Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
        

 

 

 

 

 
 
 
 
 

    TIN CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI


Bài 1:  Một cuộc chiến bắt buộc 

Bài 2: Họ đã ngã xuống cho đất nước trường tồn

Bài 3: Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên mốc son chói lọi 

Bài 4: 40 năm nhìn lại cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc

BàI 5: Những người góp lửa

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đón, hội đàm; Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội hội kiến Tổng thống Ấn Độ R.Kovind

Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội Khóa XIV thành công và bế mạc


 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đón, hội đàm; Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội hội kiến Tổng thống Ấn Độ R.Kovind

Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind và Phu nhân cùng các thành viên trong Đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ đã tới Hà Nội, thực hiện chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam.

Sáng 20-11, lễ đón chính thức Tổng thống Ấn Độ R.Kovind và Phu nhân được tổ chức trọng thể tại Phủ Chủ tịch theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân chủ trì lễ đón. Dự lễ đón có các đồng chí Ủy viên T.Ư Đảng: Hoàng Bình Quân, Trưởng Ban Đối ngoại T.Ư; Đào Việt Trung, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông; Thượng tướng Phan Văn Giang, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Quốc phòng; Thứ trưởng Công an Bùi Văn Nam; đại diện lãnh đạo nhiều ban, bộ, ngành, cơ quan trung ương.

Đúng 9 giờ 40 phút, Đoàn xe chở Tổng thống Ấn Độ R.Kovind và Phu nhân cùng các thành viên trong Đoàn tiến vào Quảng trường Phủ Chủ tịch. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân ra tận cửa xe nồng nhiệt chào đón Tổng thống Ấn Độ và Phu nhân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng mời Tổng thống Ấn Độ bước lên bục danh dự. Quân nhạc cử quốc thiều hai nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng mời Tổng thống Ấn Độ duyệt đội danh dự và giới thiệu các quan chức hai bên có mặt tại lễ đón.

* Sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng thống Ấn Độ R.Kovind.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt chào mừng Tổng thống R.Kovind có chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam và cho rằng đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời Việt Nam - Ấn Độ, được Thủ tướng Jawaharlal Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp.

Tổng thống R.Kovind bày tỏ vui mừng thăm Việt Nam, điểm đến đầu tiên tại khu vực Đông - Nam Á, kể từ khi nhậm chức tháng 7-2017 và chúc mừng Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng được Quốc hội bầu giữ trọng trách Chủ tịch nước với số phiếu cao. Tổng thống Ấn Độ nhấn mạnh vai trò của hai Lãnh tụ Mahatma Gandhi và Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và bồi đắp quan hệ hai nước và cho rằng chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Ấn Độ năm 1958 là dấu mốc lịch sử của quan hệ hai nước.

Hai bên chia sẻ mối quan hệ tốt đẹp đã và đang phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, nhất là từ sau khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược năm 2007 và nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện năm 2016. Hai bên nhất trí triển khai đầy đủ các cam kết chính trị ở cấp cao, các văn kiện về khuôn khổ quan hệ chính trị đã thông qua; tích cực trao đổi, phát huy hơn nữa những tiềm năng, lợi thế của hai nước để tiếp tục đưa hợp tác trên các lĩnh vực đi vào chiều sâu, trong đó có Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2017 - 2020. Trên tinh thần đó, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, đẩy mạnh hợp tác trên các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, địa phương và giao lưu nhân dân.

Hai bên bày tỏ vui mừng, thương mại song phương tăng trưởng mạnh thời gian qua và Ấn Độ trở thành một trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam; tin tưởng kim ngạch thương mại sẽ sớm đạt mục tiêu 15 tỷ USD. Hai nhà lãnh đạo đề nghị tăng cường xúc tiến đầu tư, nhất là trên các lĩnh vực năng lượng, năng lượng tái tạo, nông nghiệp chất lượng cao; khuyến khích Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Công ty Dầu khí quốc gia Ấn Độ (ONGC) chủ động hơn nữa trong tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở Việt Nam cũng như tìm kiếm mô hình hợp tác, kể cả với nước thứ ba. Hai bên nhất trí tầm quan trọng của tăng cường kết nối và thúc đẩy các thủ tục để Vietjet Air có thể sớm khai thác đường bay thẳng TP Hồ Chí Minh - New Delhi.

Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao hoạt động của các Trung tâm nghiên cứu văn hóa mỗi nước tại Hà Nội và New Delhi. Tổng thống Ấn Độ cảm ơn phía Việt Nam đã tổ chức các hoạt động kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Mahatma Gandhi trong năm 2018 và hỗ trợ tổ chức “Ngày Quốc tế Y-ô-ga” hằng năm. Tổng thống Ấn Độ bày tỏ đặc biệt ấn tượng khi đến thăm khu di tích Mỹ Sơn, di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận và đánh giá cao hai bên phối hợp chặt chẽ để triển khai hiệu quả Dự án bảo tồn tôn tạo di sản văn hóa này. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoan nghênh Ấn Độ đã hỗ trợ cộng đồng Chăm, xây dựng Nhà cộng đồng Chăm, trường học và các chương trình nghiên cứu văn hóa Chăm tại tỉnh Ninh Thuận.

Hai nhà lãnh đạo khẳng định tiếp tục ủng hộ các địa phương, tổ chức hữu nghị, tổ chức nhân dân, giới học giả, nghiên cứu hai nước tăng cường hợp tác cũng như tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan báo chí, truyền thông hai nước gia tăng hoạt động tại mỗi nước. Hai bên nhất trí duy trì trao đổi đoàn đại biểu thanh niên hằng năm, nhằm tạo điều kiện để thế hệ tương lai của hai nước tìm hiểu lịch sử, văn hóa lẫn nhau. Phía Ấn Độ cam kết duy trì cấp học bổng cho Việt Nam thông qua Chương trình hợp tác kỹ thuật (ITEC) và theo Chương trình trao đổi văn hóa (CEP/GCSS), ngoài các học bổng cho sinh viên và nghiên cứu sinh từ các quốc gia ASEAN theo học tiến sĩ tại Ấn Độ.

Hai nhà lãnh đạo đều đánh giá quốc phòng - an ninh là hợp tác chiến lược, hiệu quả, thực chất và nhất trí đẩy mạnh hợp tác, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, triển khai hợp tác giữa các quân binh chủng hai nước. Phía Ấn Độ bày tỏ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về tổ chức, huấn luyện Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ Việt Nam trong khắc phục hậu quả chiến tranh. Hai bên hoan nghênh tiến độ triển khai gói tín dụng 100 triệu USD đóng tàu tuần tra cao tốc cho Bộ đội Biên phòng Việt Nam và nhất trí sớm tổ chức Đối thoại an ninh biển lần đầu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá cao vai trò, tiếng nói quan trọng của Ấn Độ tại các diễn đàn quốc tế. Hai bên khẳng định tiếp tục phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, nhất là trong khuôn khổ Liên hợp quốc. Hai bên cũng nhất trí ủng hộ lẫn nhau ứng cử vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (Việt Nam nhiệm kỳ 2020 - 2021, Ấn Độ nhiệm kỳ 2021 - 2022). Tổng thống Ấn Độ nhấn mạnh, Việt Nam là trụ cột trong chính sách “Hành động hướng Đông” của Ấn Độ, là đối tác then chốt của Ấn Độ trong ASEAN. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoan nghênh lập trường của Ấn Độ về Biển Đông thời gian qua và đề nghị Ấn Độ tiếp tục ủng hộ chủ trương của Việt Nam và ASEAN về vấn đề này.

* Nhân dịp này, hai bên đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ

* Sau hội đàm, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký các văn kiện, bao gồm: Bản ghi nhớ giữa Bộ Thông tin và Truyền thông nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Truyền thông nước CH Ấn Độ về hợp tác trong lĩnh vực truyền thông; Bản ghi nhớ về hợp tác giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, Việt Nam và Trường đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi, Ấn Độ về thúc đẩy nghiên cứu học thuật và trao đổi giảng viên sinh viên; Bản ghi nhớ về hợp tác giữa Cục Ngoại vụ, Bộ Ngoại giao Việt Nam và Hiệp hội doanh nghiệp Ấn Độ tại Việt Nam (INCHAM) về tạo kênh kết nối thúc đẩy môi trường đầu tư, kinh doanh tại các địa phương của Việt Nam; Bản ghi nhớ giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ về đẩy mạnh hợp tác thương mại, đầu tư song phương.

* Tiếp đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Ấn Độ R.Kovind đã gặp gỡ đông đảo phóng viên báo chí trong nước và quốc tế, thông báo kết quả cuộc hội đàm vừa diễn ra hiệu quả, thực chất, thắm tình hữu nghị.

* Chiều 20-11, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã hội kiến Tổng thống Ấn Độ R.Kovind.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ vui mừng gặp lại Tổng thống R.Kovind. Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tầm nhìn chung đưa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ đi vào chiều sâu. Hai bên nhất trí tiếp tục duy trì đều đặn các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao, các cấp, các ngành và giao lưu nhân dân. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí triển khai hiệu quả các cơ chế hiện có và tìm kiếm những biện pháp mới để đưa quan hệ toàn diện giữa hai nước đi vào chiều sâu thực chất và hiệu quả hơn nữa.

Hai nhà lãnh đạo chia sẻ, hợp tác quốc phòng - an ninh đang ngày càng hiệu quả và là trụ cột của quan hệ song phương và hoan nghênh tiến độ triển khai gói tín dụng 100 triệu USD đóng tàu tuần tra cao tốc cho Bộ đội Biên phòng Việt Nam. Cho rằng hợp tác kinh tế - thương mại dù phát triển nhanh nhưng vẫn chưa tương xứng tiềm năng, thế mạnh hai nước, hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh, đây là lĩnh vực cần được ưu tiên thúc đẩy trong thời gian tới để sớm đạt mục tiêu kim ngạch 15 tỷ USD và cao hơn nữa. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn thiện chí của lãnh đạo Ấn Độ, đặc biệt là Thủ tướng N.Mô-đi, sẵn sàng trao đổi để giảm các biện pháp phòng vệ thương mại, không để ảnh hưởng lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam. Hai nhà lãnh đạo đề nghị các bộ, ngành liên quan hai bên sớm trao đổi khả năng mở cửa thị trường lẫn nhau với các mặt hàng hoa quả, nông sản và thực phẩm cũng như các sản phẩm khác mà hai bên có tiềm năng.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh đầu tư của Ấn Độ trên những lĩnh vực Ấn Độ có thế mạnh và Việt Nam đang có nhu cầu như năng lượng, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao. Hai nhà lãnh đạo nhất trí đề nghị tăng cường hợp tác giữa Công ty Dầu khí quốc gia Ấn Độ (ONGC) và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) trong lĩnh vực dầu khí, đẩy mạnh triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò các lô mới. Hai bên nhất trí tích cực thực hiện các thỏa thuận trong Bản ghi nhớ về hợp tác trong các dự án tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở các nước thứ ba, đồng thời cân nhắc khả năng hợp tác với nước thứ ba để thăm dò, khai thác dầu khí.

Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí hợp tác trên các lĩnh vực như công nghệ thông tin, khoa học-công nghệ, văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân còn rất nhiều tiềm năng; giao các bộ, ngành, địa phương hai nước thiết lập các cơ chế hợp tác, nhóm làm việc để triển khai hiệu quả các văn kiện đã ký kết. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh nhu cầu tăng cường kết nối, nhất trí tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục để Vietjet Air có thể sớm khai thác đường bay thẳng TP Hồ Chí Minh - New Delhi.

Hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong khuôn khổ Liên hợp quốc. Về vấn đề Biển Đông, hai bên nhất trí về tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh và tự do hàng hải và hàng không, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu quả và ràng buộc.

* Cùng ngày, Chủ tịch Quốc hội (QH) Nguyễn Thị Kim Ngân đã hội kiến Tổng thống Ấn Độ R.Kovind.

Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân chia sẻ những kỷ niệm đẹp về đất nước và con người Ấn Độ sau hai chuyến thăm gần nhất trên cương vị Chủ tịch QH vào tháng 12-2016 và trên cương vị Phó Chủ tịch QH tháng 2-2013. Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng, việc Ngài Tổng thống nhận lời phát biểu tại QH Việt Nam dịp này mang ý nghĩa đặc biệt, thể hiện quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước đã bước sang một giai đoạn mới. Chủ tịch QH nhấn mạnh, tham dự buổi Tổng thống Ấn Độ phát biểu tại QH lần này có gần 500 đại biểu, trong đó có nhiều lãnh đạo các bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam, thể hiện sự trân trọng mà Đảng, Nhà nước và đặc biệt là QH Việt Nam dành cho Ấn Độ.

Tổng thống R.Kovind khẳng định, Ấn Độ hết sức coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời cảm ơn QH Việt Nam đã giúp thu xếp để ông có vinh dự đặc biệt phát biểu tại QH dịp này. Tổng thống Ấn Độ bày tỏ tin tưởng sự kiện này, cũng như chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân năm 2016 và trao đổi Đoàn Nghị sĩ hữu nghị hai nước vừa qua sẽ tiếp tục giúp thắt chặt hơn nữa quan hệ giữa hai cơ quan lập pháp.

* Sáng 20-11, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam, Tổng thống Ấn Độ R.Kovind đã có bài phát biểu quan trọng tại Hội trường Diên Hồng - Nhà QH trong Phiên họp toàn thể, kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIV.

Mở đầu bài phát biểu, Tổng thống R.Kovind bày tỏ vinh dự khi phát biểu trước QH Việt Nam và qua đó phát biểu với người dân Việt Nam. Tổng thống Ấn Độ cho biết, mọi quan hệ bang giao đều quan trọng đối với Ấn Độ, nhưng Ấn Độ có một số mối quan hệ mang ý nghĩa đặc biệt, trong đó có quan hệ hữu nghị với Việt Nam.

Tổng thống Ấn Độ chia sẻ, năm 2019, Ấn Độ kỷ niệm 150 năm Ngày sinh của Mahatma Gandhi và ở Việt Nam là kỷ niệm 50 năm Ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những giá trị về tự do, quyền tự quyết và phẩm giá mà cả Ngài Gandhi và Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi đều xuất phát từ lịch sử chung của hai nước - lịch sử về học vấn cao và học hỏi lẫn nhau, kết nối tâm linh giữa Đạo Phật và Đạo Ấn. Nhận định xã hội và nền kinh tế hiện nay đang trải qua những thay đổi lớn, Tổng thống Ấn Độ cho rằng, công nghệ đang làm thay đổi cách thức sống và làm việc. Ấn Độ hiện sở hữu một hệ sinh thái khởi nghiệp lớn nhất toàn cầu, đang thúc đẩy công nghệ và các nguồn tài chính khan hiếm khác để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong thanh niên. Ấn Độ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm phát triển với Việt Nam trong các lĩnh vực Việt Nam quan tâm và ưu tiên.

Tổng thống Ấn Độ cho rằng, hai nước cùng chia sẻ tầm nhìn về một trật tự dựa trên luật lệ, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm tự do hàng không và hàng hải. Tầm nhìn chung là cùng hướng tới giải quyết hòa bình các xung đột, tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý và ngoại giao, phù hợp các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Tổng thống R.Kovind khẳng định, Ấn Độ luôn ủng hộ vai trò trung tâm và đoàn kết ASEAN. Ở phạm vi ngoài khu vực, Ấn Độ và Việt Nam tiếp tục cam kết hợp tác với nhau trong các lĩnh vực rủi ro mới nổi như an ninh mạng và tại các diễn đàn đa phương…

Tổng thống R.Kovind nhận định, gốc rễ của các nỗ lực ở cấp quốc gia của cả Việt Nam và Ấn Độ là khát vọng và sự thịnh vượng của người dân. Tăng cường quan hệ kinh doanh và kết nối cứng giữa hai nước sẽ có vai trò rất quan trọng cho quá trình này. Hai nước hiện đều là những nền kinh tế năng động. Việt Nam đã có quá trình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu ấn tượng và Ấn Độ ngày nay là nền kinh tế lớn phát triển nhanh nhất trên thế giới. Hai nước có dư địa để hợp tác và bổ trợ lẫn nhau trong lĩnh vực dệt may, nông nghiệp, công nghệ nông nghiệp, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin, năng lượng, dược phẩm, cơ sở hạ tầng và khai khoáng. Các nhà đầu tư, sản xuất và cung ứng dịch vụ của Ấn Độ đều đang phấn khởi hướng về Việt Nam.

Phát biểu đáp từ, thay mặt QH Việt Nam, Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân trân trọng cảm ơn Tổng thống Ấn Độ R.Kovind đã có bài phát biểu tốt đẹp về mối quan hệ hữu nghị truyền thống hai nước. Chủ tịch QH chúc mừng Ấn Độ đã trở thành nền kinh tế lớn thứ sáu thế giới, chúc đất nước Ấn Độ tiếp tục đạt được những thành tựu tăng trưởng kinh tế - xã hội quan trọng và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế trên trường quốc tế.

* Cùng ngày, Tổng thống Ấn Độ R.Kovind và Phu nhân cùng các thành viên trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ; đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

* Tối cùng ngày, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Phu nhân đã chủ trì tiệc chiêu đãi trọng thể chào mừng Tổng thống R.Kovind và Phu nhân, cùng Đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ thăm cấp nhà nước tới Việt Nam. Tại tiệc chiêu đãi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu chào mừng và Tổng thống Ấn Độ R.Kovind phát biểu đáp từ. (Toàn văn đăng số báo hôm nay).

* Trước đó, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam, Tổng thống Ấn Độ R.Kovind và Phu nhân cùng Đoàn đã đến TP Đà Nẵng. Tổng thống R.Kovind đã có buổi gặp mặt lãnh đạo TP Đà Nẵng. Tại buổi tiếp kiến Tổng thống Ấn Độ, đồng chí Trương Quang Nghĩa, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng cho biết, quan hệ hợp tác Đà Nẵng và các địa phương Ấn Độ trong thời gian qua đạt nhiều kết quả tốt đẹp. TP Đà Nẵng đón nhiều đoàn thị trưởng thành phố, các hiệp hội, tàu hải quân từ Ấn Độ.

Tính đến tháng 9-2018, có hai dự án FDI của Ấn Độ đăng ký đầu tư tại TP Đà Nẵng với tổng vốn đầu tư 13,5 triệu USD. Hằng năm, Chính phủ Ấn Độ dành các suất học bổng trên nhiều lĩnh vực như đào tạo tiếng Anh ngắn hạn, công nghệ thông tin... cho học sinh, sinh viên Đà Nẵng. TP Đà Nẵng đã phối hợp Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam và Tổng lãnh sự quán Ấn Độ tại TP Hồ Chí Minh tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, biểu diễn nghệ thuật tại Đà Nẵng.

Trong thời gian thăm TP Đà Nẵng, Tổng thống Ấn Độ R.Kovind và Phu nhân cùng Đoàn tham quan Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

* Trong khuôn khổ chuyến thăm, chiều 19-11, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam, Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ phối hợp cùng các cơ quan liên quan của hai nước tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ. Tham dự có: Tổng thống Ấn Độ R.Kovind; Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng; đại diện các bộ, ban, ngành; đông đảo doanh nghiệp hai nước Việt Nam - Ấn Độ.

Bày tỏ vui mừng tham dự Diễn đàn, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh, đây là sự kiện quan trọng, là cơ hội quý báu để cộng đồng doanh nghiệp hai nước cùng nhìn lại những kết quả hợp tác, chia sẻ tầm nhìn, triển vọng và những cơ hội hợp tác phát triển trong giai đoạn mới, góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam - Ấn Độ. Để đạt mục tiêu đạt kim ngạch song phương 15 tỷ USD thời gian tới, Phó Thủ tướng cho rằng, hai bên cần tăng cường đầu tư trên các lĩnh vực mà Ấn Độ có thế mạnh và Việt Nam đang có nhu cầu; đẩy mạnh kết nối hàng không và hàng hải, hạn chế và từng bước xóa bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa xuất, nhập khẩu của hai nước.

Bày tỏ vui mừng đến dự và phát biểu ý kiến tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ, Tổng thống R.Kovind cho rằng, Việt Nam và Ấn Độ có tầm nhìn, phương pháp tiếp cận kinh tế tương tự nhau; doanh nghiệp hai nước đang có cơ hội hợp tác trong nhiều lĩnh vực. Ấn Độ cũng muốn học hỏi Việt Nam trong lĩnh vực phát triển hạ tầng đô thị và du lịch, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

* Tối cùng ngày, Tổng thống R.Kovind và Phu nhân, cùng Đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ đã rời Hà Nội, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam.

Theo Báo Nhân Dân, TTXVN

 [Về đầu trang]


Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội Khóa XIV thành công và bế mạc

Sáng 20-11, Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV đã chính thức bế mạc, sau khi thông qua ba dự án luật: Luật sửa đổi, bổ sung các luật có quy định liên quan đến quy hoạch, Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi), Luật Công an nhân dân (sửa đổi) và Nghị quyết Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV.

Tham dự phiên bế mạc có các đồng chí: Nguyên Tổng Bí thư: Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân; nguyên Chủ tịch QH: Nguyễn Văn An, Nguyễn Sinh Hùng; Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam...

Quốc hội đã nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV. Phó Tổng Thư ký Quốc hội Hoàng Thanh Tùng trình bày dự thảo Nghị quyết kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV.

Nghị quyết cho biết, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã xem xét, quyết định các nội dung: Bầu Chủ tịch nước và thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch nước; Phê chuẩn việc miễn nhiệm, bổ nhiệm Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông và thông qua hai nghị quyết về các nội dung nhân sự này; Thông qua chín luật: Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Công an nhân dân; Luật Đặc xá; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học; Luật Chăn nuôi; Luật Trồng trọt; Luật Cảnh sát biển Việt Nam; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch.

Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan; cho ý kiến sáu dự án luật: Luật Giáo dục (sửa đổi); Luật Kiến trúc; Luật Quản lý thuế (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công; Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi); Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Tại kỳ họp này, Quốc hội cũng đã quyết định đưa dự án Luật Hành chính công ra khỏi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 và dừng việc xây dựng dự án Luật này; xem xét, thông qua dự án Luật Giáo dục (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5-2019); mở rộng phạm vi sửa đổi, bổ sung và đổi tên dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án hình sự thành Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi).

Quốc hội cũng đã lấy phiếu tín nhiệm và thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với 48 người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, đồng thời Chất vấn và trả lời chất vấn về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết kỳ họp thứ 4. Quốc hội yêu cầu các thành viên Chính phủ, Trưởng ngành nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, khẩn trương triển khai các giải pháp đồng bộ, có hiệu quả và khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện các nghị quyết về giám sát chuyên đề, chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết kỳ họp thứ 4, báo cáo Quốc hội tại các kỳ họp sau.

Quốc hội cũng xem xét các báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2018, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2019; đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Quốc hội cũng thông qua bốn nghị quyết về: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, phân bổ ngân sách trung ương năm 2019, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Quốc hội cũng xem xét các báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện các kế hoạch 5 năm 2016-2020 về kinh tế - xã hội, cơ cấu lại nền kinh tế, chương trình mục tiêu quốc gia, tài chính quốc gia; xem xét báo cáo đánh giá kết quả ba năm thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Giao Chính phủ xây dựng Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10-2019) để thực hiện từ năm 2021.

Cũng tại Kỳ họp này, Quốc hội đã xem xét các báo cáo về công tác phòng ngừa, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; công tác thi hành án; công tác phòng, chống tham nhũng năm 2018; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2018; tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân; kết quả giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 5 và một số báo cáo khác của cơ quan, tổ chức hữu quan. Quốc hội yêu cầu Chính phủ, các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, ý kiến của cử tri và nhân dân gửi đến các kỳ họp; triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả các lĩnh vực công tác trong thời gian tới.

Quốc hội cũng đã tán thành kéo dài thời gian thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam theo Nghị quyết số 30/2016/QH14 trong thời gian hai năm kể từ ngày 1-2-2019.

Quốc hội đã giao Chính phủ triển khai xây dựng chiến lược sử dụng đất quốc gia đến năm 2045; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách để triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Quốc hội cũng điều chỉnh nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước được giao theo Nghị quyết số 60/2018/QH14 của Quốc hội từ “kiểm toán việc sử dụng nguồn thu từ đất của các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa giai đoạn 2011-2017” sang “kiểm toán việc quản lý, sử dụng đất trong và sau quá trình cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2017”.

Các đại biểu Quốc hội cũng đã nghe Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu bế mạc kỳ họp (ảnh trên). Trong bài phát biểu, Chủ tịch Quốc hội đã điểm lại những nội dung mà Quốc hội đã thực hiện trong Kỳ họp thứ 6, đồng thời đánh giá, Kỳ họp thứ 6 tiếp tục có những đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội; việc thảo luận, tranh luận và giải trình tạo không khí làm việc sôi nổi, dân chủ, trách nhiệm, thu hút sự quan tâm, theo dõi của Nhân dân, cử tri. Kết quả của kỳ họp tạo niềm tin về sự đoàn kết, nhất trí để phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ của những năm tiếp theo và cả nhiệm kỳ 2016-2020.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh, Quốc hội ghi nhận sự tham gia tích cực, trí tuệ, tâm huyết của các vị đại biểu Quốc hội; sự chuẩn bị công phu, nghiêm túc, tinh thần làm việc tận tụy, trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan, tổ chức hữu quan trong suốt quá trình chuẩn bị và tiến hành kỳ họp.

Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị các đại biểu Quốc hội tiếp tục phát huy, kịp thời báo cáo kết quả kỳ họp, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cử tri và Nhân dân, nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt thực tiễn đời sống xã hội để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hữu quan và tích cực chủ động hơn nữa trong công tác lập pháp, giám sát.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã tuyên bố bế mạc Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV.

Theo Báo Nhân Dân

 [Về đầu trang]


40 năm chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc

Cách đây 40 năm, vào rạng sáng ngày 17/2/1979 chúng ta bất ngờ phải đương đầu với một cuộc chiến trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, diễn ra trên địa bàn 6 tỉnh, kéo dài từ Quảng Ninh cho đến Lai Châu được phân chia thành 2 cánh: Cánh chủ yếu và cánh thứ yếu. Cánh quân chủ yếu tiến công chính diện từ Cao Bằng đến Móng Cái, cánh quân thứ yếu tiến công chính diện từ Hà Tuyên đến Lai Châu. 

Những người lính đi bảo vệ biên cương cách đây 40 năm. (Ảnh tư liệu).

Bài 1:  Một cuộc chiến bắt buộc 

Cuộc chiến diễn ra trong thời gian ngắn (17/2 – 18/3/1979), tuy nhiên quy mô  lại cực lớn, tiến công đồng loạt, ồ ạt với nhiều trọng điểm, chiều sâu trung bình từ 10 đến 20 km, có nơi vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam tới 40 – 50 km như  thị xã Cao Bằng, Tài Hồ Xìn, phố Lu...Rõ ràng đây là một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn, có tính toán chứ không còn là những cuộc xung đột vũ trang xâm lấn biên giới như một số người lầm tưởng.

Và như nhiều người đã biết, sau gần một tháng đánh chiếm nhiều địa bàn trọng yếu và tàn phá hạ tầng cơ sở kinh tế, văn hóa ở các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam, trước sức ép phản đối kịch liệt của dư luận trong nước, quốc tế và bị tổn thất nặng nề; ngày 5/3/1979 họ buộc phải tuyên bố rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với mong muốn có hòa bình và củng cố tình hữu nghị giữa nhân dân 2 nước, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho quân và dân trên tuyến biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động tiến công quân sự để cho đối phương được rút quân và phương tiện chiến tranh về nước trong yên ổn. Tuy nhiên, trên đường rút họ vẫn tiếp tục gây tội ác, phá hoại nhiều cơ sở kinh tế, công trình văn hóa...tại các tỉnh biên giới của Việt Nam (san bằng 26 thị trấn và các thị xã Cao Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn; bóc dỡ 42 km ray trên tuyến đường sắt Phố Lu – Lào Cai, phá máy móc hầm mỏ Apatit Cam Đường, mỏ  Mănggan Trà Lĩnh; phá 72 cầu cống, gài mìn khắp nơi gây sát thương cho bộ đội và nhân dân các tỉnh biên giới)... Đến ngày 18/3/1979, về cơ bản quân Trung Quốc đã rút về nước theo kế hoạch nhưng kể từ sau ngày 18/3 – ngày được cho là kết thúc cuộc chiến tranh - cho đến đầu năm 1989, chưa khi nào các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam ngớt tiếng pháo kích và các cuộc xâm lấn biên giới. 

Trước tình cảnh Tổ quốc lâm nguy, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm, thêm một lần nữa, quân và dân Việt Nam đã buộc phải cầm súng chiến đấu khi mà không còn sự lựa chọn nào khác để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình. Hay nói một cách khác, quân và dân Việt Nam đã phải tiến hành một cuộc chiến tranh bắt buộc để bảo vệ Tổ quốc.

Nhiều người biết rằng, dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, lại vừa phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của tập đoàn Pon Pot - Ieng Xari ở biên giới Tây Nam nên không muốn có chiến tranh và luôn tìm mọi cách để cho điều đó không xẩy ra nhưng “cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”.

Hướng về biên giới phía Bắc, cả dân tộc đã cố kết thành một khối thống nhất vững bền, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ý thức về chủ quyền quốc gia đã trở thành mạch nguồn ngấm sâu vào ý chí quyết tâm chiến đấu  của toàn quân và toàn dân; vào sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh của chế độ mới; vào sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân và thế trận chiến tranh nhân dân vững vàng nơi tuyến đầu của Tổ quốc. Bằng sức mạnh tổng hợp và niềm tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến, quân và dân các tỉnh biên giới phía Bắc đã kiên cường chiến đấu, đánh trả quyết liệt, ngăn chặn, sát thương và tiêu diệt nhiều binh lực của quân xâm lược. Trên hầu hết các hướng tiến công, quân xâm lược đã bị chặn lại, không thể thực hiện được ý định tiến công nhanh như kế hoạch đã xác định.

Có thể thấy, trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc (17/2 – 18/3/1979 và chống lấn chiếm biên giới (3/1979-1989), nhân dân các dân tộc ở các tỉnh biên giới phía Bắc đã không quản hiểm nguy, kiên cường trụ bám bản làng; kề vai sát cánh với các đơn vị vũ trang, vừa phục vụ chiến đấu, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu, tạo nên bức tường thành ngăn chặn các cuộc tiến công của quân  xâm lược. 

Khó có thể nói hết tinh thần chịu đựng khó khăn gian khổ, hiểm nguy và hy sinh mà quân và dân các tỉnh biên giới phía Bắc phải chịu đựng trong khoảng thời gian này. Sống và chiến đấu trong điều kiện chiến sự ác liệt, kéo dài ngày, địa hình hiểm trở, pháo binh địch liên tục pháo kích, có ngày chỉ riêng mặt  trận Vị Xuyên đã phải hứng chịu 50.000 viên đạn pháo và đương đầu chống chọi với 7 đợt tiến công của quân địch. Công tác bảo đảm hậu cần gặp rất nhiều khó khăn, bộ đội phải chịu đựng khổ cực, thiếu thốn; ở một số mặt trận có những thời điểm mỗi ngày, một chiến sỹ chỉ được phát 3 nắm cơm với cá khô và muối rang; 3 người được cấp một can nước 5 lít dùng cho mọi sinh hoạt. Đời sống thiếu thốn cực khổ như vậy nhưng lực lượng giữ chốt vẫn vượt lên tất cả, kiên cường trụ bám đánh địch, giữ vững trận địa. Họ không những giữ vững được trận địa, mà còn liên tục tổ chức các trận phản công quân địch quyết giành lại những vị trí đã mất. Phía sau họ, cả nước đang hướng về dải đất biên cương với niềm tin và sự góp sức; phía sau họ là cả một  thế trận lòng dân vững chắc mà không một thế lực hay kẻ thù nào có thể phá vỡ nổi. Trong hoàn cảnh thiếu thốn và cực khổ đó nếu không có sự cưu mang đùm bọc, giúp đỡ và sát cánh của người dân các dân tộc vùng núi phía Bắc thì lực lượng vũ trang  sẽ còn gặp vô vàn khó khăn, khó mà bảo đảm được quân số chiến đấu. 

Mặc dù 40 năm đã trôi qua nhưng nỗi đau của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc để lại vẫn còn đó. Mảnh đất này vẫn đầy rẫy những dấu tích chiến tranh; nhiều  bãi mìn vẫn chưa được gỡ hết, cái chết vẫn luôn rình rập. Cho đến nay vẫn chưa có con số thống kê chính xác những tổn thất về người và của của quân và dân ta trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chống lấn chiếm ở biên giới phía Bắc. Tuy nhiên, chỉ thống kê ở một mặt trận thôi cũng đủ thấy sự khốc liệt của cuộc chiến và những đau thương, mất mát. Để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc,  chỉ riêng tại mặt trận Vị Xuyên đã có gần 5.000 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó mới chỉ có hơn 1.700 hài cốt được tìm thấy, còn lại hơn 3.000 hài cốt  vẫn nằm rải rác đâu đó trong các hốc đá, vùi dưới gốc cây bên các sườn núi cheo leo cho đến nay vẫn chưa thể nào tìm và lấy ra đựợc. Dẫu vậy, người dân các tỉnh biên giới phía Bắc, những người lính đã từng chiến đấu tại đây – kể cả những người may mắn được sống sót trở về cũng như những vong hồn của những người đã hòa mình vào lòng đất biên cương của Tổ quốc vẫn có quyền tự hào bởi họ là những người viết lên khúc tráng ca bất tử trong  cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.

Đại tá PGS.TS Trần Ngọc Long

(Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

 [Về đầu trang]


40 năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: Những tháng ngày không thể lãng quên

40 năm trôi qua, nhưng trong lòng những người lính năm ấy vẫn nhớ như in hình ảnh đồng đội của mình đã ngã xuống để đất nước có được hòa bình.

 

Ông Hoàng Như Lý- người lính già luôn đau đáu tìm đồng đội của mình.

Bài 2: Họ đã ngã xuống cho đất nước trường tồn

Chiến đấu đến hơi thở cuối cùng

Ông Lê Khắc Xuân, nguyên là Bí thư Đoàn Thanh niên của Đồn biên phòng Pha Long thời điểm năm 1979, kể lại: Sáng sớm 17/2/1979, phía Trung Quốc dùng 2 trung đoàn bộ binh bất ngờ tấn công sang Pha Long, nhằm triển khai ý đồ chiến thuật cắt rời mảnh đất hình tam giác này ra khỏi thế trận liên hoàn toàn tỉnh Hoàng Liên Sơn. Khoảng 5h 15 phút sáng ngày 17/2/1979, Đồn Pha Long rơi vào thế cô lập. Quân ta bị bao vây nhưng vẫn chiến đấu phòng ngự suốt 4 ngày đêm (từ ngày 17 – 20/2). 

Hồi tưởng lại ký ức, ông Lê Khắc Xuân cho biết: Quân đội đối phương được huấn luyện rất kỹ về đánh bộc phá, nhưng suốt 4 ngày đêm tấn công, đối phương không đặt được 1 quả bộc phá nào vào chân lô cốt chỉ vì không tiếp cận được mục tiêu!. “Tôi còn nhớ như in lời nói, hành động của đồng chí Phương (một đồng đội của ông Xuân),  lúc Phương bị thương nặng, biết mình không qua khỏi được: “ Em trao khẩu súng này cho anh, anh cùng đồng đội chắc tay súng giữ Pha Long, em xin từ biệt anh và mọi người”… 

Hy sinh quên mình vì đất nước để bảo vệ cho được căn cứ trọng yếu là tinh thần chiến đấu bất khuất của chiến sỹ Đồn Pha Long cách đây tròn 40 năm. Thời điểm ấy, Đồn trưởng Pha Long đi công tác xa, việc chỉ huy do Thượng úy Trần Ngọc - Chính trị viên kiêm Bí thư Chi bộ Đồn thực hiện. Mặc dù trước đó đã được tăng cường 3 đại đội cơ động của tỉnh, nhưng do bị vây đánh suốt mấy ngày liền, lương thực - đạn dược cạn dần, thương vong ngày càng cao... nhưng những người lính Pha Long vẫn chiến đấu không rời trận địa. 

Đến giờ, các nhân viên thông tin - cơ yếu trong toàn quân lúc đó vẫn không quên nội dung 2 bức điện phát lên từ Pha Long: Bức điện gửi trưa ngày 18/2/1979 ghi: “Đồn Pha Long bị bao vây, địch đã chiếm hết các chốt của ta, lực lượng thương vong nhiều. Nhưng anh em chúng tôi còn lại kiên quyết không rời vị trí chiến đấu. Dù còn 1 người cũng chiến đấu”; và bức điện lúc 11 giờ ngày 19/2/1979: “Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí!”.

Họ đã nằm lại mảnh đất biên cương

Nhiều năm nay, những người dân sinh sống gần khu Đài tưởng niệm các chiến sĩ Đồn Pò Hèn hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới ngày 17/2/1979 ở xã Hải Sơn (thị xã Móng Cái) đã quá quen thuộc với hình ảnh một người đàn ông cứ mùng 1 hàng tháng là lặng lẽ đến thắp hương và ngồi lại rất lâu bên những tấm bia khắc tên những liệt sĩ. Ông là Hoàng Văn Lý, chiến sĩ Đồn biên phòng Pò Hèn hay còn gọi Đồn 209, một trong số ít những nhân chứng còn sống sót sau trận chiến ngày 17/2/1979.

Ông Lý kể, tháng 2/1972 ông được điều động từ Công an vũ trang tỉnh về Đồn biên phòng Pò Hèn (khi ấy là Đồn 209) với cấp bậc Chuẩn úy. Lúc này Đồn trưởng là ông Vũ Ngọc Mai, Đồn phó phụ trách quân sự là ông Đỗ Sĩ Họa và cả đồn có hơn 60 cán bộ, chiến sĩ. Các chiến sĩ trong đồn đều rất trẻ, chủ yếu là lớp tân binh (SN 1959 và 1960) vừa mới ra trường là được điều động lên đây.

“Tôi vẫn nhớ như in tối ngày 16/2/1979, một ngày trước khi xảy ra trận chiến và cũng là ngày thứ 2 anh Phạm Xuân Tảo (SN 1936) được điều động từ Bộ Tư lệnh Công an vũ trang về Đồn Pò Hèn rủ tôi cùng 2 người khác cũng ở tổ trinh sát lên phòng chỉ huy uống trà trò chuyện và trao đổi công việc. Hình ảnh những cậu lính trẻ hay cười, hay hát, hay khôi hài đến những người lính già như Hoàng Văn Cừ hay Nguyễn Văn Mật thuộc đội Cơ yếu, Bảo vệ… như vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của tôi.

Rồi giọng ông Hoàng Như Lý như nghẹn lại, “ngay từ sáng sớm khi cấp dưỡng của đồn dậy nấu cơm để các chốt lên lấy về đã phát hiện có dấu hiệu bất thường. Đến khoảng gần 5h thì có một tiếng súng và sau đó là pháo dập vào đồn liên tục. Đến 6h30’ thì quân địch ào lên áp sát đồn và do cuộc chiến không cân sức nên cầm cự đến khoảng 11h trưa thì phần lớn anh em trong đồn đã hy sinh anh dũng”.

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi ông Lý chia sẻ, không chỉ mùng một hàng tháng mà cứ đến dịp gần Tết Nguyên đán ông lại cùng đồng đội sửa soạn mâm cơm mang đến mời đồng đội về ăn Tết. Ông kể, sau khi hy sinh, 40 liệt sĩ đã được di chuyển hài cốt về quê nhà trọn vẹn hiện còn 1 liệt sĩ vẫn chưa tìm thấy hài cốt đó là đồng chí Nguyễn Văn Hiện. Chỉ 1 đồng đội chưa tìm được tro cốt cũng khiến ông thấy day dứt không yên. 

Hàng năm cứ vào dịp 17/2, Đồn Pò Hèn đều làm lễ giỗ chung. Cũng dịp này các cựu chiến binh từ khắp mọi miền Tổ quốc lại tìm đến thắp nén hương thơm tưởng nhớ đồng đội. Nói về tâm nguyện của mình ông Lý cho biết, trong suốt thời gian qua, ông đã cố gắng cùng anh em bạn bè tìm tro cốt của các đồng đội đã ngã xuống, đưa họ trở về quê nhà. Nhưng điều ông mong mỏi hơn cả là các cấp, các ngành sẽ xây một khu du lịch tâm linh ở Đồn Pò Hèn, nơi các đồng đội của ông đã ngã xuống.     

    Nguyên Khánh

 [Về đầu trang]


40 năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: Những tháng ngày không thể lãng quên

Chiến tranh biên giới phía Bắc đã đi qua 40 năm nhưng vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí của ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam (lúc bấy giờ là Vụ trưởng Vụ Phong trào, UBTƯ MTTQ Việt Nam) về vai trò của Mặt trận trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc. 

Bài 3: Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên mốc son chói lọi 

 

 Ông Nguyễn Túc.

Động viên hàng triệu thanh niên sẵn sàng ra mặt trận 

Nhớ lại những ngày đầu cuộc chiến, ông Túc cho biết, khi đó thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, Mặt trận Trung ương cùng MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận đã động viên toàn dân tích cực cùng các lực lượng vũ trang nhân dân tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Đó là thời điểm Trung ương Đảng ra lời kêu gọi Tổng động viên. Hưởng ứng lời kêu gọi, Mặt trận các cấp đã động viên đồng bào cả nước từ thành thị đến nông thôn, từ miền ngược đến miền xuôi, từ Bắc đến Nam, các tầng lớp nhân dân cũng như các dân tộc, tôn giáo  tạo nên một phong trào mạnh mẽ, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. 

Bên cạnh đó, Mặt trận cùng với Hội Nhà văn, Hội Nhà báo, Hội Nhạc sĩ, Hội Mỹ thuật Việt Nam đã động viên hàng trăm nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, nhà báo đi thực tế ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Ở nhiều nơi, Mặt trận  và các đoàn thể các cấp huyện và xã đã có những hoạt động tích cực để giúp đỡ bộ đội, dân quân chiến đấu như: Chăm sóc thương binh, vận chuyển súng đạn, tiếp tế lương thực, tổ chức cho các cụ già, trẻ em đi sơ tán. 

Theo ông Túc, ở nhiều địa phương, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đã thành lập Đội “Bạch đầu quân”, Hội “Mẹ chiến sĩ”; Tổ chức hội nghị “Đoàn kết quân dân”; hội nghị “Diên hồng bàn việc nước” để động viên khí thế chiến đấu. Công tác vận động nhân dân xây dựng đội tự vệ, dân quân du kích, xây dựng phòng tuyến chiến đấu đã được Mặt trận các tỉnh biên giới đặc biệt quan tâm. Nhiều làng xã chiến đấu, những Đội “Giữ gìn trật tự an ninh” đã được Mặt trận cùng với chính quyền các cấp tổ chức hầu như trên khắp các địa bàn của 6 tỉnh biên giới. 

Công tác hậu phương ở tuyến sau nổi bật nhất là, Mặt trận các cấp tại 6  tỉnh đã tổ chức đón tiếp, giúp đỡ đồng bào vùng chiến sự đi sơ tán, vận động nhân dân ở các vùng biên giới, đóng góp lương thực thực phẩm ủng hộ cho tiền tuyến, động viên phong trào lao động sản xuất đảm bảo thực hiện phương châm tại chỗ. Đáng chú ý là phong trào “Vì tuyến đầu Tổ quốc” của TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Trị Thiên (nay là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) phát động đã được các tỉnh thành khác trên cả nước hưởng ứng hết sức nhiệt tình.

Riêng Ủy ban MTTQ TP Hồ Chí Minh đã thành lập Ban “Vì tuyến đầu Tổ quốc” do Phó Chủ tịch MTTQ TP Hồ Chí Minh Uông Ngọc Ky trực tiếp chỉ đạo, đi 6 tỉnh biên giới phía Bắc để nắm tình hình đời sống của người dân tại các tỉnh đó rồi về đặt vấn đề với Thành ủy và MTTQ TP Hồ Chí Minh để cung cấp các vật lực cho tiền tuyến. Có thể nói điểm nổi bật nhất trong cuộc vận động  “Vì tuyến đầu Tổ quốc” được duy trì có chiều sâu, tác động tốt đến các phong trào sản xuất, tiết kiệm, xây dựng hậu phương vững mạnh.

 

Ảnh tư liệu. TTXVN.

Kêu gọi kiều bào giúp sức cho Tổ quốc

“Trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, Mặt trận đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ những điển hình tiên tiến trong phong trào “Bảo vệ Tổ quốc”, gặp gỡ những già làng,  trưởng bản có công trong việc động viên nhân dân bảo vệ Tổ quốc, gặp gỡ cán bộ chiến sĩ có nhiều thành tích trong chiến đấu, tổ chức gặp gỡ những gia đình đã có đóng góp lớn trong phong trào giúp đồng bào các tỉnh biên giới di cư ổn định cuộc sống và tạo điều kiện vật chất để những gia đình đó được ổn định trong thời gian chiến tranh. Nhớ lại thời đó thấy rằng hoạt động của MTTQ Việt Nam rất sôi động”-ông Túc nói trong niềm tự hào.

Song điều được ông Túc nhớ mãi chính là tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc đã tạo nên một sức mạnh to lớn. Đó là thực hiện lệnh tổng động viên, UBTƯ MTTQ Việt Nam có ra lời kêu gọi toàn dân không chỉ trong nước mà kiều bào ta ở nước ngoài và lời kêu gọi của Mặt trận đã được hưởng ứng tích cực bằng việc nhiều lớp thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ, kiều bào ở nước ngoài gửi rất nhiều tiền bạc, vật chất cần thiết cho cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở phía Bắc. Đặc biệt, các tôn giáo như phật giáo, thiên chúa giáo có những quyên góp để góp sức bảo vệ cho đồng bào các tỉnh biên giới đảm bảo cuộc sống, góp phần làm cho cuộc sống của cán bộ chiến sĩ bớt phần thiếu thốn. 

Ông Túc kể: “Tôi còn nhớ, rất nhiều tổ chức đã đóng góp tiền để mua xe cứu thương, mua thuốc chữa bệnh cho các thương bệnh binh ở trên tuyến đầu vì thời đó thuốc và các phương tiện rất khó khăn chứ không như bây giờ. Cuộc vận động của Mặt trận được nhân dân hưởng ứng đã góp phần rất quan trọng về vật chất để đáp ứng yêu cầu của tiền tuyến trong hoàn cảnh đó”.

“Tại Đại hội II của MTTQ Việt Nam diễn ra vào tháng 5-1983, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã nhận định: 8 năm sau khi giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, nhìn lại chặng đường vừa qua, nhìn lại giai đoạn lịch sử cuộc cách mạng tháng Tám, nhìn lại toàn bộ lịch sử dân tộc chúng ta, không lúc nào Tổ quốc Việt Nam ta, dân tộc ta vững vàng và mạnh mẽ như ngày hôm nay. Sức mạnh đó bắt nguồn từ khối đại đoàn kết toàn dân, vũ trang và những tư tưởng lớn của Đảng, tư tưởng “Bách chiến bách thắng” của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin thời gian qua được thể hiện rõ nét cụ thể, nhất là cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Thời gian càng trôi qua thì càng làm sáng tỏ ý nghĩa sâu sắc của chiến công đánh thắng chiến tranh ở biên giới phía Bắc và ở phía Tây Nam nước ta. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự động viên cổ vũ của MTTQ đã bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, góp phần vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Campuchia…” - ông Túc nói về những vai trò vị trí, những đóng góp của Mặt trận tại thời điểm đó đã được Đảng, Nhà nước, và nhân dân ghi nhận.

H.Vũ (ghi)

 [Về đầu trang]


40 năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: Những tháng ngày không thể lãng quên

Sáng 15/2, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trì, phối hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc - 40 năm nhìn lại (1979-2019)”. 60 báo cáo tham luận tại Hội thảo tập trung vào những vấn đề cơ bản, khẳng định sự thật lịch sử và tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Bài 4: 40 năm nhìn lại cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc

Hội thảo có sự quan tâm nhiều nhà khoa học, giảng viên từ các Viện nghiên cứu và các trường đại học uy tín; đặc biệt có sự tham dự của các nhân chứng, các cựu quân nhân đã từng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Phát biểu khai mạc, GS.TS Nguyễn Quang Thuấn- Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam nhấn mạnh, nhìn lại lịch sử nhằm đúc rút những bài học cho tương lai là vô cùng cần thiết, ý nghĩa

Sẵn sàng chiến đấu khi lãnh thổ của Tổ quốc bị xâm hại

Theo GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, cha ông ta luôn quan tâm giữ gìn vùng biên cương của Tổ quốc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đây là chiến công, dấu son của lịch sử dựng nước và giữ nước, viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc trong việc bảo vệ giữ vững độc lập dân tộc của đất nước. Do đó việc nhìn lại lịch sử từ cuộc chiến này để rút ra bài học kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết, ý nghĩa.

GS.NGND Vũ Dương Ninh cho rằng, theo tư liệu lịch sử và phân tích của các nhà sử học thì có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng về bản chất, phía Trung Quốc lúc ấy đã tiến hành cuộc chiến đối với một quốc gia độc lập, có chủ quyền và quân dân Việt Nam đã kiên cường chống trả nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Cuộc tấn công của quân Trung Quốc bắt đầu từ ngày 17/2/1979 bằng việc đồng loạt nổ súng xâm lấn vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam và quân dân Việt Nam đã đánh trả anh dũng để bảo vệ đất nước.  

PGS.TS Nguyễn Văn Nhật- Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cho rằng, hầu hết các nghiên cứu đều thừa nhận rằng quân đội Việt Nam đã “trên tay” quân Trung Quốc trên chiến trường. Về phía Trung Quốc, theo đánh giá của quốc tế, đó là sự thất bại vì những mục tiêu cơ bản mà họ đề ra đều không thực hiện được trong khi đó cái giá phải trả là rất lớn. “Chính Trung Quốc chứ không phải Việt Nam đã rút ra một bài học từ cuộc chiến này. Việt Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và qua đó cũng khẳng định với thế giới rằng chúng ta là nước  yêu chuộng hòa bình và sẵn sàng chiến đấu khi lãnh thổ của Tổ quốc bị xâm hại”- ông Nhật cho hay.

GS.TS Đỗ Tiến Sâm- Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhìn nhận, trong thời điểm hiểm nghèo đó, quân và dân các tỉnh biên giới phía Bắc với sự hỗ trợ của quân và dân cả nước cùng với sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đã chiến đấu ngoan cường và vô cùng dũng cảm đã giành được thắng lợi, giữ yên núi sông bờ cõi buộc quân Trung Quốc phải rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Theo ông Sâm, cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc của quân và dân ta cách đây 40 năm là một thử thách lớn mà Việt Nam phải đương đầu trong bối cảnh đất nước vừa trải qua chiến tranh vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng với truyền thống đoàn kết phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại nên đã giành được thắng lợi. Lịch sử là một tấm gương soi, bài học kinh nghiệm lịch sử từ cuộc chiến này cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu để có biện pháp ứng phó sao cho không để tái diễn và nếu không thể tránh  được thì cũng không bị động, bất ngờ.

Nhắc lại quá khứ để có cách ứng xử đúng đắn 

Theo GS.NGND Vũ Dương Ninh, tất cả những người Việt Nam từng đổ xương máu để gìn giữ từng tấc đất, từng hòn đảo của nước Việt Nam đều xứng đáng được các thế hệ con cháu vinh danh và tri ân. Sách giáo khoa lịch sử, văn học và nhiều môn khoa học xã hội khác cần quan tâm đầy đủ công việc này như chúng ta từng viết về 2 cuộc kháng chiến trước. Không khơi gợi hận thù song nhắc lại quá khứ để có cách ứng xử đúng đắn hôm nay và phòng ngừa cho ngày mai là điều rất cần thiết và cấp thiết đối với sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước nhà.

Những ngày tháng 2/1979. Ảnh: Tư liệu.

Cùng chung quan điểm, GS.TS Phạm Hồng Tung- Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng cho rằng, cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia ở vùng biên giới phía Bắc và ở Biển Đông từ năm 1979-1991 có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, cũng giống như lịch sử cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Tây Nam thì quá trình lịch sử này cho tới nay còn chưa được nghiên cứu và trình bày đầy đủ, đặc biệt là trong nội dung giáo dục lịch sử trong nhà trường phổ thông các cấp. Do đó, phải đặc biệt chú ý đến bản chất nhân văn, nhân bản của giáo dục lịch sử và mục tiêu cao cả nhất của giáo dục lịch sử là hướng đến tương lai hòa bình, hữu nghị và hợp tác vì vậy phải hướng dẫn để học sinh tìm hiểu rõ nguyên nhân sâu xa và trực tiếp đã dẫn đến cuộc chiến thông qua đó làm rõ tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Nhà nước và nhân dân Việt Nam trước các hành vi gây hấn, xâm lược.

Trong khi đó, GS.TS Đỗ Tiến Sâm, nhìn lại tổng thể quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong gần 70 năm qua dù có những thời khắc thăng trầm nhưng hữu nghị và hợp tác vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ hai nước. Trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng và bất ổn đang diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới hiện nay thì sự phát triển ổn định và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc trong những năm qua càng khẳng định sự cần thiết và tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản hai nước do đó quan hệ giữa hai Đảng, hai nước đang trên đà phát triển lành mạnh tích cực là tiền đề và động lực  quan trọng đưa quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ngày càng tốt đẹp vì lợi ích của nhân dân hai nước, khu vực và thế giới.

“Năm 2019 cũng vừa tròn 50 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, cho nên đây cũng là lúc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cùng nhau đoàn kết phấn đấu hoàn thành sứ mệnh lịch sử là xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất độc lập, dân chủ và giàu mạnh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới như Bác Hồ căn dặn trước lúc đi xa”- ông Sâm cho hay.    

Những bông hoa tháng Hai

Kỷ niệm 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới (17/2/1979 - 17/2/2019), NXB Văn hóa - Văn nghệ vừa phát hành cuốn sách “Những bông hoa tháng Hai” của nhóm tác giả Tô Phương, Hà Đình Cẩn, Hoàng Huân, Trần Nam Tiến. 

Cuốn sách gồm 3 phần: Ở mặt trận Cao Bằng, Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc tháng 2/1979 và Những bông hoa tháng Hai. Tập sách gồm những câu chuyện, những tấm gương tiêu biểu trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc 40 năm về trước. Chia sẻ về tác phẩm, nhà văn Hà Đình Cẩn cho rằng, chúng ta rất cần khắc sâu trong tim niềm tự hào dân tộc, những hy sinh thầm lặng của những người con đất Việt tiêu biểu đã hy sinh cho cuộc chiến vệ quốc. “Những bông hoa tháng Hai” chính là cơ hội tỏ tường và đối thoại với chính những sự kiện - những nhân chứng trong lịch sử tường thuật lại thật sự chân thật.    

Minh Quân

H.Vũ

 [Về đầu trang]


40 năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: Những tháng ngày không thể lãng quên

Tháng 3/1979, khi tình hình chiến sự biên giới phía Bắc vẫn còn nóng bỏng, một Đội Thanh niên xung kích (TNXK) gồm một số cán bộ trẻ và sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội 1 (ĐHSP HN) đã tình nguyện lên đường “đi về phương súng nổ” với mong muốn chia lửa, ghé vai cùng đồng bào, chiến sĩ biên giới cùng giữ vùng phên giậu của Tổ quốc.

BàI 5: Những người góp lửa

 

Đội thanh niên xung kích của Trường ĐHSP HN chụp ảnh với Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 3 tại cầu Khánh Khê, Lạng Sơn.

Xếp bút nghiên lên đường

Thầy giáo Phùng Ngọc Kiếm, nguyên là Bí thư liên chi đoàn khoa Ngữ văn, ĐHSP 1- người đã tham gia Đội TNXK ngày ấy “đi về phía súng nổ” chia sẻ: Ngày 17/2/1979, chiến tranh nổ ra trên toàn tuyến biên giới phía bắc từ Quảng Ninh đến Lai Châu. Khoảng hơn 2 tuần sau đó, ĐHSP 1 đã quyết định đưa Đội TNXK lên đường tới Lạng Sơn, một trong những mặt trận nóng bỏng nhất thời điểm ấy. Mục đích của chuyến đi thực ra rất giản dị: động viên, hỗ trợ các chiến sĩ bộ đội, chuyển đến quân dân biên giới những tình cảm của hậu phương. Chuyến đi do thầy giáo Phạm Đăng Dư, Bí thư Đoàn trường dẫn đầu.

Chỉ thuê được một chiếc xe Nisan nhỏ từ Công ty xe khách Hà Nội, Đội TNXK của ĐHSP HN lên biên giới ngày ấy có 33 người phải chia thành hai tốp. 12 cán bộ, đội viên đi bằng ô tô, mang theo lương thực, thuốc men, đàn, sáo - dụng cụ “tác chiến” của Đội. Những người còn lại đi tàu hỏa  lên Thái Nguyên, cả Đội tập kết ở đấy, rồi theo đường 1B hướng về phía biên giới Lạng Sơn. 

Ngay trên đường đi, tại Bắc Thái (nay là Thái Nguyên), đội văn nghệ đã biểu diễn phục vụ một số đơn vị thuộc Trung đoàn 197 bộ đội chủ lực địa phương vừa tham gia chiến đấu ở biên giới... Vừa đi, vừa nghỉ, vừa biểu diễn phục vụ; hành quân theo kiểu “tăng bo”, hoặc nhờ xe bộ đội, nên hơn 3 ngày ròng rã toàn đội mới có mặt tại chiến tuyến Lạng Sơn và được Sư đoàn 337 (F337) tiếp nhận. 

Thầy Phùng Ngọc Kiếm nhớ lại: Hồi ấy, trước khi đi, các thành viên của đội cũng xác định sẵn sàng hỗ trợ bộ đội, nhân dân biên giới bất kể công việc gì. “Biết chuyến đi có nhiều khó khăn, gian khổ và nguy hiểm nhưng chúng tôi đều vô cùng phấn chấn. Lúc ấy các thầy giáo, các nam sinh viên đều đã sẵn sàng cầm súng tham gia chiến đấu cùng với bộ đội, thế nên, những ai đi “chia lửa” đều hăng hái viết đơn tình nguyện để được lên đường. Và hành trang lên đường của đoàn rất giản dị là giấy bút, những chiếc đàn, hộp thuốc đánh răng, lưỡi dao cạo, bút mực, giấy viết thư, kim chỉ, xà phòng… nhưng đều mang nặng tình cảm hậu phương dành cho người đánh giặc tuyến đầu”.

Hậu phương có phút giây nào không hướng về tiền tuyến?

Sẵn sàng xếp bút nghiên lên đường cứu nước là hành động đẹp mang tính truyền thống của thầy và trò trường ĐHSP HN. Trang nhật ký của người đội viên Đội TNXK  đã nói hộ tấm lòng của thầy trò trường ĐHSP HN, cũng như tấm lòng của hậu phương dành cho tiền tuyến. “16/3: Phải ghi nhớ ngày này như ngày kết thúc một quá trình náo nức chuẩn bị của chúng tôi – và của rất nhiều bè bạn, của cả thế hệ trẻ Thủ đô, của cả lớp người trẻ ĐHSP 1 – chuẩn bị để có mặt ở chiến trường biên giới”.  

“Phía Tây Nam, tiếng súng biên giới vừa tạm yên chút ít. Biên giới phía Bắc lại vẫy gọi rồi. Súng đã nổ rồi. Những cuộc mít tinh, những lá đơn viết bằng máu, viết bằng tất cả tình cảm và trí tuệ, trách nhiệm mỗi con người trước vận mệnh Tổ quốc, trước hôm nay và mai sau – Với mỗi người, tiếng súng nổ trên biên giới là tiếng gọi tha thiết và khẩn cấp lắm. Có tiếng gọi nào khẩn thiết hơn tiếng súng giữ gìn núi sông Tổ quốc” ? 

“Trước vận mệnh của Tổ quốc thế nên khi biết tin mình có mặt trong đội TNXK tình nguyện chúng tôi náo nức lắm” Bởi,  nhiệm vụ của Đội sẽ là gì ư – dù chưa rõ cũng cứ tin là mình có khả năng đáp ứng – miễn là có mặt…Cuộc chiến đấu này có biết bao công việc phải làm”. Những suy nghĩ giản dị 40 năm trước vẫn tươi nguyên nhiệt huyết của tuổi trẻ ĐHSP HN sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì cống hiến cho Tổ quốc.

Có thể nói, những việc làm, hành động cụ thể của những cán bộ, đội viên Đội TNXK của Trường ĐHSP HN nơi tuyến lửa biên giới cũng chính là tình cảm của tuổi trẻ cả nước, của đồng bào miền xuôi dành cho miền núi, đồng bằng dành cho miền biên viễn. Đó là nghĩa tình của hậu phương gửi về tiền tuyến, chia lửa với tiền tuyến để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. 

Trong chuyến đi 14 ngày lần ấy tới các đơn vị, các bản làng mặt trận biên giới, đội TNXK ĐHSP HN đã biểu diễn phục vụ các đơn vị bộ đội và đồng bào biên giới 42 buổi, trung bình mỗi ngày 2-3 buổi, có ngày tới 5 buổi. Sân khấu thường là một bãi cỏ rộng, một thửa ruộng khô hay một sườn đồi; phương tiện chỉ có một chiếc loa pin. Địa điểm biểu diễn cách xa nhau, có khi phải đi bộ, rồi trèo đèo, lội suối nhưng các thành viên đều không quản ngại vượt qua gian khó.

Nhiều giọng hát được các cán bộ chiến sĩ nhớ mãi, như  các tiết mục của Kim Dung, Quang Thái, Cái Văn Thái, Đinh Văn Thiện, Kim Anh… Nhiều bài thơ viết ngay thực địa đọc cho bộ đội vẫn giữ mãi nét đẹp hào hùng và những tình cảm nồng ấm mãi về sau… Và chuyến đi ấy thực sự mở đầu mối giao hảo tốt đẹp, lâu bền cho tới tận bây giờ giữa ĐHSP HN với Sư đoàn 337, với quân dân tuyến biên giới Lạng Sơn…

Trong trận chiến ấy, chính sức mạnh của khối đại đoàn kết quân dân đã giúp chúng ta đi đến thắng lợi. Bởi, có những bà mẹ Việt Nam tuổi đã cao nhưng sẵn sàng chở bè đưa bộ đội vượt sông Kỳ Cùng đuổi giặc; có những gói xôi nóng hổi của đồng bào các dân tộc trong vùng chiến sự tiếp tế xẻ chia cho bộ đội; có những hành động nhường cơm sẻ áo của chính ủy, của chỉ huy những trung đoàn với chiến sĩ, đội TNXK… Chẳng có sức mạnh nào có thể đập vỡ được khối đại đoàn kết này.

Trang nhật ký ngày lên đường tham gia gìn giữ biên cương của thầy Phùng Ngọc Kiếm ghi khắc: “Hậu phương mình có phút giây nào không hướng về tiền tuyến? Và có phải đâu lúc này chúng tôi mới đi về nơi đang ran tiếng súng. Cả đất nước vẫn là một cơ thể thống nhất khởi hành trên con đường tiến về phía trước. Cả dân tộc ta đã sẵn sàng và luôn luôn sẵn sàng. Vì Độc lập -Tự do, chúng ta đã hành quân từ lâu mấy ngàn năm rồi – còn kẻ thù, chúng ta sẽ còn cầm súng ra đi và chiến thắng”.

Ngày 27/3
...Ngày mai chúng tôi phải về tuyến sau phục vụ tiểu đoàn quân y và tiểu đoàn vận tải để kết thúc chuyến đi ngắn ngủi này. Chú Vạn (Thượng úy Nguyễn Đình Vạn, cán bộ Sư đoàn 337) được phân công đảm trách việc hướng dẫn đội TNXK trong những ngày đội ở biên giới) sẽ đi cùng đội, tiễn đội về rồi ngày kia chú sẽ lên Đồng Đăng bước vào cuộc chiến đấu mới.Buồn và nao nao trong lòng.

Chiều nay chú mang theo một cái áo… Chú bảo mình thùa khuyết lại tất cả các khuy áo. Mình và Chinh hý hoáy làm một lúc. Mình cứ băn khoăn vì thực ra các chỗ thùa khuyết chưa phải đã sờn. Cuối cùng chú Vạn nói mình mới vỡ lẽ: Hôm nào về thăm trường chú sẽ mặc cái áo này. Mỗi lần mặc đến lại nhớ chúng mày. Mình và Chinh nhìn nhau lặng người đi…

…Chú Vạn ơi, có lẽ chú chẳng biết được đâu, những ngày qua cháu đã suy nghĩ nhiều thế nào. Cháu thấy mình đã sống một cách nhỏ bé tầm thường và vô trách nhiệm trong khi những người đầu đã bạc vẫn cầm súng chiến đấu và những người chưa kịp bước vào đời đã chiến đấu và hy sinh. 

May sao chuyến đi này đã cho cháu nhận thức rõ ràng hơn và sâu sắc hơn ý nghĩa cuộc sống để biết trân trọng hơn, quý giá hơn từng giây phút trôi qua. Những nấm mồ đắp vội, những dòng chữ trên bia ghi ngày tháng năm sinh của những chàng trai còn quá trẻ ngã xuống hôm nay như những tiếng chuông cảnh tỉnh chấn động mãi lòng cháu hôm nay và chắc chắn là cả những ngày mai.

Sự thực đau đớn đó hơn bất kỳ một lời giáo huấn nào có sức thuyết phục và bắt người ta phải suy nghĩ một cách nghiêm túc:  làm sao cho xứng với sự hy sinh đó. Và không chỉ với những người ngã xuống hôm nay mà với cả bao lớp người đã ngã xuống hôm qua.

Sống vị kỷ là có tội với những người đã ngã xuống, là biến máu thành nước lã, là xúc phạm đến sự hy sinh xương máu của bao người…

(Trích nhật ký của cô giáo Quỳnh Liên)

   Nguyên Khánh (Ghi)

 [Về đầu trang]


 

 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 
 
 

 

 
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 
 
 
 
 
 
 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội