu tham khảo
1. Đại tướng Lê Văn Dũng (2010), Đại đoàn kết dân tộc - nguồn sức mạnh vô địch bảo đảm thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
   http://www.tuyengiao.vn/home/tutuong/lyluanthuctientutuong/2010/4/1972
2. Trần Bạch Đằng (Chủ biên) (1993), Chung một bóng cờ (Về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam), Nxb CTQG, Hà Nội.
3. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1961), Nxb Sự Thật, HN.
4. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 6.
5. Nguyễn Hữu Thọ (1996), Gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội.
6. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2008), Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất,
http://www.mattran.org.vn/Home/GioithieuMT/mtdttt10.htm.
* Đại học Đồng Tháp.

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



Mãi mãi còn đó sự nghiệp vẻ vang của
MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM

                                                                                                    NGUYỄN QUÝ TỴ*

    Cách đây gần 50 năm, ngày 20-12-1960 tại một “Làng rừng” (tên gọi các căn cứ lõm ở R) thuộc xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là huyện Tân Thành) trong vùng giải phóng tỉnh Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, tổ chức cách mạng hiện thân cho khối đoàn kết của những người dân miền Nam yêu nước, tán thành độc lập, hòa bình và dân chủ ở miền Nam, đã ra đời.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Ủy ban Trung ương lâm thời Mặt trận, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, các tổ chức và mọi người dân miền Nam yêu nước tán thành độc lập, hòa bình và dân chủ đã làm dấy lên một cao trào cách mạng chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, rầm rộ trên khắp các vùng nông thôn, miền núi, đồng bằng và khu vực đô thị miền Nam. Với bản Tuyên ngôn và Chương trình hành động 10 điểm, Mặt trận đã vạch ra Cương lĩnh đoàn kết dân tộc rộng rãi và những chính sách cơ bản nhằm tiến tới thực hiện hoà bình, độc lập, dân chủ đáp ứng lợi ích, yêu cầu cơm no, áo ấm của mọi tầng lớp nhân dân. Nhiều tổ chức cách mạng như: Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng, Đảng Xã hội cấp tiến Việt Nam... đã tự nguyện gia nhập hàng ngũ Mặt trận. Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở nhiều tỉnh cũng nhanh chóng được thành lập. Ngày 15-2-1961, lễ ra mắt chính thức Uỷ ban Trung ương lâm thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được tiến hành và từ đây cũng chính thức xuất hiện lá cờ đấu tranh của Mặt trận.

Năm 1962, để đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng và phong trào quần chúng đang dâng cao, Ủy ban Trung ương lâm thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã triệu tập Đại hội lần thứ nhất (từ ngày 16-2 đến ngày 3-3-1962). Do là Đại hội tượng trưng cho ý chí đoàn kết dân tộc nên đã tập hợp được đông đảo đại biểu của mọi tầng lớp xã hội, các tôn giáo, dân tộc, nhiều xu hướng chính trị khác nhau. Đại hội đã xác nhận, bổ sung Cương lĩnh và trao đổi nhiều vấn đề lớn của chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách ngoại giao hoà bình trung lập. Đại hội cũng đã nhất trí bầu ra một Ủy ban Trung ương chính thức của Mặt trận với đại diện của nhiều giai cấp, chính đảng, thành phần xã hội. Hơn thế, Đại hội còn dành ra một số ghế và chân thành kêu gọi các đoàn thể, đảng phái, nhóm chính trị xã hội, các nhân sỹ trí thức ở trong và ngoài nước hãy tranh thủ điều kiện tích cực tham gia Mặt trận, cùng chia sẻ trách nhiệm với Mặt trận trong sự nghiệp đấu tranh vì chính nghĩa.

Với bản cương lĩnh được bổ sung, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính là hiện thân của chính nghĩa nên chính sách của Mặt trận không chỉ được nhân dân, các tổ chức và cá nhân trong nước hưởng ứng mà càng ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ ra thế giới, được nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý ở nhiều nước đồng tình và ủng hộ. Tháng 10-1963, Hội nghị Ủy ban Công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam, đại diện cho 120 triệu đoàn viên của Liên hiệp Công đoàn thế giới đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam, cả về tinh thần và vật chất. Và ngày 20-12, ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được lấy làm Ngày lao động và nhân dân thế giới đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam. Với xu thế đi lên của cách mạng nước ta, nhân dân tiến bộ trên khắp các châu lục đều công nhận và có nhiều hình thức phong phú ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Có thể nói, sau Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phong trào đấu tranh chính trị và tự vệ vũ trang trên toàn miền Nam đã dâng lên mạnh mẽ. Quân và dân miền Nam đã liên tục thu được những thắng lợi, đập tan chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đặc biệt là cao trào tiến công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân - 1968. Theo lời kêu gọi và dưới chính sách rộng mở của Mặt trận, ở nhiều nơi nhân dân từ các khu tập trung kìm kẹp của Mỹ, ngụy đã trở về quê cũ làm ăn, xây dựng vùng giải phóng. Trong các đô thị, phong trào đấu tranh của công nhân, các tầng lớp xã hội, đặc biệt phong trào đấu tranh, biểu tình của học sinh, sinh viên, tín đồ các tôn giáo ngày càng dâng cao mạnh mẽ và quyết liệt hơn.

Ngày 8-1-1967, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội bất thường để công bố quan điểm của Mặt trận nhằm tranh thủ thêm các tổ chức và cá nhân có khuynh hướng hòa bình, trung lập trong nước và ngoài nước, củng cố thêm lực lượng đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Sau Hội nghị mở rộng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (tháng 10-1967), phong trào cách mạng miền Nam tiếp tục dấy lên mạnh mẽ. Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, bằng sức mạnh chính nghĩa và kiên trì những nguyên tắc đã đề ra trong Cương lĩnh của mình1, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đẩy Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vào tình thế bị động, lúng túng.

Trong cao trào tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân - 1968, ngày 20-4, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được thành lập. Có thể nói, đây là một sự kiện quan trọng, một lần nữa khẳng định sức mạnh to lớn của lòng yêu nước, chính sách đoàn kết dân tộc rộng rãi đầy sáng tạo, biết tranh thủ mọi khuynh hướng, mọi lực lượng để tiến hành cuộc đấu tranh chính nghĩa chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta2.

Ngày 6-6-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam đã tiến hành Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Phong trào cách mạng sục sôi, chiến thắng ngày một to lớn, mạnh mẽ của nhân dân miền Nam cùng với việc đập tan cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc đã đặt Mỹ - ngụy trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, buộc chúng phải chấp nhận Hội nghị 4 bên tại Pari với sự hiện diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (tháng 1-1969) để bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27-1-1973 Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Tuy nhiên với bản chất hiếu chiến, Đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố bám lấy miền Nam Việt Nam và cố tình phá hoại Hiệp định. Trong tình hình đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra sức kêu gọi đoàn kết toàn dân trên tinh thần hòa hợp dân tộc, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, độc lập và chủ quyền thật sự, đẩy mạnh thực hiện các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, xây dựng một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập và phồn vinh, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc. Với khí thế cách mạng tiến công, dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Mặt trận, quân đội và nhân dân ta đã tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã giải phóng hoàn toàn miền Nam vào ngày 30-4-1975, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Đến giai đoạn này, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn thành sứ mạng lịch sử rất vẻ vang, góp phần đưa đất nước và dân tộc Việt Nam đến thống nhất, độc lập hoàn toàn. Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam họp từ ngày 31-1 đến ngày 4-2-1977 tại thành phố Hồ Chí Minh, đã thống nhất 3 tổ chức Mặt trận ở 2 miền là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành một Mặt trận duy nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay.

Như vậy, sau hơn 15 năm ra đời nhằm thực hiện sứ mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã viết nên một trang sử vàng làm vẻ vang cho đất nước. Truyền thống và tinh thần đoàn kết của hơn một thập kỷ hoạt động đấu tranh của Mặt trận đã để lại dấu ấn không phai nhòa, hòa quện và tiếp tục được phát huy trong sự nghiệp của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.

* TS, Nhà báo; Năm 2010 tác giả có 4 bài ở các số 75 (tr.10), 79 (tr.18), 81 (tr.34), 86.

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



CÔNG TÁC MẶT TRẬN THÁNG 12 NĂM 2010

                                                                         TÔ VĂN VỸ*

 Ảnh: Ông Vũ Trọng Kim, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo Sơ kết công tác thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn; giám sát đầu tư cộng đồng và Đề án 02-212  tại Đà Nẵng

Ngày 20-12-2010, đánh dấu 50 năm ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và đêm 31-12 sẽ tổ chức Chương trình “Nối vòng tay lớn”. Thiết thực chào mừng các sự kiện này, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên có rất nhiều hoạt động nổi bật.

1. Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam:

Sáng 20-12-2010, tại Hội trường Thống Nhất (thành phố Hồ Chí Minh), Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh sẽ tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, với mục đích: Thông qua hoạt động kỷ niệm để góp phần ôn lại lịch sử vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam gắn liền với chiến thắng oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thể hiện sự vận dụng sáng tạo, tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống đoàn kết của dân tộc trong công tác Mặt trận, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để giải quyết thành công cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam. Đó là những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu trong công tác Mặt trận về tập hợp, huy động, vận động quần chúng nhân dân, về phát huy tinh thần yêu nước và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế, về xây dựng “thế trận lòng dân” - thành trì và sức mạnh vô địch đánh bại bè lũ cướp nước và bán nước, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Những bài học lịch sử và hoạt động thực tiễn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ còn là đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn cho nhiều thế hệ tìm tòi, nghiên cứu, là những kinh nghiệm quý báu trong lịch sử vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam... Tại lễ kỷ niệm, Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc cho một số vị đã tham gia Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam và Lực lượng thứ 3.

Trước đó, ngày 19-12-2010, tại Hội trường Thành uỷ (số 111 đường Bà Huyện Thanh Quan, thành phố Hồ Chí Minh) sẽ tổ chức gặp mặt thân mật các vị đã tham gia Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam và Lực lượng thứ 3; tối 19-12-2010 có Chương trình văn nghệ đặc biệt chào mừng 50 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Công viên 23-9.

2. Chương trình “Nối vòng tay lớn”:

Đêm 31-12-2010, tại Nhà hát Lớn, Hà Nội tổ chức Chương trình “Nối vòng tay lớn” sẽ đấu giá một số hiện vật để góp tiền cho Quỹ “Vì người nghèo”; trước đó, ngày 26-11-2010 tại Hà Nội, ông Dương Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam thay mặt Ban Tổ chức “Nổi trống Lạc Hồng - Hào khí Thăng Long” đã bàn giao cho Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chiếc trống đồng có khắc hình 100 con rồng để đấu giá ủng hộ người nghèo trong đêm “Nối vòng tay lớn 31-12-2010”. Đây là chiếc trống được đúc riêng dành tặng người nghèo nằm trong chương trình dự án “Nổi trốâng Lạc Hồng - Hào khí Thăng Long” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Di sản văn hoá Việt Nam, Liên chi hội Di sản văn hoá Lam Kinh (Thanh Hoá), Hội Cổ vật Thanh Hoá, Hội Doanh nghiệp trẻ Thanh Hoá và Công ty Hữu nghị Á Châu tổ chức. Từ ngày 1-12-2010, Ban Tổ chức đêm “Nối vòng tay lớn” đã đưa hình ảnh chiếc trống đồng lên mạng để tổ chức bán đấu giá.

3. Một số công tác Mặt trận đáng chú ý:

Ngày 7-12-2010, đoàn cán bộ Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đi công tác theo Đề án 165 tại nước Cộng hoà Singapore và Malaysia, do Phó Chủ tịch Nguyễn Lam làm trưởng đoàn, về đến Hà Nội.

Ngày 7 và 8-12-2010, tại Đà Nẵng đã tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm công tác Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn; công tác Giám sát đầu tư của cộng đồng và Đề án 02-212 về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cộng đồng dân cư. Thành phần tham dự gồm Phó Chủ tịch phụ trách Dân chủ - Pháp luật và Trưởng ban Dân chủ - Pháp luật của 63 Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố; mỗi tỉnh, thành phố, còn có 1 đại diện Thanh tra nhân dân, 1 cán bộ Đề án 02-212 tại khu dân cư.

Cũng tại thành phố Đà Nẵng, Ban Tôn giáo - Dân tộc của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác dân tộc, công tác tôn giáo cho Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Ngày 10-12-2010, tổ chức Hội nghị sơ kết 1 năm thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tại cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Cuối tháng 12-2010, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tổ chức họp cụm Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại 7 cụm để tổng kết công tác Mặt trận

năm 2010.

* Nhà báo; năm 2010, tác giả có 7 bài ở các số 75 (tr.32), 80 (tr.66), 82 (tr.21), 83 (tr.14), 84 (tr.35), 85 (tr.7), 86.

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       


 
NHÌN LẠI NĂM 2010

                                                                                                       PHẠM VŨ HOÀNG*

      Còn khoảng 2 tuần nữa mới kết thúc năm 2010, nhưng đến lúc này đã có thể khái quát được toàn diện về một năm đã qua. Trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều sự kiện diễn ra hàng tháng, được nhiều phương tiện truyền thông nhìn nhận dưới nhiều góc độ, như: tổng hợp sự kiện hàng tháng của Tạp chí Nhịp cầu tri thức, khái quát hình ảnh & bình luận hàng tuần của VTV1... Trong bài này, khái quát 10 nhóm sự kiện có liên quan đến Việt Nam.

1. Hoạt động tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI

Năm 2010, Trung ương Đảng đã họp một số Hội nghị cấp Ban chấp hành, Ban Bí thư và Bộ Chính trị thảo luận nhiều vấn đề quan trọng của Đảng và đất nước; trong đó, Hội nghị trung ương 14 chuẩn bị những nội dung cần thiết cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Tại 63 tỉnh, thành phố đã diễn ra Đại hội Đảng cấp tỉnh; trong đó đã định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 của từng địa phương (tỉnh Sóc Trăng đưa ra 8 giải pháp để trở thành tỉnh phát triển trung bình khá vào năm 2015 ở đồng bằng Sông Cửu Long; Lạng sơn phấn đấu trở thành đầu mối trung chuyển thương mại trong quan hệ hợp tác với Trung Quốc và ASEAN...).

Bên cạnh đó, còn có nhiều hoạt động khác như: Tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh...

2. Hoạt động của Quốc hội

Quốc hội họp 2 kỳ đã thảo luận nhiều vấn đề lớn của đất nước, trong đó thông qua nhiều luật tạo cơ sở ổn định cho nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân (đã thông qua Luật Thuế bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng...).

Quốc hội còn nhiều hoạt động khác, trong đó có việc  chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ vào đầu năm 2011.

3. Hoạt động của Chính phủ

Năm 2010, Chính phủ có những hoạt động như điều hành nền triển kinh tế, phòng chống thiên tai..., mở rộng quan hệ đối ngoại.

Những trận bão lũ diễn ra ở miền Trung gây thiệt hại nhiều mặt cho vùng này, đã được Chính phủ, Mặt trận và nhân dân các vùng khác chung sức góp phần khắc phục. Sự tăng giá ở một số mặt hàng, đặc biệt giá vàng, đô la Mỹ, Chính phủ đã có những biện pháp bình ổn. Chính phủ cũng có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển như: tái cấu trúc VINASHIN nhằm khắc phục những sai phạm của tập đoàn kinh tế lớn này; phê duyệt chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2011- 2015... Chính phủ đã nỗ lực để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư nhân, từ đó tiếp tục tạo điều kiện cho khu vực tư nhân góp phần vào sự tăng trưởng của Việt Nam.

Nếu nhìn tổng thể, thì kinh tế - xã hội Việt Nam khá ổn định và đang phát triển. Tuy nhiên, đi sâu vào từng lĩnh vực sẽ thấy có nhiều vấn đề, như tham nhũng, lãng phí, giá cả biến động có lúc không kiểm soát được tác động mạnh đến người dân có thu nhập thấp. Không ít Bộ trưởng trong điều hành và khi trả lời chất vấn đã bộc lộ những mặt hạn chế.

4. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam & các Đoàn thể

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị duy nhất ở nước ta, đã kỷ niệm cấp nhà nước nhân 80 năm thành lập. Sự kiện này diễn ra trong nhiều tháng, với nhiều hoạt động như: Tổng kết 15 năm cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở Khu dân cư và ngày hội khu dân cư trong cả nước; tổng kết 10 năm cuộc vận động Ngày vì người nghèo và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo...

Nhiều tổ chức chính trị - xã hội kỷ niệm ngày thành lập, với những hoạt động đa dạng. Những hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và phong trào thi đua. Năm 2010, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam lần thứ 2 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng.

5. Hà Nội kỷ niệm 1000 năm

Hoạt động nổi bật đã lâu mới có là Lễ diễu binh - diễu hành diễn ra hoành tráng tại quảng trường Ba Đình; đây không chỉ là sự kiện chính trị - văn hoá lớn mà còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, một tinh thần hoà bình - hữu nghị.

Đặc biệt, nhiều công trình xây dựng được khẩn trương hoàn thành để chào mừng đại lễ, như: Đại lộ Thăng Long, Cung Trí thức Thành phố, Rạp Công nhân, Khu du lịch sinh thái cao cấp An Khánh... Những công trình này, thúc đẩy quá trình đô thị hoá thủ đô.

Dịp đại lễ còn diễn ra nhiều hoạt động khác. Trong đó, có hội thảo “1000 năm Thăng Long - Hà Nội: Những dấu ấn kiến trúc qua năm tháng”; với sự tham gia thảo luận của các kiến trúc sư Pháp, Nhật Bản, Italia, Đức, Australia và Việt Nam về các vấn đề: Đánh giá kiến trúc đương đại Hà Nội hai mươi năm qua; thách thức giữa bảo tồn và phát triển kiến trúc đương đại; giới thiệu và tôn vinh những công trình mới, góp phần tạo dựng diện mạo Thủ đô; kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng đô thị hiện đại và có bản sắc; định hướng phát triển kiến trúc Hà Nội thế kỷ XXI...

6. Những vấn đề về trật tự đô thị & giao thông

Nhiều đô thị được nâng cấp, nổi bật là mô hình phát triển thành phố Đà Nẵng. Nhưng nhiều đô thị còn không ít những bất cập như: Quy hoạch chưa phù hợp với nhu cầu phát triển, quản lý đô thị còn nhiều yếu kém về an toàn vệ sinh thực phẩm, giải phóng mặt bằng... Đối với giao thông đô thị, đặc biệt là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, còn nhiều điểm tắc nghẽn giao thông, úng ngập...

Để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế, Việt Nam cần từ khoảng 70 đến 80 tỷ đô la đầu tư vào hệ thống đường sắt, đường bộ và cơ sở hạ tầng cảng biển trong vòng từ 5 đến 10 năm tới đây. Nếu tính thêm cơ sở hạ tầng năng lượng, thì con số này lên đến 120 tỷ đô la. Năm 2010, đánh dấu một số nỗ lực thúc đẩy giao thông, như: tại Nghệ An, ngày 7-12, đã khởi công xây dựng Cảng biển nước sâu Cửa Lò, với tổng mức đầu tư 490 triệu USD. Cảng được đầu tư xây dựng theo 3 giai đoạn, nhằm đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa và phát triển KT - XH của tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ, cũng như phục vụ vận chuyển hàng hóa quá cảnh cho các tỉnh đông bắc Thái Lan, Lào... Cảng Cửa Lò là một trong 10 cảng biển trọng điểm trong cả nước được tập trung đầu tư. Tại TP. Hồ Chí Minh đã diễn ra hội thảo nhằm tìm “Giải pháp xây dựng trung tâm điều hành giao thông hiện đại”. Cũng tại TP. Hồ Chí Minh, từ tháng 8, Vietnam Airlines chính thức khai thác trở lại đường bay thẳng TP Hồ Chí Minh - Nagoya, Nhật Bản với tần suất 2 chuyến/tuần. Với đường bay này, Vietnam Airlines đang khai thác 45 chuyến bay thẳng hàng tuần tới 4 thành phố lớn tại Nhật Bản, trở thành hãng hàng không chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường vận tải hàng không giữa Việt Nam và Nhật Bản. Cũng trong lĩnh vực hàng không, đang thảo luận để sớm có quyết định cuối cùng về mở đường bay U-crai-na - Việt Nam; Trong tháng 11, đã ký Biên bản giữa Cục Hàng không Việt Nam và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) triển khai “Dự án Tăng cường năng lực để chuyển đổi sang hệ thống Thông tin, Dẫn đường, Giám sát / Quản lý không lưu mới (hệ thống CNS/ATM mới) tại Campuchia, Lào và Việt Nam”. Từ tháng 1-2011, hệ thống sử dụng công nghệ vệ tinh mới nhất để kiểm soát và điều hành bay nhằm đạt được an toàn và hiệu quả cao nhất trên không trung và tại mặt đất sẽ được giới thiệu và áp dụng tại Việt Nam, Lào và Campuchia. Dự án được thực hiện tại 3 quốc gia với tổng ngân sách được tài trợ bởi JICA khoảng 6 triệu đô-la Mỹ.

7. Khoa học & đào tạo

Nhiều sinh hoạt khoa học diễn ra tại Việt Nam như: Hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông lần thứ 2 do Học viện Quan hệ quốc tế và Hội Luật gia tổ chức; Hội thảo triển vọng quan hệ hợp tác Việt Nam - EU giai đoạn 2011-2020; Hội thảo Việt - Nga về công nghệ cao Mátxcơva – TPHCM... Hội thảo quốc tế “CFO châu Á giữa những bất ổn tài chính”, có sự tham gia của 200 đại biểu trong và ngoài nước; Diễn đàn lần thứ 8 “Hợp tác trao đổi học thuật vì sự phát triển thịnh vượng của châu Á” do trường đại học Kumamoto (Nhật Bản) phối hợp trường Đại học Xây dựng Hà Nội tổ chức; Hội nghị Liên đoàn các tổ chức kỹ sư Đông Nam Á (CAFEO) lần thứ 28, với chủ đề Kỹ thuật và công nghệ vì cuộc sống chất lượng hơn trước thách thức biến đổi khí hậu, thu hút gần 500 kỹ sư chuyên nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực công nghệ, công nghiệp, cùng đại diện các tổ chức thành viên Liên đoàn các tổ chức kỹ sư Đông Nam Á (Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức, Anh, Ấn Độ...); Hội nghị quốc tế thường niên lần 2 về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, với sự tham dự của gần 300 nhà khoa học trong và ngoài nước; Hội nghị báo cáo kết quả dự án xây dựng và triển khai dự án quản lý rừng bằng dữ liệu vệ tinh từ năm 2008 đến 2010 (dự án hợp tác Cục Kiểm lâm và Cơ quan Không thám Nhật Bản JAXA nhằm nâng cao khả năng quản lý rừng cho Việt Nam)... . Ở Áchentina, có Hội thảo về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh...

Bên cạnh đó, còn nhiều hoạt động thúc đẩy khoa học. Đáng chú ý là, tháng 11, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với Cơ quan Kinh tế Pháp tại Hà Nội và Công ty EADS Astrium tổ chức công bố triển khai thực hiện hợp đồng gói thầu số 1 và 5 thuộc dự án “Vệ tinh nhỏ Việt Nam quan sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai – VNREDSat-1”. Dự án VNREDSat-1 có tổng mức đầu tư 55,8 triệu euro bằng nguồn vay ODA ưu đãi của Chính phủ Pháp và 64.820 triệu đồng từ nguồn vốn đối ứng của Việt Nam. Nhà thầu trúng gói thầu số 1 là Công ty Astrium SAS (Cộng hòa Pháp) thuộc Tập đoàn Hàng không Vũ trụ và Quốc phòng châu Âu (EADS). Gói thầu số 5 do Công ty VEGA Technologies (Cộng hòa Pháp) thực hiện nhằm hỗ trợ Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam giám sát chất lượng và tiến độ thực hiện dự án. Đây là dự án trọng điểm của viện, thực hiện bước đầu khởi động trong quá trình hình thành hệ thống vệ tinh nhỏ quan sát trái đất của Việt Nam, góp phần thực hiện hóa “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020” đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 137/2006/QĐ-TTg ngày 14-6-2010. Dự án này khi thực hiện thành công sẽ mang lại hiệu quả thiết thực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, ứng phó với thảm họa thiên nhiên và biến đổi khí hậu toàn cầu... đáp ứng kịp thời một phần nhu cầu về ảnh vệ tinh viễn thám, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực. Thời gian thực hiện dự án này bắt đầu từ năm 2010 đến năm 2014, trong đó vệ tinh VNREDSat-1 dự kiến được phóng sau 36 tháng kể từ khi khởi động việc thực hiện gói thầu số 1, có khả năng chụp ảnh toàn bộ các khu vực trên bề mặt trái đất. Dự án VNREDSat-1 được xây dựng dựa trên những nghiên cứu, đánh giá về nhu cầu thực tiễn trong nước, công nghệ và xu hướng phát triển mới của công nghệ vệ tinh nhỏ quan sát trái đất trên thế giới. Đặc biệt, dự án VNREDSat-1 là sự phối kết hợp để tận dụng các cơ sở hạ tầng sẵn có của hệ thống thu nhận, lưu trữ, xử lý ảnh các vệ tinh viễn thám của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhằm tạo ra một hệ thống giám sát hoàn chỉnh, độc lập từ vệ tinh đến trạm thu mặt đất và trung tâm xử lý phân phối dữ liệu ảnh viễn thám tại Việt Nam.

Về đào tạo có nhiều hoạt động, như hội thảo bàn về nâng cao chất lượng giảng dạy, mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo đại học... Tháng 11, diễn ra đợt phong học hàm giáo sư, phó giáo sư.

Ngày 6-12, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) tổ chức trao Bằng Tiến sĩ danh dự cho Giáo sư, Viện sĩ V. Lít-vin, Chủ tịch Quốc hội U-crai-na vì đã có những đóng góp cho quan hệ hợp tác trong giáo dục và đào tạo giữa U-crai-na với Việt Nam nói chung, với ĐHQGHN nói riêng. Phát biểu tại lễ trao bằng, Giáo sư, Viện sĩ V. Lít-vin Chủ tịch Quốc hội U-crai-na khẳng định: Phát triển giáo dục là quan tâm hàng đầu của phần lớn các quốc gia trên thế giới. Từ khoảng 40 năm trước, khi còn là sinh viên, ông đã rất khâm phục các sinh viên Việt Nam học tập tại U-crai-na với tinh thần chăm chỉ, sáng tạo. Vinh dự được nhận Bằng Tiến sĩ danh dự của ông cũng là trách nhiệm làm cầu nối giữa giáo dục Việt Nam và U-crai-na. Với cương vị của mình, Giáo sư, Viện sĩ V. Lít-vin sẽ dành quan tâm đặc biệt thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các đại học, học viện của Việt Nam với U-crai-na.

8. Những vấn đề Văn hoá – Du lịch

Nhiều di sản được quốc tế công nhận: UNESCO công nhận Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hoá; Uỷ ban liên chính phủ theo công ước năm 2003 của UNESCO chính thức công nhận Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc - Hà Nội là Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại; Tháng 11, Hải Dương đã đón nhận bằng của UNESCO công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại; đầu tháng 12, tại Hà Giang đã đón nhận Bằng công nhận của UNESCO công nhận cao nguyên đá Đồng Văn là thành viên mạng lưới công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam và thứ 2 của Đông Nam Á... Những sự kiện này sẽ thúc đẩy phát triển du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung.

Hoạt động văn hoá diễn ra đa dạng ở trong và ngoài nước. Nhóm công tác văn hóa châu Âu (EUNIC) đặt trụ sở chính tại Bruxelles, hiện có mặt tại 53 nước trên thế giới; đã ký kết điều lệ thành lập Nhóm công tác tại Việt Nam gồm 7 cơ quan văn hóa của EUNIC và từ đây Việt Nam trở thành một mắt xích mạng lưới EUNIC trên thế giới. Tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra Năm Đức ở Việt Nam - 2010 và nhiều sự kiện văn hoá khác. Tại California (Mỹ) tháng 11 & 12, diễn ra Đại hội phim Việt Nam, với việc trình chiếu 20 bộ phim do Việt Nam sản xuất trong 10 năm trở lại đây. Tại La ha-ba-na (Cu Ba), tháng 12 khai trương không gian văn hóa Việt Nam... Tháng 12, tại Thủ đô Luân Đôn (Anh) đã diễn ra “Đêm thời trang Việt Nam”, nơi lần đầu chính thức giới thiệu các mẫu thời trang của Việt Nam với công chúng Anh.

Năm 2010, khách quốc tế đến Việt Nam bằng nhiều con đường; trong đó khoảng 5,5 triệu người đi du lịch, vượt chỉ tiêu ngành du lịch đặt ra... Để phát triển du lịch miền Trung, Câu lạc bộ lữ hành miền Trung ra đời gồm 23 doanh nghiệp từ Nghệ An đến Quảng Nam sẽ chuyên đón khách từ các cửa khẩu miền Trung; đồng thời, Tổng cục Du lịch cũng tổ chức khảo sát tuyến xuyên Đông Dương và Thái Lan lần II vào tháng 12-2010 để tăng cường du lịch đường bộ miền Trung.

9. Những vấn đề Kinh tế

Năm 2010, Việt Nam có nhiều phiên họp thảo luận về những lĩnh vực kinh tế từ lý luận đến thực tiễn; như: Trong khuôn khổ Hội nghị Nhóm tư vấn các Nhà tài trợ (CG) 2010 đã diễn ra Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam cuối kỳ 2010 vào đầu tháng 12, với chủ đề “Cạnh tranh và Tăng trưởng bền vững”... Trung tâm Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừaphía Bắc (TAC Hà Nội) – Cục Phát triển Doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa TAC Hà Nội và ông Yoshifumi Tsujio, đại diện Tổ chức Doanh nghiệp nhỏ Tokyo (TMSBC) về nhu cầu giao thương của doanh nghiệp Nhật Bản với Việt Nam. Có ngành đưa ra những chính sách phát triển mới như: Ngành Dệt –may đặt ra phấn đấu đến năm 2015 phát triển trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, với 7 giải pháp. Đồng thời, tổ chức các cuộc tiếp xúc như: Bộ Công thương vừa tổ chức đoàn doanh nghiệp tham dự Hội chợ Quốc tế doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), ở Trung tâm triển lãm Hong Kong. Tại Hội chợ, gian hàng của Việt Nam đã giới thiệu và cung cấp cho hàng trăm lượt khách tham quan nhiều tài liệu và ấn phẩm về môi trường đầu tư tại nước ta; tiềm năng con người, điều kiện kinh tế - xã hội cũng như những cơ hội đầu tư đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều tài liệu, mẫu mã hàng hóa và một số mặt hàng của Việt Nam đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của khách tham quan. Hiệp hội Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội (HASMEA) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Budapest (BKIK) đã ký thỏa thuận hợp tác kinh tế và thương mại. Một trong những nội dung hợp tác là xúc tiến kế hoạch thành lập Câu lạc bộ Doanh nghiệp Hà Nội - Budapest, bao gồm đại diện của HASMEA và BKIK, để tạo đầu mối hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam - Hunggary có thể tiếp cận thông tin kinh tế địa phương và nắm bắt các cơ hội kinh doanh. ông Szatmáry Kristóf, Chủ tịch BKIK, nhiều doanh nghiệp Hungary đang quan tâm tới thị trường Việt Nam trên lĩnh vực du lịch, dược phẩm, công nghệ thông tin, bất động sản...

Năm 2010, có 15 chỉ tiêu kinh tế đạt và vượt kế hoạch.. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng. Kim ngạch xuất khẩu 11 tháng tăng 24, 5 % so với cùng kỳ 2009, dự kiến cả năm tăng 24 % và so với kế hoạch tăng 16,5 %. Nhóm hàng nông – lâm – thủy sản xuất khẩu 11 tháng đã vượt chỉ tiêu cả năm và tăng 22 % so với cùng kỳ năm 2009, trở thành ngành có tỷ trọng xuất siêu lớn nhất. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu hạt điều. Thủy sản của Việt Nam có mặt tại 160 quốc gia vừa được đứng thứ 10 trong top những nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới.

Theo WB, Việt Nam vẫn là một nơi hấp dẫn để đầu tư và thực tế đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang tăng. Trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam theo công bố của Vietnam Report có 10 doanh nghiệp lọt vào tốp 1000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, xếp hạng theo doanh thu của fortune. Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới về năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2010, Việt Nam xếp hạng 59/136 nền kinh tế được xếp hạng (năm 2009 là 75/133), về mức độ thuận lợi 78/183. ADB nhận định GDP của Việt Nam tăng trưởng 6,7%.

10. Những vấn đề đối ngoại

Hoạt động đối ngoại diễn ra phong phú, từ các Hội nghị đến việc tổ chức những đoàn ra và vào Việt Nam...

Năm 2010, có nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng như: Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao 3 nước Đông Dương... ; đặc biệt, có Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 17 mà Việt Nam làm chủ tịch. Trong năm, Việt Nam được bầu là Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới.

Việt Nam còn có nhiều đoàn cấp cao ra nước ngoài; đặc biệt,  đoàn do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam tới TP Y-ô-kô-ha-ma (Nhật Bản) tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 18 (HNCC APEC-18), với chủ đề “Đổi mới và hành động”. Đã có nhiều thảo thuận hợp tác được ký kết, như Hiệp định đối tác, hợp tác toàn diện (PCA) vừa được ký tắt vào ngày 4-10-2010, tạo ra một khuôn khổ mới, dài hạn và toàn diện cho quan hệ Việt Nam – EU.

Trong các ngày từ 3 đến 5-12, tại TP Giô-han-nê-xbuốc, Cộng hòa Nam Phi, đã diễn ra Cuộc gặp quốc tế lần thứ XII các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, với sự tham gia của 49 đoàn đại biểu các đảng từ 43 nước. Đoàn đại biểu Đảng ta do đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Trưởng Ban Đối ngoại T.Ư làm Trưởng đoàn đã tham dự Cuộc gặp. 

 Tổng thống Phi-lip-pin Ben-ni-nô S.A-ki-nô III thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam vào tháng 10. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Tổng thống A-ki-nô III sau khi Ngài nhậm chức ngày 30-6-2010, là một sự kiện quan trọng trong quan hệ hai nước, nhằm trao đổi một số biện pháp tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Phi-lip-pin, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư... trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.

Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội U-crai-na do Chủ tịch Quốc hội (QH) V. Lít-vin dẫn đầu, tới Hà Nội, thăm hữu nghị chính thức Việt Nam từ ngày 5 đến 8-12. chuyến thăm lần đầu của ngài Chủ tịch QH U-crai-na tới Việt Nam thành công tốt đẹp, mở ra những triển vọng hợp tác mới giữa hai nước, trên phương diện song phương cũng như trong các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế. Thành phần quan trọng của Đoàn cho thấy sự coi trọng của QH U-crai-na trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Việt Nam. Chủ tịch QH V. Lít-vin nhấn mạnh: Trong thực hiện chính sách đối ngoại, U-crai-na dành mối quan tâm đặc biệt tới việc phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với Việt Nam; hy vọng hai nước tiếp tục ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, Việt Nam sẽ ủng hộ U-crai-na tăng cường quan hệ với ASEAN. Ông đề nghị tăng cường hơn nữa quan hệ giao lưu, hợp tác giữa hai QH, cả ở cấp lãnh đạo và cấp ủy ban, xem xét thúc đẩy việc thiết lập nhóm nghị sĩ hữu nghị giữa hai nước.

 Nước bạn Lào tặng Huân chương Vàng quốc gia cho Hà Nội, tặng Huân chương vì sự nghiệp phát triển của Lào cho Tập đoàn đầu tư Sài Gòn. Việt Nam kịp thời có những chia sẻ và ủng hộ thiên tai ở Trung Quốc, hỗ trợ tai nạn tại Campuchia...; bình luận khách quan về tình hình bán đảo Triều Tiên, vụ va chạm giữa tàu cá Trung Quốc và tàu tuần tra Nhật Bản vào tháng 9...

*
*  *

Lịch sử Việt Nam đã có những năm rất ấn tượng. Chỉ tính trong gần 30 năm qua, có thể kể đến: năm 1986 - năm mở đầu công cuộc đổi mới đất nước, năm 1995 - Việt Nam gia nhập khối ASEAN, năm 2008 - Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới... Những sự kiện này đều góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.

Năm 2010 - một năm Dần với nhiều ấn tượng sâu sắc. Tuy chưa tổng hợp đầy đủ các nhóm sự kiện, nhất là những nội dung hạn chế - tiêu cực trong năm còn ít phân tích nhưng 10 nhóm sự kiện nói trên cho thấy tình hình chung của Việt Nam là khởi sắc. Ngân hàng Thế giới đánh giá, Việt Nam nằm trong số 10 nền kinh tế cải cách tốt nhất. Học viện phát triển Hải ngoại - tổ chức tư vấn có uy tín của Anh, và tổ chức Oxfam đã đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia thành công nhất trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo... Thay mặt EuroCham và cộng đồng doanh nghiệp châu Âu, ông Alain Cany cũng cho biết, năm 2010 là một năm đầy hứa hẹn với nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đã thực hiện thành công quá trình chuyển đổi chính thức từ một nước có “thu nhập thấp” thành một nước có “thu nhập trung bình”.

Cũng có không ít cảnh báo Việt Nam có nguy cơ tụt hậu so với các láng giềng. Nếu các ngành, các cấp nhận thức rõ mặt tích cực của năm 2010 để phát huy và những hạn chế đang tồn tại để khắc phục thì có thể thúc đẩy Việt Nam cất cánh, sớm trở thành một con hổ ở Đông Á.

* Tác giả là Nhà nghiên cứu; năm 2010, có bài ở các số 81 (tr.13), 82 (tr.7), 83 (tr.8), 84 (tr.42)…

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



Tiến tới Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI

TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ DÂN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

                                                                                               VŨ PHÚ DŨNG*

         Mối quan hệ giữa Đảng và dân là mối quan hệ xã hội đặc biệt, được hình thành và phát triển trong điều kiện cách mạng vô sản. Trong mối quan hệ đó thì Đảng là thực thể chính trị, dân là một thực thể xã hội, không đồng nhất. Giữa hai thực thể đó có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, cái này lấy cái kia làm tiền đề tồn tại của mình. Để thoát khỏi thân phận nô lệ và trở thành người chủ của đất nước, nhân dân ta chỉ có con đường duy nhất là đứng lên làm cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Còn Đảng muốn tồn tại, muốn làm nên sự nghiệp vẻ vang, lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc ấm no cho nhân dân, xây dựng xã hội mới thì Đảng phải dựa vào dân. Có dựa vào dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân thì Đảng mới có cơ sở xã hội, mới có sinh khí và sức mạnh để hiện thực hóa lý tưởng của mình.

Nhận thức sâu sắc tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, kế thừa truyền thống lấy dân làm gốc của cha ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển và làm phong phú thêm mối quan hệ bản chất, gắn bó máu thịt giữa Đảng và dân phù hợp với đặc điểm của thời đại và dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, “dân là gốc của nước”, là những người làm ra mọi của cải vật chất và giá trị văn hóa, nuôi sống bộ máy nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Vì vậy, dân là quý nhất, là lực lượng chủ yếu, quan trọng hơn hết. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân... Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”1.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ và chịu sự giám sát của nhân dân, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng không còn lợi ích nào khác. Chính vì lẽ đó, nhân dân đã thừa nhận, tin cậy, giao phó vận mệnh của mình, của gia đình mình và của dân tộc cho Đảng. Sự thừa nhận, tin cậy giao phó đó là một tất yếu lịch sử, được nhân dân lựa chọn. Vì thế, trong diễn văn kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Đảng (3-2-1930 – 3-2-1990) đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là Đảng của dân, do dân, dựa vào dân và vì dân”.

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã luôn luôn xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám - 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ - 1954; cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân - 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam. Những thành tựu đó đã làm cho lòng tin của dân đối với Đảng được củng cố, mối quan hệ giữa Đảng với dân trở nên mật thiết, gắn bó máu thịt; Đảng cần dân, dân cần Đảng; Đảng tin dân, dân tin Đảng.

Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, ở nơi này hay nơi khác, cán bộ, đảng viên của Đảng đã không tránh khỏi những vấp váp, thậm chí cả những sai lầm, khuyết điểm; “Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Không ít trường hợp, việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; hoặc lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vẫn còn mang tính hành chính”2. Điều đó đã làm cho lòng tin của dân đối với Đảng bị giảm sút; mối quan hệ giữa Đảng với dân có phần bị ảnh hưởng.

Sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo chỉ có thể phát triển tốt đẹp và đạt được những thành tựu vững chắc khi Đảng có dân, được dân tin yêu, ủng hộ; mối quan hệ giữa Đảng với dân thực sự trở thành mối quan hệ máu thịt. Để làm được như vậy, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng phải:

Một là, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Đảng và sức mạnh của dân. Có nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh của một đảng, nhưng trước hết là ở bản thân Đảng. Đảng phải bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất đạo đức cách mạng, trí tuệ dân tộc, hết lòng phụng sự nhân dân, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhà nước và trước nhân dân; liên hệ mật thiết với nhân dân, học hỏi nhân dân, thường xuyên lắng nghe tâm tư nguyện vọng của nhân dân, biết đoàn kết nhân dân thành một khối trong Mặt trận thống nhất toàn dân, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Trong nội bộ Đảng phải đoàn kết chặt chẽ trên nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình một cách chân thật, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, chủ quan, quan liêu, xa rời quần chúng. Trách nhiệm của Đảng là chăm lo củng cố sức mạnh cho dân. Nhưng muốn có dân mạnh thì dân phải được Đảng giác ngộ, tổ chức và lãnh đạo. Có nghĩa là dân phải được giáo dục để có hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Dân phải được học tập để phát triển trình độ dân trí; được Đảng thường xuyên chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần; được tổ chức tham gia các phong trào cách mạng...

Hai là, Đảng dựa vào dân, củng cố lòng tin của dân với Đảng. Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm cách mạng đánh đổ thực dân, phong kiến, đi lên chủ nghĩa xã hội là nhằm mục tiêu độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng trước hết được thể hiện thông qua việc Đảng đề ra các chủ trương, đường lối, chính sách phù hợp với lòng dân, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân... để tạo nên sự gặp gỡ giữa ý Đảng và lòng dân. Dựa vào dân, cũng có nghĩa là Đảng phải tạo điều kiện, cơ hội cho dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra mọi công việc của Đảng, của các đảng viên của Đảng đang hoạt động ở các lĩnh vực của đời sống xã hội... Cán bộ, đảng viên của Đảng cần quán triệt sâu sắc bài học thứ hai mà Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã xác định, đó là: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”3; đồng thời, làm tốt công tác vận động nhân dân và bồi dưỡng sức dân. Có như vậy dân mới tin Đảng, theo Đảng.

Ba là, giáo dục, rèn luyện, quản lý tốt đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng tổ chức đảng và tổ chức chính quyền các cấp. Những năm gần đây, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên của Đảng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống; một bộ phận tổ chức cơ sở đảng và chính quyền chẳng những không phát huy được vai trò lãnh đạo, quản lý của mình mà còn có những biểu hiện tiêu cực khá nghiêm trọng, như: tệ quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ, sách nhiễu nhân dân. Điều đó đã ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Vì thế, hơn lúc nào hết, chúng ta cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao hiểu biết cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng ta; tiến hành có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đẩy mạnh sinh hoạt tự phê bình và phê bình về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong Đảng và bộ máy nhà nước; “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước”4, lắng nghe ý kiến nhân dân để bổ sung, sửa chữa những sai sót. Đồng thời, quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên và xử lý thật nghiêm đối với những cán bộ, đảng viên phạm sai lầm về tư tưởng, đạo đức, lối sống.

Bốn là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và tích cực học hỏi nhân dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân và tích cực học hỏi nhân dân là vấn đề nói thì dễ nhưng làm lại rất khó. Bởi vì không ít cán bộ, đảng viên thường hay mắc bệnh chủ quan, hẹp hòi, cá nhân chủ nghĩa; do vậy dẫn đến mất dân chủ với nhân dân, làm dân mất lòng tin vào Đảng, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ Dân - Đảng, làm suy yếu Đảng, mất tính chiến đấu trong Đảng. Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy quyền làm chủ của nhân dân là phải phát huy một cách thực sự, không hình thức, phải thực hiện “Mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”5. Đồng thời, phải giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, công bằng xã hội; giáo dục, phát động quần chúng tự giác chấp hành và tích cực đấu tranh để bảo vệ pháp luật, chống mọi ý đồ lợi dụng chế độ làm chủ để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

_______________________________________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.8, tr.276.

2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng (Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng các cấp), tháng 4-2010, tr.48, tr.4, 40.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293.

* Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng; năm 2010, tác giả còn có bài ở số 81 (tr.21).

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



Khái quát về Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh

    Sau khi Đại hội Đảng bộ cấp cơ sở và trên cơ sở hoàn thành, các Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Trung ương đã tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm và khẩn trương tiến hành Đại hội Đảng bộ cấp mình, bảo đảm kế hoạch đề ra. Tính đến đầu tháng 12-2010 có 66/67 Đảng bộ trực thuộc Trung ương đã hoàn thành việc tổ chức đại hội (còn Đảng bộ Khối cơ quan Trung ương chưa tổ chức Đại hội).

 Chỉ thị số 37- CT/TW của Bộ Chính trị và các hướng dẫn của Trung ương về tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp đã được các Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Trung ương khẩn trương tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc và ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn; tích cực, chủ động thực hiện công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội theo chương trình, kế hoạch. Văn kiện Đại hội được chuẩn bị công phu, tuân thủ các yêu cầu của Chỉ thị. Việc lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo văn kiện được thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫn của Trung ương: Báo cáo Chính trị được lấy ý kiến từ cấp ủy cấp dưới; tham khảo ý kiến của cán bộ lão thành cách mạng, của lãnh đạo chủ chốt tỉnh, thành phố qua các thời kỳ; các nhân sỹ, trí thức; các cơ quan hữu quan ở Trung ương; đồng thời, được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp. Hầu hết các Báo cáo Chính trị đều đánh giá khá toàn diện các mặt công tác, gắn với kiểm điểm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu, lựa chọn được những vấn đề trọng tâm và đề ra các giải pháp để thực hiện trong nhiệm kỳ 2010- 2015.

Công tác chuẩn bị nhân sự trước đại hội được thực hiện chặt chẽ theo đúng quy trình, hướng dẫn của Trung ương từ khâu nhận xét, đánh giá, quy hoạch cán bộ đến giới thiệu nguồn cán bộ tham gia cấp ủy, Ban Thường vụ và các chức danh chủ chốt (nhiệm kỳ 2010-2015). Về cơ bản, nhân sự cấp ủy khóa mới đều bảo đảm các tiêu chuẩn về trình độ, tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc, độ tuổi, cơ cấu ngành, lĩnh vực, số dư trong bầu cử.

Hầu hết các đại hội đều dành nhiều thời gian để thảo luận tại hội trường, điển hình như Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên - Huế có 26 ý kiến (nơi ít nhất là Kom Tum, có 3 ý kiến). Báo cáo tham luận của các đại biểu tại hội trường nhìn chung có chất lượng và thời lượng hợp lý, đề cập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Công tác bầu cử được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ đúng theo Điều lệ Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng, phát huy dân chủ, trí tuệ của đại biểu. Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai có 52 đại biểu và 2 đảng viên không phải là đại biểu đã ứng cử và được đại hội tín nhiệm bầu vào Tỉnh ủy. Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ có 44 đại biểu ứng cử, thì cả 44 được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Đa số các đại hội chỉ bầu một lần là đủ số lượng cấp ủy viên và đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Số lượng cấp ủy viên khoá mới (nhiệm kỳ 2010-2015) của các Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng hơn khoá trước, phổ biến là 45 - 55 người (riêng tỉnh Nghệ An: 65; Thanh Hóa: 69; thành phố Hồ Chí Minh: 69, Hà Nội: 75). Chất lượng cấp ủy khoá mới cơ bản đạt yêu cầu về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, độ tuổi, bảo đảm tính kế thừa và phát triển; tỷ lệ cấp ủy viên tham gia cấp uỷ lần đầu bình quân khoảng 50%; tỷ lệ cán bộ nữ trong Ban Chấp hành nhìn chung đạt yêu cầu, có nơi đạt cao (như Sơn La: 20%, Tuyên Quang: 29,09%); tuổi đời bình quân là 48-50, trong đó tỷ lệ cán bộ trẻ đạt từ 5% đến 7% (có nơi không có cán bộ trẻ tham gia khoá mới, như:

Cà Mau, Hậu Giang...).

Chỉ một số ít tỉnh danh sách đề cử chức danh Phó Bí thư có số dư (danh sách 4, bầu 3) còn phần lớn là không có số dư; ở Lào Cai, các chức danh Bí thư và Phó Bí thư đều ứng cử và đều trúng cử. Về số lượng, đa số các Tỉnh, Thành uỷ đều bầu 2 Phó Bí thư (một số nơi bầu 3, trong đó có 1 người phụ trách công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng). Các Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy được bầu thường có từ 13 đến 15 đồng chí, có nơi 17 đồng chí (như thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội). Đa số các Tỉnh ủy, Thành ủy, danh sách bầu Ban Thường vụ cấp ủy khóa mới có số dư không dưới 20%.

Việc thí điểm chủ trương Đại hội Đảng bộ các cấp trực tiếp bầu Bí thư cấp ủy là vấn đề mới chưa được quy định trong Điều lệ Đảng và Quy chế bầu cử trong Đảng. Vì vậy, các cấp ủy Đảng đã coi trọng việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt chủ trương mới của Trung ương trong các cấp ủy và đảng viên.

Đối với Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh, Bộ Chính trị đã chọn và chỉ đạo thực hiện thí điểm ở 10 Đảng bộ tỉnh, thành phố là: Lai Châu, Lạng Sơn, Thái Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Kon Tum, Ninh Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng và thành phố Đà Nẵng. Đại diện của Trung ương là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng đã trực tiếp dự và chỉ đạo Đại hộicác Đảng bộ thực hiện thí điểm.Các Đại hội triển khai thí điểm trực tiếp bầu Bí thư đã thực hiện đầy đủ quy trình và theo Hướng dẫn số 34-HD/BTCTW, ngày 8-10-2009 của Ban Tổ chức Trung ương; nhân sự được Đại hội và cấp ủy khoá mới thống nhất giới thiệu đều trúng cử với số phiếu đạt từ 95% trở lên (có Đảng bộ đạt cao, như: Quảng Ngãi 100%; Đà Nẵng, Lai Châu 99,67%). Có 6/10 Bí thư Tỉnh uỷ, Thành ủy khóa mới được đại hội bầu trực tiếp là tái cử.

  Bên cạnh những thành công mà các Đại hội Đảng bộ trực thuộc Trung ương đã đạt được, còn có một số hạn chế cần khắc phục. Đó là: Công tác tuyên truyền ở một số địa phương chưa tạo được khí thế phấn khởi trong nhân dân. Một số Đại hội, công tác điều hành có phần còn lúng túng; phần bầu cử Ban Chấp hành kéo dài thời gian so với dự kiến, làm giảm thời lượng dành cho thảo luận các Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh, thành phố và các Văn kiện trình Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Có nơi bầu thiếu Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành so với số lượng thông qua tại Đại hội (Khánh Hòa, Bình Thuận, Nam Định thiếu 1 uỷ viên Thường vụ, Hậu Giang thiếu 1 Ủy viên Ban Chấp hành); có nơi công tác chuẩn bị nhân sự cấp ủy, Ban Thường vụ chưa thật tốt, chưa có cán bộ đủ tiêu chuẩn để giới thiệu bầu theo cơ cấu, phải để lại bổ sung sau (như Thái Bình, Bắc Kạn, Tiền Giang, Nghệ An); đặc biệt có nơi một số cấp ủy viên khóa cũ được giới thiệu tái cử nhưng do có phong cách, lối sống thiếu lành mạnh, uy tín giảm sút nên không trúng cử. Tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia cấp ủy khoá mới nhiều nơi không đạt yêu cầu. Có Đại hội thực hiện thí điểm chủ trương trực tiếp bầu Bí thư nhưng chưa thực hiện chặt chẽ quy trình hướng dẫn của Trung ương (bỏ qua bước ứng cử, đề cử tại các đoàn đại biểu), nói chung ở các Đại hội này đều tiến hành bầu tròn một người. Có thể nói, bầu như vậy giống như việc bỏ phiếu tín nhiệm, đảng viên không có nhiều phương án cân nhắc, lựa chọn. Vì vậy, để thực sự mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng, tập hợp được trí tuệ của cán bộ, đảng viên, cần nghiên cứu để có hình thức tranh cử hoặc quy định danh sách ứng cử phải có số dư.

Qua thực tiễn tổ chức đại hội các Đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nhiệm kỳ 2010-2015) có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

 - Cần tổ chức tốt việc triển khai, quán triệt đến toàn thể cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ về mục đích, yêu cầu, nội dung Chỉ thị của Bộ Chính trị, các văn bản hướng dẫn của Trung ương về tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

- Phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng ngay từ công tác chuẩn bị đại hội; chủ động xử lý kịp thời, linh hoạt các vấn đề phát sinh trước và trong đại hội, nhất là các vụ việc liên quan đến nhân sự đại hội.

- Trong quá trình xây dựng Văn kiện Đại hội phải tranh thủ tối đa ý kiến góp ý của các Bộ, Ban, ngành ở Trung ương, các nhà khoa học, của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đặc biệt đề cao trách nhiệm, trí tuệ của tập thể cấp ủy, trách nhiệm của Bí thư cấp ủy. Công tác chuẩn bị nhân sự cấp ủy cần mở rộng dân chủ, bảo đảm quy trình, thay thế kịp thời cán bộ không bảo đảm tiêu chuẩn. Quán triệt yêu cầu về cơ cấu và về đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận.

- Công tác điều hành của Đoàn Chủ tịch Đại hội cần khoa học, rõ ràng, mạch lạc; các nội dung, chương trình của đại hội cần được văn bản hoá. Những vấn đề cần thảo luận, tranh luận tại đại hội và những vấn đề lớn, cần xin ý kiến đại hội một cách dân chủ, tập trung vào những vấn đề trọng tâm và những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau.

- Cần làm tốt công tác tuyên truyền trước, trong và sau đại hội (có thể tổ chức Trung tâm báo chí tại Đại hội như một số nơi đã làm), giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng, những yêu cầu bức xúc của nhân dân; chú trọng cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.

                                                                                    TOÀN TRỰC*
                                 (Theo Tạp chí Xây dựng Đảng và các phương tiện truyền thông khác)

_________________________

* Năm 2010, tác giả có bài ở số 81 (tr.47), 82 (tr.18), 85 (tr.18), 86.

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



      Lý luận

LTS: Vấn đề dân chủ đã được bàn luận nhiều trong các Hội thảo, diễn đàn báo chí,…Tạp chí Mặt trận đã giới thiệu một số bài. Tuy nhiên, đây là vấn đề liên quan đến nhiều mặt trong phát triển, được bạn đọc rất quan tâm nên Tạp chí Mặt trận tiếp tục giới thiệu. Số này, có 2 bài mang tính lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề dân chủ được giới thiệu trong chuyên mục Lý luận, 2 bài trong chuyên mục Tiến tới Đại hội Đảng nhằm chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI...

DÂN CHỦ TRONG ĐIỀU KIỆN MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM

                                                                           ĐẶNG VIẾT ĐẠT*

1.Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ thực chất

Nền dân chủ được quy định bởi phương thức cầm quyền của mỗi chế độ chính trị, hay nói cách khác, là phương thức tổ chức và thực thi quyền lực chính trị, mà trung tâm là quyền lực Nhà nước, cụ thể là quyền lực Nhà nước thuộc về ai, số đông hay ít người trong xã hội? Lịch sử nhân loại đã và đang “trải qua các giai đoạn dân chủ: dân chủ chủ nô; dân chủ tư sản; dân chủ nhân dân; dân chủ xã hội chủ nghĩa”1. Trong chế độ phong kiến không có nền dân chủ. Người dân trong xã hội phong kiến bị coi là thần dân, thảo dân, bị vua quan “chăn dắt”. Sang xã hội tư sản, chế độ dân chủ được phục hồi, đó là dân chủ tư sản. Tuy nhiên, dân chủ tư sản chỉ là dân chủ cho thiểu số, mà không phải dân chủ cho đa số người dân lao động trong xã hội. Nói cách khác, dân chủ tư sản là dân chủ giả hiệu, mị dân. Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, dân chủ tư sản ở nhiều nước cũng được điều chỉnh để phù hợp với thực tế...

Dân chủ thực sự chỉ có và được đảm bảo thực hiện trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ được bảo đảm về mặt pháp lý và còn bảo đảm thực hiện trong thực tiễn. Việc thực hành dân chủ trong xã hội ngày một mở rộng và nâng cao.

Ở đó, nhân dân là chủ thể quyền lực trong xã hội, nhân dân làm chủ bản thân và cả xã hội thông qua công cụ của mình là nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì vậy, dân chủ xã hội chủ nghĩa là giá trị đích thực của xã hội văn minh mà nhân loại đang hướng đến.

2. Dân chủ và phát huy dân chủ ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong 80 năm qua

Vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng vai trò của dân chủ và phát huy dân chủ trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhận thức về dân chủ là một quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng ta gắn liền với quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Qua mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam, nhận thức của Đảng ta về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày một hoàn thiện.

Thứ nhất, dân chủ ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ:

Ngay từ khi mới thành lập (3-2-1930), Đảng ta xác định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là: thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám - 1945, lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước, chính quyền do nhân dân lập ra, phục vụ lợi ích cho số đông nhân dân lao động và chính quyền này được đặt dưới sự lãnh đạo của chính đảng chân chính của giai cấp công nhân - Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta về dân chủ và đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân. Ngay Điều 1 của Hiến pháp này đã quy định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”2, có thể coi đây là sự nhận thức mang tính lịch sử vượt bậc của Đảng và Nhà nước ta về việc xác định địa vị chính trị - pháp lý của nhân dân trong xã hội. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Hơn nữa, Điều 7 còn khẳng định Nhà nước Việt Nam là nhà nước công nông nhưng tất cả công dân “đều được tham gia chính quyền”.

Từ năm 1954 đến năm 1975, Nhà nước dân chủ nhân dân được xây dựng và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 để thực hiện nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đại hội III của Đảng (năm 1960) khẳng định nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân: “Nhà nước dân chủ nhân dân của ta là nhà nước dân chủ thật sự”.

Trong giai đoạn này, mặc dù nền dân chủ của chúng ta mới được xây dựng bước đầu, nhưng bản chất của một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác lập, đó là dân chủ nhân dân, dân chủ cho mọi người dân lao động trong xã hội.

Thứ hai, dân chủ ở Việt Nam trong giai đoạn trước những năm đổi mới:

Sau khi thống nhất về mặt Nhà nước, Đảng ta xác định, nhân dân lao động - mà nòng cốt là liên minh công nông - là người làm chủ xã hội. Trên tinh thần đó, Nhà nước ta là nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ với đa số nhân dân đi đôi với chuyên chính đối với kẻ thù của Tổ quốc, của nhân dân. Đảng ta xác định: “Nhà nước phải là thiết chế của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”3.

Kế thừa Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục xác định nguyên tắc cơ bản về quyền lực: ở nước ta, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ để nhân dân làm chủ và bảo vệ quyền làm chủ hợp pháp của nhân dân. Trong giai đoạn này, Đảng ta luôn khẳng định: “Muốn cách mạng đi đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”4. Cho nên giai đoạn này, Đảng ta không sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” mà sử dụng khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”, trong đó khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa được thay bằng khái niệm “chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”. Đảng ta chủ trương kết hợp phát huy dân chủ với không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản; thực hiện và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, với phương thức: “Làm chủ bằng nhà nước; làm chủ bằng các đoàn thể quần chúng”, nhằm bảo đảm nền độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn đất nước mới giải phóng.

Thứ ba, dân chủ và thực hành dân chủ ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay:

Đại hội Đảng lần thứ VI đã chú trọng đánh giá, kiểm điểm và nêu ra những mặt yếu kém, phân tích những sai lầm, khuyết điểm, đưa ra biện pháp khắc phục. Trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, Đảng ta coi: “Làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống”5 và xác định cơ chế chung: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”6 trong quản lý toàn xã hội. Nhà nước là công cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, đó là “nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”7.

Đồng thời, Đại hội VI đã đưa ra những nét lớn về nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó Đảng xác định: “Công tác quản lý không phải là việc riêng của những người quản lý chuyên nghiệp, mà là sự nghiệp của nhân dân. Trong công tác quản lý nhà nước, dù là quản lý hành chính hay quản lý sản xuất, kinh doanh, quản lý trật tự trị an, đều cần có sự tham gia của quần chúng. Việc phát huy vai trò của nhân dân lao động tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội cần được các cơ quan lãnh đạo và quản lý đặt ra và thực hiện đúng ngay từ khi chuẩn bị và quyết định chủ trương, chính sách. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương và đơn vị cơ sở, cấp ủy đảng và cơ quan chính quyền phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình”8. Hội nghị Trung ương sáu khóa VI, Đảng ta chính thức sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”. Hệ thống đó gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Sang Đại hội VII, Đảng không dùng khái niệm “chế độ làm chủ tập thể” mà chuyển sang sử dụng khái niệm “chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”, điều này thể hiện bước nhận thức mới của Đảng ta về dân chủ. Công cuộc đổi mới đất nước và kiện toàn hệ thống chính trị, theo Đảng ta xác định, thực chất là: xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Đảng còn nêu rõ: “Một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới là bước đầu thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cơ chế và chính sách mới đã mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở kinh tế, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho mọi người dân được tự do kinh doanh theo pháp luật”9. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy. Nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị có một số đổi mới theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường quyền lực của các cơ quan dân cử.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng ngày một mở rộng và đi vào thực chất từ sau những năm đổi mới, tại Đại hội Đảng VIII xác định: “Xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương chính sách lớn của Đảng và nhà nước”. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản; bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của nhà nước.

Nhận thức được vai trò của chính quyền cơ sở và tổ chức cơ sở Đảng - cơ sở là trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/ CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở (18-2-1998). Để Chỉ thị 30/CT-TW đi vào cuộc sống, Chính phủ đã ban hành các nghị định: Nghị định 29/1998/NĐ-CP, ngày 15-1-1998 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; Nghị định 71/198/NĐ-CP, ngày 9-8-1998 về Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Nghị định 07/1999/NĐ-CP, ngày 13-2-1999 về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước. Việc ban hành Quy chế dân chủ cơ sở đã thể hiện quan điểm của Đảng ta có tính chiến lược lớn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là phương thức mà Đảng huy động sức mạnh tổng hợp, trong đó lấy nội lực làm nòng cốt - sức mạnh của toàn dân nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Đại hội IX của Đảng, đánh dấu 15 năm đổi mới, với những thành tựu vượt bậc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó quá trình dân chủ hóa xã hội đã thu được những thành tựu quan trọng, Đảng ta nhấn mạnh: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”10. Trên tinh thần đó, kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khóa X, đã ban hành Nghị quyết 51/2001/NQ10 về việc sửa đổi và bổ sung một số điều Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”11 (Điều 2) và “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”12 (Điều 3). Cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân đã được Hiến pháp ghi nhận rõ ràng: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”13 (Điều 6).

Đại hội Đảng lần thứ X (4-2006) đánh dấu bước phát triển của đất nước sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo những “bước chạy đà” quan trọng để cả nước thực hiện mục tiêu sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tổng kết hai mươi năm đổi mới đất nước, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân. Xác định hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa, xã hội”14. Nhận thức của Đảng ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa đã phát triển vượt bậc về chất, đó là: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiệân mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước là đại diệân quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức và thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”15. Cho nên, Đảng ta chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.

Nhằm hiện thực hóa quan điểm của Đảng ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân chủ nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình. Vì thế, năm 2007 Ủy ban Thường vụ Quốc Hội đã ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Đây không chỉ là cơ sở pháp lý quan trọng để nhân dân đẩy mạnh việc thực hành quyền làm chủ của mình ở địa phương, mà còn bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân trong cuộc sống và như thế bảo đảm “quy chế dân chủ của Đảng” đi vào chiều sâu, chiều rộng trong quá trình thực hiện, phát huy hiệu quả thực sự của nó.

Gần 25 năm đổi mới đất nước, nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa và thực hành dân chủ của Đảng ta đã có những bước tiến vượt bậc. Bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa được Đảng ta nhận thức ngày một rõ nét và tạo điều kiện để triển khai sâu rộng, hiệu quả và thiết thực trong cuộc sống. Mặc dù, trong quá trình triển khai thực hành dân chủ có nơi, có lúc Đảng ta còn mắc phải những thiếu sót, có nơi còn vi phạm quy chế dân chủ, nhưng nhìn chung cho đến nay, việc phát huy dân chủ mà đặc biệt là dân chủ ở cơ sở của Đảng ta đã phát huy được tác dụng quan trọng, tạo những tiền đề chính trị cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân dân ta đã vượt qua muôn ngàn “sóng gió” để đạt được thành công trong sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong nhiều thành tựu của Đảng ta qua 80 năm lãnh đạo đất nước, thành tựu về dân chủ và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa của Đảng ta là một thành tựu vượt trội và tiêu biểu trong toàn bộ thành tựu mà Đảng ta đạt được trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Thành tựu đó một lần nữa khẳng định rằng: trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền thì dân chủ không những không bị mất đi, không bị vi phạm mà còn được bảo đảm, còn được phát huy sâu rộng trong thực tế và phát triển lên đỉnh cao của nó, đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa.

___________________________________________

1. GS, TS. Nguyễn Phú Trọng: Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CTQG, H, 2008, tr.296.
2. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992), Nxb CTQG, H,2007, tr.12).
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, t.37, tr.510.
4. Sđd, tr.507.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb CTQG, H, 2005, tr.116.
6, 7, 8. Sđd, tr.124, 118.
9. Sđd, tr.249 - 250
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.131 - 132
11. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992), Nxb CTQG, H, 2007, tr.181.
12. Sđd, tr.182
13. Sđd, tr.201.
14, 15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.125, 44.
* Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực IV.

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       



HỘI NGHỊ ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN BÀN VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
- MỘT PHƯƠNG THỨC PHÁT HUY DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

                                                                                        PHẠM LỢI*

Năm 2000, Thành phố đã tổ chức trọng thể kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội để lại những dấu ấn tốt đẹp trong nhân dân Thủ đô. Một vấn đề đặt ra lúc bấy giờ là làm thế nào để các hoạt động tiến tới kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, mà trọng tâm là xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đến được đông đảo nhân dân tham gia.

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và Uỷ ban nhân dân Thành phố đã bàn và thống nhất việc tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân ở phường, xã, thị trấn bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trong toàn thành phố, thiết thực chào mừng lễ kỷ niệm. Chủ trương này đã được lãnh đạo thành phố, các quận, huyện và các phường, xã, thị trấn đồng tình, ủng hộ, tổ chức thực hiện. Sau năm 2000, thành phố đã kịp thời rút kinh nghiệm, chỉ đạo đưa việc tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thành nề nếp hàng năm ở các phường, xã, thị trấn. Sau khi tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã của huyện Lương Sơn hợp nhất với Hà Nội, việc tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã được tổ chức ở tất cả các xã, phường, thị trấn thuộc 29 quận, huyện, thị xã.

Qua 10 năm tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã có kết quả thiết thực, phát huy dân chủ bàn và thực hiện xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trở thành một phong trào quần chúng, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội - an ninh - quốc phòng, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể ở địa phương.

Chúng ta có thể đánh giá khái quát những kết quả đó trên mấy điểm sau:

Một là, Hội nghị đại biểu nhân dân đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc bàn, quyết định và thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo coi trọng việc phát huy dân chủ trong nhân dân và tập trung vào chủ đề xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đại biểu nhân dân là chủ thể - Hội nghị đại biểu nhân dân lấy việc dân bàn, dân quyết định mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với điều kiện cụ thể ở mỗi địa phương là nội dung cơ bản nhất. Do coi trọng phát huy dân chủ, đề cao tính nhân dân, nên Hội nghị đại biểu nhân dân đã được nhân dân đồng tình, tích cực tham gia. Ở đây, đại biểu nhân dân được nghe, được nói, được bàn, được quyết định việc xây dựng đời sống văn hóa ở các gia đình, tổ dân phố, làng, xóm một cách thiết thực. Nhiều đại biểu nhân dân đã chuẩn bị ý kiến phát biểu công phu, rất cảm động khi được nói lên những suy nghĩ tâm huyết của mình, những kiến nghị xây dựng đời sống văn hóa ở làng, xóm, tổ dân phố mà trước đây chưa có cơ hội thực hiện. Có đại biểu nhân dân còn liên hệ tới hình ảnh “Hội nghị Diên Hồng” trong thời kỳ đổi mới.

Tính dân chủ, tính nhân dân còn được thể hiện ở thành phần đại biểu nhân dân là đại biểu các gia đình, các thành phần xã hội, các tôn giáo, trí thức, văn nghệ sĩ, người cao tuổi, phụ nữ, thanh niên... được tổ dân phố, thôn, xóm dân chủ cử đi dự Hội nghị đại biểu nhân dân phường, xã. Hội nghị đại biểu nhân dân được tiến hành từ các tổ dân phố, thôn, làng, bản, xóm đến phường, xã, thị trấn. Để tập trung vào chủ đề xây dựng đời sống văn hóa, tại Hội nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, xã có báo cáo kiểm điểm việc xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương, nêu rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân, dự kiến mục tiêu, biện pháp thực hiện trong thời gian tới, gợi ý những vấn đề cần quan tâm để đại biểu nhân dân thảo luận. Các đại biểu nhân dân thảo luận, tranh luận, đề xuất biện pháp thực hiện rất phong phú ở địa phương. Hội nghị đại biểu nhân dân đã kết thúc bằng một Nghị quyết cụ thể về xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương.

Hai là, qua Hội nghị đại biểu nhân dân đã nâng cao nhận thức ý nghĩa, nội dung, tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trong cán bộ và nhân dân; thực hiện được phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong xây dựng đời sống văn hóa, trở thành động lực thúc đẩy phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Việc xây dựng gia đình văn hóa đã gắn với việc xây dựng khu dân cư văn hóa trong mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau, trong đó gia đình là hạt nhân quan trọng và khu dân cư là địa bàn trọng yếu đã tạo sự chuyển biến trong phong trào nhân dân. Các tiêu chuẩn gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa đã được Hội nghị nhân dân bàn và thống nhất thực hiện trong toàn thành phố.Hà Nội đã có 84% gia đình trong tổng số các gia đình đăng ký đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa; hơn 50% khu dân cư đạt tiêu chuẩn khu dân cư văn hóa.

Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã có tác dụng nâng cao ý thức làm chủ, ý thức tự quản, tinh thần đoàn kết, tình nghĩa xóm làng giúp nhau khi khó khăn hoạn nạn. Động viên nhau thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, thành phố, quận, huyện và cơ sở. Giúp nhau xây dựng đời sống văn hóa; xóa đói, giảm nghèo; thực hiện tốt chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công, giúp đỡ các gia đình nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, người tàn tật... Động viên nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, quốc phòng, giữ gìn trật tự, trị an xã hội. Qua phong trào nhân dân đã có thêm nhiều điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt. Đó là các gia đình văn hóa tiêu biểu, những khu dân cư tiên tiến, xuất sắc, những cán bộ, nhân dân tích cực tham gia phong trào - là những bông hoa đẹp trong phong trào thi đua yêu nước của nhân dân Thủ đô.

 Ba là, quá trình chuẩn bị, tiến hành Hội nghị đại biểu nhân dân là một quá trình vận động nhân dân, tăng thêm mối quan hệ giữa nhân dân với tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, thúc đẩy việc đổi mới phong cách làm việc gần dân, tôn trọng dân của cán bộ.

Để nhân dân tham gia, tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân đạt yêu cầu, kết quả tốt, Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở phải tiến hành công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, tiếp xúc với nhân dân, thực hiện: nghe dân nói, nói dân nghe, tìm hiểu nắm tình hình tâm tư nguyện vọng của nhân dân.

Việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân từ các tổ dân phố, khu dân cư đến phường, xã đã giúp cho cán bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận có thêm sự hiểu biết tình hình nhân dân, những băn khoăn, lo lắng của nhân dân, thông cảm với nhân dân. Trên cơ sở đó mà có chủ trương biện pháp giải quyết sát với thực tiễn cuộc sống, từng bước giải quyết có kết quả những kiến nghị, những bức xúc của nhân dân.

Dân chủ, cởi mở trong dân cùng với những việc làm thiết thực nói trên của cán bộ cơ sở đã góp phần tích cực tăng cường mối quan hệ, lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc phường, xã. Nhiều cán bộ cơ sở đã làm công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc ở phường, xã nhiều năm đều ghi nhận đại biểu nhân dân rất nghiêm túc dự họp, phát biểu ý kiến tâm huyết trách nhiệm tham gia xây dựng phong trào, tiếp thu chủ trương, nội dung phong trào xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng phường, xã.Một số nơi đã coi trọng việc tổng hợp, giải quyết những kiến nghị của nhân dân, như quận Hoàn Kiếm, huyện Gia Lâm, làm cho nhân dân tăng thêm niềm tin, sự đồng thuận với chính quyền.

Cán bộ cơ sở được phân công đến các Tổ dân phố, thôn, làng tổ chức Hội nghị nhân dân là dịp tốt nắm tình hình nhân dân hiểu thêm tâm tư, nguyện vọng nhân dân - trao đổi ý kiến với dân làm cho nhân dân hiểu thêm những công việc của phường, xã. Mặt khác, cũng giúp cho cán bộ đổi mới phong cách làm việc gần dân, hiểu dân, trọng dân, nghe dân nói, nói dân nghe.

Qua thực tế 10 năm cho thấy, tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một chủ trương đúng, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, thúc đẩy phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đổi mới phong cách làm việc của cán bộ cơ sở.

Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã góp phần tích cực thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội - an ninh - quốc phòng ở địa phương. Có thể nói, Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa là một phương thức phát huy dân chủ xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Bên những kết quả nói trên, việc tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân còn có những thiếu sót, hạn chế:

- Một số nơi do nhận thức và cách làm còn đơn giản, theo nếp cũ nên chưa phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, chưa khơi dậy được ý thức tự quản của nhân dân trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Nội dung báo cáo trước Hội nghị đại biểu nhân dân còn dàn trải, chưa tập trung vào chủ đề xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, chưa gợi mở được những nội dung, biện pháp cần quan tâm để đại biểu nhân dân bàn và quyết định phù hợp với đặc điểm của địa phương.

Việc thảo luận ở Hội nghị nhân dân nhiều nơi còn mang tính chất “kể” thành tích, “tham luận” chung chung, chưa đi sâu đề xuất những biện pháp, cách làm hay, kinh nghiệm tốt.

Thành phần đại biểu dự Hội nghị ở nhiều nơi còn chưa thể hiện được tính chất Hội nghị nhân dân, đại biểu nhân dân còn ít.

- Chưa làm tốt việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân từ tổ dân phố đến phường, xã. Việc giải quyết và trả lời cho nhân dân còn nhiều hạn chế. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy những nơi coi trọng và làm tốt việc tổng hợp, giải quyết và trả lời những kiến nghị của nhân dân sẽ tăng thêm sự đồng thuận, niềm tin của nhân dân với chính quyền địa phương.

- Về thời điểm tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân cần tính toán hợp lý hơn. Mười năm qua, Hội nghị nhân dân được tổ chức vào dịp kỷ niệm Ngày giải phóng Thủ đô 10-10 hàng năm có ý nghĩa chính trị - xã hội ở Thủ đô. Tuy nhiên, vào thời điểm đó còn chưa tổng kết năm, việc đánh giá, công nhận gia đình văn hóa, tổ dân phố, làng văn hóa chưa hoàn thành, việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương chưa hoàn thành, mặt khác lại tiến hành ngày Hội đại đoàn kết toàn dân vào dịp 18-11 có nội dung liên quan tới việc xây dựng đời sống văn hóa và thời gian chuẩn bị rất khẩn trương.

- Một số nơi chưa tăng cường được sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, của chi bộ Đảng ở khu dân cư; sự phối hợp giữa Uỷ ban nhân dân và Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chưa chặt chẽ, còn có hiện tượng “giao” cho Mặt trận Tổ quốc thực hiện. Một số đoàn thể, ban, ngành chưa thực sự vào cuộc, chưa coi trọng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một nhiệm vụ thường xuyên của ngành, đoàn thể mình phải chỉ đạo thực hiện. Sự kết hợp giữa địa phương với các cơ quan đóng trên địa bàn chưa tốt.

Qua 10 năm tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở có thể rút ra những kinh nghiệm:

+ Phải coi trọng và làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa ở Thủ đô, cũng như ý nghĩa, nội dung Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

+ Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, phối hợp với Uỷ ban nhân dân và các Ban, ngành, đoàn thể. Tiến hành tập huấn cán bộ Mặt trận Tổ quốc từ thành phố, quận, huyện và cán bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc phường, xã, thị trấn; cần làm sao để cán bộ nắm vững tư tưởng chỉ đạo, ý nghĩa, nội dung, cách tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân ở cơ sở. Tiến hành chỉ đạo điểm rút kinh nghiệm mở rộng.

Tổng kết 10 năm tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, chúng ta khẳng định những kết quả, những mặt còn yếu, còn hạn chế và nguyên nhân. Điều quan trọng là tổng kết không phải là kết thúc, mà là rút kinh nghiệm, suy nghĩ đổi mới, nâng cao chất lượng Hội nghị đại biểu nhân dân, đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở Thủ đô trong tình hình mới.

Đổi mới, nâng cao chất lượng Hội nghị đại biểu nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở để Hội nghị đại biểu nhân dân thực sự là một phương thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân xây dựng đời sống văn hóa, cần quan tâm:

Thứ nhất, cần quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa nền tảng tinh thần của xã hội, cũng như vai trò quan trọng của nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, bao gồm việc xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, xây dựng cơ quan văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Trong đó, có gia đình là hạt nhân, khu dân cư ở địa bàn trọng yếu của phong trào.

Thứ hai, phát huy dân chủ, đề cao tính nhân dân là đặc trưng của Hội nghị đại biểu nhân dân, cần hết sức coi trọng và phát huy trong suốt quá trình chuẩn bị và tiến hành Hội nghị đại biểu nhân dân.

Phát triển văn hóa - xây dựng đời sống văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo. Xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh chỉ thành công khi đông đảo nhân dân tự nguyện tham gia. Hội nghị đại biểu nhân dân góp phần tích cực thúc đẩy quá trình đó. Việc phát huy dân chủ trong quá trình tiến hành Hội nghị đại biểu nhân dân không tách rời việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn; thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong xây dựng đời sống văn hóa.

Thứ ba, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là chủ đề chung được quán triệt trong các kỳ Hội nghị nhân dân, trong từng thời gian có sự vận dụng cụ thể vào những vấn đề bức xúc ở mỗi địa phương, tránh dập khuôn, hình thức. Báo cáo của Uỷ ban nhân dân cần tập trung vào mục tiêu phấn đấu, biện pháp thực hiện, gợi mở những vấn đề của địa phương xây dựng đời sống văn hóa để đại biểu thảo luận. Thảo luận của đại biểu nhân dân cần tập trung vào việc nhận xét, đánh giá việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, kiến nghị các biện pháp đẩy mạnh phong trào. Coi trọng việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân, định rõ trách nhiệm việc giải quyết kiến nghị của nhân dân và trả lời để nhân dân biết. Đây là một nội dung cần coi trọng trong việc nâng cao chất lượng Hội nghị đại biểu nhân dân.

Hàng quý, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp với Uỷ ban nhân dân và Ban chỉ đạo phong trào đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị đại biểu nhân dân, giải quyết kiến nghị của nhân dân. Ở các Tổ dân phố, thôn, làng, Ban Công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn, làng, tổ dân phố kiểm điểm việc thực hiện xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, đề ra biện pháp tiếp tục thực hiện trong từng thời gian.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, các chi bộ Đảng ở khu dân cư, vai trò gương mẫu của đảng viên trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Đưa việc phối hợp giữa Thường trực Mặt trận Tổ quốc, Uỷ ban nhân dân, Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa thành nề nếp trong việc tổ chức Hội nghị đại biểu nhân dân và hướng dẫn, chỉ đạo phong trào nhân dân xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

* Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội.

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       

 

 

 
 
 

  

 

 

 

 

 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn