Ðặt làm trang chủ

 
     
 


Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân

 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân

 

Tham dự Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư tại Đồng Nai, Chủ tịch Ủy ban TW MTTQ VN Phạm Thế Duyệt: Tăng cường đoàn kết để xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

 
 
 
 
 
 
 

 KỶ NIỆM 120 NĂM

NGÀY SINH CHỦ TỊCH TÔN ÐỨC THẮNG


  Tóm tắt tiểu sử  Chủ tịch Tôn Đức Thắng

  Những chặng đường hoạt động cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng

  Chủ tịch Tôn Đức Thắng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

  Đồng chí Tôn Đức Thắng, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vị chủ tịch lâu năm nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

  Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng

  Đến với khu lưu niệm bác Tôn

  Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (20-8-1888 - 20-8-2008)

  Ðồng chí Tôn Ðức Thắng - tấm gương tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết của Ðảng

  Tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời

  Hoạt động kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng gắn với Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

  Hội thảo khoa học Quốc gia kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

  Bác Tôn - Nhà lãnh đạo lỗi lạc, người bạn chiến đấu thân thiết của Bác Hồ

  Đồng chí Tôn Đức Thắng – Nhà tuyên truyền, giáo dục cách mạng đức độ và tài năng

   Kỷ niệm trọng thể 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

  Tôn Đức Thắng - biểu tượng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

  Bài diễn văn của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết


[Trang tiếp]  [Về đầu trang]


TÓM TẮT TIỂU SỬ

CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

 

Bí danh: Thoại Sơn

Ngày sinh: 20/8/1888

Quê quán: xã Mỹ Hoà Hưng, Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Thành phần gia đình xuất thân: Nông dân

Ngày vào Đảng: 1930

 

 

 

 

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

- Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt động cách mạng từ chiến tranh thế giới, lúc đó ở Hải quân Pháp trên Địa Trung Hải.

- Từ 1919: Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm ở mặt bể Hắc Hải để chào mừng cách mạng Nga.

- Từ 1928: Bị địch bắt, bị đưa ra Côn Đảo với án tù 20 năm khổ sai. Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh, được Xứ uỷ Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó.

- Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ phụ trách về vấn đề lương thực và vũ khí.

- Từ 1946: Trúng cử là đại biểu Quốc hội và tham gia phái đoàn Quốc hội sang  Pháp.

- Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng

- Từ tháng 3 - 1951 :Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt

- Từ tháng 9 -1955:  Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Từ tháng 2 – 1977: Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Từ 1960: Được giữ các chức vụ: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Tổng Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

- Từ 12/1976 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

B.B.T
 
[Về đầu trang]


NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG

CỦA CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

 

      I.TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

-Từ 1906-1909: Học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông, làm công nhân Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp ở Sài Gòn;

- Năm 1912: Tổ chức cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son

- Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt động cách mạng từ chiến tranh thế giới, làm công nhân quân giới ở quân cảng Toulon (miền Nam nước Pháp) và làm thợ máy trên chiến hạm France.

- 20/4/1919: Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ở mặt bể Hắc Hải, sau đó bị trục xuất khỏi nước Pháp.

- Năm 1920: Lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.

- Năm 1927: Tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn.

- Tháng 12/1928: Bị địch bắt ở Sài Gòn.

- Ngày 26/7/1929: Bị kết án 20 năm khổ sai.

Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/7/1930, con tàu Armand Roussean của thực dân Pháp lặng lẽ rời Sài gòn đưa đồng chí Tôn Đức Thắng và một số cán bộ, quần chúng yêu nước đày ra Côn Đảo. Kể từ đó cho đến ngày 18/8/1945, khi Côn Đảo được giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng với lời ghi chú trong phiếu quản lý “Phần tử nguy hiểm” đã chứng tỏ nghị lực phi thường, ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với cách mạng. 15 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo là quãng thời gian thử thách lớn nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Tôn Đức Thắng nhưng đó cũng là quãng đời đầy vinh quanh khi đồng chí  thực sự biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng.

- Năm 1930:  Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh, được Xứ ủy Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó. Bằng những kinh nghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, đồng chí Tôn Đức Thắng đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.

Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những người cộng sản.

Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở Hầm xay lúa. Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân, địch gọi là “Khu trừng giời”. Với âm mưu thâm độc của địch muốn dùng tay anh chị để hành hạ và giết Tôn Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa bàn cách nắm lấy quyền lực điều hành để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho những bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công để tất cả mọi người làm việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì sàng gạo, đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc, kíp đứng cối thì bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ.

Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, đồng chí Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô. Sở lưới, với vai trò của đồng chí Tôn Đức Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ chức Đảng ở Côn Đảo và là đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt động trong đất liền.

Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh không điều kiện. Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập do một đài nước ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết. Sáng 23/9/1945, tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tù chính trị trở về đất liền. Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chính đồng chí Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo trở về. Tuy gian nan, vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân dân địa phương.

- Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ phụ trách về vấn đề lương thực và vũ khí.

- Ngày 06/01/1946: Trúng cử là đại biểu Quốc hội khóa đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tham gia phái đoàn Quốc hội sang  Pháp.

- Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, Đảng ta chính thức phát động cuộc vận động thi đua yêu nước. Đây là thời kỳ đồng chí Tôn Đức Thắng có nhiều cố gắng và đạt kết quả tốt trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc.

- Nhân dịp đồng chí Khu trưởng khu VIII Nam Bộ ra báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình cuộc kháng chiến, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đến thăm Đoàn và trao đổi thân tình: “Mặc dầu tham gia vào cuộc lãnh đão chung ở ngoài này – một nhiệm vụ rất lớn, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, lúc nào cung nghĩ tới chiến trường Nam Bộ là nơi đồng chí, đồng bào đương kháng chiến gian lao. Tôi đã nhiều lần đề nghị với Bác Hồ, với Trung ương cho trở về chiến trường để cùng với đồng chí, đồng bào Nam Bộ tham gia kháng chiến nhưng Bác Hồ chưa đồng ý (…). Đề nghị đồng chí, đề nghị đoàn về báo cáo lại với Xử ủy và với đồng báo Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng là người con của nhân dân Nam Bộ, lúc nào cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới xứ sở mà mình đã sinh ra và đã từng hoạt động”. Trong thời gian này, Ban Thường trực Quốc hội đã phân công các ủy viên đi các địa phương ở Liên khu III và liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến, đồng chí Tôn Đức Thắng được giữ chức Quyền trưởng Ban.

- Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đồng chí là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.

- Từ 1951 - 1955 : Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt

- Từ 1955 -  1977:  Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Từ 1960: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Tổng Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (tháng 7/1960). Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

- Ngày 23/9/1969 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

- Từ 1977 - 1981: Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

II.NHỮNG DANH HIỆU CAO QUÝ ĐÃ ĐƯỢC ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, NHÂN DÂN TA VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRAO TẶNG

- Năm 1955, được Ủy ban Giải thưởng hòa bình quốc tế Lênin tặng giải thưởng Lênin “Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”

- Năm 1958, được Quốc hội và Hồ Chủ Tịch tặng thưởng Huân chương Sao Vàng

- Năm 1967, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin về những hành động cách mạng góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô viết trong thời kỳ nội chiến.

- Năm 1978, được Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Cách mạng Tháng Mười để ghi nhận công lao đóng góp to lớn vào việc phát triển và củng cố tình hữu nghị anh em, hợp tác về mọi mắt giữa Việt Nam – Liên Xô.

- Năm 1978, Đoàn chủ tịch Quốc hội Mông Cổ, tặng thưởng Huân chương Xu-khechương Xu-khê Ba-to, huân chương cao quý nhất của Mông Cổ, để ghi nhận công lao to lớn đã cống hiến cho sự nghiệp hòa bình, hữu nghị và chủ nghĩa xã hội của các dân tộc; trong việc củng cố tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mông Cổ.

B.B.T

 [Về đầu trang]


CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

  VỚI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

                                                           Vũ Trọng Kim

                                                                            Ủy viên BCHTƯ Đảng

                                                                             Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký

                                                                            Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

 

Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, cống hiến trọn đời cho cách mạng, cho dân tộc; người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn, gian khổ đến mấy, Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn tỏ rõ rất mực trung thành, tận tụy đối với Đảng, nhân dân, luôn nêu cao tinh thần anh dũng, bất khuất, phẩm chất đạo đức: cần, khiệm,  liêm chính, chí công, vô tư [1]

Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 trong một gia đình nông dân tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Năm 1910, sau khi tốt nghiệp Trường Bách nghệ Sài Gòn với điểm tối ưu (20/20), Bác gia nhập hàng ngũ giai cấp công nhân Việt Nam và làm việc tại xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son của thực dân Pháp tại Sài Gòn. Truyền thống yêu nước, quật cường của quê hương, đất nước và cuộc sống của giai cấp công nhân đã sớm thức tỉnh tinh thần yêu nước của Bác. Năm 1912, khi mới 24 tuổi, Bác đã tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son mở đầu cho cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian lao nhưng cũng rất vinh quang của mình. Bị thực dân Pháp lùng bắt, cuối năm 1912, Bác lánh sang Pháp và làm thủy thủ trên các tàu viễn dương. Năm 1919, khi mới hơn 30 tuổi, Bác đã tham gia cuộc binh biến của hải quân Pháp ở Hắc Hải chống cuộc chiến  can thiệp của đề quốc Pháp tại Biển Đen, góp phần bảo vệ Nhà nước Xô- Viết, Nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới [2]. Năm 1920, do tham gia cuộc binh biến đó, Bác buộc phải rời Pháp. Trở về Sài Gòn, Bác cùng với các bạn chiến đấu, xây dựng những cơ sở công hội bí mật đầu tiên tại Sài Gòn- Chợ lớn nhằm tập hợp đoàn kết, bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân và người lao động làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống sự áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và bè lũ tay sai. Năm 1926, Bác tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Cuối năm 1929, do hoạt động cách mạng, Bác Tôn bị Thực dân Pháp bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn, sau đó bị đày ra Côn Đảo suốt 17 năm và trở thành người tù có thâm niên lâu nhất ở đây. Cách mạng tháng Tám thành công, Bác được chính quyền cách mạng đón về đất liền và tham gia ngay vào cuộc chiến đấu mới chống thực dân Pháp xâm lược. Giữa năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đón Bác ra Hà Nội. Từ đó, Bác Tôn và Bác Hồ luôn luôn sát cánh bên nhau - một hình ảnh tiêu biểu cho đoàn kết Bắc - Nam, để cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lo việc nước. Với uy tín lớn trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, Bác Tôn đã được giao nhiều trọng trách: Tổng thanh tra của Chính phủ, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban thi đua ái quốc Trung ương, Chủ tịch danh dự Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc (từ 7-3-1951 đến 10-9-1955), Hội trưởng Hội hữu nghị Việt Nam - Liên Xô... liên tục là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến lúc ra đi. 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng là 20 năm Bác liên tục được đại diện các tầng lớp nhân dân suy tôn làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ 10-9-1955 đến 2-1977) và Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày qua đời. Cũng trong thời gian đó, Bác còn đảm nhiệm nhiều trọng trách: Trưởng ban thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Uỷ ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng hòa bình thế giới. Ngày 15-7-1960, Bác được Quốc hội thay mặt nhân dân ta bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Năm 1969 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Bác được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước,  đồng thời kiêm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận lãnh đạo, tổ chức động viên nhân dân ta kiên cường chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến toàn thắng, thống nhất nước nhà.

Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng đầy gian lao và nguy hiểm, trong đó có 27 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam và hơn 10 năm làm Chủ tịch nước, Bác Tôn đã để lại cho Đảng ta, Nhà nước ta nhiều bài học sâu sắc, cho nhân dân ta một tấm gương sáng về chuẩn mực sống của một công dân yêu nước. Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất và lâu năm nhất của Mặt trận Liên Việt,  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bác đã hoạt động hết mình vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Năm 1946, Bác Tôn được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tức Liên Việt)- một tổ chức nhằm tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước. Là người miền Nam lần đầu tiên sống trên đất Bắc với khí hậu thay đổi thất thường bệnh tật hậu quả những tháng bị tù đầy, tra tấn, song Bác vẫn kiên trì thực hiện khẩu hiệu “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Bác đã không quản ngại khó khăn vượt đèo, lội suối, gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều nhân sĩ, trí thức, đại diện lãnh đạo các đảng phái, chức sắc, các tôn giáo nhằm làm cho mọi người nhận thức rõ thời cuộc, chính sách của Chính phủ kháng chiến và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc chống thực dân xâm lược. Bác thường nhắc nhở các thành viên trong Hội Liên Việt tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đời sống mới, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, bảo trợ người già yếu, tàn tật, phụ nữ và trẻ em; phát triển nền văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc văn hóa phương Đông và phương Tây để bổ sung cho nền văn hóa nước nhà. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, với tư cách là đại biểu chính thức của Đại hội, Bác đã có những đóng góp quan trọng vào việc xác định vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Được Đoàn Chủ tịch Đại hội phân công chuẩn bị và đọc diễn văn bế mạc Đại hội, Bác nhấn mạnh: "Chính sách Mặt trận của chúng ta là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến. Không phải liên minh giai cấp suông, mà liên minh giai cấp để kháng chiến. Đã là liên minh giai cấp để kháng chiến thì những mâu thuẫn quyền lợi giữa giai cấp phải được điều giải hợp lý. Nhưng bao giờ chúng ta cũng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của quần chúng cần lao và đông đảo, vì họ là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất và là lực lượng chủ yếu của kháng chiến"[3]. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Bác được phân công chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt. Với kinh nghiệm công tác Mặt trận nhiều năm và với uy tín lớn trong Đảng, trong dân, Bác đã góp phần quan trọng tổ chức Đại hội thành công tốt đẹp. Việt Minh và Liên Việt thống nhất thành một Mặt trận chung mang tên  Mặt trận Liên Việt và Bác Hồ được cử làm Chủ tịch danh dự, Bác Tôn được cử làm Chủ tịch. Thành công của Đại hội là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta về chính trị. Đúng như Bác Hồ đã nhận xét: "Hôm nay trông thấy rừng cây đại đoàn kết đã nở hoa, kết quả và gốc rễ nó đang ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân và nó có một tương lai "trường xuân bất lão".

Tháng 9 năm 1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất đã khai mạc tại Hà Nội và quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tại Đại hội này, Bác được cử làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong diễn văn đọc tại đại hội, Bác đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Bác kêu gọi đồng bào cả nước: “Chúng ta cùng chung một Tổ quốc, cùng có chung hàng nghìn năm lịch sử, đau khổ có nhau, vinh quang có nhau. Điều đó đã gắn liền đồng bào toàn quốc, gắn liền đại biểu chúng ta làm một khối”[4]. Bác đã động viên cả nước ra sức thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công!”.

Do những công lao to lớn của Bác đối với cách mạng và sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, tháng 8 năm 1958 nhân dịp tròn 70 tuổi, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định tặng Bác Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Nhà nước trao tặng huân chương cho Bác và phát biểu: “Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng huân chương Sao Vàng là huân chương cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng huân chương ấy” [5].

Với cương vị là người lãnh đạo của Đảng, người đứng đầu Nhà nước, Công đoàn và Mặt trận, Bác cùng với Bác Hồ là hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết Bắc, Nam. Nét nổi bật ở Bác mà mọi người dễ nhận thấy là đức tính khiêm nhường, lối sống giản dị, lòng bao dung và tài cảm hoá mọi người. Chính phẩm chất cao quý ấy cùng với lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của dân tộc đã in đậm trong trái tim mỗi người Việt Nam yêu nước sự ngưỡng mộ và kính phục.

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác (20/8/1888- 20/8/2008) giữa lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, nhất là Hội nghị lần thứ 07 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về dân tộc, tôn giáo, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu "dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên các đoàn thể nhân dân, những người công nhân lao động chúng ta càng tự hào về Người Chủ tịch Mặt trận kính mến của mình, càng phải ra sức rèn luyện, học tập đạo đức Cách mạng "Cần kiệm, liêm chính - chí công, vô tư" của Người; càng phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, vì sự nghiệp đổi mới phải hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó. Hãy phấn đấu hết sức mình để góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng nở hoa, kết trái. 

Trước mắt, phát huy kết quả của 60 năm phấn đấu thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả chúng ta và các tổ chức thành viên Mặt trận cần động viên nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua lao động, sản xuất, học tập, công tác và hoạt động xã hội; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, sát cách cùng Đảng, Nhà nước thực hiện có hiệu quả các chủ trương, giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh tế-xã hội Nhà nước năm 2008; tập trung chỉ đạo thành công đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc lần thứ VII; tất cả mọi hoạt động phải tập trung, đầu tư cho cơ sở và các khu dân cư để phấn đấu sớm hoàn thành mục tiêu xoá đói, giảm nghèo; xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa tiên tiến; tổ chức thật tốt "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" 18-11 ở các khu dân cư, tạo điều kiện để mọi cán bộ, đảng viên và lãnh đạo các cấp đều về sinh hoạt, dự  "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" cùng nhân dân ở khu dân cư của mình./.


[1] Tháng 8-2003, nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của chủ tịch Tôn Đức Thắng, khi trả lời  phỏng vấn đài BBC giáo sư Christoph Giebel (dạy tại khoa Sử đại học Washington, Hoa Kỳ và là một chuyên gia nghiên cứu về ông Tôn Đức Thắng), có nói: ...ông Tôn, một người rất khiêm tốn, giản dị, sống thật với bản chất và lý tưởng của mình. Ông ấy được mô tả như một nhà cách mạng kiểu mẫu. Một bài viết về ông Tôn có tựa đề “Một người bình thường, vĩ đại” và tôi nghĩ cái hình ảnh “một người bình thường, vĩ đại” là cách mà ông Tôn được nhìn nhận ở góc độ cá nhân.

[2] Về sau để ghi nhận vai trò của ông trong sự kiện này, tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Odessa-Ukraina (tham khảo cuốn Người thủy thủ phản chiến ở Biển đen" NXB Thông tin lý luận, 1988)...

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2001, tr 488.

[4] Đồng chí Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr32.

[5] Đồng chí Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr35.  

[Về đầu trang]


ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG, NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU THÂN THIẾT CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI, VỊ CHỦ TỊCH LÂU NĂM NHẤT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

Phạm Thế Duyệt *

 

Tôi không có may mắn như nhiều đồng chí khác là được sống và làm việc gần Bác Tôn. Là lớp hậu sinh, tôi chỉ được nhìn thấy Bác Tôn cùng Bác Hồ trên Lễ đài Quảng trường Ba Đình trong các ngày lễ lớn và lần đầu tiên vinh dự gặp Bác tại Đại hội lần thứ IV Công đoàn toàn quốc, năm 1978.

Song với nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó : Làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam và hiện nay là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi có điều kiện thuận lợi và dành nhiều thời gian tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác - người lãnh tụ của mình trong công tác Dân vận - Mặt trận của Đảng.

Như chúng ta đã biết : Bác Tôn sinh ngày 20-8-1888 trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Vào thời điểm đó, thực dân Pháp đã mở rộng cuộc xâm lược ra toàn cõi Việt Nam và cũng là thời điểm mà phong trào yêu nước của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ ở khắp ba kỳ nhằm chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của người thanh niên Tôn Đức Thắng. Ngay khi còn là học sinh của Trường Bách nghệ Sài Gòn, cùng với việc học giỏi nhất trường (1), Bác Tôn còn là "người chỉ huy" nhiều cuộc bãi khóa để phản đối sự đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với phong trào nông dân ở nhiều nơi.

Tốt nghiệp Trường Bách nghệ với điểm tối ưu (20/20), Bác Tôn gia nhập hàng ngũ giai cấp công nhân Việt Nam và làm việc tại xưởng sửa chữa tàu thủy Ba Son. Chính tại đây, ở tuổi 24, Bác Tôn đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son thắng lợi, ghi một dấu ấn đậm nét đầu tiên trong quá trình hoạt động cách mạng của mình.

Làm thủy thủ trên các tàu viễn dương, đi tới nhiều nước, ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều lớp người có mầu da và tiếng nói khác nhau, cũng như Bác Hồ, Bác Tôn nhận thức ra một điều là : ở đâu, người lao động cũng là người cùng khổ, bị bóc lột, đàn áp đến thậm tệ. Tinh thần yêu nước nồng cháy trong Bác được nâng lên thành tình yêu giai cấp, tình đoàn kết quốc tế thiết tha. Sự kiện người thanh niên Việt Nam Tôn Đức Thắng tham gia cuộc binh biến của hải quân Pháp ở Hắc Hải năm 1919, để ủng hộ và bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga, là một minh chứng cụ thể về tình đoàn kết quốc tế cao cả. Nó đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử phát triển và nâng cao mối quan hệ hợp tác và hữu nghị Việt - Xô sau này.

Do tham gia cuộc binh biến lịch sử đó, Bác buộc phải rời Pháp trở về nước. Bác Tôn thành lập tổ chức Công hội nhằm tập hợp, đoàn kết, bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân, làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại sự áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và bè lũ tay sai của chúng.

Năm 1925, Bác Tôn tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Aái Quốc sáng lập. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến tư tưởng có tính chất quyết định từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Bác. Từ đó, tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân Sài Gòn do Bác Tôn tổ chức và lãnh đạo, nhanh chóng nâng cao trình độ tổ chức, trình độ tự giác của giai cấp công nhân, thúc đẩy cuộc đấu tranh ngày càng phát triển. Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam đã khẳng định : Các tổ chức công hội mà Bác Tôn là người sáng lập là những tổ chức tiền thân của Công đoàn Việt Nam có vai trò quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam vào những năm đầu cách mạng vô sản ở nước ta.

Đọc cuốn "Sơ lược lịch sử Côn Đảo" do Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo ấn hành cho thấy, Bác Tôn là một trong những đảng viên cộng sản lớp đầu tiên bị kẻ địch giam cầm ở đây lâu nhất.

Ròng rã gần 17 năm trời bị đọa đầy trong ngục tù đế quốc, với bao cực hình vô cùng dã man, bọn thực dân, đế quốc không lay chuyển nổi ý chí kiên trung, bất khuất của Bác. Ngược lại, chúng càng làm cho khí phách của người cộng sản lớp tiền bối lan tỏa và nêu gương cho các thế hệ kế tiếp, cho mọi người dân Việt Nam yêu nước noi theo. Cũng chính tại Côn Đảo, Bác đã tham gia thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở đó và tích cực tham gia đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp.

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, theo sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Nam Bộ cử đoàn đại biểu ra đón Bác Tôn cùng các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng trở về đất liền. Tại Hội nghị cán bộ toàn xứ Nam Kỳ họp ngày 15-10-1945, Bác Tôn và các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng... được bầu vào Xứ ủy. Giữa năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương đón Bác Tôn ra Hà Nội. Từ đó, Bác Tôn và Bác Hồ luôn luôn sát cánh bên nhau - một hình ảnh tiêu biểu cho đoàn kết Bắc - Nam, để cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lo việc nước. Với uy tín lớn lao trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, Bác Tôn đã được giao nhiều trọng trách : Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác lần lượt đảm nhận các chức vụ : Tổng Thanh tra của Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt toàn quốc (từ 7-3-1951 đến 10-9-1955), Hội trưởng Hội Hữu nghị Việt Nam - Liên Xô, liên tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến lúc Bác ra đi.

Hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng là 20 năm Bác Tôn liên tục được đại diện các tầng lớp nhân dân suy tôn làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ 10-9-1955 đến 2-1977) và Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày Bác qua đời. Cũng trong thời gian đó, Bác còn đảm nhiệm các chức vụ : Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới. Ngày 15-7-1960, Bác được nhân dân ta bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, Bác Tôn được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước, đồng thời kiêm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để cùng các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận lãnh đạo, động viên nhân dân ta kiên cường chiến đấu, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến toàn thắng, thống nhất nước nhà.

Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng đầy gian lao và nguy hiểm, trong đó có 17 năm ròng bị đầy đọa và chịu mọi cực hình trong ngục tù Côn Đảo của thực dân Pháp, 27 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 10 năm làm Chủ tịch nước, Bác Tôn đã để lại cho Đảng ta, Nhà nước ta nhiều bài học sâu sắc, cho nhân dân ta một tấm gương sáng về chuẩn mực sống của một công dân yêu nước.

Còn sáng mãi trong nhân dân ta hình ảnh một vị Chủ tịch nước cao tuổi về thăm quê với bộ quần áo bạc màu với yêu cầu hết sức hạn chế xe đưa, người đón vì "sợ hao phí tiền của và công sức của Nhà nước và nhân dân".

Với cương vị là người lãnh đạo của Đảng, người đứng đầu Nhà nước, Công đoàn và Mặt trận, Bác Tôn và Bác Hồ là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Nét nổi bật ở Bác Tôn mà mọi người dễ nhận thấy là đức tính khiêm nhường và lối sống giản dị. Chính phẩm chất cao quý ấy cùng với lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của dân tộc đã in đậm trong trái tim mỗi người Việt Nam yêu nước sự ngưỡng mộ và kính phục.

Kỷ niệm Ngày sinh lần thứ 115 của Bác Tôn giữa lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng được cụ thể hóa bằng các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó Nghị quyết có tầm quan trọng sống còn đối với vận mệnh của dân tộc ta lúc này là Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (phần II) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Để kỷ niệm ngày sinh của Bác Tôn một cách thiết thực nhất, mỗi chúng ta hãy học tập đạo đức cách mạng, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Bác, noi gương Bác hãy tận tụy với công việc được Đảng và nhân dân giao phó, đóng góp hết mình cho công cuộc đổi mới, làm cho rừng cây đoàn kết mà Bác đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời vun đắp không ngừng nở hoa, kết trái, để hoài bão "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" của Bác Hồ, Bác Tôn, của toàn Đảng và của mỗi chúng ta sớm thành hiện thực trên Tổ quốc thân yêu.

---------------------------------

* Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

(1) Năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đã tìm được Học bạ (gốc) của Bác Tôn còn lưu giữ tại Trường.

(Theo Tạp chí Cộng sản số phát hành 42 năm 2003)

[Về đầu trang]


CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

 TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước bị rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược, chứng kiến sự hành hạ, đối xử bất công của chúng đối với người dân nước Việt, ở Tôn Đức Thắng sớm xuất hiện tình cảm yêu nước, căm ghét bọn thực dân. Rồi tiếng vang của các nghĩa quân: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương và nhiều tấm gương anh dũng chống thực dân Pháp đã in sâu trong tâm hồn cậu bé Tôn Đức Thắng.

Chính với hành trang yêu nước, thương nòi ấy, năm 1912, anh thanh niên Tôn Đức Thắng đã tham gia tổ chức cuộc bãi công của học sinh trường Bá Nghệ và công nhân Nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son. Gần 10 năm sau, năm 1920, trở về Sài Gòn sau sự kiện kéo cờ trên Hắc Hải nổi tiếng, Tôn Đức Thắng cùng những người bạn thân thiết lập ra tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam - Công hội bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, đấu tranh chống đế quốc tư bản.
Bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng mở ra vào một ngày cuối năm 1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tôn Đức Thắng nhanh chóng tán thành gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đây, trong con người Tôn Đức Thắng, yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với Tổ quốc, với dân tộc cũng đồng thời là trung thành với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã nâng lòng yêu nước chân chính của Tôn Đức Thắng lên một tầm cao mới, thêm sức mạnh và hăng hái lao vào hoạt động cách mạng. Năm 1927, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ thành lập. Tôn Đức Thắng được cử là một thành viên trong ban lãnh đạo Kỳ bộ và trực tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn. Trên cương vị này, Tôn Đức Thắng đã tích cực tuyên truyền giác ngộ và cùng các đồng chí của mình tham gia chuẩn bị cho sự ra đời của một đảng mác-xít chân chính ở Việt Nam.

Cuối năm 1929, giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ thì Tôn Đức Thắng bị mật thám Pháp bắt, đưa về Khám lớn Sài Gòn và dùng mọi cực hình tàn bạo hòng khai thác những tin tức về cách mạng. Nhưng chúng đã thất bại trước khí phách kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Chúng kết án Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo. Ở nơi "địa ngục trần gian", Tôn Đức Thắng vẫn vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cùng các đồng chí ở Banh 1 thành lập Chi bộ đặc biệt và trở thành một trong những người lãnh đạo của chi bộ cùng anh em trong tù tiếp tục đấu tranh.

Cách mạng Tháng Tám thành công, vừa được đón về đất liền, người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng đã hăng hái cùng quân dân miền nam chiến đấu chống thực dân Pháp; sau đó được điều ra bắc, lần lượt đảm nhiệm các trọng trách: Phó Hội trưởng Hội Liên Việt, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dù ở cương vị nào, Chủ tịch Tôn Đức Thắng cũng luôn luôn nêu cao phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với dân tộc, với Đảng, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Có thể nói, khiêm tốn và giản dị, tình nghĩa và trong sáng là những đức tính của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Chủ tịch Tôn Đức Thắng rất khiêm nhường. Một người dân thuộc địa tham gia cuộc binh biến ở Hắc Hải năm 1919 để bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết trẻ tuổi là một sự kiện được nhân dân Liên Xô cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ thế giới khâm phục, ngợi ca. Vậy nhưng khi hồi tưởng lại sự kiện này, Chủ tịch khiêm tốn viết: "Tôi tin rằng, bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân, được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen, không thể hành động khác tôi. Bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười".

Là người đầu tiên được nhận huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta- Huân chương Sao Vàng, trong lời phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch xúc động nói: "Trong buổi lễ vinh quang này, tôi nghĩ đến thời kỳ tôi còn ấu trĩ, nghĩ đến những lúc khó khăn hiểm nghèo, Đảng đã dìu dắt, giáo dục tôi, nhân dân đã rèn luyện và giúp đỡ tôi để có được ngày hôm nay".

Tháng 10-1975, về thăm quê ở Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, An Giang, Chủ tịch Tôn Đức Thắng chỉ nhận mình là một người được Đảng và Nhà nước cho phép về thăm quê nhà, gặp lại anh em họ mạc, thăm hỏi bà con xóm ấp. Đến cây xoài trước cổng nhà, cây cầu gỗ thuở nhỏ đi học qua, Chủ tịch vẫn nhớ mãi trong ký ức. Khi đã trở thành một vị nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch vẫn giữ nếp sống khiêm tốn, giản dị của người lao động, thích đi bộ, thích lao động chân tay và tự mình làm mọi việc cho bản thân mà không muốn phiền ai giúp đỡ. Chủ tịch ăn mặc rất giản dị. Có lần, các đồng chí miền nam đến thăm thấy Chủ tịch mặc chiếc áo ấm cũ có nối thêm một đoạn cho khỏi ngắn, đã cảm động hỏi: Bác ơi, làm Chủ tịch nước sao Bác mặc áo nối thế này? Chủ tịch vui vẻ trả lời: Chủ tịch nước mặc áo nối thì dân mới có đủ cơm ăn. Thật hồn hậu, giản dị biết bao!

Chủ tịch Tôn Đức Thắng thường xuyên dành tình cảm ân cần chăm lo cho đồng chí, đồng bào, đặc biệt là với các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng. Được tặng Giải thưởng Lê-nin "Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc" và kèm theo mười vạn rúp, Chủ tịch đã ủng hộ số tiền này cho Phong trào bảo vệ thiếu nhi thủ đô. Số tiền một vạn rúp các bạn Liên Xô đưa để mua quà tặng, Chủ tịch cũng chỉ dùng một phần nhỏ để mua một chiếc cối xay hạt tiêu tặng người vợ thân yêu, còn lại đem gửi trả bạn.
Là một người yêu nước chân chính, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là một chiến sĩ tiêu biểu cho tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua hành động cách mạng quả cảm của Tôn Đức Thắng khi tham gia cuộc binh biến Hắc Hải vào tháng 4-1919, để bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga và lãnh đạo cuộc bãi công và lãn công của công nhân xưởng Ba Son từ tháng 8 đến tháng 11-1925, giam chân chiến hạm Juyn Mi-sơ-lê ba tháng, để ủng hộ phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc.

Ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã giúp người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng thấm nhuần sâu sắc tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân và ý nghĩa của chính những hành động cách mạng ủng hộ cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc mà bản thân đã tham gia. Từ đó, ở Tôn Đức Thắng, lòng yêu nước chân chính đã thật sự gắn chặt với tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.

Là người cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là người góp phần tích cực vào việc thực hiện tình đoàn kết gắn bó giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước. Do những cống hiến đối với phong trào cách mạng thế giới, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã được bầu là Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới và được trao tặng Giải thưởng Lê-nin "Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc", cùng nhiều huân chương cao quý nhất của các nước anh em.
Trọn đời, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nêu một tấm gương ngời sáng về phẩm chất cao đẹp của người cộng sản. Ngày nay, trước những đòi hỏi của cuộc sống mới, tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng càng có ý nghĩa để mỗi cán bộ, đảng viên tích cực học tập, rèn luyện, noi theo để phấn đấu góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thạc sĩ LÝ VIỆT QUANG

(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

(Theo Báo điện tử - Đảng Cộng Sản Việt Nam)

[Về đầu trang]


Đến với khu lưu niệm bác Tôn

Tôi đến khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (xã Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên, An Giang) cùng với các nhà điêu khắc tham dự Trại sáng tác điêu khắc gỗ năm 2008, nhằm chào mừng kỷ niệm 120 năm ngày sinh Bác Tôn (20-8- 1888 - 20- 8- 2008) và cảm nhận đây là nơi giáo dục lý tưởng cộng sản, truyền thống cách mạng tốt nhất ở An Giang.

Nhìn dòng người nối nhau đi vào thăm khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, tôi biết ngoài việc đón tiếp các đoàn khách từ các đơn vị Trung ương, các tỉnh... có dịp về An Giang công tác, nơi đây còn thường xuyên tiếp đón những đoàn tham quan của các trường học trong và ngoài tỉnh, không chỉ bởi cảnh trí của khuôn viên khu lưu niệm này được thiết kế hài hòa, trang nghiêm, đẹp đẽ mà còn vì đến đây, khách tham quan và học sinh sẽ được hiểu rõ hơn những nét lớn của cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Đền thờ Bác Tôn có 1600m2, phòng chính diện rộng 110 mét vuông với bức tượng của Bác Tôn bằng đồng, nét mặt nhân từ, bao dung. Thắp nén nhang tưởng nhớ người anh hùng của quê hương An Giang, vị lãnh tụ đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước.

Đối diện với Đền thờ Bác Tôn là nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp của Người. Hơn 200 hiện vật, vật dụng mà khi sinh thời Bác Tôn đã sử dụng như: Xe đạp, đôi giày, bộ quần áo, cối xay tiêu v,v... và mô hình được phục chế dựng lại phòng làm việc và phòng tiếp khách của Bác Tôn tại nhà Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở Hà Nội khiến ai trong chúng tôi cũng phải xúc động. Tất cả đều toát lên phẩm chất cao cả, sáng trong của một người Cộng Sản đã từng được Bác Hồ khen ngợi: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là gương mẫu đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm, liêm chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân".

Chúng tôi đến đây, xem qua các hiện vật, càng hiểu sâu sắc hơn cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Tôn từ thời thành lập Công Hội Đỏ ở nhà máy Ba Son, hiểu thêm về lòng yêu nước của Bác Tôn ngay từ lúc Tổ quốc còn trong tay kẻ thù. Trước đây, tôi có dịp đến với Côn Đảo, có tìm đến phòng biệt giam mà thực dân Pháp dành cho Người, đến với hầm xay lúa, nơi mà Người đã tuyên truyền giáo dục cho tù nhân biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, đấu tranh chống lại chế độ đọa đày khắc nghiệt của bọn cai ngục. Có lẽ, cũng như tôi, mọi người khi biết rõ hơn những gian khổ của Bác Tôn trong những năm tháng tù đày ngoài Côn Đảo, hiểu thế nào là ý chí bất khuất kiên cường của người Cộng sản chân chính.

Đến với khu lưu niệm, thắp nén nhang trước tượng Bác Tôn uy nghiêm, nhân từ chắc chắn ai cũng tưởng nhớ đến vị lãnh tụ của đất nước và nhìn lại bản thân mình, để nỗ lực phấn đấu sống theo gương của Người.

(Mai Bửu Minh – Báo ĐĐK) 

[Về đầu trang]


Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (20-8-1888 - 20-8-2008) 

Sáng 14-8, tại Bảo tàng Tôn Ðức Thắng, LÐLÐ TP Hồ Chí Minh phối hợp Bảo tàng Tôn Ðức Thắng tổ chức Hội thi tìm hiểu cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Tôn Ðức Thắng, người sáng lập Công hội đỏ tại Sài Gòn - Chợ Lớn, người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong phong trào công nhân đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam. 

471 bài dự thi được tuyển chọn trong 145 nghìn 549 bài của công đoàn viên chức khối đảng, chính quyền, các trường đại học trên địa bàn quận, huyện, phường tham dự, được bình chọn dự thi cấp thành phố. Với chủ đề "Chủ tịch Tôn Ðức Thắng - một nhân cách lớn", hội thi đã khơi dậy niềm tự hào, nhận thức rõ rét và sinh động về Bác Tôn qua các bài thuyết trình và các câu hỏi vấn - đáp trong CNVC-LÐ, truyền thống đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân - công đoàn Việt Nam, góp phần xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH - HÐH đất nước. Ban tổ chức đã chọn mười bài thuyết trình xuất sắc vào vòng thi thuyết trình cấp thành phố, mười bài được nhận giải khuyết khích. 

* Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (20-8-1888 - 20-8-2008), Thư viện tỉnh An Giang đã in hơn 20 tên sách với 6.300 bản sách về Bác Tôn. Số sách trên được phân phối cho 314 thư viện, bưu điện văn hóa xã, phòng đọc sách của xã và các điểm đọc sách khóm ấp trong tỉnh.

(Theo Báo ND)

[Về đầu trang]


Ðồng chí Tôn Ðức Thắng - tấm gương tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết của Ðảng

Từ những cuộc đấu tranh đầu tiên trên con đường cách mạng của mình, người thanh niên yêu nước Tôn Ðức Thắng đã hiểu rõ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh. 

Gần 17 năm bị giam cầm trong lao tù đế quốc, trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống đàn áp, hành hạ tù nhân, bằng kinh nghiệm, bằng đức độ và uy tín của mình, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã đoàn kết được anh em trong tù. Ðồng chí đã lãnh đạo anh em tự đấu tranh thắng lợi trong những điều kiện ngặt nghèo. Cái tên anh Hai Thắng; già Thắng trở nên rất thân thương và quý mến với tất cả tù nhân ở Côn Ðảo khi đó, kể cả tù thường phạm. 

Những năm 1945 - 1946, trước tình thế thù trong giặc ngoài vô cùng khó khăn, Ðảng chỉ rõ một trong những nhiệm vụ cấp bách là ra sức giữ vững, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược "Dân tộc trên hết - Tổ quốc trên hết". "Khẩu hiệu căn bản của cả một giai đoạn cách mạng hiện thời phải là: Lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống phản động Pháp, tiến tới giành độc lập hoàn toàn"(1). 

Ðể đoàn kết, tập hợp đông đảo các lực lượng khác nhau có tinh thần dân tộc, yêu nước và muốn cứu nước nhưng còn đứng ngoài Mặt trận Việt Minh, Ðảng chủ trương thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã được Ban Chấp hành Trung ương Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách đó. Ðồng chí tham gia Ban sáng lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp và nhiều đại biểu khác không phải là Việt Minh. 

Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã hoạt động không mệt mỏi bằng tất cả sức lực tâm trí và kinh nghiệm của mình cùng các sáng lập viên khác để Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) chính thức ra đời ngày 29-5-1946 tại Hà Nội. Hồ Chủ tịch được bầu là Chủ tịch danh dự của Hội, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là Chủ tịch Hội. Ðồng chí Tôn Ðức Thắng được bầu là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. 

Sau khi cụ Huỳnh qua đời năm 1947, đồng chí Tôn Ðức Thắng được Ðảng phân công lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất. Sự chọn lựa một người có đức độ, có khả năng lớn về vận động thuyết phục quần chúng, có khả năng đoàn kết rộng rãi, làm công tác dân vận khéo léo như đồng chí Tôn Ðức Thắng đảm nhiệm vị trí công tác quan trọng đó là hoàn toàn chính xác. 

Là người lãnh đạo chủ chốt, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã góp phần quan trọng thảo ra Cương lĩnh của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, trong đó nêu rõ mục đích của Hội là: "... đoàn kết tất cả những đảng phái yêu nước và những đồng bào yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường".  

Với chính sách đó. Liên Việt đã thu hút tập hợp được nhiều lực lượng, cá nhân trước kia chưa tham gia Việt Minh nay đứng về phía nhân dân, dù chưa hoàn toàn chắc chắn, để phân hóa cô lập kẻ thù, tăng thêm lực lượng cho cách mạng. 

Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã giải quyết thành công những mối quan hệ giai cấp và dân tộc trong công tác mặt trận - công tác được đồng chí coi là một hình thức đấu tranh giai cấp đặc biệt - cho nên đối với bạn đồng minh, phải vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, đoàn kết để giữ vững mặt trận cách mạng, đấu tranh để đi đến đoàn kết cao hơn, không thể đoàn kết một chiều, thủ tiêu đấu tranh, cũng không thể đấu tranh vô nguyên tắc ảnh hưởng đến đoàn kết. 

Trước những âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của Pháp và tay sai, Ðảng ta chủ trương thống nhất các tổ chức Mặt trận, lập một Mặt trận dân tộc thống nhất duy nhất với tính chất chặt chẽ và rộng rãi, đặt trên cơ sở công nông và lao động trí thức, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, lấy tên là Mặt trận Liên Việt.  Ðồng chí Tôn Ðức Thắng được Ðảng giao nhiệm vụ thống nhất Việt Minh - Liên Việt từ cơ sở đến trung ương theo chủ trương đó. Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã chỉ đạo sát sao công việc này. Do chuẩn bị tốt, tổ chức chu đáo, có kế hoạch cụ thể, đến tháng 8-1950, hai tổ chức Mặt trận đã hợp nhất từ cấp cơ sở tới cấp tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành thành công Ðại hội hợp nhất cấp trung ương từ ngày 3- 3-1951 đến ngày 7-3-1951. 

Ðại hội đã bầu đồng chí Tôn Ðức Thắng là Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc của Mặt trận Liên Việt. Ðồng chí Tôn Ðức Thắngđã đem hết sức lực và trí tuệ để thực hiện tốt nhất đường lối Mặt trận của Ðảng, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc. 

Sau thắng lợi năm 1954, đất nước tạm chia cắt, trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, đồng chí Tôn Ðức Thắng là người con yêu quý của miền Nam ruột thịt, đại diện cho khát vọng thống nhất và độc lập tự do của miền Nam đi trước về sau, tiếp tục có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh mới. 

*
*   * 

Trong những hoạt động quốc tế phong phú của mình, đồng chí Tôn Ðức Thắng cũng thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế sâu sắc và có nhiều đóng góp trong việc xây dựng, vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc. 

Ðồng chí là một trong những người Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng tình đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp công nhân hai nước. Ðồng chí cũng là một trong số rất ít những người Việt Nam tham gia bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Mười Nga 1917 bằng hành động cách mạng cụ thể và thiết thực của mình... 

Là người đứng đầu Mặt trận Liên Việt, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã tham gia Hội nghị đoàn kết nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia tổ chức ngày 11- 3- 1951. Khối đoàn kết chiến đấu giữa ba tổ chức: Mặt trận Liên Việt; Mặt trận Lào Ítxala; Mặt trận Khme Ítxarắc được tăng cường đã góp phần không nhỏ tăng thêm sức mạnh liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Ðông Dương, đẩy mạnh cuộc kháng chiến của cả ba dân tộc tiến nhanh đến thắng lợi. 

Ðồng chí Tôn Ðức Thắng còn giữ nhiều trọng trách: Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô; Chủ tịch danh dự Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam; Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới...v.v. Ðồng chí luôn lên án chủ nghĩa sô vanh nước lớn, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, kêu gọi xây dựng quan hệ hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của mỗi nước... 

*
*   * 

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng gần 70 năm không ngừng nghỉ của mình, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân và tăng cường tình hữu nghị đoàn kết giữa các dân tộc.  

Tấm gương suốt đời tận tuỵ, phấn đấu hy sinh cho Tổ quốc, cho nhân dân; phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, cùng những tình cảm chân thành và tốt đẹp dành cho đồng bào, chiến sĩ... cũng là những điều làm nên sức cảm hóa, thu hút, tập hợp quần chúng của đồng chí Tôn Ðức Thắng. 

"Ðồng chí  là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Ðảng ta và của Hồ Chủ tịch"(2). 

Ngô Vương Anh

 -------------------
(1) Báo Sự thật, số 20, ngày 30-3-1946
(2) Ðiếu văn đọc tại lễ truy điệu đồng chí Tôn Ðức Thắng ngày 3- 4-1980 - Báo Nhân dân số 9427, ngày 4.4.1980.

Theo báo NDĐT 

[Về đầu trang]


Tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời

Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một tấm gương sáng ngời về lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân; về ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất của một người chiến sĩ cộng sản mẫu mực, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. 

Nhắc đến tấm gương đạo đức Bác Tôn, chúng ta nhớ về một con người với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp được khẳng định và chứng minh nhất quán từ ký ức của nhiều người đã từng chiến đấu và làm việc với Bác Tôn trong các giai đoạn cách mạng khác nhau.  

Từ năm 1958, trong Lời chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng 70 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “... Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; Suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân..”. Đây là sự đánh giá xác đáng của người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết của Bác Tôn, cũng là sự khẳng định của nhân dân, của Đảng về người cán bộ lão thành, tận tụy của cách mạng Việt Nam.   

Ba mươi năm sau, khi nói về đạo đức Bác Tôn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại một lần nữa khẳng định:  “…Di sản quý nhất mà đồng chí Tôn Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng... Tinh túy của chất người ấy là lòng thương nước, yêu dân, niềm ưu ái với đồng bào, đồng chí, niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng, mặc dù mọi khó khăn gian khổ, tinh thần một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đức chí công, vô tư quên mình, sự khiêm tốn, giản dị hồn nhiên, trong sáng. Đó là chất cách mạng tinh khiết không gì làm phai nhạt được, từ thủa thanh niên đến cuối đời, vượt qua muôn trùng thử thách, ngày càng ngời lên đẹp đẽ và cao quý”. 

Bác Tôn không phải là một nhà lý luận về đạo đức, một nhà đạo đức học. Bác Tôn là một nhà cách mạng, một người thực hành những lý tưởng đạo đức cách mạng. Những lý tưởng đạo đức, các nguyên lý đạo đức thống nhất trong những hành vi, qua cách sống, qua sinh hoạt ứng xử hàng ngày. Trong đạo đức của Bác Tôn, sự thống nhất giữa lý tưởng và hành vi chặt chẽ đến mức không thể bóc tách. Đạo đức Bác Tôn - cũng giống như đạo đức Bác Hồ - thực sự vĩ đại trong những điều tưởng như bình thường, bình thường một cách vĩ đại. 

Cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của Bác Tôn đầy gian lao thử thách. Từ những năm đầu thế kỷ XX, người thanh niên yêu nước Tôn Đức Thắng đã sớm tham gia phong trào yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, sớm đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ tiên phong và là một trong những công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp.  

Gần 17 năm bị tù đày ở Khám Lớn Sài Gòn và Côn Đảo, Bác Tôn luôn nêu cao tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Bằng đức độ và uy tín của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đoàn kết được anh em. Cái tên anh Hai Thắng; già Thắng trở nên rất thân thuộc và quý mến với tất cả tù nhân ở Côn Đảo khi đó, kể cả tù thường phạm. 

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cho đến cuối cuộc đời mình, Bác Tôn hoạt động tích cực, góp phần cùng với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân, kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ... vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. 

Nét nổi bật ở Bác Tôn mà mọi người dễ nhận thấy là đức tính khiêm nhường và lối sống giản dị. Chính phẩm chất cao quý ấy cùng với lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất trước kẻ thù của dân tộc đã in đậm trong trái tim mỗi người Việt Nam yêu nước sự ngưỡng mộ và kính phục.  

Khiêm tốn, giản dị là đức tính suốt đời của người đồng chí lớn tuổi Tôn Đức Thắng. Những đồng chí được tiếp xúc với Bác Tôn giữa chốn ngục tù đế quốc hay trong công việc cách mạng chỉ thấy ở Bác một đức tính, một phong cách bất biến. Đó là đức tính, phong cách công nhân, giản dị chân thành, trong sáng. Khi đã là người lãnh đạo, Bác Tôn vẫn giữ vững những đức tính vốn có của mình: Ăn những món ăn giản dị như những món ăn của quê nhà, mặc như những người bình thường, ghét sự sang trọng xa hoa. Bác Tôn ham lao động trí óc và chân tay, cái gì tự làm lấy được thì không muốn phiền người khác.  

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Bác Tôn, khi chúng ta đẩy mạnh Cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta nhớ và học tập một tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết và gần gũi của Bác Hồ. Và cũng xin nhắc lại lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi nói về ý nghĩa của “chất người” Tôn Đức Thắng để thay cho lời kết: “Trong tình hình hiện nay, mọi người chúng ta đều biết chất người đó quý báu biết chừng nào, bởi lẽ nguy cơ lớn nhất đối với sự nghiệp cách mạng là sự tha hóa, biến chất, suy thoái đi đến mất chất Việt Nam, chất cách mạng, chất con người, phạm những điều xấu xa tồi tệ”.

(Theo Hà Nội Mới)

[Về đầu trang]


Hoạt động kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng gắn với Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Trong tháng 8 này, cả nước ta long trọng đón chào kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888-20/8/2008). Ngay từ đầu năm, các hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức sôi nổi, rộng khắp trên tỉnh An Giang, quê hương Bác Tôn. Dịp này, Báo Cần Thơ đã phỏng vấn ông Lê Minh Tùng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, Trưởng Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng - về các hoạt động kỷ niệm ngày lễ lớn này. Ông Lê Minh Tùng cho biết:
 Chủ tịch Tôn Đức Thắng là người con ưu tú, niềm tự hào của nhân dân Việt
Nam nói chung và của quê hương An Giang nói riêng. Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng là nhằm khẳng định và tôn vinh những cống hiến to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, nhất là những đóng góp trong phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết nhân dân thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ôn lại tấm gương cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Tôn Đức Thắng vào dịp này cũng nhằm tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về chủ nghĩa yêu nước, đạo đức cách mạng, phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân của Bác Tôn - một chiến sĩ cộng sản kiên cường. Qua đó, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tự hào về Bác Hồ, Bác Tôn, biết quý trọng độc lập tự do và sự hy sinh lớn lao của các thế hệ đi trước, từ đó càng ra sức thi đua, học tập xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.  

 Thưa ông, như vậy những hoạt động của đợt kỷ niệm này được tổ chức như thế nào để rộng khắp và thiết thực?  

 - Ông LÊ MINH TÙNG: Chúng tôi tổ chức các hoạt động của lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; việc triển khai các phong trào thi đua yêu nước lập thành tích chào mừng 63 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội năm 2008.

Từ cuối năm 2007, tỉnh An Giang đã thành lập Ban Tổ chức lễ và đã triển khai nhiều nội dung, phân công cụ thể cho nhiều ngành, địa phương thực hiện. Những hoạt động chính như: sửa chữa, tôn tạo, làm mới 10 công trình tại Khu lưu niệm Bác Tôn ở Mỹ Hòa Hưng; tổ chức cuộc thi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã thu hút 87.437 người gởi bài dự thi; tổ chức Hội thảo khoa học tại thành phố Long Xuyên về cuộc đời và sự nghiệp Bác Tôn; thực hiện 5 bộ phim về Bác Tôn; tổ chức Trại sáng tác điêu khắc gỗ ở quê hương Bác Tôn với 23 tác phẩm; tổ chức thi sáng tác về ca cổ, thơ văn, sáng tác nhạc, mỹ thuật; thực hiện bức tranh Chủ tịch Tôn Đức Thắng bằng gáo dừa với kích thức lớn nhất từ trước đến nay... Cũng nằm trong chương trình hoạt động này, tỉnh còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật, như: tổ chức đêm nhạc Hoàng Hiệp với chủ đề “Dòng sông tuổi thơ”; tổ chức Liên hoan nghệ thuật quần chúng 4 dân tộc Việt - Hoa -Khmer - Chăm và rất nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ thể dục thể thao khác.

 Riêng vào ngày 20-8-2008, đúng ngày sinh của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, tỉnh An Giang sẽ long trọng tổ chức Lễ dâng hương và mít tinh tại thành phố Long Xuyên.

Các hoạt động kỷ niệm đã tiến triển đến đâu, thưa ông?

-Ông LÊ MINH TÙNG: Các hoạt động của lễ kỷ niệm hầu hết diễn ra theo đúng tiến độ. Nhiều hoạt động đã thực hiện xong, như: cơ bản hoàn thành việc xây dựng và sửa chữa các công trình tại Khu lưu niệm Bác. Tổ chức trao giải cuộc thi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng và nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao khác... Riêng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về tấm gương, cuộc đời Chủ tịch Tôn Đức Thắng mà tỉnh đã phát động và chỉ đạo các cấp ủy, các hội, đoàn thể trong hệ thống chính trị triển khai sẽ tiếp tục diễn ra suốt trong năm 2008, chứ không phải chỉ diễn ra trong tháng 8.

Ông nhận xét như thế nào về việc tham gia các chương trình này của người dân, các cấp, ngành trong tỉnh?

-Ông LÊ MINH TÙNG: Các hoạt động lễ kỷ niệm không chỉ diễn ra ở thành phố Long Xuyên mà trên tất cả 11 huyện, thị, thành phố trong tỉnh An Giang và được sự hưởng ứng tích cực của nhân dân cũng như các ban ngành từ tỉnh đến cơ sở trên tinh thần tiết kiệm, chất lượng, hiệu quả. Kinh phí lễ không chỉ từ ngân sách nhà nước mà còn vận động từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Các ngành, các địa phương đều có kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Tất cả vì sự nghiệp xây dựng quê hương Bác Tôn giàu đẹp, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” theo chỉ đạo của Tỉnh ủy An Giang.

Là Phó Chủ tịch UBND tỉnh đồng thời là Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, theo ông, thế hệ trẻ Việt Nam và riêng sinh viên Đại học An Giang cần học tập những gì nhân kỷ niệm sinh nhật Bác Tôn năm nay?

 - Ông LÊ MINH TÙNG: Thế hệ trẻ hôm nay phải học tập rất nhiều ở tấm gương yêu nước của Bác Tôn. Bác Tôn là một nhà yêu nước vĩ đại, người công nhân, người cộng sản kiên cường, mẫu mực; người chiến sĩ hết sức trung thành của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đời của Bác Tôn là một tấm gương trong sáng, phấn đấu không mệt mỏi cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thế hệ trẻ hôm nay còn phải học tập ở tấm gương đạo đức mẫu mực, suốt đời cần, kiệm, liêm chính, suốt đời hết lòng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân của Bác Tôn. Một bài học nữa mà chúng ta đã thấy là bất kỳ ở cương vị công tác nào, Bác Tôn luôn luôn phấn đấu hết mình để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, nhà nước và nhân dân giao phó.

 Xin cảm ơn ông.

(Theo báo Cần Thơ)

[Về đầu trang]


Hội thảo khoa học Quốc gia kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Ngày 14 tháng 8 năm 2008, tại Hà Nội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Tỉnh uỷ tỉnh An Giang đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học về Tôn Đức Thắng, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người (20.8.1888 - 20.8.2008).

Các tham luận trình bày tại Hội thảo đã nêu bật được những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, một nhân cách lớn, tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Các tham luận đã khẳng định Chủ tịch Tôn Đức Thắng không chỉ là nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam mà còn có những đóng góp to lớn đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc, như tham luận "Đồng chí Tôn Đức Thắng tiêu biểu cho sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc của đồng chí Phạm Thế Duyệt - nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), "Chủ tịch Tôn Đức Thắng với MTTQ Việt Nam của đồng chí Vũ Trọng Kim - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, "Tôn Đức Thắng - Người tiêu biểu nhất thực hiện tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh của PGS,TS Phạm Hồng Chương - Viện Hồ Chí Minh, "Tôn Đức Thắng - Người Cộng sản trung kiên mẫu mức, biểu tượng của Đại đoàn kết của Th.s Văn Thị Thanh Mai - Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Hội thảo không chỉ hệ thống lại những tư liệu quý giá về Chủ tịch Tôn Đức Thắng thêm một lần nữa đánh giá chung những công lao cống hiến to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, mà còn là dịp để chúng ta học tập và làm theo tấm gương một người cộng sản mẫu mực, kiên cường, "Đoàn kết và thanh khiết, cần - kiệm - liêm - chính, chí công vô tư, nói ít làm nhiều, chính trực và nhân hậu, một vị lãnh đạo xuất sắc của MTTQ Việt Nam.

Khánh Vân

[Về đầu trang]


Bác Tôn - Nhà lãnh đạo lỗi lạc, người bạn chiến đấu thân thiết của Bác Hồ

Xin giới thiệu bài viết của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Minh Triết về Chủ tịch Tôn Đức Thắng. 

Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, phong trào đấu tranh quật khởi của nhân dân ta chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp đã bùng nổ khắp nơi, nhưng đều bị nhận chìm trong máu lửa.  

Tiếp theo thất bại của các cuộc khởi nghĩa ở Yên Thế, Hương Khê, Hùng Lĩnh, Bãi Sậy, Ba Ðình... nhiều cuộc vận động chính trị và bạo động vũ trang đều không thành công, phản ánh sự bế tắc về đường lối của cách mạng nước ta.  

Vì chưa có học thuyết chính xác, khoa học dẫn đường, nên các chiến sĩ yêu nước Việt Nam chưa tìm ra được phương hướng đúng đắn để đáp ứng cho sự nghiệp đấu tranh cao cả nhằm giải phóng đất nước và nhân dân. 

Chính trong thời điểm lịch sử ấy, trên vũ đài chính trị nước ta xuất hiện những chiến sĩ tiên phong trong lớp thanh niên đầy nhiệt huyết. Nối gót các nhà ái quốc nhiệt thành tiền bối, tiếp thu tinh hoa tư tưởng yêu nước truyền thống và mang khí phách anh hùng, họ đã vật lộn với phong ba, bão táp để ra đi tìm đường cứu nước.  

Mùa hè năm 1911 theo chiếc tàu buôn Amiral Latouche-Tréville, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Sài Gòn "đi xem nước Pháp và các nước làm thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào". Thời gian sau đó, người công nhân thủy thủ trẻ tuổi Tôn Ðức Thắng cũng có mặt trên mảnh  đất  quê  hương của các chiến sĩ Công xã Paris "với một nhiệt tình yêu nước và lòng mong được học hỏi để về nước đấu tranh có hiệu quả". 

Lúc vừa tròn 18 tuổi xuân, từ giã vùng quê chôn nhau cắt rốn tại Cù lao Ông Hổ, Tôn Ðức Thắng đến Sài Gòn để mưu sinh. Vốn sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long trù phú, nhưng khi đặt chân tới thành phố "hòn ngọc Viễn Ðông", Tôn Ðức Thắng đã nhanh chóng hòa nhập vào đội quân "áo xanh" của ngành công nghiệp, quyết tâm biến mình thành người thợ và mãi mãi gắn bó cuộc đời với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. 

Những tháng năm đầu tiên sống ở Sài Gòn, trước khi được vào học dưới mái trường Bách nghệ, Tôn Ðức Thắng đã dày công luyện mình trong lò "bách nghệ" của cuộc sinh kế giữa trường đời: làm công cho các ga-ra và đề-pô tư nhân, sửa chữa xe máy, xe hơi, sửa chữa tàu thủy, làm nghề nguội, nghề tiện, nghề điện và làm công cho Hãng Kroff thuộc Sở Kiến trúc cầu đường và nhà cửa Sài Gòn. 

Kết quả của việc tích lũy dồi dào nguồn kiến thức lao động bách nghệ cộng với ý thức cộng đồng sâu sắc, Tôn Ðức Thắng đã sớm giành được sự tín nhiệm của bạn bè trong giới cần lao.  

Công lao lịch sử của Tôn Ðức Thắng là đã thổi luồng sinh khí mới về chính trị vào đội ngũ thợ thuyền, gắn tư tưởng yêu nước với phong trào công nhân, bước đầu tạo ra sự chuyển biến quan trọng từ "đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác". 

Từ sự tích cực tham gia vào việc thành lập các hội đoàn truyền thống trong giới thợ và tiến hành đấu tranh bằng những hình thức phôi thai như: tổ chức các hội tương tế, ái hữu, đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, phạt vạ...  

Tôn Ðức Thắng đã tập hợp một số hạt nhân nòng cốt tổ chức thành công cuộc bãi công, bãi khóa đầu tiên của công nhân hãng Ba Son và học sinh Trường Bách nghệ Sài Gòn năm 1912.  

Ý nghĩa của cuộc bãi công, bãi khóa này, 45 năm sau, đã được Bác Tôn xúc động kể lại trong những dòng tự truyện. Bác viết: "Tôi nhớ ngày tôi rời đất nước thân yêu, cuộc bãi khóa, đình công của học sinh bách công Sài Gòn và thợ thuyền Ba Son (xưởng chữa tàu thủy ở Sài Gòn) thắng lợi, cũng là lúc tôi phải cải trang, đổi tên tuổi, xuống tàu Pháp để trốn truy nã.  

Từ đó, bắt đầu cuộc đời trên mặt biển". 

"Cuộc đời trên mặt biển" đã đưa các cuộc hành trình lịch sử của Tôn Ðức Thắng đến nơi: "Quan san muôn dặm một nhà. Bốn phương vô sản đều là anh em". Và chính trên bước đường "Quan san muôn dặm", người công nhân thủy thủ trẻ tuổi Việt Nam đã được nhập tâm sâu sắc khẩu hiệu chiến đấu vĩ đại của các nhà khai sáng chủ nghĩa xã hội khoa học "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!". 

Biểu hiện rực rỡ của hành động "đoàn kết lại" đó, là ý thức giác ngộ về chính trị và dũng khí tuyệt vời của Tôn Ðức Thắng trong buổi sáng mùa xuân 1919 trên mặt biển Hắc Hải, khi tự tay kéo lá cờ đỏ thiêng liêng lên đỉnh cột cờ thiết giáp hạm France và hát vang bài "Quốc tế ca" hùng tráng để ủng hộ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, ủng hộ Lê-nin, ủng hộ chính quyền Xô-viết. 

Sự kiện lịch sử bất diệt này đã từng được Bác Tôn hồi tưởng: "Trời đã tối, tàu đã sắp qua Ðác-đa-nen. Không khí trên tàu càng sôi sục. Một số anh em vận động thủy thủ họp mít-tinh để đấu tranh với bọn chỉ huy. Anh em bảo tôi: "Trước khi mít-tinh, mày ra kéo lá cờ đỏ nhé. Kéo để cho chiến hạm Hồng quân biết chúng ta là bạn, không phải là thù". Tôi rất thích được tự tay mình làm việc đó. Lúc đó vào quãng gần sáng, chiến hạm đã lọt vào Hắc Hải. Tiếng kèn tập hợp vừa nổi lên (cũng là tiếng kèn tập hợp thường ngày của thủy quân, nhưng lần này không phải do lệnh chỉ huy) thì ngọn cờ đỏ cũng được kéo lên trên cột cờ đô đốc. "Các bạn Nga ơi! Tàu của chúng tôi còn xa bến các bạn, các bạn còn chưa thấy ngọn cờ đỏ này. Nhưng với ngọn cờ này, giữa Hắc Hải, chúng tôi chào các bạn. Tôi mong ước với lá cờ đỏ này, chiến hạm sẽ chạy vào hải cảng các bạn, và tôi sẽ lên bộ để may ra được tham gia cách mạng và được học hỏi để về nước làm cách mạng". Do sự đấu tranh quyết liệt của thủy thủ với bọn chỉ huy, rốt cuộc chiến hạm France và hạm đội Pháp đã phải quay mũi ra Ðịa Trung Hải để trở về quân cảng. Ảnh hưởng của cuộc binh biến này đã lan nhanh ra khắp các đơn vị hải quân và lục quân Pháp bị điều động đi tấn công cách mạng Nga. Ðây là sự tiếp sức rất có ý nghĩa cho Quân đoàn kỵ mã thần kỳ của Nguyên soái Bu-đi-ôn-nưi đánh cho bọn bạch vệ phản cách mạng của tướng Ðê-nhi-kin không còn manh giáp. Lê-nin đánh giá cao ý nghĩa lịch sử của cuộc binh biến này. Người viết: "Về căn bản, chúng ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn, và thậm chí đã đánh bật khỏi tay của những nước đồng minh cái vũ khí mà trước đây chỉ có họ mới có, tức là hạm đội... Chúng ta tuy không có khả năng chống trả bằng quân sự trên mặt biển, nhưng cũng đã buộc được các cường quốc đế quốc phải từ bỏ cái vũ khí đó... vì chúng ta đã có thể tranh thủ được những bạn đồng minh từ trong hàng ngũ kẻ thù của chúng ta". 

Tự hào và kiêu hãnh biết bao, một trong những người "bạn đồng minh" quốc tế nhiệt thành đã góp phần tạo nên "thắng lợi hết sức to lớn" trong thời kỳ can thiệp vũ trang của nước ngoài và nội chiến trên đất nước Xô-viết (1918 - 1920) như Lê-nin đã nói, có Tôn Ðức Thắng - người công nhân của thành phố Sài Gòn, của đất nước ta, người Việt Nam đầu tiên vinh dự được nhận Giải thưởng Hòa bình quốc tế Lê-nin (12-1955) và Huân chương Lê-nin cao quý (11-1967). 

Trong những tháng năm sống xa Tổ quốc, xa đồng bào, Bác Tôn Ðức Thắng đã ra sức phấn đấu "mong học hỏi được thật nhiều để về nước làm cách mạng".  

Cuộc sống cộng đồng gắn bó và mối quan hệ keo sơn với giai cấp công nhân tại một số trung tâm công nghiệp nổi tiếng của nước Pháp, với đội quân thủy thủ tiến bộ trên chiến hạm France, cũng như việc gia nhập vào tổ chức Công đoàn Pháp và tham gia hoạt động tích cực vào phong trào yêu nước của giới Việt kiều ta ở Pháp, đã nâng cao kiến thức, mở rộng tầm nhìn và bồi dưỡng thế giới quan của Bác Tôn Ðức Thắng.  

Ðiều quan trọng là, Người đã nhận thức được ý nghĩa quốc tế vĩ đại của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò và tác dụng lớn lao của tổ chức Công đoàn trong các lĩnh vực đấu tranh kinh tế và chính trị, sự liên kết tất yếu giữa phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp tại chính quốc với nhân dân bị áp bức ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. 

Ðó là những hành trang quý giá mà Bác Tôn Ðức Thắng đã trang bị cho mình khi từ giã nước Pháp để trở về thành phố Sài Gòn, lao vào cuộc đấu tranh sống mái với kẻ thù, sau khi cuộc can thiệp vũ trang phản cách mạng của 14 nước mưu toan bóp chết nước Cộng hòa Xô-viết Nga non trẻ đã bị đập tan. 

"Cách mạng là đầu tàu của lịch sử".  

Sau khi về nước, Bác Tôn Ðức Thắng đã dốc toàn lực lao vào bão táp đấu tranh. Kề vai sát cánh với đội ngũ thợ thuyền, Bác Tôn đã đồng hành cùng lịch sử bằng những hành động thật diệu kỳ. Người thủy thủ kiên trung trên biển Hắc Hải đã kéo lá cờ đỏ lên chiến hạm France sáu năm về trước để ủng hộ cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, mùa Thu năm 1925, lại vận động thợ thuyền hãng Ba Son quyết tâm trì hoãn việc sửa chữa chiếc Ðô đốc hạm Jules Michelet, trong đoàn tàu chiến Pháp mà bọn thực dân gấp rút đưa sang Trung Quốc để tăng cường cho các đội pháo hạm của Anh - Pháp, gây thêm các cuộc thảm sát đẫm máu tại Thượng Hải, Hương Cảng, Quảng Châu nhằm đè bẹp phong trào "Ngũ Tập" chống đế quốc đang dâng lên trên đất nước Trung Hoa. Hành động đầy tình cảm quốc tế trong sáng của Tôn Ðức Thắng và công nhân hãng Ba Son diễn ra đồng thời với những cuộc vận động quần chúng tại thành phố Paris nhằm: "Phản đối đế quốc Pháp giết hại nhân dân Thượng Hải!", "Yêu cầu Chính phủ Pháp rút ngay tàu chiến và quân đội ra khỏi Trung Quốc!". 

Mười năm hoạt động cách mạng tại thành phố Sài Gòn sau khi trở về Tổ quốc, Bác Tôn Ðức Thắng đã hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ lịch sử - vừa là nhà tuyên truyền cổ động nhiệt thành, vừa là nhà tổ chức năng động.  

Là nhà tuyên truyền cổ động nhiệt thành, thông qua nguồn ấn phẩm cách mạng quý giá trên đất Pháp và tài liệu sách báo của Nguyễn Ái Quốc từ thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) theo con đường biển vào bến cảng Sài Gòn, Bác Tôn đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng sự du nhập và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên đất nước ta.  

Là một nhà tổ chức năng động, Tôn Ðức Thắng đã sáng lập ra tổ chức "Công hội đỏ" - Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam, là người lãnh đạo nhiều cuộc bãi công có tổ chức, có quy mô và gây được tiếng vang về chính trị cả trong và ngoài nước - nhất là cuộc bãi công của thợ nhuộm Chợ Lớn vào cuối năm 1922 và cuộc bãi công của công nhân hãng Ba Son hồi mùa Thu năm 1925.  

Tôn Ðức Thắng còn là người góp sức đắc lực vào việc xây dựng hệ thống tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Ðảng Cộng sản ở vùng đất Nam Bộ. 

Ðáng tiếc biết bao, giữa lúc đất nước đang chuyển mình để bước sang cao trào cách mạng sôi động trong những năm 1930 - 1931 thì Bác Tôn Ðức Thắng bị giặc bắt tại thành phố Sài Gòn vào hạ tuần tháng 7-1929. 

Trải qua 17 năm bị giam tại Khám lớn Sài Gòn và bị lưu đày ra Côn Ðảo, Bác Tôn Ðức Thắng đã thực hiện trọn vẹn lời huấn thị thiêng liêng của Lê-nin: "Biến nhà tù thành trường học của các chiến sĩ cách mạng". Sau cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác Tôn đã được trở về đất liền giữa lúc quê hương đang rền vang tiếng súng. Núp bóng quân Anh - Nhật, giặc Pháp tái chiếm Nam Bộ. 

Trên khắp nẻo đường, quân dân ta "nóp với giáo mang ngang vai" bước chân ra tiền tuyến để xả thân thực hiện lời thề chiến đấu thiêng liêng: "Ðộc lập hay là chết!". Ðược sự tín nhiệm của Ðảng, Bác Tôn đảm nhận trọng trách trong Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ, phụ trách Ủy ban Kháng chiến và chỉ đạo lực lượng vũ trang. Cùng tập thể Xứ ủy, Bác gấp rút củng cố bộ máy tổ chức và tăng cường đội ngũ cán bộ cho các cơ quan quân, dân, chính, đảng nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tác chiến ở thành phố Sài Gòn và các địa phương trên chiến trường Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. 

Với sự tin yêu và lòng quý mến sâu sắc, trong những ngày tháng không thể nào quên này, Bác Tôn đã được các tầng lớp đồng bào ta ở thành phố Sài Gòn nhất trí bầu làm người đại biểu xứng đáng của mình trong Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 2-1946, giữa lúc Bác Hồ thay mặt Chính phủ tặng quân dân Nam Bộ danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" vẻ vang, Bác Tôn được mời ra Thủ đô Hà Nội để cùng Trung ương lãnh đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc. 

Suốt trong hai thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, trải qua những tháng năm hoạt động cách mạng bí mật giữa lòng thành phố Sài Gòn lúc tiền khởi nghĩa cũng như trong thời gian kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Nam Bộ, ở núi rừng chiến khu Việt Bắc hay làm việc tại Thủ đô Hà Nội, Bác Tôn đã hiến dâng trọn cuộc đời mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta; vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội cho các dân tộc trên thế giới. 

Gần 70 năm hoạt động cách mạng, Bác Tôn đã từng đảm nhiệm những trọng trách trong Ðảng, Quốc hội, Chính phủ, Nhà nước và trong nhiều lĩnh vực hoạt động trọng yếu của các cơ quan quân, dân, chính. Từ khi giữ chức Ủy viên Ban chấp hành Kỳ bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ năm 39 tuổi, đến lúc trái tim ngưng đập trên cương vị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 92 tuổi, Bác Tôn luôn luôn nêu cao tấm gương sáng về lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc và nhân dân, đức tính hy sinh xả thân, khí phách của chủ nghĩa anh hùng cách mạng cao đẹp, sống khiêm tốn, thanh bạch, giản dị, gần gũi quần chúng, thương yêu đồng chí, quý trọng đồng bào, thấm nhuần đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kết hợp nhuần nhuyễn tư tưởng yêu nước nồng nàn và tình cảm quốc tế trong sáng. 

Thân thế, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Bác Tôn đã được Bác Hồ khắc họa trong bức chân dung bất hủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Ðồng chí Tôn Ðức Thắng là một con người rất ưu tú của Tổ quốc, suốt 50 năm đã không ngừng hoạt động cách mạng, 17 năm bị thực dân Pháp cầm tù, chín năm tham gia lãnh đạo kháng chiến, bốn năm phấn đấu để giữ gìn hòa bình thế giới và đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà...  

Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Ðức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng tháng Mười vĩ đại... Ðồng chí Tôn Ðức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân". 

Giữa lúc toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta đang tiếp tục phát động sâu rộng Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, khiến lòng chúng ta nhớ đến Bác Tôn khôn xiết. Bác Tôn là người luôn luôn giáo dục, cổ vũ chúng ta phải toàn tâm, toàn ý học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Bác Hồ. Bác Tôn nói: "Toàn Ðảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng cao đẹp của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Ðảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn". Và chính Bác, đã nêu gương sáng về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn đa dạng. 

Với cương vị Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... Bác Tôn đã vận dụng thành công xuất sắc tư tưởng đại đoàn kết toàn dân của Bác Hồ. Với trọng trách Trưởng Ban vận động thi đua ái quốc, Trưởng Ban thanh toán nạn mù chữ Trung ương... Bác đã thực hiện triệt để tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là nhà lãnh đạo lỗi lạc và mẫu mực, Bác Tôn Ðức Thắng mãi mãi để lại cho đời một di sản vô cùng quý giá về tư tưởng, đạo đức và tác phong, không phải được thể hiện qua các áng thơ văn và trong những trước tác về lý luận - mà bằng sự phát sáng trong thực tiễn hoạt động cách mạng dày dặn, phong phú, giàu tính đảng, tính chiến đấu, tính nhân văn và là sự biểu hiện rực rỡ của tư duy năng động, sáng tạo. Mặc dù sống ở Tây Âu khá nhiều năm tháng, trong thuở thiếu thời đã được tiếp thu sự giáo dục cả về Tây học và Hán học, vừa giỏi chữ Nho lại thông thạo tiếng Pháp, nhưng trong phong cách sinh hoạt, trong ngôn ngữ, cử chỉ và thái độ ứng xử, giao tiếp thường ngày của Bác, đã in dấu ấn bản sắc dân tộc sâu sắc, đậm đà. 

33 năm trước đây, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc toàn thắng, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Bác Tôn đã dẫn đầu Ðoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Ðảng, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc vào thăm thành phố Sài Gòn và dự lễ mừng chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Sau 45 năm tính từ ngày bị đày ra Côn Ðảo, Bác được trở về với thành phố thân thương, với nơi quê hương chôn nhau cắt rốn ở tỉnh An Giang trong niềm vui hân hoan và phấn khởi vô hạn của đồng chí, đồng bào. Ði tới đâu và ở bất cứ nơi nào, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta cũng đều được tự hào chiêm ngưỡng hình ảnh thân thương của vị Chủ tịch nước 87 tuổi xuất hiện trong bộ áo quần giản dị của người lao động sống giữa đời thường. 

Nghiền ngẫm những lời trân trọng đánh giá của Bác Hồ đối với Bác Tôn, khiến tôi băn khoăn suy nghĩ một điều. Trong những tháng năm qua, chúng ta đã thật sự phát huy giá trị tinh hoa về đạo đức cách mạng của Bác Tôn chưa? Ðó là một trong những nguồn "tài nguyên" về tinh thần trong kho tàng tư tưởng vô giá của Ðảng ta. Phải biết khai thác và tận dụng nguồn tài nguyên ấy, biến nó thành sức mạnh tư tưởng, ý chí và nghị lực giúp chúng ta tiến lên trong tất cả các lĩnh vực công tác và mọi mặt hoạt động, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. 

Ðó chính là những lẵng hoa tươi đẹp nhất của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính dâng lên Bác Tôn với muôn vàn tình thân yêu, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Bác. 

(Theo Báo Nhân Dân)

[Về đầu trang]


Đồng chí Tôn Đức Thắng – Nhà tuyên truyền, giáo dục cách mạng đức độ và tài năng

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888-20/8/2008), Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS Phùng Hữu Phú - Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nghiên cứu quan điểm và phong cách tuyên truyền, giáo dục của đồng chí Tôn Đức Thắng, rút ra nhiều bài học bổ ích cho công tác này trong giai đoạn hiện nay.

Giữa những ngày Tháng Tám lịch sử gợi nhớ truyền thống quật khởi, hào hùng của dân tộc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xiết bao xúc động và thành kính nhớ đến đồng chí Tôn Đức Thắng - người chiến sĩ cách mạng tiền bối kiên cường, mẫu mực; tấm gương sáng tiêu biểu trong thời đại Hồ Chí Minh. Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách, đồng chí đã để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, trong đó có bài học về công tác tuyên truyền, giáo dục. Đồng chí Tôn Đức Thắng là nhà lãnh đạo cách mạng trưởng thành trong phong trào đấu tranh của quần chúng. Những quan điểm và phương thức tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục của đồng chí hình thành trong chính thực tiễn sinh động mà ở đó, phong cách cá nhân toát lên từ tư chất, tính cách, bản lĩnh, năng lực tư duy, năng lực tổng kết thực tiễn kinh nghiệm, tình cảm, niềm tin cách mạng…và sự tiếp thu tư tưởng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền, giáo dục.

1. Đồng chí Tôn Đức Thắng - nhà tuyên truyền tổ chức, vận động, tập hợp quần chúng bằng trí tuệ và tấm lòng cộng sản.

Đồng chí Tôn Đức Thắng bộc lộ năng khiếu tổ chức, vận động, tập hợp quần chúng từ rất sớm. Khả năng đứng mũi chịu sào của đồng chí đã nổi tiếng ngay từ khi còn học ở trường Bách Nghệ, khi là người thợ học việc, là thuỷ thủ trên tàu Pháp, nhất là khi đoàn kết công nhân thành lập Công hội. Công hội do đồng chí sáng lập là nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác-Lênin đến với giai cấp công nhân Việt Nam, đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sử phong trào công nhân Việt Nam, là dấu mốc khẳng định đồng chí Tôn Đức Thắng trở thành nhà tuyên truyền của giai cấp vô sản. Tài năng tổ chức, thuyết phục của đồng chí càng toả sáng khi đồng chí là Trưởng ban Thường trực Quốc hội trực tiếp điều hành các kỳ họp và cùng đại biểu Quốc hội thảo luận các vấn đề quan trọng của đất nước, đạt được sự thống nhất cao. Công tác tuyên truyền về Bầu cử đại biểu Quốc hội là những hoạt động trọng yếu mỗi khi sự kiện chính trị này diễn ra. Với tư cách là người lãnh đạo, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tham gia và chỉ đạo công tác tuyên truyền làm nhân dân nhận thức rõ trách nhiệm công dân của mình để tham gia tích cực. Đồng chí đã đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II, khoá III. Lòng yêu nước, lý tưởng cộng sản và những trải nghiệm của cuộc đời hoạt động cách mạng đã hoà quyện vào nhau, tạo nên sự nhuần nhuyễn và sâu sắc trong phong cách tuyên truyền Tôn Đức Thắng.

Đồng chí Tôn Đức Thắng có khả năng cảm hoá được nhiều đối tượng và chuyển hoá nhận thức của họ bằng tấm lòng chân thành, ngôn ngữ chân thực, lý lẽ thấu đáo, đạo lý sâu xa, nghệ thuật thuyết phục, sự hiểu biết rộng rãi của người từng trải. Đó là những công nhân lao động lầm than, những đảng viên ở tù Côn Đảo, những nhân sĩ, trí thức, người trong các đảng phái, tôn giáo khác nhau, kiều bào, chính khách nước ngoài, thậm chí là những thanh niên hư hỏng, những người tù hung hãn, bất trị. Đó là nghệ thuật giải quyết mối quan hệ giữa người với người không bằng mệnh lệnh, cưỡng bức và sự can thiệp thô bạo mà bằng dân chủ, thuyết phục và sự hiểu biết lẫn nhau; là nghệ thuật hoá giải mâu thuẫn không đối kháng để đạt được sự thông cảm và nhận thức chung, từ đó tạo nên sự gắn kết của cả tập thể. Khi ở nhà tù Côn Đảo cũng như sau này khi giữ cương vị lãnh đạo cấp cao, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn tìm cách thuyết phục mọi người bằng phương pháp vừa có tính nguyên tắc, tính khoa học, vừa có tình cảm nhân ái, bao dung. Phương pháp tuyên truyền, giáo dục đó không chỉ tác động làm thay đổi nhận thức mà còn cảm hoá trái tim con người. Nó tạo ra những giá trị quy tụ được lòng người, làm cho nhân dân tin vào Đảng, tự nguyện đi theo Đảng và mọi hoạt động đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là nguyên nhân đã giúp đồng chí Tôn Đức Thắng thành công trong công tác vận động quần chúng, là điều làm nên sự kỳ diệu trong nghệ thuật tuyên truyền, giáo dục của đồng chí.

Phẩm chất quan trọng cần có của người làm công tác tuyên truyền, đó là tình cảm và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, và đây chính là những yếu tố quyết định chất lượng hoạt động tuyên truyền, làm tăng nghệ thuật truyền cảm, sức hấp dẫn và sự lay động lòng người. Niềm tin chính trị là kết quả của quá trình nhận thức sâu sắc, đúng đắn tri thức chính trị và lý tưởng chính trị. Niềm tin chính trị khi được hình thành trên cơ sở khoa học sẽ giúp người làm công tác tuyên truyền vững vàng và có định hướng đúng trước những quan hệ chính trị phức tạp, thường xuyên biến đổi, có hành động phù hợp với lý tưởng chính trị đã lựa chọn và những chuẩn mực chính trị do xã hội đặt ra. Niềm tin chính trị giúp cho người làm công tác tuyên truyền cách mạng rèn luyện bản lĩnh, sẵn sàng thực hiện và bảo vệ mục tiêu, lý tưởng. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một nhà tuyên truyền như vậy.

Khi cùng những đảng viên trung kiên của chi bộ đảng ở nhà tù Côn Đảo thực hiện chủ trương “biến nhà tù thành trường học cách mạng”, đồng chí Tôn Đức Thắng tham gia học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và góp phần quan trọng vào việc truyền bá những kiến thức đó. Khi biết tin phát xít Đức điên cuồng tấn công Liên Xô, trong nội bộ chi bộ đảng nhà tù Côn Đảo đã diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt về vai trò của Liên Xô trong thế chiến thứ II. Bằng kiến thức lý luận vững chắc, sắc sảo và tầm hiểu biết thực tiễn, đồng chí đã lý giải và truyền niềm tin vào sự nghiệp cách mạng cho mọi người, góp phần làm ổn định tư tưởng đảng viên trong chi bộ. Khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, nội bộ tù nhân có sự phân hoá, đồng chí đã cùng các đảng viên trong chi bộ vạch rõ sự thất bại tất yếu của chủ nghĩa phát xít, khẳng định cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới nhất định thắng lợi. Vận dụng sáng tạo thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với bối cảnh lịch sử, đồng chí đã tham gia đánh bại những luận điệu phản động của một số tù nhân theo quan điểm Quốc dân đảng khi họ cố tình vu khống, xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản, gieo rắc tư tưởng học thuyết “đấu tranh sinh tồn”, giúp họ nhận rõ những sai lầm trong tư tưởng và hành động. Đó là nghệ thuật giành thế chủ động, là thái độ tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái của người làm công tác tuyên truyền.

Tài năng tuyên truyền, thuyết phục của đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ được thể hiện trong quá trình tổ chức, vận động đồng bào trong nước mà còn được thể hiện rất sinh động trong các hoạt động đối ngoại. Khi tham gia Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang làm việc ở Pháp, cùng với các đồng chí khác, đồng chí tiếp xúc, tuyên truyền, vận động, cảm hoá nhiều nghị sĩ Quốc hội Pháp, đại diện các đoàn thể quần chúng, các tầng lớp nhân dân Pháp, làm cho họ hiểu hơn về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, ủng hộ Việt Nam và thắt chặt thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Đồng chí tiếp xúc với nhiều nhân sĩ, trí thức, đối thoại với một số người của các đảng phái, giai cấp, dân tộc, tôn giáo khác nhau, làm cho họ nhận rõ ý nghĩa, vai trò quyết định của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

Đồng chí Tôn Đức Thắng rất quan tâm đến công tác tuyên truyền đối ngoại. Đồng chí nhận trình quốc thư, tiếp xúc với đại sứ nhiều nước, gửi thư, điện chúc mừng quốc khánh, viết bài nhân dịp kỷ niệm các sự kiện quốc tế trọng đại…Tranh thủ mọi điều kiện, mọi thời điểm lịch sử, đồng chí làm cho nhân dân tiến bộ thế giới thấy rõ bản chất xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, thể hiện khát vọng hoà bình, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, kêu gọi nhân dân tiến bộ trên thế giới giúp đỡ Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đồng chí đặc biệt quan tâm đến việc phát huy vai trò của bà con kiều bào trong công tác tuyên truyền đối ngoại. Đồng chí kêu gọi: “Các kiều bào hải ngoại lần này cũng phải tích cực hoạt động tìm đủ cách tuyên truyền cuộc chiến tranh chính nghĩa của ta, gây thiện cảm với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới và đánh tan những luận điệu của bọn phản động quốc tế mong lừa bịp dư luận hoàn cầu để đè nén, bóc lột các dân tộc nhược tiểu”(1).

Người thợ máy Việt Nam kéo cờ đỏ trên chiến hạm Pháp ở Biển Đen ủng hộ Nhà nước Xô Viết năm nào đã thể hiện sinh động quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tinh thần quốc tế vô sản, về ngoại giao nhân dân, về thông tin đối ngoại tại nhiều diễn đàn khác nhau, trong nước và ở nước ngoài. Sức thu phục và cảm hoá của đồng chí toả ra, trước hết, từ trí tuệ của một con người suốt đời lăn lộn học tập, phấn đấu, lao động, sáng tạo vì dân, vì nước, và hơn thế, từ tấm lòng yêu nước, thương dân của một người cộng sản chân chính.

2. Đồng chí Tôn Đức Thắng -người thực hành xuất sắc công tác tuyên truyền, giáo dục theo quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mục đích của công tác tuyên truyền là chuyển tải quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân; giác ngộ lý tưởng, tư tưởng, tình cảm cách mạng, con đường đấu tranh cách mạng; tập hợp, đoàn kết, tổ chức, vận động các lực lượng quần chúng hành động cách mạng. Để đạt những mục tiêu trên, trước hết, cán bộ tuyên truyền phải dùng những lời lẽ giản dị, thiết thực, gần gũi với quần chúng, làm cho dân hiểu, dân tin, dân quyết tâm làm theo. Cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng đã nói và viết bằng tất cả sự nhiệt thành của người chiến sĩ cách mạng, bằng tấm lòng của người lãnh đạo, bằng ngôn từ mộc mạc, giản dị của người lao động. Những vấn đề mà đồng chí nêu là sự phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng. Nguyên lý công tác tuyên truyền: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đồng chí Tôn Đức Thắng thể hiện xuất sắc. Thông qua ngôn ngữ, tác phong gần gũi, tự nhiên mà trong các buổi nói chuyện hay qua các bài viết của đồng chí, người nói với người nghe, người viết với người đọc hoàn toàn bình đẳng và đồng cảm. Ví dụ, ngày 26-3-1961, khi phát biểu với thanh niên, đồng chí đã nói một cách giản dị đầy thuyết phục: “Nếu như các thế hệ trước đây đã nêu cao tinh thần bất khuất trước quân thù, đã dám đứng lên đương đầu với kẻ thù tàn bạo và đã chiến thắng được chúng thì ngày nay, phát huy truyền thống ấy, các đồng chí hãy tỏ ra bất khuất trước mọi khó khăn, gian khổ, hãy chiến thắng chúng mà hoàn thành nhiệm vụ”(2). Khoảng cách giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền dường như được rút ngắn lại, chỉ thấy một không khí chan hoà, ấm cúng, ân cần và thấu hiểu.

Người cán bộ tuyên truyền muốn đạt được hiệu quả cao trong công tác phải hiểu được quy luật tư tưởng, tâm lý của quá trình truyền bá quan điểm, đường lối cho nhân dân; quy luật tiếp nhận thông tin của những giai tầng khác nhau trong xã hội; quy luật chuyển hoá tri thức khoa học trở thành niềm tin và hành động cách mạng của quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: công tác dân vận phải đúng và phải khéo, không bỏ sót một người nào, làm cho đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ thông qua giáo dục, tuyên truyền và vận động trở thành tư tưởng, ý thức và hành động sáng tạo của quần chúng. Đồng chí Tôn Đức Thắng là người có phương thức tuyên truyền miệng đạt tới trình độ nghệ thuật độc đáo. Khi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm, chủ trương của Đảng, khi chỉ đạo triển khai những quyết sách quan trọng, khi làm công tác ngoại giao hay đấu tranh phê phán tiêu cực, đồng chí đánh giá đúng về đối tượng để lựa chọn phương thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp. Trong cách thức tuyên truyền, đồng chí luôn trình bày nội dung cụ thể, thiết thực, rõ ràng, được người nghe hồ hởi đón nhận. Cách truyền đạt chủ trương, chính sách của đồng chí giản dị, rành mạch và thực tiễn. Đó là nghệ thuật khêu gợi vấn đề để đối tượng tuyên truyền hướng tới chân lý; là nghệ thuật dẫn giải mục tiêu của đường lối, chính sách đến biện pháp để đạt mục tiêu đó, giúp cho quần chúng thẩm thấu, lĩnh hội và hành động dễ dàng.

Đồng chí Tôn Đức Thắng làm công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức khác nhau: bài nói, bài viết, đối thoại, diễn đàn… vận dụng linh hoạt văn phong hội thoại với các câu hỏi, câu kể, câu cảm thán, câu mệnh lệnh… Câu hỏi mà đồng chí nêu ra thường gắn với những băn khoăn, thắc mắc trong thực tế hoặc khơi dậy nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của mỗi người, đưa ra những giải thích, chứng minh ngắn gọn và hướng dẫn họ làm theo đường lối cách mạng của Đảng. Đây chính là nghệ thuật chinh phục lòng người trong phương pháp tuyên truyền của đồng chí Tôn Đức Thắng. Tính cổ động trong ngôn ngữ tuyên truyền của đồng chí có sức mạnh hiệu triệu, thôi thúc hành động cao, thể hiện đậm nét trong những bài nói, viết về bầu cử đại biểu Quốc hội, tập hợp sức mạnh đại đoàn kết dân tộc hay giao nhiệm vụ cho thanh niên... Đồng chí căn dặn: “Phải đề phòng chủ nghĩa mệnh lệnh: lợi dụng uy tín của Đảng trong quần chúng mà hạ lệnh làm bừa, không chịu khó thuyết phục, giải thích, làm cho quần chúng tự giác, tự động thi hành chính sách của Đảng”(3). Lối tuyên truyền, giáo dục áp đặt, một chiều sẽ tạo nên sự phản cảm, làm cho đối tượng tuyên truyền không muốn nghe, không muốn tiếp thu và đó sẽ là sự nguy hại đối với mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, giữa cán bộ và quần chúng.

Đồng chí Tôn Đức Thắng là người có công trong việc góp phần xây dựng đạo đức con người mới xã hội chủ nghĩa. Đồng chí giáo dục đạo đức không phải bằng lý luận cao xa mà bằng tấm gương mẫu mực, bằng lời nói đi đôi với việc làm, bằng sự khiêm tốn, giản dị. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: khi giáo dục người khác, phải có tinh thần thân ái và thái độ đúng mực, không nên lấy mình ra làm tiêu chí để đánh giá hay phê bình người khác. Cách thức giáo dục của đồng chí Tôn Đức Thắng cũng thấm đậm tình người như cách thức giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là sự tôn trọng nhân cách con người, là biểu hiện cao của văn hoá dân chủ, văn hoá trong giao tiếp, đối thoại, tranh luận. Phương châm ứng xử với mình, với người, với công việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong cách giáo dục cán bộ, đảng viên của đồng chí Tôn Đức Thắng: “Chỉ trích đây không phải là vạch cái xấu của người ra để mong vùi người ta xuống dưới mình, trái lại, phải âu yếm phê bình điều hay lẽ trái của người khác, tìm ra và nêu khuyết điểm của mình cho người khác cùng thấy để sửa chữa”(4). Đối với quần chúng, đồng chí căn dặn: “Chúng ta cần bàn bạc dân chủ với người ngoài Đảng, lắng nghe ý kiến của họ, ý kiến đúng chúng ta hoan nghênh, ý kiến sai chúng ta giải thích và chúng ta thực hiện phương pháp thân ái phê bình, tự phê bình”(5). Nắm được tâm lý, hiểu nguyện vọng, mong muốn, tôn trọng đề xuất yêu cầu của đối tượng tuyên truyền là những bí quyết giúp cho công tác tuyên truyền của đồng chí Tôn Đức Thắng đạt hiệu quả cao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: Một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Để tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng, mỗi cán bộ, đảng viên phải trở thành tấm gương sáng cho quần chúng noi theo. Đồng chí Tôn Đức Thắng chính là người đã thực hành công tác tuyên truyền, giáo dục theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như: nói đi đôi với làm, lý luận gắn liền với thực tiễn, cán bộ phải là người kiểu mẫu cho quần chúng làm theo, lấy gương người tốt việc tốt để giáo dục… Đồng chí coi trọng việc vận dụng lý luận cách mạng để soi sáng thực tiễn; đánh giá, tổng kết thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm; tổ chức phong trào thi đua, động viên lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân; đề cao vai trò làm gương của cán bộ, đảng viên. Đồng chí đã giáo dục cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ bằng chính cuộc đời mình. Khi đánh giá về đồng chí Tôn Đức Thắng, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã nhận định: “Tôn Đức Thắng không phải là nhà lý luận, nhà tư tưởng hay nhà sáng tác mà là con người của hành động, hành động tiên phong”(6). Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu nhấn mạnh: “Cụ Tôn khác với các nhân vật khác ở chỗ, Cụ không có một tác phẩm nào cả, có chăng chỉ là chúng ta ghi lại những điều Cụ nói thôi… tác phẩm hay nhất của Cụ chính là cuộc đời của Cụ ”(7).

Sự kết hợp giữa lời nói và hành động trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục của đồng chí Tôn Đức Thắng thể hiện ở tác phong sâu sát, tỉ mỉ, tin yêu và quý trọng nhân dân với tư cách là đối tượng tuyên truyền. Ở cương vị nào, đồng chí cũng luôn gương mẫu xuống tận các địa phương, các ngành, các cấp để kiểm tra đôn đốc, nắm thực chất tình hình, lắng nghe nguyện vọng của quần chúng, đưa ra những quyết sách sát thực tế. Theo đồng chí, lực lượng làm tuyên truyền, giáo dục là hệ thống chính trị, là các lực lượng xã hội, là quần chúng tuyên truyền vận động quần chúng. Đồng chí nhắc nhở giáo dục cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành: “Các đồng chí hãy xuống đồng ruộng, nhà máy, cơ quan, hay xuống quần chúng, làm cho đường lối chính sách của Đảng thấu suốt đến tận chi bộ, đến mọi đảng viên, đến tận quần chúng nhân dân”(8).

Cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn gắn lý luận với thực tiễn. Đồng chí yêu cầu khi tuyên truyền hoặc tổ chức thực hiện nghị quyết, cần chú ý nắm bắt thông tin phản hồi để tham mưu cho Đảng chỉ đạo đúng đắn. Công tác tuyên truyền không thụ động mà phải theo sát sự vận động của cuộc sống, làm cho nghị quyết Đảng thành hiện thực sinh động: “Trong khi thi hành chính sách của Đảng, các đồng chí phải kiểm tra, tìm hiểu xem nghị quyết và chủ trương của Đảng có đúng không. Thấy tình hình phát triển, chính sách của Đảng thiếu sót chỗ nào, thì đề nghị Trung ương bổ sung chỗ đó”(9). Đồng chí rất chú trọng đổi mới công tác huấn luyện và tuyên truyền theo hướng khoa học, thiết thực, không phô trương hình thức, máy móc giáo điều hay hời hợt, cẩu thả. Đồng chí nói: “Phải đề phòng chủ nghĩa hình thức, tức là treo cho nhiều cờ, lập trụ sở cho đẹp, có đàn hát, tiệc tùng, mít tinh, diễn thuyết không có nội dung, không có điều độ, mất thì giờ vô ích”(10). Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền, giáo dục đã được đồng chí lĩnh hội và thực hành một cách thuần thục.

Đồng chí Tôn Đức Thắng biết cách khích lệ và cổ vũ thành tích của quần chúng, tạo tâm lý phấn khởi, từ đó dẫn dắt và kích thích quần chúng đến với những nhận thức mới, vạch ra mục tiêu, nghĩa vụ, trách nhiệm để quần chúng tự giác thực hiện. Tác dụng của khích lệ ở chỗ là nó có khả năng khuyến khích tiềm lực của con người; khai thác khả năng của con người; phát huy tính tích cực, tính tự giác và tính sáng tạo của con người. Cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn động viên cổ vũ kịp thời gương người tốt, việc tốt và lấy đó làm điển hình phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục. Hàng năm, cứ đến ngày kỷ niệm các sự kiện liên quan đến các đối tượng nhân dân như Ngày Bình dân học vụ (8/9), Ngày Học sinh toàn quốc (9/1), Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7)… đồng chí lại gửi thư chúc mừng, khen ngợi, cổ vũ và dặn dò nhiệm vụ. Đồng chí có nhiều đóng góp trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc. Khi là Trưởng ban thi đua ái quốc Trung ương, đồng chí luôn nêu cao tinh thần “tự chỉ trích”, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, phê phán những nhận thức không đầy đủ về công tác thi đua dẫn đến những sai lầm trong lãnh đạo và tổ chức phong trào; đồng thời chỉ ra phương thức sửa chữa hạn chế, phương thức tiến hành nhằm đạt hiệu quả cao. Giáo dục nhận thức đúng đắn về bản chất của thi đua, đồng chí nói: “Thi đua là một thuật động viên, một phương thức lãnh đạo để thực hiện những công việc hàng ngày với mức độ cao hơn trong một thời gian ngắn hơn. Nó không phải là một việc tách rời những công việc và sự lãnh đạo hàng ngày của cấp uỷ”(11).

Nghiên cứu quan điểm và phong cách tuyên truyền, giáo dục của đồng chí Tôn Đức Thắng, chúng ta rút ra nhiều bài học bổ ích cho công tác này trong giai đoạn hiện nay. Những bài học đó rất sâu sắc và thiết thực trong bối cảnh chúng ta đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) về “Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, nhất là vào lúc Cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đang được triển khai sâu rộng, từng bước đi vào chiều sâu. Nói và làm bằng trí tuệ học từ nhân dân, bằng tấm lòng hy sinh, phấn đấu vì nhân dân - đó là bài học lớn mà đồng chí Tôn Đức Thắng để lại cho Đảng ta, trước hết là người cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng của Đảng ./.

GS.TS Phùng Hữu Phú
Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương

(Theo Báo điện tử ĐCSVN) 

[Về đầu trang]


Kỷ niệm trọng thể 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một nhân cách lớn có đầy đủ phẩm chất để quy tụ đoàn kết và lãnh đạo toàn thể nhân dân. Một trong những chiến sĩ cách mạng kiên cường cống hiến chọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc .

Sáng nay (18/8), tại Cung Văn hoá Hữu nghị Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888-20/8/2008).

Đến dự có các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành phố Hà Nội các vị lão thành cách mạng, đại diện tỉnh An Giang - quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. 

Chương trình văn nghệ “Mãi mãi là người thợ Ba Son” do nghệ sĩ Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam biểu diễn mở đầu Lễ kỷ niệm. 

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ôn lại cuộc đời hơn 70 năm cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc, xây dựng Chủ nghĩa xã hội và nêu bật những công lao to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng - người cộng sản kiên cường, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Đoàn kết Dân tộc. 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định: Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một nhân cách lớn có đầy đủ phẩm chất để quy tụ đoàn kết và lãnh đạo toàn thể nhân dân. Một trong những chiến sĩ cách mạng kiên cường cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân, xứng đáng là một trong những nhà lãnh đạo mẫu mực của Cách mạng Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh. Đó là phẩm chất của một nhà yêu nước vĩ đại, người lãnh đạo xứng đáng của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Việt Nam. 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đánh giá cao những đóng góp xuất sắc của Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong việc đoàn kết, thống nhất và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần tạo ra một lực lượng chính trị to lớn bảo vệ cách mạng cũng như xây dựng đất nước. Chủ tịch Tôn Đức Thắng là tấm gương tận tuỵ, hoàn thành trách nhiệm cao mọi nhiệm vụ trong xây dựng và lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc, trong xây dựng và lãnh đạo Nhà nước, trong tổ chức nhân dân thi đua thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước theo Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là tấm gương đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính” phục vụ cách mạng phục vụ nhân dân; luôn “Chí công vô tư”, là một kiểu mẫu của một nhà lãnh đạo, người đầy tớ trung thành với nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. 

Cũng tại lễ kỷ niệm, thay mặt Đảng bộ tỉnh An Giang, ông Nguyễn Hoàng Việt - Bí thư Tỉnh uỷ phát biểu nêu rõ: Nhân dân An Giang rất đỗi tự hào về sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng - người con ưu tú của quê hương. Các dân tộc An Giang đã và đang tổ chức nhiều hoạt động phong trào thi đua để thiết thực kỷ niệm 120 Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng 

Cuộc đời Chủ tịch Tôn Đức Thắng mãi mãi là tấm gương sáng cho giai cấp công nhân Việt Nam học tập trong sự nghiệp xây dựng đất nước văn minh giàu đẹp. Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cả nước thi đua lập thành tích chào mừng 63 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Ôn lại truyền thống vẻ vang của dân tộc, ôn lại cuộc đời cách mạng của những người cộng sản tiền bối như Chủ tịch Tôn Đức Thắng để hiểu hơn giá trị thắng lợi của sự nghiệp cách mạng./.

(Theo VOV)

[Về đầu trang]


Tôn Đức Thắng - biểu tượng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Hoạt động trên nhiều cương vị khác nhau, Bác Tôn luôn quan tâm và chăm lo việc tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, từ Côn Đảo trở về, với cương vị và trọng trách to lớn được Đảng giao phó, Bác Tôn đã góp phần xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; tập hợp toàn dân tộc đoàn kết một lòng đưa kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang; góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội; đưa cách mạng Việt Nam hoà trong dòng thác cách mạng thế giới đấu tranh cho độc lập, tự do, hoà bình, hạnh phúc, tiến bộ và nhân văn.

Hoạt động trên nhiều cương vị khác nhau, Bác Tôn luôn quan tâm và chăm lo việc tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Góp phần quan trọng vào việc thu hút trí lực của toàn dân tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ Quốc.

Tình hình đất nước ta vào đầu năm 1946 cực kỳ khó khăn. Vận mệnh Tổ quốc đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Đảng ta chủ trương một mặt hoà để tiến, mặt khác ra sức củng cố khối đoàn kết làm hậu thuẫn chính trị cho chính quyền nhân dân còn non trẻ và chuẩn bị điều kiện kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho Bác Tôn nhiệm vụ quan trọng là vận động, xây dựng một tổ chức đoàn kết rộng rãi hơn nữa các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhằm tăng thêm lực lượng cho cách mạng. Sau gần nửa tháng nỗ lực chuẩn bị, ngày 2/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập. Trên cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng. Bác đã làm rõ: nhận thức đại đoàn kết là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến, mẫu thuẫn quyền lợi giữa các giai cấp phải được điều hoà hợp lý, trong đó chú trọng quyền lợi của đông đảo quần chúng vì họ là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất. Trực tiếp bàn bạc, trao đổi với cán bộ Hội, đối thoại với người của các đảng phái, giai cấp, dân tộc, tôn giáo khác nhau, làm cho họ nhận rõ ý nghĩa của việc thành lập Hội Liên Việt, vai trò của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Do thống nhất trong nhận thức, hoạt động của tổ chức này đã góp phần tăng sức mạnh cho chính quyền cách mạng non trẻ và đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến kiến quốc.

Cùng với sự ra đời của các Hội, tổ chức trong giai đoạn này, những hoạt động của Bác Tôn đã góp phần tích cực, tạo mọi điều kiện cho các tổ chức trên hoạt động có hiệu quả.

Không chỉ có vậy, Tôn Đức Thắng còn đóng góp tích cực trong việc thống nhất Việt Minh – Liên Việt (3 – 7/3/1951). Thắng lợi của Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt đã làm cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được tăng cường và phát triển thêm một bước mới. Cuộc hợp nhất thành công đã tăng sức mạnh cho cuộc kháng chiến, khẳng định ý chí quật cường của toàn dân trước sự xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ và bọn tay sai.

Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (từ 5 – 10/9/1955) là sự kiện trọng đại đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Đại hội đã thảo luận thông qua dự thảo Cương lĩnh, Điều lệ mới và quyết định tên là Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam. Cương lĩnh của Mặt trận được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao. Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và giữ trọng trách này đến năm 1977. Trên cương vị lãnh đạo Mặt trận, Bác đem hết sức lực, nhiệt tình và trí tuệ của mình, cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong mọi hoạt động cụ thể của mình, Bác đã làm sáng tỏ chủ trương đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, phá tan âm mưu của các thế lực thù địch chia rẽ đoàn kết lương giáo, nhắc nhở các thành viên trong Mặt trận phải tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đời sống mới, bảo vệ quyền lợi của người lao động, bảo vệ người già yếu, tàn tật, phụ nữ trẻ em, gìn giữ văn hoá truyền thống và tiếp thu văn hoá nhân loại làm phong phú và phát triển nền văn hoá dân tộc, mọi mặt công tác của Mặt trận đều nhằm phục vụ cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam… Mặt trận đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng Đảng, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân, củng cố khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Nhờ đoàn kết trong nước, chúng ta đã mở rộng và phát triển đoàn kết quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và hợp tác của bạn bè trên thế giới. Có thể nói Mặt trận đã trở thành một nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cộng sản gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Bác Tôn  là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phẩm chất cách mạng của người cộng sản với phong cách giai cấp công nhân Việt Nam.

Giữ nhiều cương vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhưng Bác Tôn, sống bình dị, nêu gương sáng về sự trung thành, lòng tận tuỵ phục vụ nhân dân. Mẫu mực về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, khiêm tốn, giản dị.

Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng để lại bài học về việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự thống nhất trong hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong mọi tầng lớp nhân dân thực hiện những mục tiêu cách mạng vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới hiện nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Ôn lại truyền thống vẻ vang của dân tộc, ôn lại cuộc đời cách mạng của những người cộng sản tiền bối như Chủ tịch Tôn Đức Thắng để hiểu hơn giá trị thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đã đạt được, tiếp nối truyền thống ông cha bằng những thắng lợi của cách mạng hôm nay; học tập tấm gương đạo đức sáng ngời của lớp người đi trước, tự tu rèn đạo đức cách  mạng để phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân tốt hơn./

(Theo VOV) 

[Về đầu trang]


Bài diễn văn của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Thưa đồng chí Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước, 

Thưa các đồng chí và các bạn, 

Hôm nay, chúng ta họp mặt tại đây để kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Tôn Ðức Thắng (20-8-1888 - 20-8-2008), nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trưởng Ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người cộng sản kiên cường, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo mẫu mực của Ðảng, Nhà nước và Mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta. 

Sinh thời, với hơn 70 năm cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tên tuổi, sự nghiệp của đồng chí Tôn Ðức Thắng gắn liền với lịch sử thắng lợi vẻ vang của cách mạng nước ta trong thế kỷ XX. 

Thưa các đồng chí và các bạn, 

Ðồng chí Tôn Ðức Thắng sinh ngày 20-8-1888 trong một gia đình nông dân ở Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, tổng Ðịnh Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. 

Sớm trở thành công nhân và tham gia lãnh đạo công nhân đấu tranh từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, đồng chí là một trong những chiến sĩ tiên phong của phong trào công nhân ở nước ta và là một trong những người Việt Nam đầu tiên hoạt động ủng hộ nước Nga Xô-viết - nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. 

Năm 1920, đồng chí thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật ở Sài Gòn, hình thức tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu sự chuyển biến mới của giai cấp công nhân nước ta từ thời kỳ chưa có tổ chức sang thời kỳ có tổ chức. 

Năm 1925, với việc lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son, đồng chí đã góp phần mở ra quá trình giai cấp công nhân Việt Nam chuyển từ đấu tranh tự phát lên tự giác. 

Năm 1927, gia nhập Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng với trọng trách Ủy viên Kỳ bộ Nam Bộ, Bí thư Thành bộ Sài Gòn, phụ trách phong trào công nhân, đồng chí đã góp phần tích cực thúc đẩy việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta, chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho sự ra đời đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Với những sứ mệnh đó, đồng chí Tôn Ðức Thắng "là một trong các chiến sĩ lớp đầu của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta". 

Năm 1929, bị thực dân Pháp bắt, đồng chí đã vượt qua 17 năm đầy ải khốc liệt trong địa ngục trần gian của nhà tù thực dân với tinh thần bất khuất, tỏ rõ khí phách và phẩm chất kiên trung của người cộng sản. 

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, được trở về đất liền, đồng chí được Ðảng và Nhà nước ta tin tưởng giao nhiều trọng trách: Phụ trách Ủy ban kháng chiến kiêm Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang Nam Bộ, Phó Hội trưởng và Hội trưởng Hội Liên Việt, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Ủy viên T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Vận động thi đua ái quốc, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng Ban Thường vụ QH, Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam... Ðồng chí là Ủy viên Hội đồng Hòa bình thế giới, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Xô. 

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đồng chí đã cùng toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta đưa ngọn cờ độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đích thống nhất của Tổ quốc và trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặc dù tuổi cao, đồng chí luôn luôn phấn đấu quên mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Ðảng, Nhà nước giao phó. 

Suốt đời phấn đấu cho lý tưởng của Ðảng, vượt qua mọi thử thách nghiệt ngã trong lao tù đế quốc và sự khốc liệt của chiến tranh, luôn luôn gắn bó với đồng chí, đồng bào, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, đồng chí Tôn Ðức Thắng là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, một trong những nhà lãnh đạo mẫu mực của cách mạng Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh. 

Thưa các đồng chí và các bạn, 

Hơn 30 năm liên tục trực tiếp lãnh đạo tổ chức xây dựng, mở rộng, phát triển Mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã đóng góp quan trọng và đặc biệt xuất sắc trong việc bồi đắp, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. 

Từ đầu năm 1946, thực hiện chủ trương mở rộng Mặt trận đoàn kết toàn dân vào các thành phần yêu nước chưa tham gia Mặt trận Việt Minh, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta giao nhiệm vụ tổ chức Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam với trọng trách là Phó Hội trưởng. Hội Liên Việt ra đời đã mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc, góp phần tạo ra hậu thuẫn chính trị to lớn, bảo vệ thắng lợi thành quả của Cách mạng Tháng Tám. 

Là người được tin tưởng gánh vác trách nhiệm Hội trưởng Hội Liên Việt sau khi Cụ Hội trưởng Huỳnh Thúc Kháng qua đời (1947), từ năm 1948, thực hiện chủ trương xây dựng một Mặt trận đoàn kết dân tộc ở nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng chí Tôn Ðức Thắng bắt đầu thực hiện nhiệm vụ thống nhất Hội Liên Việt và Mặt trận Việt Minh. 

Tháng 3-1951, Mặt trận Liên Việt ra đời trên cơ sở thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, đồng chí được tín nhiệm làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Ðây là bước phát triển mới của khối đại đoàn kết dân tộc và là cơ sở chính trị để Ðảng ta đưa cuộc kháng chiến trường kỳ sang giai đoạn mới, kết thúc cuộc chiến tranh ái quốc chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta ở Ðiện Biên Phủ năm 1954 là kết quả của sự thống nhất và lớn mạnh không ngừng của các lực lượng cách mạng nước ta, của khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Liên Việt dưới sự lãnh đạo của Ðảng mà người trực tiếp lãnh đạo tổ chức xây dựng và phát triển là đồng chí Tôn Ðức Thắng. 

Sau Hiệp định Geneve năm 1954, tình hình, nhiệm vụ mới của cách mạng nước ta ở mỗi miền Nam - Bắc có khác nhau. Tháng 9-1955, Mặt trận Liên Việt được tổ chức thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Tôn Ðức Thắng trở thành Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tiếp tục được tín nhiệm giữ trọng trách này qua các Ðại hội lần thứ II (1961), lần thứ III (1971) của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. 

Tháng 9-1960, tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã có đóng góp quan trọng trong việc thành lập một Mặt trận đoàn kết dân tộc ở miền Nam với Cương lĩnh thích hợp trên cơ sở Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với Cương lĩnh đúng đắn đã tạo ra sức mạnh chính trị mới thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ. 

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây dựng một Mặt trận đoàn kết dân tộc cho cả nước là nguyện vọng tha thiết của toàn dân ta và đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Tháng 2-1977, Ðại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đã thống nhất các tổ chức mặt trận ở nước ra thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Với uy tín và những cống hiến xuất sắc trong quá trình xây dựng, phát triển khối đại đoàn kết dân tộc, mặc dù tuổi cao, đồng chí Tôn Ðức Thắng vẫn được tôn vinh là Chủ tịch danh dự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho tới khi qua đời (1980). 

Ðảng ta khẳng định: "Ðồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Ðảng và của Hồ Chủ tịch". 

Thưa các đồng chí và các bạn, 

Hơn 30 năm tận tâm, tận lực giương cao ngọn cờ đại đoàn kết Hồ Chí Minh để lãnh đạo tổ chức xây dựng, củng cố, phát triển Mặt trận đoàn kết dân tộc và lãnh đạo Nhà nước ta, phát huy cao nhất nội lực của đất nước, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa Tổ quốc Việt Nam thống nhất tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa, đồng chí Tôn Ðức Thắng không chỉ là một nhà chính trị kiên định, một nhà tổ chức tài năng mà còn có những đóng góp quý giá về lý luận, làm sáng tỏ và phong phú tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta. 

Nắm vững những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn khẳng định vai trò quyết định của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã góp phần xử lý và giải quyết thành công trong cả lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa dân tộc- giai cấp, mối quan hệ giữa quyền lợi của dân tộc với lợi ích của bộ phận để xây dựng Mặt trận đoàn kết dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ðồng chí lưu ý, Ðảng phải nắm bắt và phân tích sâu sắc sự vận động của những điều kiện lịch sử dân tộc và thời đại để làm rõ và xử lý đúng đắn mối quan hệ dân tộc - giai cấp, xác định đúng "những điểm chung cho toàn thể dân tộc"- theo tư tưởng Hồ Chí Minh - trong nội dung các khẩu hiệu chiến lược của cách mạng để tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc ở mỗi thời kỳ, để định hướng trong tổ chức, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và trong việc "điều giải một cách hợp lý" mâu thuẫn và quyền lợi giữa các giai cấp... nhằm phát huy tối đa sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết của dân tộc ta.  

Tổng kết từ thực tế, đồng chí đã chỉ ra rằng: "không phải như một số đồng chí hiểu lầm rằng công tác mặt trận do ngành mặt trận chuyên trách mà, trái lại, toàn Ðảng phải chăm lo". Ðồng chí khẳng định: trong công tác mặt trận phải "nêu cao sự lãnh đạo của Ðảng", phải nắm vững nguyên tắc "Quyền lãnh đạo của Ðảng quyết không thể chia sẻ cho ai, và quyết không thể làm lu mờ được". 

Ðồng chí Tôn Ðức Thắng khẳng định: Vấn đề hàng đầu để đoàn kết toàn dân là phải đoàn kết từ trong nội bộ Ðảng và sự đoàn kết đó không chỉ là sự thống nhất tư tưởng, hành động trong thực hiện đường lối của Ðảng mà còn là tình cảm tôn trọng, yêu mến, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người đảng viên cộng sản. Theo đồng chí, phương pháp duy nhất giúp ta thành tựu ý muốn ấy là tự chỉ trích và thân ái chỉ trích bạn mình. 

Ðồng chí lưu ý rằng, trong công tác mặt trận, "Ðảng ta cần phải liên hệ tốt với quần chúng, cần phải đoàn kết chung quanh Ðảng các giai cấp, các tầng lớp nhân dân cách mạng" và cùng với việc đề ra đường lối, chính sách đúng, Ðảng phải có phương thức, lề lối làm việc dân chủ để mọi thành viên trong mặt trận đều được bàn bạc nhất trí nhằm thống nhất hành động chung. Theo đồng chí, "Ðối với những công việc chung, chúng ta cần bàn bạc dân chủ với người ngoài Ðảng, lắng nghe ý kiến của họ. Ý kiến đúng chúng ta hoan nghênh, ý kiến sai chúng ta giải thích và chúng ta thực hiện phương pháp thân ái phê bình, tự phê bình trong nội bộ Mặt trận". Phải nắm vững nguyên tắc: "Ðối bới bạn đồng minh, phải vừa đoàn kết, vừa đấu tranh đoàn kết để giữ vững mặt trận cách mạng, đấu tranh để đi đến đoàn kết cao hơn. Không thể đoàn kết một chiều, thủ tiêu đấu tranh, cũng không thể đấu tranh vô nguyên tắc để ảnh hưởng xấu đến đoàn kết", nhưng phải "tiến hành" đấu tranh trong nội bộ mặt trận một cách có lợi, có lý, có chừng mực để chĩa mũi nhọn vào bọn đế quốc xâm lược".  

Do vậy, Ðảng phải không ngừng nâng cao trí tuệ, hoàn thiện sự lãnh đạo của mình để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã hội, lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân. 

Ðó là tư tưởng và cũng là bài những bài học có tính thời sự hết sức quý báu mà đồng chí Tôn Ðức Thắng để lại cho chúng ta. 

Thưa các đồng chí và các bạn, 

Nhớ về đồng chí Tôn Ðức Thắng, Ðảng ta, nhân dân ta không chỉ kính trọng phẩm chất chính trị, tài năng tổ chức và năng lực trí tuệ cao của một nhà lãnh đạo, mà còn khâm phục, tin tưởng, yêu mến một nhân cách lớn có đầy đủ phẩm chất để quy tụ, đoàn kết và lãnh đạo toàn thể nhân dân. 

Ðó là phẩm chất của "một chiến sĩ cách mạng kiên cường, mẫu mực, người lãnh đạo kính mến" của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc ở nước ta, "người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại" đã hiến dâng trọn đời tranh đấu cho độc lập của dân tộc, cho nhân dân tự do và phấn đấu vì hạnh phúc của mỗi con người Việt Nam. 

Ðó là nghị lực kiên cường, tinh thần quả cảm, là lòng tin vững chắc vào sự nghiệp của Ðảng, của cách mạng để vượt qua sự khốc liệt của ngục tù đế quốc, của chiến tranh cũng như những cam go, phức tạp của công cuộc xây dựng xã hội mới chưa có tiền lệ, tất cả vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. 

Ðó là tấm gương tận tụy và hoàn thành với trách nhiệm cao mọi nhiệm vụ trong xây dựng và lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc, trong xây dựng và lãnh đạo Nhà nước, trong tổ chức nhân dân thi đua thực hiện đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Ðó là tấm gương thực hành đạo đức cần kiệm cho nước, cho dân; tấm gương khiêm tốn, giản dị, liêm khiết, trung thực, chân thành, ghét thói xu nịnh, cơ hội, bè phái; tấm gương nói ít làm nhiều, luôn chí công vô tư và đặt lợi ích của Ðảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. 

Ðó là một kiểu mẫu nhà lãnh đạo - người đầy tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Ðồng chí Tôn Ðức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân". 

Từ lúc bị giam cầm trong lao tù thực dân đến khi giữ những trọng trách cao của Ðảng và Nhà nước, đồng chí luôn dành tất cả tình cảm cho đồng chí, đồng bào và sẵn lòng chia sẻ những khó khăn với tất cả mọi người.  

Là người chiến sĩ hết sức trung thành của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đã suốt đời phấn đấu, chăm lo cho sự phát triển tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và phát triển tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới, vì lợi ích của sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Ðồng chí đã có những đóng góp to lớn vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và thời đại. Kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đồng chí là người chiến sĩ quốc tế được nhân dân thế giới kính trọng. Ðồng chí Tôn Ðức Thắng là người đầu tiên thay mặt Ðảng ta chính thức chỉ ra những giá trị to lớn và sự cần thiết của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ năm 1951, trên diễn đàn của Ðại hội đại biểu lần thứ II của Ðảng, đồng chí đã kêu gọi: "Toàn Ðảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch" và đã chỉ ra rằng "sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Ðảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn". Ðồng chí cũng là một mẫu mực đã làm cho lời kêu gọi đó trở thành hiện thực trong đời sống và hoạt động của mình, của Ðảng và của dân tộc ta. 

Ðó là một nhân cách lớn, cao thượng và trong sáng, một tấm gương để chúng ta và các thế hệ mai sau mãi mãi tôn vinh và học tập. 

Thưa các đồng chí và các bạn, 

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Tôn Ðức Thắng, chúng ta tưởng nhớ đến một người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo mẫu mực của Ðảng và của dân tộc đã hiến dâng cả cuộc đời cho độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, người tiêu biểu nhất thực hiện tư tưởng và kế tục xứng đáng trọng trách của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lãnh đạo đất nước. 

Ðây cũng là dịp để chúng ta học tập, làm theo tính tiên phong và tinh thần trách nhiệm quên mình trước nhiệm vụ của Ðảng vì Tổ quốc, vì nhân dân của một người chiến sĩ cộng sản kiên cường; học tập và làm theo một nhà lãnh đạo chính trị kiểu Hồ Chí Minh "đoàn kết và thanh khiết"; học tập và làm theo một nhà thực hành đạo đức cách mạng, nói đi đôi với làm, nhân hậu và chính trực - đồng chí Tôn Ðức Thắng. 

Công cuộc đổi mới do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nhưng cũng xuất hiện nhiều nguy cơ và thách thức mới. Noi gương những anh hùng đã mở lối tới độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc, học tập và làm theo tấm gương đồng chí Tôn Ðức Thắng, chúng ta phải nêu cao hơn nữa trách nhiệm của mình trước vận mệnh của dân tộc và của Ðảng, tăng cường đoàn kết, quyết tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Nghị quyết Ðại hội lần thứ X của Ðảng đã đề ra. Trước mắt, chúng ta phải tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững; chăm lo đời sống nhân dân, nhất là các gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công, có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nông dân các địa phương nghèo, công nhân các khu công nghiệp; đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp lập thành tích chào mừng Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2 - 9, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, tạo đà vững chắc cho các năm tiếp theo". 

Toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta phải đẩy mạnh hơn nữa Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, noi gương Chủ tịch Tôn Ðức Thắng, quyết phấn đấu đưa sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đến thắng lợi.  

Ðảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm. 

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

(Theo Báo Nhân Dân)

[Về đầu trang]


 

 

 

 

 

 

      Thông tin khác

 

 
English
Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Tổng Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó Tổng Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email: ubmttqvn@mattran.org.vn