Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 

 



   


             
 


MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ
XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH

                                                                                              TRẦN NGỌC HIÊN *

        Nhìn vào lịch sử phát triển kinh tế và chính trị, người ta thấy vai trò và trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội trong xã hội dân sự ngày càng tăng. Những nước tạo ra sự ổn định và phát triển thời gian lâu dài đều có chung một bài học là xử lý tốt mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội dân sự trong quá trình hoạch định chính sách. Những nước không coi trọng mối quan hệ ấy hoặc có giải quyết nhưng chỉ là hình thức kiểu làm phong trào thì đều gặp nhiều khó khăn hoặc thất bại. Bài học thành công hay thất bại nói trên phụ thuộc nhiều vào thể chế chính trị và môi trường văn hoá. Chúng ta có thể thấy rõ khi phân tích ba nội dung chủ yếu sau đây:

I. Sự hình thành mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội dân sự trong quá trình hoạch định chính sách là một tất yếu khách quan của sự phát triển

Tất yếu khách quan này bắt nguồn từ bản chất của kinh tế thị trường, còn mức độ thực hiện tất yếu ấy lại phụ thuộc vào trình độ phát triển chính trị và văn hoá của một nước. Việt Nam đã chuyển sang kinh tế thị trường, nên sự hình thành mối quan hệ này trở thành một tất yếu có lợi cho sự ổn định và phát triển. Do đó, cần nhận thức rõ sự hình thành mối quan hệ này trong điều kiện và đặc điểm Việt Nam.

1. Các tổ chức chính trị - xã hội và cả xã hội dân sự ra đời và phát triển có nguồn gốc từ sự phát triển kinh tế thị trường, vì đó là một quá trình sản xuất và tiêu dùng có tính chất xã hội ngày càng mở rộng. Vì vậy, trong kinh tế thị trường các lợi ích khác nhau đều phát sinh từ trong hoạt động kinh tế và có mối quan hệ với nhau. Mức độ phát triển mối quan hệ các lợi ích quy định mức độ ổn định và phát triển kinh tế thị trường. Để điều chỉnh mối quan hệ này cần đến vai trò Nhà nước, mà nhiệm vụ đầu tiên là hoạch định chính sách phát triển.

Nhìn sâu hơn, người ta thấy các tổ chức chính trị - xã hội ra đời do sự phân công lao động xã hội của phát triển kinh tế - xã hội. Phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, nên một mặt hình thành và phát triển cơ cấu xã hội - dân cư, mặt khác, ra đời các tổ chức xã hội mang tính nghề nghiệp. Mỗi tổ chức đại biểu cho quyền lợi một bộ phận xã hội nhất định và được thể hiện trong luật pháp Nhà nước. Vì vậy, các tổ chức ấy mang tính chất chính trị - xã hội.

Quá trình phân công lao động càng phát triển thì số lượng tổ chức chính trị - xã hội càng nhiều, mối quan hệ giữa các tổ chức ấy càng gắn bó, tạo ra sức sống của xã hội mới được gọi là xã hội dân sự. Đó là cơ sở của nền dân chủ, là nền móng của một Nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền.

Có thể nói các thành tựu của quá trình phát triển kinh tế thị trường không chỉ là làm tăng của cải vật chất và tinh thần, mà còn hình thành xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền.

2. Bước vào thế kỷ XXI, kinh tế thị trường đã chuyển từ giai đoạn phát triển kinh tế công nghiệp lên giai đoạn kinh tế tri thức và phát triển bền vững, nên đang thúc đẩy xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền làm nấc thang phát triển cao hơn theo hướng công bằng, dân chủ và văn minh hơn trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên.

Sự ra đời và phát triển kinh tế tri thức đang làm thay đổi sâu sắc cơ cấu xã hội dân sự và mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội với Nhà nước, nhất là trong hoạch định và thực hiện chiến lược và chính sách, theo hướng “Xã hội lớn, Nhà nước nhỏ” như nhiều nhà nghiên cứu đã dự báo.

3. Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường trong thời đại kinh tế tri thức và xu hướng phát triển bền vững đang lan toả trên khắp hành tinh. Vì vậy, đặc điểm lớn nhất của Việt Nam là phát triển bền vững theo con đường rút ngắn, dựa trên kinh tế tri thức. Đó là cơ hội chưa từng có và cũng là thách thức lớn đối với các tổ chức chính trị - xã hội và Nhà nước đòi hỏi chúng ta phải tự lớn lên, phát huy đầy đủ nội lực với chất lượng mới ngay từ quá trình hoạch định chính sách. Muốn vậy, phải sớm vượt khỏi tầm nhìn “duy ý chí tập thể” và phương pháp hoạt động kiểu hành chính quan liêu khá phổ biến hiện nay.

II. Động lực và mục tiêu của quá trình hoạch định chính sách - căn cứ để xây dựng và hoàn thiện mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội và Xã hội dân sự

Trong thực tiễn, mục tiêu hoạch định chính sách sẽ quyết định động lực tham gia quá trình hoạch định và thực hiện chính sách của các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội dân sự. Khi mục tiêu của chính sách nhằm giải quyết hài hoà lợi ích của xã hội và của tổ chức chính trị - xã hội, trong đó bao gồm lợi ích của cá nhân thì sẽ tạo ra động lực đổi mới, sáng tạo của các tổ chức chính trị - xã hội trong tham gia hoạch định và thực hiện chính sách. Vì vậy, mục tiêu của chính sách là cơ sở để xây dựng mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội - dân sự trong hoạch định chính sách. Muốn vậy, mục tiêu của chính sách phải được công khai, minh bạch, quy định vai trò đi đôi với trách nhiệm của các bên trong mỗi bước đi của quá trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách.

Mặt khác, mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội còn thể hiện ở hình thức và phương pháp hợp tác với nhau. Hình thức và phương pháp hợp tác phải vừa phát huy được ưu thế nghề nghiệp của mỗi tổ chức, vừa phù hợp với mục tiêu chung trước yêu cầu của thực tiễn đang biến đổi. Do đó, hình thức và phương pháp hợp tác không nên xơ cứng, chậm thay đổi.

Ở Việt Nam, do điểm xuất phát thấp và cách tổ chức hoạt động của các tổ chức xã hội kiểu làm phong trào, nên muốn xây dựng mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội - dân sự thì cần phải có định hướng không ngừng nâng cao dân trí và chất lượng nghề nghiệp tạo ra sự đồng thuận về mục tiêu và động lực tham gia công việc chung.

III. Thể chế kinh tế chính trị - nhân tố quyết định sự hình thành và phát triển mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội dân sự trong hoạch định chính sách

Ở Việt Nam, sau khi chuyển sang kinh tế thị trường (từ 1986 trở đi) đã có nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp ra đời, bên cạnh một số tổ chức chính trị - xã hội truyền thống do Đảng cầm quyền lập ra (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam...). Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - tổ chức đại diện cho xã hội dân sự hiện nay đã mở rộng từ tổ chức đại diện cho các tổ chức chính trị - xã hội truyền thống thành tổ chức đại diện cho toàn bộ các tổ chức xã hội bên ngoài tổ chức Đảng và Nhà nước.

Hiện nay, các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội dân sự cũng như tổ chức đại diện xã hội dân sự (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) đang trong quá trình đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò và trách nhiệm cũng như phương thức tổ chức, phương pháp hoạt động trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Vì vậy, cần sớm xây dựng thể chế kinh tế chính trị để tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội dân sự để phát huy nội lực của đất nước.

Từ bài học thành công chung ở các nước phát triển thì tổ chức và hoạt động của thể chế chính trị là:

1. Về cơ cấu tổ chức của thể chế:

Đây là một hệ thống gồm ba bộ phận:

- Hệ thống tổ chức Nhà nước pháp quyền;

- Hệ thống các tổ chức Doanh nghiệp (các Hội, Hiệp hội Doanh nghiệp đại diện cho yêu cầu thị trường)

- Hệ thống các tổ chức xã hội dân sự.

Trong cơ cấu này, Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất trong ba bộ phận. Hoạt động quản lý của Nhà nước đòi hỏi bám sát nhu cầu của xã hội và thị trường, trở thành nhân tố thúc đẩy (hay cản trở) sự phát triển của kinh tế và xã hội. Do đó, Nhà nước không đứng ngoài hay đứng trên thể chế, tách rời sự vận động của thể chế kinh tế - chính trị.

Ở Việt Nam, thể chế này sẽ thúc đẩy có hiệu quả quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, hoàn toàn khác với cách làm hành chính trước đây.

2. Về hoạt động của thể chế kinh tế chính trị:

Đây là hoạt động của một hệ thống nên đòi hỏi phải có sự tương tác giữa các bộ phận trong hệ thống (tư vấn, phản biện, giám định xã hội), nhờ đó đạt được những kết quả mà khi các bộ phận đứng riêng, tách rời nhau thì không thể có.

Thứ nhất, nhờ tương tác, nên mỗi bộ phận nhận rõ những yêu cầu của hai bộ phận kia, đồng thời nhận rõ khả năng đáp ứng của mình ở mức độ nào. Vì vậy có phương hướng đúng để bổ sung, hoàn thiện mình theo yêu cầu của cả hệ thống.

Thứ hai, nhờ tương tác, nên tạo ra kết quả tổng hợp của hệ thống. Kết quả này lớn hơn kết quả số cộng của ba bộ phận. Người ta gọi kết quả lớn hơn này là kết quả hợp trội, mà chỉ có tương tác các bộ phận trong hệ thống mới có.

Thứ ba, thể chế kinh tế chính trị với tổ chức và phương thức hoạt động như trên còn là biểu hiện sự phát triển của quá trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội (kinh tế, xã hội, chính trị), là cầu dẫn giá trị dân chủ vào cuộc sống của cộng đồng và mỗi người dân.

Thứ tư, với tổ chức và hoạt động như trên thì bản thân thể chế kinh tế chính trị còn biểu hiện thực tế khuôn mặt ban đầu của nền văn hoá mới, đồng thời cũng là động lực để xây dựng nền văn hoá mới, phát sinh từ đổi mới đồng bộ về kinh tế, về xã hội và chính trị.

Những ưu điểm của thể chế kinh tế chính trị nói trên sẽ góp phần quyết định chất lượng của hoạch định và thực hiện chính sách theo con đường dân chủ hoá.

3. Điều kiện cần thiết trong xây dựng thể chế và vận hành có kết quả:

Thực tiễn công cuộc đổi mới đã chỉ cho thấy rằng, những thành công và tồn tại, hạn chế đều bắt nguồn từ tình hình đổi mới tư duy và phương pháp trong các hoạt động lãnh đạo và quản lý các cấp, trước hết là cấp vĩ mô. Theo quan điểm của Đại hội VI của Đảng về “Nhìn thẳng vào sự thật” mà nhìn vào thực trạng đất nước hiện nay thì thấy rõ tư duy kinh tế chính trị không theo kịp nhu cầu nắm bắt cơ hội để vượt qua thách thức. Nhiều quan điểm đúng đắn trong các văn kiện của Đảng (như: Phát triển bền vững, Nhà nước pháp quyền, tư vấn và phản biện...) vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống.

Hiện nay, thay đổi tư duy và phương pháp trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý là khâu mở đầu quyết định để sớm có thể chế và vận hành có hiệu quả. Sự thay đổi về tư duy và phương pháp cần chú ý đến đặc điểm tư duy qua các giai đoạn từ sau kết thúc chiến tranh ở nước ta:

a. Giai đoạn từ 1976-1986: Đặc điểm tư duy về kinh tế và chính trị là “làm mà không biết” do duy ý chí chủ quan, không tôn trọng quy luật khách quan.

b. Giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay: Đặc điểm tư duy lãnh đạo, quản lý là “làm rồi mới biết” khi chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Giai đoạn này chỉ dựa vào tổng kết kinh nghiệm đã qua để sửa chữa nên không thể chủ động, sáng tạo trước biến đổi nhanh của thực tiễn mọi mặt trong nước và thế giới.

c. Giai đoạn từ 2011 trở đi: Trước bước ngoặt của phát triển mô hình mới, chắc chắn sẽ là và phải là tư duy “biết rồi mới làm”; Vì đây là giai đoạn kinh tế tri thức giữ vai trò chủ đạo trong mọi thay đổi vừa tạo ra cơ hội lớn cho con đường phát triển rút ngắn của nước đi sau, vừa là thách thức rất lớn cho đổi mới. Chỉ có tư duy dựa trên “biết rồi mới làm” mới biến thách thức thành cơ hội phát triển. Đây cũng là định hướng cho mọi nghiên cứu - triển khai, nhất là khoa học xã hội, khoa học kinh tế, khoa học chính trị, phải vượt lên chính mình để có mặt trong cuộc sống ở bước ngoặt đầu thế kỷ XXI.

* GS-TS, Đại học Khoa học xã hội nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



Mặt trận với hoạt động nghiên cứu
về sửa đổi Hiến pháp

                                                                                    HẢI HƯNG *

     Từ tháng 8 - 2011, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động góp phần vào việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Trong đó, có một số hoạt động mang tính nghiên cứu.

1. Tổ chức 4 nhóm nghiên cứu & 3 đoàn khảo sát thực tế

4 nhóm nghiên cứu gồm: nhóm số 1 nghiên cứu về “Chế độ chính trị và bộ máy nhà nước”, nhóm số 2 nghiên cứu về “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, nhóm số 3 nghiên cứu về  “Chế độ kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ”, nhóm số 4 nghiên cứu về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”.

3 đoàn khảo sát thực tế do các Phó Chủ tịch Trung ương Mặt trận dẫn đầu; trong đó đoàn khảo sát miền Trung & Tây Nguyên do Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Vũ Trọng Kim dẫn đầu (nghiên cứu tại 4 tỉnh).

2. Tổ chức Hội thảo - Tọa đàm

Đã tổ chức Hội thảo tại TP.Hồ Chí Minh (ngày 30-11), Hà Nội (ngày 7-12) và các cuộc Toạ đàm tại Đà Nẵng (ngày 30-11), Quảng Nam (ngày 1-12), Qui Nhơn (2-12), Đắk Lắc (4-12)…

Qua khảo sát thực tế và ý kiến tại những buổi sinh hoạt khoa học, nổi bật có 2 vấn đề lớn được quan tâm đó là Tổng kết việc thực hiện Hiến pháp năm 1992 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992.

Tổng kết việc thực hiện Hiến pháp năm 1992

Có nhiều ý kiến thảo luận liên quan đến việc thực hiện Hiến pháp 1992; trong đó, đề cập đến một số nội dung sau:

- Vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị.
- Mặt trận tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.
- Mặt trận tăng cường sự thống nhất về chính trị, tinh thần trong nhân dân; cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, pháp luật.
- Mặt trận với việc giám sát hoạt động của chính quyền, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước.
- Trách nhiệm của chính quyền đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992

1. Quan điểm chung

Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và có hiệu lực pháp lý cao nhất. Nội dung của Hiến pháp là cơ sở nền tảng của hệ thống pháp luật.

Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần 2 là kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, các quan điểm, đường lối của Đảng về hoàn thiện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo đó, chế độ chính trị với tư cách là chế định quan trọng nhất của Hiến pháp cần phải nhất quán khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đồng thời tiếp tục ghi nhận, củng cố, phát triển các cơ sở của hệ thống chính trị xã hội, các nguyên tắc và hình thức thể hiện, bảo đảm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng, Mặt trận và đoàn thể nhân dân (Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên, Nông dân, Hội cựu chiến binh...) trong đó phải đặc biệt nhấn mạnh vai trò, vị trí, trách nhiệm quan trọng của các cơ quan dân cử - đại diện của nền dân chủ XHCN, để các cơ quan này có đủ cơ sở, điều kiện thực hiện quyền và trách nhiệm theo luật định.

2. Một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung

Trong thời kỳ từ 2013, Hiến pháp mới cần bổ sung:

 Một là, vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân;

Hai là, vai trò là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân;

Ba là, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Ba nội dung này, cần được bổ sung trong Hiến pháp vì:

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đoàn viên, hội viên; tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện giám sát xã hội, phản biện xã hội như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội X, XI của Đảng đã nêu.

Mặt trận Tổ quốc được xác định là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện bao gồm tổ chức chính trị (Đảng Cộng sản Việt Nam), các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài. Do vậy, Mặt trận Tổ quốc bao gồm các tổ chức và cá nhân thành viên nói trên là bộ phận của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (như Khoản 2 Điều 1 Luật MTTQ Việt Nam đã quy định). Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo Mặt trận vừa là thành viên của Mặt trận.

Đối với vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thì xuất phát từ sự thừa nhận Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tính đến hoạt động đặc thù của Mặt trận và đoàn thể, Đảng ta khẳng định: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”. Thực tế thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đã thực hiện hoạt động giám sát; tích cực tham gia góp ý kiến vào dự thảo nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động phối hợp với cơ quan nhà nước xây dựng và ban hành một số quy định, cụ thể hoá một bước cơ chế giám sát và đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, đến nay hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Phản biện xã hội là nhiệm vụ mới, rất quan trọng, khó khăn và nhạy cảm, nhưng chưa có cơ chế phản biện xã hội cụ thể, chưa có quy định thật rõ về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Đảng ta đã nêu: “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển quan trọng”. Vì thế, việc bổ sung vai trò, chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân vào Hiến pháp là hết sức cần thiết.

Do vậy, khổ 2 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 sẽ được sửa lại là: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, là bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với đảng và nhà nước”.

Hiện nay, thực tế còn tình trạng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên về điều kiện tổ chức và hoạt động còn phụ thuộc nhiều vào nhà nước theo kiểu cơ chế xin cho, ban ơn. Điều này, cũng được phản ánh vào Hiến pháp, thể hiện ở chỗ khổ 3 Điều 9 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.". Do vậy, kiến nghị thay từ “tạo” bằng cụm từ “bảo đảm”; cụ thể sửa là: “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên được nhà nước bảo đảm các điều kiện để hoạt động có hiệu quả”.

 Tại Điều 111 của Hiến pháp hiện hành có quy định Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan. Tuy nhiên, tại Chương VI của Hiến pháp hiện hành chưa quy định Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được mời tham dự các kỳ họp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi bàn các vấn đề có liên quan. Kiến nghị bổ sung vấn đề này trong Hiến pháp sửa đổi, bổ sung;

3. Một số ý kiến khác về Hiến pháp mới

Cần thiết phải xây dựng bản Hiến pháp mới

Hiến pháp 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới cách đây đúng 10 năm đã được sửa đổi, bổ sung một lần một số điều vào năm 2001. Đến nay, đã bước sang thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới, đã trải qua một thập kỷ đầu của thế kỷ XXI của thiên niên kỷ thứ 3, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25 năm đổi mới, đã xác định rõ mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Do đó, rất nên có một bản Hiến pháp mới Hiến pháp thứ năm của nền cộng hòa xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp của thế kỷ XXI (không phải Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung lần thứ 2).

Sửa đổi, bổ sung quy định về Đảng

 Điều 4 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam” nhưng chưa đầy đủ. Đảng cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi nhận. Vì vậy, khổ 1 của Điều 4 nên  sửa lại là: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Mặt khác, không chỉ mọi tổ chức của Đảng cần hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật mà điều quan trọng là mọi đảng viên cũng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, khổ 2 Điều 4 nên sửa lại là: “Mọi tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”

Sửa đổi, bổ sung quy định về Nhà nước

Điều 2 của Hiến pháp 1992 quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, trong điều luật này nên bỏ cụm từ “mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Bởi vì: Chúng ta đang phấn đấu để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” và để có được một xã hội như vậy, cần phải huy động sức mạnh và có sự đóng góp công sức của toàn thể nhân dân, cần phải phát huy sức mạnh toàn dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân là động lực phát triển của đất nước như từ Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra. Một điểm nổi bật trong đường lối, chính sách của Đảng về mặt chính trị trong thời gian vừa qua là Đảng đã xác định: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn xã hội. Đoàn kết, đại đoàn kết bao giờ cũng là nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Đoàn kết toàn dân thì tạo ra được sức mạnh vật chất và tinh thần, huy động được các nguồn lực, khai thác được các thuận lợi mới, vượt qua các thách thức mới, đi đến những thành công mới. Do vậy, đề nghị Điều 2 của Hiến pháp nên được viết lại là: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nam nữ, giai cấp, dân tộc, tôn giáo”.

* Nhà nghiên cứu.  Năm 2011, tác giả có bài trên Tạp chí Mặt trận số 87, tr 53; số 92, tr 18; số 95, tr 75... Trong Chuyên đề Mặt trận & Cuộc sống, tác giả có bài ở số 1, tr 38; số 3, tr 45...

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN
MỘT VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM ĐẶC BIỆT KHI SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

                                                                                                LÊ ĐỨC TIẾT*

     Giám sát, thanh tra, kiểm tra là những từ thường dùng trong giao tiếp hàng ngày, trong các văn bản của các cơ quan nhà nước, nhưng chưa được định nghĩa một cách rạch ròi. Do vậy, cách hiểu, cách vận dụng vào thực tiễn hiện chưa có sự thống nhất.

I. Về Giám sát

- Từ điển Hán Việt Đào Duy Anh định nghĩa giám sát là “xem xét” và “đàn hặc” (Nxb KHXH, H. 1996, tr.323-324). Từ điển tiếng Việt định nghĩa giám sát là “theo dõi” và “kiểm tra” xem có thực hiện đúng những điều quy định không? (Nxb Giáo dục, H. 1994, tr.374). Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm đảm bảo pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó.

Các định nghĩa trên chưa nêu đầy đủ nội hàm và những điều giống nhau, khác nhau trong vận dụng các chế định về giám sát, thanh tra, kiểm tra.

Nội hàm của từ giám sát không chỉ bao gồm các hành vi: xem xét, đàn hặc hay theo dõi, kiểm tra. Giám sát, trước hết, không phải là sự ngó, nhìn một cách thụ động. Nếu người giám sát không có quyền tác động vào hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát thì đó chỉ là quan sát viên. Xem xét gắn với đàn hặc (chất vấn) hoặc xem xét gắn với kiểm tra cũng chưa đủ. Mục đích cốt lõi của hoạt động giám sát là buộc được đối tượng chịu sự giám sát phải chỉnh lại hướng đi nếu đã đi sai đường lối, phải khắc phục những hành vi sai trái đã phạm phải, phải loại bỏ được những tổ chức, những con người không đủ năng lực, tín nhiệm.

Nội hàm của quyền giám sát bao gồm trong nó ba quyền, được thực thi theo ba giai đoạn riêng biệt nhưng nối tiếp nhau:

1) Giai đoạn thứ nhất: Theo dõi các cuộc hội nghị, các thông điệp, các báo cáo do cơ quan, viên chức nhà nước công bố; trực tiếp quan sát diễn biến của thực trạng; theo dõi các cuộc tiếp dân, tiếp xúc cử tri, giải quyết đơn thư người khiếu nại, tố cáo. Gọi chung là quyền được thông tin.

2) Giai đoạn thứ hai: Tiến hành điều tra, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán, kiểm soát nhằm đánh giá đúng thực trạng vi phạm đã xảy ra. Gọi chung là quyền kiểm tra.

3) Giai đoạn thứ ba: Kiến nghị, ra nghị quyết, phản biện, phúc quyết, trả lời trưng cầu dân ý, bỏ phiếu tín nhiệm, bãi miễn những viên chức không xứng đáng. Gọi chung là quyền xử lý sai phạm.

Nội hàm giám sát phải có đủ cả ba quyền: quyền thông tin; quyền kiểm tra; quyền xử lý sai phạm. Với chế định giám sát của nhân dân, nếu thiếu đi một trong ba quyền đã nêu, đặc biệt nếu không có quyền kiểm tra và quyền xử lý sai phạm thì hoạt động giám sát chỉ mang tính dân chủ hình thức.

Giám sát là hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục và song hành với quá trình hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát nhưng không can thiệp vào công việc chuyên môn của chủ thể được giám sát nếu như không có vi phạm xảy ra. Đối tượng chịu sự giám sát được chủ động hoàn toàn trong công việc chuyên môn của mình mà không bị phân tâm, không bị gián đoạn trong hoạt động liên tục của các cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán.

Có thể định nghĩa một cách khái quát về giám sát như sau: “Giám sát là sự quan sát, theo dõi hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát tuân thủ nghiêm pháp luật, thực hiện đúng chủ trương, kế hoạch nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định”.

 II. Về giám sát của UBMTTQ các cấp, người đại diện rộng rãi nhất của nhân dân

 Quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Nhà nước không loại bỏ, không thay thế, không làm yếu đi quyền giám sát của UBMTTQ các cấp, người đại diện rộng rãi nhất của nhân dân. Sự giám sát của UBMTTQ các cấp đối với hoạt động của cơ quan nhà nước và công chức là sự giám sát của người “chủ đất nước” đối với “công bộc”, là sự giám sát của trăm tai, nghìn mắt. Sự giám sát của nhân dân, của UBMTTQ các cấp là sự giám sát mang tính khách quan.

 Khái niệm nhân dân ngày nay được mở rộng hơn trước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện có 44 hiệp hội và hội thành viên, 19 hiệp hội và hiệu đoàn thể thao, 70 liên hiệp các tổ chức kinh tế, 30 hiệp hội trong lĩnh vực từ thiện, 28 hiệp hội kinh doanh nước ngoài (số liệu của MTTQTW). Đến tháng 6-2005, (theo thống kê của Bộ Nội vụ), có 320 hội hoạt động trên phạm vi toàn quốc, 2.150 hội hoạt động trên phạm vi tỉnh. Sự tồn tại của các tổ chức chính trị - xã hội đảm bảo tính ổn định về mặt chính trị - xã hội của đất nước. Sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của các tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là tiền đề của sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Tiếng nói của các tổ chức khoa học, kinh tế trong góp ý, phản biện các dự án luật, các chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước đã đem lại luồng không khí mới cho các cơ quan soạn thảo luật, các cơ quan hoạch định chính sách.

 Một số nhà nghiên cứu đã phân loại xã hội thành hai loại: (1) Xã hội công quyền, bao gồm tất cả những tổ chức và viên chức nhà nước; (2) Xã hội dân sự bao gồm tất cả các tổ chức phi nhà nước, còn gọi là phi chính phủ. Một số nhà nghiên cứu phương Tây khẳng định xã hội dân sự phải giữ vai trò đối lập với xã hội công quyền mới đảm bảo được dân chủ, mới chống lại được nạn lạm quyền, cướp quyền của cơ quan, viên chức nhà nước.

Trong lịch sử Việt Nam, xã hội dân sự luôn đồng hành, tương tác thuận lợi với xã hội công quyền. Ở Việt Nam, giữa xã hội dân sự với xã hội công quyền luôn có sự chung lòng, chung sức trong xây dựng, bảo vệ đất nước. Vua tôi cùng hòa, cả nước một lòng là phương châm hành động, là truyền thống của Việt Nam đã hình thành và đã tồn tại hàng ngàn năm nay.

Mở rộng, khuyến khích, tạo điều kiện cho xã hội dân sự phát triển một cách đúng hướng và thiết lập được mối quan hệ đúng đắn giữa xã hội công quyền với xã hội dân sự là động lực cho sự mở rộng dân chủ, cho sự phát triển không ngừng về mọi mặt của đất nước.

Xã hội công quyền quản lý về mặt nhà nước đối với xã hội dân sự. Xã hội dân sự chịu sự quản lý về mặt nhà nước của xã hội công quyền, đồng thời giám sát hoạt động của xã hội công quyền. Đó là mối quan hệ biện chứng đúng đắn giữa xã hội công quyền với xã hội dân sự.

Các Hiến pháp Việt Nam luôn khẳng định người dân là chủ của đất nước và có những điều quy định nhân dân có quyền giám sát hoạt động của nhà nước.

Hiến pháp 1946 chưa dùng khái niệm “Nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan và viên chức Nhà nước” nhưng đã đề cập đến những vấn đề nhạy cảm, quan trọng nhất của vấn đề này. Nhân dân được vào nghe Nghị viện họp, có quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, có quyền bãi miễn các nghị viên, các bộ trưởng không được tín nhiệm. Các quyền này làm nức lòng người dân vừa thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, nay đã trở thành người chủ của đất nước. Tiếc rằng sau khi giành được Độc lập, nhân dân Việt Nam lại phải dồn sức, dồn lực cho cuộc kháng chiến lâu dài trong 9 năm (1946 - 1954). Nhà nước chưa có đủ điều kiện để luật hóa những điều Hiến định để áp dụng vào cuộc sống.

Hiến pháp năm 1959 vẫn giữ nguyên tắc: Tất cả quyền lực trong nước đều thuộc về nhân dân. Dân chủ theo Hiến pháp năm 1959 là dân chủ đại diện và theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền giám sát hoạt động của hành pháp, tư pháp tập trung vào cơ quan quyền lực.

Hiến pháp năm 1980 được ban hành trong thời kỳ nước Việt Nam đã được giải phóng hoàn toàn. Nhưng hệ thống các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa đã bắt đầu lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Phe đế quốc, đứng đầu là Mỹ tập trung chống phá, cô lập Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó, chế độ dân chủ đại diện và nguyên tắc tập trung dân chủ định hướng và chi phối mọi hoạt động của Nhà nước.

Việc thực thi chế độ dân chủ đại diện và nhấn mạnh đến nguyên tắc tập trung dân chủ trong một thời gian dài ở Việt Nam đã làm nảy sinh và làm trầm trọng các hậu quả của bệnh tập trung quan liêu, hách dịch và xa rời nhân dân trong một bộ phận không ít viên chức. Hiến pháp năm 1992 được ban hành sau khi đã có chủ trương đổi mới toàn diện. Những điều Hiến định về quyền giám sát của nhân dân bắt đầu đã được luật hóa. Khẩu hiệu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đã được thể chế hóa bằng một số văn bản pháp luật, như: Pháp lệnh số 34, ngày 20-4-2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; ngày 15-11-2010, Quốc hội ban hành Luật Thanh tra, trong đó có chương quy định về Thanh tra nhân dân; ngày 18-4-2005, Chính phủ ban hành Quyết định số 80/QĐ-TTg về Giám sát đầu tư cộng đồng; ngày 25-1-2005 Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Thông tri hướng dẫn việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt do Hội đồng nhân dân xã bầu và Trưởng thôn; ngày 10-1-2006, Hội nghị lần thứ ba Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Nghị quyết về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Việc ban hành và áp dụng các văn bản trên đã tạo ra một luồng sinh khí mới trong nhân dân. Đa số người dân tuy chưa biết rõ, biết đủ về quyền làm chủ của mình, nhưng qua việc thực hiện Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã phường, về thanh tra nhân dân, về bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt ở xã, thôn, về tham gia phòng chống tham nhũng, về giám sát đầu tư cộng đồng, nhiều người dân đã biết được là họ tham gia xây dựng nhà nước như thế nào và bằng cách nào. Việc cụ thể hóa các điều hiến định bằng những đạo luật cụ thể đã tạo nên những chuyển biến tích cực. Nó tạo điều kiện cho mở rộng dân chủ thật sự, dân chủ trực tiếp nhiều hơn dân chủ đại diện đã được thực thi trong nhiều năm theo các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1991 và Hiến pháp sửa đổi 2001.

 III. Về Thanh tra

 Theo từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, thanh tra là quan lại do chính phủ sai đi xem xét ở nhân dân mà giấu hình không cho người biết, chỉ đi ngầm để xét tra cho được thực tích quan lại và tình hình địa phương (Nxb Khoa học xã hội. H. 1996, tr.371). Theo từ điển tiếng Việt, thanh tra là kiểm soát (!), xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp (Nxb Giáo dục. H. 1994, tr.882). Theo định nghĩa của Luật Thanh tra số 56-2010-QH12, “Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”.

Các định nghĩa trên chưa nêu rõ sự giống nhau và khác nhau giữa giám sát, thanh tra và

kiểm tra.

Nội hàm hoạt động thanh tra không khác mấy so với nội hàm của hoạt động kiểm tra của thủ trưởng. Nhưng hoạt động thanh tra không thay thế, không loại trừ hoạt động kiểm tra của thủ trưởng. Điểm nổi bật của hoạt động thanh tra là sự kiểm tra nhân danh nhà nước nhằm bảo đảm sự thống nhất kỷ cương, pháp chế quốc gia trong mọi mặt hoạt động, chống các biểu hiện của địa phương, cục bộ. Do vậy, tổ chức thanh tra được đặt tên là Thanh tra Nhà nước. Sẽ là hợp lý, khi đặt tên gọi là Thanh tra nhà nước về hành chính, Thanh tra nhà nước về giao thông, Thanh tra nhà nước về y tế thay cho tên gọi là Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ Giao thông, Thanh tra Bộ Y tế...

Về mặt nhân sự, cán bộ thanh tra phải là người có trình độ chuyên môn cao và sâu về lĩnh vực thanh tra. Cán bộ thanh tra phải là những quan chức nổi tiếng thanh liêm và cương trực. Người được bổ nhiệm “Quan thanh tra” là những viên chức có thâm niên nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn giỏi, có đạo đức trong sáng. Vì vậy, có định nghĩa rằng “Thanh tra là sự kiểm tra nhằm đảm bảo sự trong sạch của bộ máy Nhà nước”. Viên chức thanh tra ít nhưng giỏi, có uy tín lớn thì hoạt động có hiệu quả hơn nhiều người và nhiều cấp thanh tra. Hoạt động thanh tra không bao biện, không làm thay hoạt động kiểm tra của thủ trưởng. Các cơ quan thanh tra thường chỉ tổ chức ở cấp trung ương, cấp bộ, ngành và tỉnh. Để đảm bảo hiệu lực của hoạt động thanh tra, về mặt thẩm quyền, các Chánh thanh tra có quyền độc lập với người đứng đầu cơ quan hành pháp cùng cấp. Các Thanh tra viên chỉ trực thuộc Chánh thanh tra cấp mình.

IV. Về Kiểm tra

Theo từ điển Hán Việt, kiểm tra là tra xét (tr.422). Theo từ điển tiếng Việt, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét (Nxb Giáo dục. H. 1994, tr.504). Theo từ điển Bách khoa, kiểm tra là một chức năng quản lý, một khâu trong quá trình quản lý có chức năng xem xét tình hình và kết quả thực tế thi hành pháp luật, chính sách, chủ trương của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội được giao (Từ điển bách khoa Việt Nam, tập II.

H. 2002).

Mục đích chính của kiểm tra là để biết rõ đúng thực trạng. Trong quá trình kiểm tra, thanh tra, có thể sử dụng các hình thức: kiểm kê là cân, đong, đo, đếm, thống kê số lượng để biết thiếu, đủ; kiểm soát là khám xét; kiểm định, giám định để biết chất lượng; kiểm toán để biết đúng sai của công tác kiểm tra tài chính. Kiểm tra là hoạt động gắn liền với mọi giai đoạn của quy trình quản lý: trước, trong và sau mỗi kế hoạch, mỗi chiến dịch, mỗi đợt hoạt động. Kiểm tra là để rút kinh nghiệm bổ khuyết cho các hoạt động tiếp theo. Hiệu lực của hoạt động kiểm tra thể hiện ở tính kịp thời, nhạy bén của nó. Trong giám sát, việc chấn chỉnh, loại bỏ những sai sót thường phải trải qua một thời gian, một số trình tự, thủ tục nhất định. Trong kiểm tra của thủ trưởng, bằng những mệnh lệnh hành chính, sai sót được sửa chữa ngay.

Lãnh đạo, chỉ huy và kiểm tra gắn liền với chức danh, quyền và trách nhiệm của người thủ trưởng từ cấp cao nhất đến người thấp nhất ở cơ sở. Thủ trưởng nào không coi trọng, không trực tiếp kiểm tra là người đó tự tước bỏ cương vị thủ trưởng của họ. Thủ trưởng cơ quan cấp trên không bao giờ được nói: “Việc này do cấp dưới làm, tôi không biết (!)”. Họ phải bị xử lý vì thiếu kiểm tra, vì buông lỏng quản lý đối với cấp dưới.

 Với những đặc điểm nêu trên, công tác kiểm tra là khâu không thể thiếu của công tác quản lý hành chính. Những thủ trưởng cơ quan nhà nước hay chủ các doanh nghiệp có kinh nghiệm thường chủ động tự mình đi kiểm tra đối với các tổ chức và nhân viên trực thuộc. Nhờ vậy họ biết rất rõ tình hình và năng lực, trình độ của cấp dưới. Không có gì lọt ra ngoài tầm nhìn, không có ai dám báo cáo những điều không trung thực với người thủ trưởng biết coi trọng hoạt động kiểm tra.

 Tổng kết lại hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực, giám sát của nhân dân, của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, hoạt động thanh tra nhà nước, hoạt động kiểm tra của thủ trưởng cơ quan tuy có những điểm giống nhau nhưng về mục đích cụ thể và nội hàm cũng như trình tự thủ tục có những điểm khác nhau, hỗ trợ cho nhau nhưng không loại trừ hoặc lấn sân, bao sân, thay thế cho nhau.

Cần thống nhất khái niệm về giám sát, thanh tra, kiểm tra để tránh sự trùng lặp về tổ chức biên chế, làm phình to bộ máy nhà nước, tránh sự trùng lặp về hoạt động nhằm tránh gây phiền hà, rối rắm cho các đối tượng chịu sự kiểm tra và thanh tra một cách liên tục.

V. Cơ chế bảo đảm thực thi dân chủ thực sự

 Phạm trù dân chủ thường được bàn đến dưới ba cách tiếp cận: (1) Chế độ dân chủ, (2) phong cách làm việc dân chủ (3) cơ chế đảm bảo, vận hành dân chủ.

1) Chế độ dân chủ là chế độ chính trị; xã hội lấy việc phục vụ lợi ích cho “dân” làm mục đích tối thượng. Chế độ dân chủ tư sản phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Chế độ dân chủ vô sản phục cho lợi ích của giai cấp vô sản. Chế độ dân chủ nhân dân phục vụ lợi ích toàn thể nhân dân.

2) Tác phong dân chủ là cách làm việc đặt lợi ích của dân lên trên hết và trước hết, thực sự cầu thị, sâu sát với dân chúng, lắng nghe, nhạy cảm với những nhu cầu, nguyện vọng của dân, tôn trọng các nguyên tắc thực thi dân chủ: số ít phục tùng số đông, cân bằng lợi ích toàn cục với lợi ích bộ phận, tôn trọng quyền bảo lưu của thiểu số…

3) Cơ chế bảo đảm thực hiện dân chủ là sáng tạo ra các tổ chức và xác lập những quy tắc hoạt động tương tác lẫn nhau, bình đẳng về vị thế với nhau để loại trừ sự độc quyền, độc đoán trong hành động. Là đặt mọi tổ chức, mọi lĩnh vực hoạt động, mọi chức vụ dưới những sự giám sát, thanh tra, kiểm tra nhạy bén, kịp thời, và những quy chế đảm bảo tính vô tư, khách quan và độc lập của cơ quan xét xử, thanh tra, kiểm tra, giám sát.

Ba vấn đề nêu trên không phải lúc nào cũng đồng thời xuất hiện và song hành với nhau. Dưới chế độ nô lệ và chế độ phong kiến vẫn có những vị vua có cách cai trị dân chủ. Vua E-phi-nan-tét (năm 462 TCN) và vua Pé-ri-clét (499-429 TCN) của nhà nước Hi-Lạp cổ đại, vua Xéc-vi-út Tu-li-út (khoảng 540-530 TCN) và vua Xê-da (năm 56 TCN) của nhà nước Rô-ma cổ đại, vua Lê Thánh Tông nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ XV… là những vị vua của chế độ độc tài, quan liêu. Nhưng họ đã có những cải cách dân chủ nổi tiếng còn lưu lại trong lịch sử, mà các chế độ dân chủ thời nay vẫn còn thừa kế, tiếp thu và ứng dụng.

Ngược lại, dưới chế độ dân chủ vẫn có không ít những người lãnh đạo, viên chức ở tất cả các cấp của chính quyền có cách làm việc độc đoán, lộng quyền, cậy quyền, vô cảm với dân, coi dân như cỏ rác. Có chế độ dân chủ không phải là mặc nhiên hoặc tất yếu sẽ có cách làm việc dân chủ, có cơ chế đảm bảo thực hiện dân chủ. Sự mất dân chủ dưới chế độ dân chủ diễn ra thiên hình vạn trạng, xảy ra hàng ngày, có thể bắt gặp ở mọi nơi, mọi lúc. Các thế lực thù địch đã tận dụng, moi móc các biểu hiện mất dân chủ để bôi nhọ chế độ. Chúng giương ngọn cờ bảo vệ dân chủ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Do vậy, dưới chế độ dân chủ phải tiến hành một cuộc đấu tranh lâu dài, gay go, đặc biệt là phải sáng tạo nên những cơ chế bảo đảm dân chủ một cách nhạy bén, có hiệu lực mới có dân chủ thật sự.

Nhà nước Cách mạng Việt Nam đã có lịch sử tồn tại và phát triển trên 65 năm. Trong hơn 65 năm qua, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chế định giám sát của nhân dân đối với việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước và viên chức chưa được quan tâm nghiên cứu để hoàn thiện dần. Trình độ làm chủ của nhân dân ngày càng được nâng cao. Mở rộng về phạm vi và chiều sâu quyền giám sát của nhân dân, cụ thể là của Mặt trận Tổ quốc các cấp đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước và nhân viên là xu thế, là quy luật tất yếu.

Nay Quốc hội khóa XIII đã có chủ trương sửa đổi Hiến pháp. Hoàn thiện chế định giám sát của nhân dân đối với hoạt động tuân thủ pháp luật của cơ quan và viên chức nhà nước là chủ đề cần đặc biệt quan tâm. Đã đến lúc phải làm điều đó. Không thể để chậm trễ hơn.

 VI. Kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của nhân dân

1. Mở rộng dân chủ trực tiếp: Để dân trực tiếp bầu Chủ tịch nước; ban hành Luật trưng cầu ý dân; ban hành Luật về phản biện xã hội, phản biện khoa học đối với các dự án luật, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội quan trọng và dài hạn của đất nước.

2. Ban hành Luật về công khai tài sản có trước bầu cử đối với đại biểu dân cử và viên chức và các điều cấm đối với viên chức đương nhiệm; ban hành Luật về bãi miễn đại biểu dân cử, về bãi nhiệm viên chức nhà nước.

 3. Ban hành Luật về giám sát của nhân dân đối với hoạt động tuân thủ pháp luật của cơ quan và viên chức nhà nước.

 4. Sửa đổi Luật Thanh tra theo hướng rút gọn tổ chức và tinh giản bộ máy. Đặt thanh tra nhà nước, trực thuộc theo ngành dọc thanh tra, không trực thuộc bộ và địa phương. Chủ tịch nước bổ nhiệm, bãi miễn Tổng Thanh tra và các Thanh tra viên cấp Nhà nước. Tổng Thanh tra Nhà nước bổ nhiệm, bãi miễn các Thanh tra cấp tỉnh; Chỉ tổ chức thanh tra ở cấp trung ương và cấp tỉnh, thành.

 5. Ban hành Nghị định về kiểm tra hành chính với nội dung quy định kiểm tra hành chính là trách nhiệm trực tiếp, là nhiệm vụ thường xuyên của người đứng đầu cơ quan. Thủ trưởng cơ quan cấp trên phải liên đới chịu trách nhiệm về những vi phạm của cấp dưới. Có quy định về việc từ chức khi không hoàn thành nhiệm vụ, không giữ lời hứa, lời cam kết trước cơ quan dân cử, trước nhân dân.

6. Mở rộng quyền dân chủ trực tiếp, quyền giám sát của dân cả ở tầm vĩ mô bằng các hình thức:

 - Khuyến khích cán bộ cấp cao của Nhà nước đối thoại, định kỳ trả lời phỏng vấn của nhân dân trước ống kính truyền hình.

- Theo định kỳ, các đại biểu dân cử, Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và khu vực phải báo cáo trước cử tri và trả lời chất vấn cử tri về hoạt động của họ.

- Buộc các viên chức trả lời các “bức thư ngỏ” của nhân dân đăng trên các trang báo.

- Tổ chức các cuộc điều tra xã hội học để thăm dò tín nhiệm Thủ tướng, Bộ trưởng, các Chủ tịch cấp tỉnh, huyện.

- Mở rộng việc xã hội hóa hoạt động quản lý của Nhà nước. Xã hội hóa không phải là sự buông lỏng sự quản lý của nhà nước. Xã hội hóa công việc quản lý của nhà nước, trong ý nghĩa thực dụng của nó là giao việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cho tổ chức phi nhà nước thực thi trên cơ sở đấu thầu công khai, minh bạch và có sự thanh tra, kiểm tra chặt chẽ của nhà nước. Làm đúng, làm tốt công việc xã hội hóa hoạt động quản lý của nhà nước sẽ đem lại nhiều lợi ích thiết thực, như: giảm nhẹ gánh nặng chi phí về ngân sách nhà nước, thu hút đông đảo quần chúng tham gia xây dựng nhà nước, chống được tệ nạn quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Xã hội hóa công việc quản lý của nhà nước tuy không thuộc phạm trù giám sát của nhân dân nhưng nó có sự liên quan mật thiết với thiết chế xác lập và thực thi quyền giám sát của nhân dân đối với sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan và viên chức nhà nước.

* LS, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân chủ - Pháp luật Ủy ban TW MTTQ Việt Nam.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



HUY ĐỘNG NGƯỜI DÂN THAM GIA NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

                                                                                          JAIRO ACUNA ALFARO

LTS: Ông Jairo Acuna-Alfaro hiện là Cố vấn chính sách về Cải cách hành chính của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, tập trung vào hai lĩnh vực chính là cải cách khu vực công và chống tham nhũng. Ông là chủ biên của cuốn sách “Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” do UNDP thực hiện với sự phối hợp của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng và Ban Dân chủ - Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009. Hiện nay, ông cũng là thành viên của nhóm công tác xây dựng Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), một dự án nghiên cứu đang được thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ giữa Tạp chí Mặt trận, Mặt trận 63 địa phương và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển - Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) và UNDP.

Bằng hoạt động thực tiễn tại Việt Nam từ năm 2007, ông chia sẻ trong bài viết dưới đây góc nhìn của mình về những thay đổi tích cực trong quá trình phát triển của Việt Nam, về mức độ hài lòng của người dân đối với phát triển kinh tế, và tầm quan trọng của việc huy động người dân chủ động tham gia tích cực vào quá trình phát triển con người. Tác giả cho rằng cùng với những tiến bộ đã đạt được trong tiến trình phát triển và đổi mới của đất nước, công tác vận động nhân dân cũng cần được đổi mới theo hướng xem người dân là chủ thể của quá trình phát triển.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong cung ứng dịch vụ công tới người dân, đặc biệt là tới người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn. Những nỗ lực này đã đem lại nhiều lợi ích cho người dân Việt Nam trong hai thập niên vừa qua, cùng với những đổi mới hiện nay trong quá trình cải cách hành chính, những nỗ lực này đã đóng góp vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ người dân, từ khía cạnh khoa học, công nghệ, đến khả năng tiếp cận tốt hơn về giáo dục, y tế.

Báo cáo Phát triển con người Việt Nam năm 2011 do Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc chủ trì xây dựng đã đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức độ phát triển con người bậc trung. Trong giai đoạn 2001 đến 2011, Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng gần 12%, từ 0.651 điểm lên 0.728 điểm trong thang điểm từ 0 đến 1. Chỉ số Phát triển con người xem xét ba thành tố quan trọng, bao gồm: thu nhập (tổng sản phẩm quốc nội GDP trên đầu người tính theo sức mua tương đương PPP), tuổi thọ và trình độ học vấn (tỉ lệ biết chữ ở người lớn và tỉ lệ người đi học). Đây là bước tiến bộ ấn tượng, cho thấy những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa cải thiện mức sống của người dân.

Những thành tựu này đạt được thông qua phân công, phân cấp mạnh hơn, tính nhất quán và cơ chế phối hợp về mặt thể chế, trong đó ba nhân tố quan trọng nhất song đôi khi còn chồng chéo về vai trò, đó là: Đảng, Chính phủ (và đặc biệt là các cơ quan hành pháp) và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ) cùng các tổ chức thành viên đóng vai trò chủ lực. Vai trò của ba nhân tố này được thể hiện qua câu nói thường gặp “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” và MTTQ vận động quần chúng thực hiện.

Về căn bản, những chuyển biến mạnh mẽ nhất ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi hướng tới những chuẩn mực phát triển cao hơn có thể được chia thành hai giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn thứ hai là đổi mới trong khu vực hành chính nhà nước, cùng với việc gia tăng về số lượng và mức độ sẵn có của các dịch vụ công. Hai giai đoạn này tạo điều kiện cho Việt Nam chuyển đổi từ một quốc gia có mức thu nhập thấp trở thành một quốc gia có mức thu nhập bậc trung bình thấp. Bước chuyển đổi đó cũng có nghĩa là các thế hệ trẻ của Việt Nam có quyền tự chủ lớn hơn, có nhiều cơ hội học lên các cấp cao hơn, có sức khoẻ tốt hơn và có thu nhập cao hơn so với thế hệ cha mẹ. Những nỗ lực đó cũng nhằm mục đích nuôi dưỡng lớp trẻ, hay chủ nhân của tiến trình phát triển đất nước và đồng thời cũng có nghĩa là có sự thay đổi về cách thức huy động và khuyến khích người dân chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động của nhà nước, của chính quyền ở cấp địa phương.

Việc đạt mức thu nhập trung bình thấp đánh dấu bước chuyển biến tích cực rõ rệt nhất của giai đoạn đổi mới vừa qua của Việt Nam. Đây cũng là một biểu hiện tốt về tăng trưởng kinh tế và phát triển nói chung. Nó phản ánh mức độ thống nhất cao trong định hướng và ưu tiên phát triển của Đảng, Chính phủ và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Theo Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2010, cứ 9 người trong số 10 người được hỏi (90%) cho biết tình hình kinh tế của gia đình hiện nay hoặc bằng hoặc tốt hơn 5 năm trước đây và 68% số người được hỏi cho biết tình hình kinh tế của gia đình tốt hơn 5 năm trước. Điều quan trọng hơn đó là những chuyển biến tích cực trong thời gian vừa qua cũng đem lại tâm lý lạc quan về triển vọng phát triển kinh tế trong dân cư. Cứ 1 trong số 5 người dân Việt Nam cho rằng, trong 5 năm tới kinh tế gia đình sẽ bằng hoặc tốt hơn so với hiện nay và cũng có một tỉ lệ khá lớn (64%) cho rằng, điều kiện kinh tế hộ gia đình sẽ tốt hơn trong 5 năm tới. Trong giai đoạn đổi mới này, khu vực công đóng một vai trò không thể phủ nhận trong việc xác định mục tiêu và thiết lập môi trường thuận lợi cho việc hiện thực hoá các mục tiêu đó, trong đó có cải thiện điều kiện sống và tiềm năng của người dân trong quá trình phát triển và hướng tới thịnh vượng.

Khi đạt đến trình độ phát triển cao hơn, mong đợi của người dân đối với hệ thống hành chính nhà nước và dịch vụ mà hệ thống này cung ứng cũng thay đổi. Trong giai đoạn hiện nay, điều mà các tổ chức chính trị - xã hội nói chung và người dân nói riêng mong muốn bộ máy nhà nước mang lại cho người dân không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế. Một khi người dân có đủ cơm ăn, áo mặc, được học hành, người dân đòi hỏi ở bộ máy nhà nước và nền hành chính mức độ hiệu quả, trong sạch, vững mạnh hơn, ít tham nhũng hơn, đồng thời mong muốn nhận được dịch vụ hành chính và dịch vụ công thân thiện và tiện lợi hơn. Người dân cũng mong muốn bộ máy hành chính nhà nước đóng vai trò xúc tác cho quá trình phát triển, bảo đảm công bằng và tạo điều kiện để người dân chủ động hơn khi tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi những chính sách có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới đời sống người dân.

Chính vì vậy, giai đoạn cải cách hành chính trong thời gian tới cần tập trung vào hiện đại hoá khu vực công. Điều này có nghĩa là cải cách hành chính là động lực cho phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo trong quá trình Việt Nam chuyển đổi hướng tới mức độ phát triển con người cao hơn. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hướng tới xây dựng một xã hội dân chủ, thịnh vượng và một nền kinh tế thị trường vững mạnh đòi hỏi phải có một nền hành chính nhà nước có đủ năng lực giải quyết các thách thức của đất nước, đồng thời bảo đảm đạt được mục tiêu để toàn dân có mức sống cao hơn và đời sống thịnh vượng hơn.

Hiện đại hoá khu vực công đồng nghĩa với việc thay đổi tư duy và phương thức cung ứng dịch vụ công. Cụ thể là, trong giai đoạn cải cách hành chính tới đây, nhà nước cần tập trung vào việc tăng cường hơn nữa chức năng “nhà nước phục vụ” trong cung ứng dịch vụ công, đồng thời tạo điều kiện hơn nữa để các tổ chức xã hội và người dân được chủ động và tích cực tham gia giám sát quá trình và chất lượng cung ứng dịch vụ của khu vực công. Hiện đại hoá khu vực công cũng đồng nghĩa với việc xác định rõ các phương thức tìm hiểu nguyện vọng của người dân, duy trì và củng cố các cơ chế để người dân chủ động tham gia vào các quá trình đổi mới. Thay vì chỉ dừng lại ở các kênh tham vấn và dân vận theo các phương thức truyền thống, cần hướng tới tạo điều kiện để người dân và các tổ chức xã hội chủ động và tích cực tham gia đóng góp ý kiến và tác động tới các quy trình xây dựng và thực thi chính sách.

Tóm lại, thách thức cho giai đoạn cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn mới đó là hướng tới hiện đại hoá khu vực công, thông qua tăng cường trách nhiệm của khu vực công trong thực hiện chính sách và bảo đảm vai trò tích cực hơn của các tác nhân ngoài khu vực nhà nước trong giám sát và đánh giá hiệu quả thực hiện các chức năng của bộ máy hành chính nhà nước. Nói cách khác, cần thay đổi cách tiếp cận từ việc coi người dân là khách thể của phát triển và cải cách hành chính, sang coi người dân là chủ thể và là đối tượng thụ hưởng chính của các dịch vụ công.

Về phương diện này, các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó MTTQ đóng vai trò hết sức quan trọng. MTTQ đang đẩy mạnh việc triển khai Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và thể chế hoá phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Khi đạt đến trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn, xã hội sẽ tiến bộ đồng nghĩa với việc người dân mong muốn được biết nhiều hơn, bởi họ quan tâm hơn và sẵn sàng tham gia tích cực hơn vào việc trao đổi, thảo luận các chính sách có tác động đến đời sống của họ. Người dân mong muốn được tự quyết định cần phải làm gì để đảm bảo đời sống của mình khi có được một không gian rộng lớn hơn để tham gia tích cực hơn vào giám sát hiệu quả cung ứng dịch vụ công của nhà nước.

Cụ thể hơn, tại Điều 9 của Hiến pháp, và Điều 12 của Luật Mặt trận Tổ quốc năm 1999 quy định rõ chức năng huy động nhân dân thực hiện quyền giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Vai trò giám sát của MTTQ có tác dụng đóng góp vào xây dựng và củng cố nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Đây là chức năng mà MTTQ đang triển khai thực hiện tích cực và toàn diện.

Trách nhiệm báo cáo thường niên của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam trước Quốc hội về ý kiến cử tri cả nước là một ví dụ cho thấy vai trò giám sát hết sức quan trọng của MTTQ. MTTQ còn thực hiện giám sát và kiểm tra ở cấp huyện, xã và thôn và các vấn đề cụ thể như các chương trình xoá đói giảm nghèo, các vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu số, bên cạnh nhiều hoạt động giám sát và xây dựng chính quyền ở cấp cơ sở khác.

Một ví dụ điển hình khác về vai trò hết sức quan trọng của Mặt trận Tổ quốc, đó là sự tham gia của hệ thống MTTQ ở trung ương và địa phương vào việc xây dựng bộ Chỉ số Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) mới được triển khai thực hiện đại trà trên toàn quốc. Tương tự vai trò của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong việc thiết lập một diễn đàn thường xuyên để doanh nghiệp đánh giá về năng lực quản trị, điều hành kinh tế và đầu tư cấp tỉnh thông qua Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Trong thời gian vừa qua, một số đơn vị thuộc Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cùng với các ủy ban MTTQ cấp tỉnh, huyện, xã đang tham gia hết sức tích cực trong việc điều phối, phối hợp cùng với Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc triển khai dự án nghiên cứu PAPI với mục đích lấy ý kiến đánh giá của người dân về hiệu quả công tác điều hành quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công.

Từ những đánh giá khách quan của người dân từ trải nghiệm của họ, PAPI là công cụ hữu ích để hiểu mong muốn và ý nguyện của người dân, cũng như mức độ tương tác của người dân với bộ máy nhà nước ở địa phương. PAPI cũng được xem là một công cụ hỗ trợ đẩy mạnh hơn nữa nỗ lực huy động người dân chủ động tham gia với phương thức tiếp cận là lấy người dân là trung tâm.

Bộ chỉ số PAPI với mục đích giám sát hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và dịch vụ công hy vọng góp phần đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả hoạt động quản trị và hành chính công. PAPI bám sát phương châm “dân biết” bằng việc cung cấp thông tin khách quan về trải nghiệm và tương tác của người dân với cơ quan công quyền ở cấp địa phương; “dân bàn” bằng cách tạo cơ chế và công cụ để người dân bàn về những phát hiện khảo sát ở cấp trung ương và địa phương; “dân làm” bởi PAPI tạo điều kiện hơn nữa để người dân phản ánh trải nghiệm của mình, đồng thời để các nhà hoạch định hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân và thực hiện các biện pháp cần thiết; và, “dân kiểm tra” bởi PAPI là công cụ qua đó người dân đánh giá hiệu quả hoạt động thực tế của bộ máy hành chính nhà nước.

Khi Việt Nam hướng tới các mục tiêu phát triển cao hơn, người dân cần được nhìn nhận là chủ thể của quá trình phát triển. Huy động việc chủ động tham gia của người dân là rất cần thiết và khuyến khích người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức và viên chức nhà nước. Hiểu được mong muốn và trải nghiệm của người dân cũng không kém quan trọng. Các công cụ đo lường, giám sát và trao đổi về hiệu quả quản trị và hành chính công cũng rất cần thiết để Việt Nam tiếp tục chuyển đổi hướng tới những mức độ phát triển công bằng và cao hơn. Một yếu tố quan trọng trong quá trình chuyển đổi này là chuyển đổi từ phương thức dân vận truyền thống sang phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong các quá trình quản lý điều hành và cung ứng dịch vụ công, nhằm mục tiêu thúc đẩy quá trình phát triển con người của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

- Nguyễn Văn Căn: Hà Tĩnh - nơi mở đầu hoạt động dự án PAPI 2011. Tạp chí Mặt trận, số 92 (6-2011)
- Hoàng Hải: PAPI: Nâng cao niềm tin của người dân vào hiệu quả quản lý và cung ứng dịch vụ công của chính quyền địa phương. Tạp chí Mặt trận, số 90 (4-2011). 
- Đặng Ngọc Dinh: Phối hợp nghiên cứu về hành chính công cấp tỉnh. Tạp chí Mặt trận, số 85 (11-2010)
- Đặng Đình Tân: Mặt trận phối hợp với các đoàn thể trong hoạt động giám sát ở địa phương. Tạp chí Mặt trận, số 95 (9-2011). 
- Hà Văn Núi: Với việc giám sát các chương trình, dự án đầu tư phát triển miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tạp chí Mặt trận, số 89 (3-2011).
- UNDP, Mặt trận Tổ quốc và CECODES (2009): Cải cách hành chính ở Việt Nam: Hiện trạng và Khuyến nghị. Nxb CTQG, Hà Nội.
- UNDP, Mặt trận Tổ quốc và CECODES (2011): Chỉ số Hiệu quả và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2010: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân.
- UNDP (2011): Báo cáo Phát triển con người của Việt Nam năm 2011: Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             

 

 

 
 
 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   Chợ bến Thành ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Vănmiếu
TP Hà Nội

 

    Kon Tum

              Quảng Nam


Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn