Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
        
 
 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự Ngày hội Ðại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Lỗ Xá, xã Nhân Hoà, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

     HƯỚNG TỚI ĐẠI HỘI LẦN THỨ VII  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM


Văn bản hướng dẫn

Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp 


Công văn số 3167/CV-MTTW-BTT, ngày 07 tháng 7 năm 2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam gửi Uỷ ban MTTQ Việt các tỉnh, thành phố về “Đề cương báo cáo tại Đại hội Mặt trận cấp huyện và cấp tỉnh”

Đề cương báo cáo của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện và cấp tỉnh

Đề cương tuyên truyền về Đại hội  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tăng cường khối Đại Đoàn kết toàn dân tộc xây dựng quê hương ... (xã, phường, thị trấn) văn minh, giàu đẹp (Đề cương báo cáo tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn)

Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 22 tháng 11 năm 2007 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Thông báo ý kiến chỉ đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của ban Bí Thư Trung ương Đảng

Nghị quyết Hội nghị Uỷ ban TƯMTTQ Việt Nam lần thứ năm (khoá VI) về việc triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Chương trình Phối hợp và thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam 2008 

Thông báo một số nội dung công tác chuẩn bị Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thông tri số 28/TTr-MTTW ngày 14 tháng 2 năm 2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc hướng dẫn Đại hội Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn

Thông tri số 29/TTr – MTTW ngày 18 tháng 02 năm 2008 về việc tổ chức phong trào thi đua kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp và Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hướng dẫn số 31-HD/BTGTW ngày 7 tháng 3 năm 2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương  về việc Triển khai đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Kế hoạch số 257/KH-MTTW ngày 17 tháng 3 năm 2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Ma két trang trí Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp

Thông tri số 32/TT-MTTW, ngày 04 tháng 4 năm 2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc hướng dẫn  Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII


    

     ỦY BAN TRUNG ƯƠNG                                                               CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                             Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

   BAN THƯỜNG TRỰC     

                                                                                         Hà Nội, ngày 07  tháng 7 năm 2008   

  Số: 3167 / CV-MTTW-BTT

 

        "Về Đề cương báo cáo tại

  Đại hội Mặt trận cấp huyện và cấp tỉnh"

 

         Kính gửi: - Ban Thường trực UBMTTQVN các tỉnh, thành phố trực

                          thuộc Trung ương.

 

Để thống nhất các nội dung trong Báo cáo tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các quận, huyện, thị xã (gọi chung là cấp huyện) và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Ban Thường trực UBMTTQVN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đề cương Báo cáo của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, tỉnh và đề nghị:

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ cụ thể của địa phương mình để xây dựng báo cáo của đại hội cấp mình và hướng dẫn, giúp đỡ Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện xây dựng báo cáo của Đại hội sát với yêu cầu, nhiệm vụ.

Trong quá trình triển khai công việc, đề nghị các đồng chí phản ánh kịp thời về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Văn phòng, số 46 Tràng Thi, Hà Nội) những ý kiến, kinh nghiệm ở địa phương để việc triển khai thực hiện  nhiệm vụ chung được tốt hơn.

 

   Nơi nhận:                                               TM. BAN THƯỜNG TRỰC

   - Các Đ/C trong BTT UBTƯMTTQVN;           PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

  - VP và các ban, đơn vị thuộc                                        (Đã ký)

       cơ quan UBTƯMTTQVN;                                      Vũ Trọng Kim

   -Lưu VT, TB VKĐH.             

                                                                                      

Về đầu trang


ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO CỦA ĐẠI HỘI

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CẤP HUYỆN VÀ CẤP TỈNH

(Ban hành theo Công văn số: 317/ CV-MTTW-BTT, ngày 07 tháng 7 năm 2008)

---------------------

PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC,NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ............

(Quận, huyện, tỉnh, thành phố) TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,  HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI VÌ MỤC TIÊU "DÂN GIÀU,NƯỚC MẠNH, XÃ HỘI CÔNG BẰNG, DÂN CHỦ, VĂN MINH"

---------------

* Mở đầu:

Nêu khái quát bối cảnh, tình hình kinh tế, xã hội và điều kiện xây dựng khối đoàn kết toàn dân của địa phương trong quá trình thực hiện nghị quyết của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN)  cấp mình ở nhiệm kỳ trước.

 

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ KẾT QUẢ

THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH  HÀNH ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM  .... (Quận, huyện; Tỉnh, thành phố) TRONG NHIỆM KỲ QUA

 

         I. TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC.

1. Đánh giá mặt tích cực của tình hình khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương:

-  Nêu bật những chuyển biến tích cực:

+ Về cơ cấu xã hội: Số lượng, chất lượng, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng   công nhân; nông dân;  trí thức; thanh thiếu nhi; phụ nữ; cựu chiến binh; người cao tuổi; đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng bào là tín đồ các tôn giáo; đồng bào ở địa phương đang sinh sống và làm việc ở các địa phương trong nước (và nước ngoài, nếu có)

+ Các mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân; giữa nhân dân với cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể..., góp phần quan trọng vào sự đồng thuận của xã hội, là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương.

- Nêu rõ nhận thức, thái độ của các tầng lớp nhân dân trước những kết quả đạt được của quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng ..., sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân vào những chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và công tác vận động, tập hợp xây dựng khối đoàn kết toàn dân của Mặt trận và  các tổ chức thành viên.

 - Đại hội nhiệt liệt biểu dương, các tầng lớp nhân dân ở địa phương trong năm năm qua đã chung sức, chung lòng xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của cấp đảng bộ vượt qua mọi khó khăn, thử thách thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.

2. Nêu lên những vấn đề còn bất cập, ảnh hưởng đến khối đoàn kết toàn dân ở địa phương (Sau đây là một số vấn đề chung, tuỳ vào tình hình thực tế ở mỗi địa phương mà nêu cụ thể):

- Vấn đề tăng trưởng  kinh tế chưa đi đôi với yêu cầu phát triển xã hội.

  - Sự thiếu đồng đều về chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần, trình độ dân trí, mức hưởng thụ các thành quả về kinh tế, xã hội  trong các tầng lớp nhân dân ở các địa bàn dân cư chưa được khắc phục.

- Những yếu kém trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở để bảo đảm quyền làm chủ của người dân.

- Những vấn đề cụ thể khác của địa phương ảnh hưởng đến sự đồng thuận của xã hội ...

         II.  KIỂM ĐIỂM VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA NHIỆM KỲ TRƯỚC:

1. Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong nhiệm vụ xây dựng và phát triển của địa phương:

- Thực hiện đa dạng hoá các hình thức tập hợp các lực lượng nhân dân vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở địa phương, mở rộng tổ chức của thành viên, tăng thêm thành viên là tổ chức và cá nhân tiêu biểu trong Mặt trận...

- Nêu kết quả của việc tập hợp, đoàn kết lực lượng nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, người tiêu biểu trong chức sắc các tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương.

- Mặt trận các cấp đã cùng với cấp uỷ đảng và chính quyền chăm lo cuộc sống của nhân dân, nhất là các tầng lớp, các nhóm xã hội gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, những lúc thiên tai, hoạn nạn.

- Thực hiện các hoạt động nhằm phát huy dân chủ từ các cộng đồng dân cư đến toàn xã hội. Tuyên truyền, vận động nhân dân nghiêm chỉnh thực hành các quy định của pháp luật, đồng thời nêu những việc làm bênh vực quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

2. Vận động nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các các nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa phương: Nêu các kết quả cụ thể của việc vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng  các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở, đặc biệt là tham gia hai cuộc vận động lớn do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động:

- Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư": Nêu kết quả cụ thể về phương thức triển khai và kết quả thực hiện 6 nội dung của Cuộc vận động. Ở từng nội dung cần nêu rõ các phong trào của quần chúng nhân dân đã thực hiện được; những mô hình, điển hình, cá nhân, tập thể nổi bật ở địa phương.

- Cuộc vận động "Ngày vì người nghèo": Đánh giá sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân và kết quả đạt được trên các mặt: Xây dựng, quản lý và sử dụng Quỹ vì người nghèo; xây nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; các hoạt động khác của Quỹ theo quy định của quy chế ...; những đóng góp của Cuộc vận động đối với chủ trương "xoá đói, giảm nghèo" ở địa phương; những mô hình, điển hình thực hiện Cuộc vận động ...

- Nêu các phong trào, các cuộc vận động của các tổ chức thành viên đã triển khai thực hiện để huy động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân thực hiện 2 cuộc vận động của Mặt trận.

- Đánh giá về hiệu quả đóng góp của các phong trào, các cuộc vận động triển khai theo 6 nội dung của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và của các tổ chức thành viên vào việc phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng ở địa phương trong 5 năm qua: (minh hoạ bằng kết quả thực tế).

3. Tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở địa phương:

- Nêu rõ các nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động.

- Đẩy mạnh các hoạt động, các phong trào: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Các hoạt động kết nghĩa, phối hợp với lực lượng vũ trang để quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội ngay trên địa bàn dân cư.

- Nêu kết quả của Mặt trận tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội như tham gia giải quyết những việc đột xuất, phát sinh điểm nóng; những thủ đoạn thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, vấn đề về tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền để gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc ...

 4.  Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên, tổ chức nhân dân  tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị ở địa phương:

- Kết quả về tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tổ chức cho các tầng lớp nhân dân tham gia ý kiến đóng góp về sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền; giám sát về đạo đức, tác phong, năng lực làm việc của cán bộ,  đảng viên... góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, chính quyền vững mạnh, tạo ra sự gắn bó mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.

- Kết quả về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở để phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

- Kết qủa việc tham gia các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; công  tác tiếp xúc cử tri, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; động viên nhân dân thực hiện luật Phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ...

- Kết qủa hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, các hoạt động hoà giải mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ....

5. Mở rộng các hoạt động về đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế với các tổ chức, vùng, địa phương... ở các nước trên thế giới:

- Nêu kết quả hoạt động đối ngoại nhân dân của Mặt trận các cấp ở địa phương góp phần cùng với công tác đối ngoại của cấp uỷ, chính quyền, tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết hữu nghị và hợp tác quốc tế của địa phương với các vùng, miền, quốc gia trên thế giới.

6. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy; đổi mới phương thức hoạt động của Uỷ ban Mặt trận các cấp và của các Ban Công tác Mặt trận:

- Về tổ chức cán bộ: Nêu kết quả xây dựng, củng cố Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực, bộ máy chuyên trách và lực lượng tư vấn của Mặt trận các cấp. Đội ngũ cán bộ các cấp ...

-  Về hoạt động: Đánh giá việc đổi mới phương thức hoạt động, tìm ra những điểm nổi bật góp phần thắng lợi việc thực hiện Nghị quyết, chương trình hành động của Đại hội Mặt trận cấp mình nhiệm kỳ qua.

- Về tổ chức và hoạt động của Ban công tác Mặt trận khu dân cư.

     III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT, CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA NHIỆM KỲ QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

1. Về ưu điểm: (Nêu những kết quả nổi bật):

- Trong công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân;

- Trong việc phối hợp tổ chức các phong trào thi đua yêu nước;

- Trong nhiệm  vụ xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh;

- Trong nhiệm vụ phát huy dân chủ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân;

- Trong tăng cường xây dựng, củng cố về tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận các cấp.

2. Tuy nhiên, với tinh thần dân chủ, thẳng thắn, nhìn vào sự thật, Đại hội nghiêm túc nhìn nhận những tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận ở địa phương trong nhiệm kỳ qua cần phải khắc phục: (Tuỳ vào tình hình cụ thể ở địa phương để nêu cho rõ, đúng với thực thực tiễn).

 3. Nguyên nhân của những thành công và hạn chế:

-  Nguyên nhân về thành công (Tuỳ vào tình hình thực tế của địa phương để nêu rõ nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, sau đây chỉ là một số gợi ý) :

+ Công tác mặt trận không ngừng được tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng; ngày càng được sự quan tâm phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền; sự phối hợp hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân.

+ Tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương ngày càng ổn định và phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày càng giữ vững đem lại lòng tin vững chắc trong các tầng lớp nhân dân. Khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong các lực lượng vũ trang, trong cán bộ, viên chức, người lao động, đoàn kết giữa các đồng bào dân tộc, tôn giáo ... ngày càng bền vững tạo nên những thuận lợi cơ bản cho công tác vận động, tập hợp của Mặt trận.

+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Ban Công tác Mặt trận các khu dân cư đã có nhiều nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn trong việc đổi mới phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

- Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém:

+ Nhận thức về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân theo quan điểm, đường lối của Đảng có lúc, có nơi chưa được sâu sắc, không đúng, vai trò nhân dân làm chủ thông qua Mặt trận chưa được phát huy;, làm cho Mặt trận chưa làm tròn vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân.

+ Những tác động của mặt trái cơ chế thị trường; những khó khăn về kinh tế, xã hội của địa phương; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở một bộ phận cán bộ của hệ thống chính trị ... làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân, gây khó khăn cho công tác tập hợp, đoàn kết nhân dân.

+ Việc thực hiện cơ chế phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên trong UBMTTQVN các cấp cũng như giữa chính quyền với Mặt trận có lúc, có nơi chưa được chặt chẽ, kịp thời. Đặc biệt, do chưa có những quy định cụ thể, thống nhất từ Trung ương và các cấp để giải quyết những bất hợp lý về chế độ chính sách,  bảo đảm điều kiện, phương tiện làm việc của Mặt trận ở cơ sở và địa bàn dân cư mà phần lớn phải thực hiện sự vận dụng của địa phương nên trong thực hiện chưa đồng bộ và thiếu sự nhất quán.

+ Tổ chức và bộ máy của cơ quan Mặt trận các cấp chưa đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ. Cán bộ Mặt trận còn nhiều hạn chế về năng lực tổ chức, thực hiện nhiệm vụ, chưa được đầu tư đúng mức về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Sự hướng dẫn, kiểm tra của Mặt trận cấp trên chưa kịp thời, sâu sát; phương thức hoạt động của Mặt trận cơ sở chậm đổi mới, còn chung chung, chưa đáp ứng với yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới đặt ra.

4. Những bài học kinh nghiệm:

* Bài học thứ nhất:  Sự quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và thực hiện cơ chế, chính sách của chính quyền mang tính quyết định hiệu quả của công tác mặt trận ở thời kỳ mới.

Nơi nào cấp uỷ đảng lãnh đạo Mặt trận sâu sát trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về công tác mặt trận ở địa phương, là trung tâm điều hoà các mối quan hệ phối hợp giữa Thường trực HĐND, UBND, Ban Thường trực UBMTTQVN cùng cấp, đồng thời cử cán bộ có đầy đủ các tiêu chuẩn, ngang tầm với  vị trí của Mặt trận để phụ trách thì nơi đó Mặt trận thực sự có điều kiện phát huy hiệu quả về tổ chức và hoạt động.

* Bài học thứ hai:  Việc thực hiện tốt qui chế phối hợp giữa Thường trực HĐND, Lãnh đạo UBND với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQVN cùng cấp là những điều kiện quan trọng để Mặt trận hoàn thành chức năng, nhiệm vụ theo luật định. Trong cơ chế thị trường hiện nay, các phong trào, các cuộc vận động của Mặt trận ngoài việc tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện còn phải có sự phối hợp quản lý, cung cấp phương tiện, điều kiện thực hiện của chính quyền. Thực tiễn cho thấy rằng khi nào có sự  phối hợp đầy trách nhiệm giữa chính quyền với Mặt trận thì hiệu quả công tác của Mặt trận mới được phát huy đúng mức.

* Bài học thứ ba:  Bản thân Mặt trận phải không ngừng nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động, biết bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như hướng dẫn của Mặt trận cấp trên để triển khai công việc. Công tác mặt trận trước yêu cầu của nhiệm vụ mới cần khắc phục cung cách làm việc chung chung, đại khái mà phải đi vào những vấn đề, lĩnh vực cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền lợi chính đáng thiết thực của người dân.

* Bài học thứ tư: Đội ngũ làm công tác Mặt trận, bao gồm các cán bộ chuyên trách, lực lượng cộng tác viên, cán bộ tư vấn  là nhân tố quan trọng quyết định kết quả của công tác mặt trận. Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ chuyên trách của Mặt trận cũng như đầu tư xây dựng lực lượng cộng tác viên, tư  vấn có ý nghĩa chiến lược của công tác mặt trận. Đồng thời, cán bộ Mặt trận phải tự mình trau dồi đạo đức cách mạng, nhiệt tình và tâm huyết với nhiệm vụ, thường xuyên thực hiện việc tự bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ công tác mặt trận mới đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.

 

PHẦN THỨ HAI

 PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ, CHƯƠNG TRÌNH  HÀNH ĐỘNG

CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM  ... (HUYỆN, TỈNH)

NHIỆM KỲ ...

           Nêu khái quát bối cảnh, tình hình, nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa  phương trong nhiệm kỳ mới của Đại hội, trong đó nêu một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị của địa phương trong nhiệm kỳ tới để làm cơ sở xác định mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình hành động.

          Nêu khái quát những  tác động của quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới ảnh hưởng đến công tác đoàn kết, tập hợp nhân dân trong thời gian tới.

         I.  PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ:

 Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên các cấp, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương, hướng mạnh về các khu dân cư để triển khai cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"  và  cuộc  vận  động " Ngày vì người nghèo". Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ  kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh, đi đôi với phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân. Không ngừng xây dựng và củng cố về tổ chức, đổi mới hơn nữa phương thức hoạt động của mặt trận các cấp.

       II. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA NHIỆM KỲ MỚI:

1. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp, vận động nhân dân để tạo ra sự đồng thuận xã hội trên cơ sở quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thắt chặt  mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng:

Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt tư tưởng, quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ VII "Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; "Về công tác Dân tộc"; "Về công tác tôn giáo"  đến mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

UB MTTQVN các cấp ở địa phương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thành viên và các cơ quan chức năng của cấp uỷ Đảng, chính quyền thực hiện có kế hoạch việc tuyên truyền, vận động cán bộ và nhân dân hưởng ứng cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", đặc biệt là học tập, nghiên cứu, thực hành tư tưởng, quan điểm, đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trên từng lĩnh vực công tác và hoạt động của xã hội.

Lấy mục tiêu chung của dân tộc làm điểm tương đồng, tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội. Uỷ ban Mặt trận các cấp, Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư và mỗi tổ chức thành viên thông qua các phong trào, các cuộc vận động; thông qua tổ chức và hoạt động của tổ chức thành viên và cá nhân tiêu biểu; thông qua việc tổ chức Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc (18 tháng 11 hằng năm) để có các phương thức tập hợp và  nội dung hoạt động phù hợp, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên từng địa phương, đơn vị, địa bàn dân cư, để có sự  thống nhất hành động.

Tạo ra sự đồng bộ trong nhận thức về đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; sự  điều hành, quản lý của các cấp chính quyền và sự thực hiện tự giác của người dân, trên cơ sở đó, nâng cao hơn nữa mối quan hệ  gắn bó và trách nhiệm công dân với đất nước, với đại phương, góp phần làm cho Đảng, chính quỳen mạnh lên, Mặt trận mạnh lên.

 2. Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng:

 Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; nâng cao chất lượng hai cuộc vận động do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của địa phương nhằm xoá đói, giảm nghèo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Trên cơ sở đó, cần đưa ra những công việc cụ thể của Mặt trận và các tổ chức thành viên theo từng nhiệm vụ: lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các hoạt  động kinh tế, xã hội,  văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao,dân số, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, giữ gìn trật tự xã hội ...

 3. Chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đồng bộ:

Tổ chức, động viên nhân dân có những việc làm thiết thực để xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong sạch vững mạnh; tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thực sự xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân (thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền phổ biến pháp luật; xây dựng cho dân ý thức "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật"; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân về mọi mặt để phản ảnh cho Đảng, chính quyền địa phương; tổ chức tốt hơn nữa các hình thức giám sát cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử về việc thực hiện chính sách, pháp luật, giám sát cán bộ, viên chức và đảng viên ở khu dân cư về việc làm, đạo đức, lối sống v.v...).

4. Tăng cường công tác đối ngoại nhân dân.

5. Củng cố tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận các cấp và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư:

- Về Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực, bộ máy chuyên trách và lực lượng cán bộ của mặt trận các cấp, trong đó chú trọng các cán bộ chuyên trách và lực lượng cộng tác viên, tư vấn.

- Về Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư và các tổ chức như Ban Thanh tra nhân dân; Tổ tự quản, hoà giải ... ở cộng đồng dân cư.

- Về nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp và ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư cần làm thế nào cho có hiệu quả (rút ra từ thực tiễn địa phương).

- Chú ý: Mỗi nội dung của Chương trình hành động cần đề ra các chỉ tiêu, giải pháp cụ thể, mang tính khả thi để triển khai thực hiện.

 Trên đây là đề cương mang tính gợi ý, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, tỉnh căn cứ vào tình hình cụ thể ở địa phương mình để xây dựng Báo cáo của Đại hội cho chất lượng.

Về đầu trang


ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN VỀ

ĐẠI HỘI  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CÁC CẤP,

TIẾN TỚI ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VII

-----------------

          I. TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT.

1. Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt  trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc thì phải có lực lượng và có thành phần làm nòng cốt. Người chỉ rõ "Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết". Đó cũng là cơ sở  để  Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thành lập và lãnh đạo hoạt động của tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngay từ khi có Đảng đến nay.

Ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng Minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất (ngày nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam không ngừng lớn mạnh và có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, trở thành một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/9/1955 như sau: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân là vô địch, và Mặt trận dân tộc thống nhất đã nhiều lần thắng lợi.

Mặt trận Việt Minh đã giúp cách mạng tháng Tám thành công.

Mặt trận Thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi.

Chúng ta có thể tin chắc rằng: với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh."

Phát biểu tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác Mặt trận ngày 8/1/1962, Người chỉ rõ: "Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Cán bộ và Đảng viên ta cần nắm vững và chấp hành đúng Nghị quyết của Đại hội Đảng và Nghị quyết Bộ Chính trị về vấn đề Mặt trận Dân tộc thống nhất. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam."

2. Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng trong lịch sử, vị trí chiến lược của khối đại đoàn kết toàn dân trong các thời kỳ của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhiệm vụ chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay.

Trong các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu, là nhân tố có ý nghĩa quyết định, đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa việc nhận thức các vấn đề mang tính chiến lược này, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đến nay, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết nhằm tăng cường, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới, tiêu biểu là các nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; các Nghị quyết 08B/NC-TW của Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ Tám (khoá VI); Nghị quyết 07-NC/TW, ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất;  Nghị quyết 23-NC/TW, ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".

Trên cơ sở đó, Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định quan điểm của Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất như sau:

- Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

- Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

- Xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc;

- Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội;

- Sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy sức mạnh của đại đoàn kết dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị mà trước hết là trách nhiệm của Đảng. Đường lối đúng đắn của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân là yếu tố quan trọng hàng đầu để khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc;

- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng thành hoạt động thực tiễn sinh động trong cuộc sống của nhân dân;

- Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội.

          II. VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM        TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.

1. Từ khi có Đảng là có Mặt trận. Ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Mặt trận đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nước ta. Mặt trận và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nước ta tuy có vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.

Hiến pháp năm 1992 đã xác định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân...". Điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, ngày 12/6/1999 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó đã khẳng định:

"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, nơi hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh". (Khoản 2, Điều 1)

Như vậy, vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do chính nhân dân, chính lịch sử xác định và thừa nhận.

2. Thực tiễn của cách mạng Việt Nam càng khẳng định vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta từ trước đến nay:

Thắng lợi huy hoàng của cách mạng tháng 8/1945 gắn liền với sự nghiệp của Mặt trận Việt Minh. Thành tích của Mặt trận Việt Minh chính là sự kế tục sự nghiệp cách mạng đã được chuẩn bị từ trước của Hội phản đế đồng minh (1930-1936) và của Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939).

Tiếp theo Mặt trận Việt Minh là Mặt trận Liên Việt đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.

Kế tục Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời (1955) đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam đoàn kết nhân dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang: giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Từ khi đất nước thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ cách mạng mới.

Con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường với nhiều thành phần kinh tế, đại diện cho mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận trong nhân dân, một lực lượng xã hội. Cùng với sự cạnh tranh kinh tế để phát triển là sự phân hoá giầu nghèo. Nhiều tổ chức xã hội, nghề nghiệp ra đời. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ,  sự giao lưu văn hoá sẽ tác động đến lối sống và cách nghĩ của mỗi người và của mọi tầng lớp trong xã hội. Mặt khác, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Trong giai đoạn mới của cách mạng, với nền dân chủ ngày càng phát triển thì vai trò, của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày càng quan trọng, nhiệm vụ càng nặng nề hơn.

Nâng cao vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm cho sự phát triển vững chắc của đất nước ta hiện nay.

III. NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM.

Tại Khoản 1, Điều 1 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ rõ:

 "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài".

Liên minh chính trị là sự liên kết giữa các lực lượng với nhau thành một khối thống nhất để thực hiện mục tiêu chính trị chung. Mục tiêu chung đó ở mỗi giai đoạn có khác nhau phù hợp với nhiệm vụ cách mạng và lợi ích cơ bản của các lực lượng tham gia liên minh chính trị. Mục tiêu chung trong giai đoạn cách mạng hiện nay là giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nền tảng của sự liên minh trong Mặt trận là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Các thành viên trong liên minh chính trị (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) bao gồm:

Tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam;

Các tổ chức chính trị - xã hội là: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam …;

Các tổ chức xã hội: Hội Chữ thập đỏ, Hội Người cao tuổi, Hội Người mù, Hội Kế hoạch hoá gia đình, Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Y học cổ truyền Việt Nam v.v...;

Tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp: Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam ...;

Các tổ chức xã hội - nghề  nghiệp: Hội Sinh vật cảnh, Hội Châm cứu ...;

Quân đội nhân dân Việt Nam - tiền thân là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, là thành viên của Mặt trận Việt Minh, nay kế tục truyền thống đó là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

Các cá nhân tiêu biểu trong các giai tầng xã hội: nhân sĩ, trí thức, người dân tộc thiểu số, chức sắc các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài... Đó là những người có uy tín cao, có quan hệ và ảnh hưởng tốt, có sức thuyết phục đối với mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo, mỗi cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài... Thông qua những cá nhân tiêu biểu này Mặt trận Tổ quốc có thể tập hợp lôi cuốn lớp người mà họ có quan hệ và ảnh hưởng tham gia vào khối đại đoàn kết dân tộc, cùng nhau thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động chung vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được qui định trong Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:  "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức và hoạt động theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.

Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp thống nhất hành động.

 Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó hiệp thương cử ra có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam".

Các thành viên gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, tán thành điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp xem xét công nhận. Quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hợp tác, bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau để cùng thực hiện các nhiệm vụ chính trị kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại của Nhà nước và các chương trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Trong sinh hoạt, các thành viên được tự do bày tỏ chính kiến của mình, cùng nhau bàn bạc, hiệp thương dân chủ để đạt tới sự nhất trí, không dùng mệnh lệnh, áp đặt. Nếu có những ý kiến khác nhau trên những vấn đề cụ thể thì cùng nhau trao đổi, thuyết phục, giúp nhau giải quyết. Khi phối hợp và thống nhất hành động, các thành viên phải thoả thuận với nhau về chương trình hành động chung và có nghĩa vụ phối hợp giúp đỡ nhau để thực hiện chương trình hành động đã được thoả thuận, đồng thời các tổ chức thành viên của Mặt trận vẫn giữ tính độc lập của tổ chức mình.

IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ.

 1. Mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng là người lãnh đạo Mặt trận, vừa là thành viên của Mặt trận.

- Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo đối với Mặt trận bằng cách đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân; Đảng tiến hành công tác tuyên truyền vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra và bằng sự gương mẫu của đảng viên trong sinh hoạt và hoạt động của Mặt trận.

Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải ở trong Mặt trận, là một thành viên của Mặt trận.Thực tiễn lịch sử từ ngày thành lập Mặt trận đến nay đã chứng tỏ các thành viên tham gia Mặt trận đều tự giác thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

- Là thành viên, Đảng tham gia Mặt trận như mọi thành viên khác. Đảng thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ và các hoạt động của tổ chức mình trong chương trình thống nhất hành động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Đại diện cấp uỷ đảng trong Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm tham gia sinh hoạt đầy đủ, thực hiện hiệp thương dân chủ và phối hợp thống nhất hành động. Cấp uỷ đảng phải giáo dục, yêu cầu đảng viên của mình gương mẫu thực hiện chương trình hành động chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuận và tích cực tham gia công tác Mặt trận.

2. Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước:

Điều 5 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qui định:

- Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

- Quan hệ phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước được thực hiện theo Quy chế phối hợp công tác do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan nhà nước hữu quan ở từng cấp ban hành.

- Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động có hiệu quả.

Nhà nước điều hành, quản lý xã hội bằng luật pháp, nhân dân là người trực tiếp thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhà nước phải tôn trọng và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước.

Nhà nước phối hợp với Mặt trận trong việc chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, trong việc vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào hành động thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội.

3. Quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc với các tổ chức thành viên cùng cấp:

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc mỗi cấp chủ trì việc hiệp thương dân chủ giữa các thành viên để bàn bạc thực hiện những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương, của cuộc sống nhân dân, phối hợp xây dựng chương trình hành động chung và cùng nhau thực hiện chương trình thống nhất hành động đó.

V. NHIỆM VỤ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM.

 1. Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định trong Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là:

- Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân;

- Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật.

- Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các cấp uỷ đảng và các cấp chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với cử tri và nhân dân; định kỳ nghe ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với cuộc sống. Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc, Quy chế dân chủ ở từng địa phương, ngành và cơ sở, để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

- Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.

- Cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

- Tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới.

Từ nhiệm vụ chung của Mặt trận Tổ quốc nêu trên, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc từng cấp căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và tình hình cụ thể của mỗi địa phương để đề ra chương trình hành động cho Mặt trận cấp mình trong mỗi kỳ Đại hội, hay chương trình phối hợp thống nhất hành động từng năm một cách phù hợp và có tính khả thi.

2. Nhiệm vụ chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong những năm tới là: Tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố mở rộng tổ chức và hoạt động, đồng thời đổi mới và nâng cao chất lượng mọi hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tích cực, chủ động, sáng tạo, tập hợp ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường và quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững kỷ cương và ổn định xã hội, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế -xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đẩy mạnh công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.

VI. MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM QUA NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG.

1. Các tổ chức Mặt trận tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

·       Ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về thành lập Hội Phản đế đồng minh – hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Hội Phản đế đồng minh đã tuyên truyền vận động dân chúng dấy lên cao trào phản đế mạnh mẽ trong cả nước, với đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

·       Trong những năm 1936-1939 Mặt trận dân chủ Đông Dương và Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân chống đế quốc và bè lũ tay sai, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, dân quyền.

·       Ngày 19/5/1941 Mặt trận Việt Minh ra đời đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, thu hút mọi giới đồng bào yêu nước, tạo thành cao trào đánh Pháp - đuổi Nhật và là một nhân tố quyết định đưa cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

·       Ngày 29/5/1946 Mặt trận Liên Việt đã mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Liên Việt đã cùng với Việt minh huy động sức mạnh của nhân dân làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng còn non trẻ và đối phó có hiệu quả với thù trong, giặc ngoài, để vượt qua thử thách trước tình thế cách mạng và vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc.

·       Ngày 3/3/1951 Mặt trận Việt minh và Mặt trận Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt đã động viên sức mạnh toàn dân, toàn quân tập trung sức người, sức của đẩy mạnh cuộc kháng chiến với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến” làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi.

·       Thời kỳ 1955-1975, cả nước làm hai nhiệm vụ chiến lược, ba tổ chức Mặt trận – Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955), Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960), Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam (20/4/1968) – cùng nhau phối hợp chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, tập hợp và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

* Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến đã từng là: Hội trưởng danh dự Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt 5/1946); Chủ tịch danh dự Mặt trận Liên Việt (3.1951); Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955).

* Cụ Huỳnh Thúc Kháng là Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt 5/1946).

* Cụ Tôn Đức Thắng là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (3.1951); Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (10/9/1955); Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (4/1977).

* Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960).

* Luật sư Trịnh Đình Thảo là Chủ tịch Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam (20/4/1968).

2. Sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975), để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ cách mạng mới, các tổ chức Mặt trận của 2 miền đất nước thống nhất thành Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam. Kể từ đó đến nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã qua 6 kỳ đại hội:

1. Đại hội lần thứ I (1977):

Đại hội họp từ ngày 31 tháng 01 đến 04 tháng 02 năm 1977 tại Hội trường Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh, hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đại hội đã hiệp thương, giới thiệu 191 vị tham gia Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đoàn Chủ tịch gồm 45 vị, Ban thư ký gồm 7 vị.

Chủ tịch danh dự: Cụ Tôn Đức Thắng

Chủ tịch : Cụ Hoàng Quốc Việt

2. Đại hội lần thứ II (1983):

Đại hội họp từ ngày 12 tháng 5 đến ngày 14 tháng 5 năm 1983 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Chương trình hành động của Đại hội là hướng mọi hoạt động của Mặt trận đi vào thiết thực, hướng về cơ sở, tới địa bàn dân cư.

Đại hội cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá II gồm 184 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 45 vị, Ban thư ký gồm 8 vị.

Chủ tịch danh dự: Cụ Hoàng Quốc Việt

Chủ tịch: Kiến trúc sư ­ Huỳnh Tấn Phát

Tổng thư ký: Ông Nguyễn Văn Tiến

3. Đại hội lần thứ III (1988):

Đại hội họp từ ngày 02 tháng 11đến ngày 04 tháng 11 năm 1988 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Đây là Đại hội biểu dương lực lượng to lớn của toàn dân đoàn kết một lòng tiến hành công cuộc đổi mới.

Đại hội đã cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá III gồm 166 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 30 vị, Ban Thư ký gồm 6 vị.

Chủ tịch danh dự: Cụ Hoàng Quốc Việt

Chủ tịch : Luật sư Nguyễn Hữu Thọ

Phó Chủ tịch : Luật sư Phan Anh

Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký: Ông Phạm Văn Kiết

4. Đại hội lần thứ IV (1994):

Đại hội họp từ ngày 17 tháng 8 đến ngày 19 tháng 8 năm 1994 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có hơn 600 đại biểu đại diện cho các giai cấp và tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, các thành phần kinh tế ở trong nước và đồng bào Việt Nam sống ở nước ngoài. Đại hội đã long trọng công bố chương trình 12 điểm "Đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước". Đó là chương trình thể hiện ý nguyện của toàn Đảng, toàn dân quyết tâm chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại hội đã cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá IV gồm: 206 vị. Trong đó Đoàn Chủ tịch gồm 40 vị, Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch gồm 7 vị.

Chủ tịch danh dự: Ông Nguyễn Hữu Thọ

Chủ tịch : Ông Lê Quang Đạo

Tổng Thư ký: Ông Trần Văn Đăng

5. Đại hội lần thứ V (1999):

Đại hội họp từ ngày 26 tháng 8 đến ngày 28 tháng 8 năm 1999 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 621 đại biểu đại diện cho các tổ chức thành viên, các địa phương, các dân tộc, tôn giáo, thành phần kinh tế, người Việt Nam định cư tại nước ngoài và các đoàn đại biểu nước ngoài gồm: Mặt trận xây dựng đất nước Lào, Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trungquốc, Uỷ ban bảo vệ Cách mạng Cu ba, Mặt trận đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cam-Pu-Chia, Hiệp hội đoàn kết và phát triển liên bang Mianma.

Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 5 là cột mốc quan trọng đánh dấu việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, là Đại hội  "Phát huy tinh thần yêu nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".

Đại hội đã cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá V gồm 253 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 45 vị. Ban Thường trực gồm 9 vị.

Chủ tich: Ông Phạm Thế Duyệt

Tổng Thư ký: Ông Trần Văn Đăng

6. Đại hội lần thứ VI (2004):

Đại hội họp từ ngày 21 tháng 9 đến ngày 23 tháng 9 năm 2004 tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 878 đại biểu, gồm các Uỷ viên Uỷ ban Trung ương khoá 5, đại diện các tổ chức thành viên, các địa phương, các dân tộc, tôn giáo, thành phần kinh tế, người Việt Nam định cư tại nước ngoài và các đoàn đại biểu nước ngoài gồm: Mặt trận Lào xây dựng và bảo vệ đất nước, Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung quốc, Uỷ ban bảo vệ Cách mạng Cu Ba, Mặt trận Đoàn kết xây dựng và Bảo vệ tổ quốc Cam-Pu-Chia.

Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VI là đại hội đầu tiên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước ta, đánh dấu một thời kỳ phát triển quan trọng của dân tộc ta: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, là Đại hội "Phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đại hội đã cử ra Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI gồm 320 vị, Đoàn Chủ tịch gồm 52 vị. Ban Thường trực gồm 8 vị

Chủ tịch: Ông Phạm Thế Duyệt

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký: Ông Huỳnh Đảm

Các vị Phó Chủ tịch: Ông Lê Truyền; Ông Đỗ Duy Thường; Ông Cư Hoà Vần; Bà Hoàng Xuân Sính; Hoà thượng Thích Trí Tịnh; Linh mục Huỳnh Tấn Khoá; Ông Phạm Lợi; Ông Trần Thành Long.

* Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VI họp tại Hà Nội từ ngày 07 tháng 01 đến ngày 09 tháng 01 năm 2008 đã hiệp thương cử các chức danh Chủ tịch và Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký mới như sau:

Chủ tịch: Ông Huỳnh Đảm thay ông Phạm Thế Duyệt nghỉ hưu theo chế độ.

Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký: Ông Vũ Trọng Kim thay ông Huỳnh Đảm đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch.

VII. NHỮNG KẾT QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VI:

1. Tiếp tục củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên không ngừng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện có kết quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc; đa dạng hoá các hình thức vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

2. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng các cuộc vận động lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:  Uỷ ban MTTQ các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực: phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ an ninh Tổ quốc… góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kinh tế, xã hội ở các cấp.  Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư " và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; làm tốt các công tác "Đền ơn đáp nghĩa", " uống nước nhớ nguồn", phát huy tình tương thân, tương ái trong các tầng lớp nhân dân..

3. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền các cấp vững mạnh bằng việc chủ động tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Phối hợp với các tổ chức thành viên và cơ quan dân cử giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước, về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và cải cách hành chính. Tổ chức tốt việc thực hiện thí điểm "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ cán bộ công chức, đảng viên ở khu dân cư"; nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; triển khai Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn; tăng cường hoạt động của Ban thanh tra nhân dân.

Công tác tham gia xây dựng luật và các văn bản pháp quy ngày càng có hiệu quả.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật góp phần nâng cao hiểu biết, chấp hành pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, trong hội viên, đoàn viên.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tích cực, chủ động tham gia công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII góp phần đảm bảo các cuộc bầu cử diễn ra đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội xây dưụng chính quyền của cử tri và nhân dân cả nước.   

4. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân: Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam, Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố và các tổ chức thành viên tiếp tục mở rộng và đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân với nhiều hình thức phong phú để tăng cường, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước có quan hệ truyền thống, các nước láng giềng, các tổ chức tương ứng; mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, góp phần thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; tạo thêm nguồn lực để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo.

Các tỉnh có đường biên giới, Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên phối hợp với các ngành có liên quan tiếp tục vận động nhân dân tham gia xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác.

5. Tăng cường tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ, hướng mạnh về cơ sở, khu dân cư. Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên tiếp tục kiện toàn tổ chức, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, phối hợp với các cấp chính quyền từng bước tháo gỡ khó khăn về điều kiện hoạt động. Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư tiếp tục được củng cố, kiện toàn, nhiều nơi hoạt động ngày càng hiệu quả; vị trí, vai trò ngày càng được phát huy, làm nòng cốt trong việc vận động nhân dân thực hiện các phong trào, các cuộc vận động ở địa bàn dân cư.  Mối quan hệ phối hợp công tác giữa Đoàn Chủ tịch Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam với Chủ tịch Nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ; giữa Ban Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam với các tổ chức thành viên, các bộ, ngành ở TW; giữa Uỷ ban MTTQ các cấp với HĐND, UBND, các ngành chức năng và các tổ chức thành viên ở địa phương ngày càng thường xuyên, chặt chẽ và đạt kết quả.

Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Uỷ ban MTTQ nhiều tỉnh, thành phố tiếp tục quan tâm kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các Hội đồng tư vấn, đội ngũ cộng tác viên và phát huy vai trò của các cá nhân tiêu biểu trên một số lĩnh vực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Uỷ ban MTTQ ở mỗi cấp.

VIII. NỘI DUNG, THỜI GIAN ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ VII:  

1. Ý nghĩa, mục đích và yêu cầu của Đại hội Mặt trận các cấp:

Quá trình tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân;

Là quá trình nâng cao nhận thức, hành động cách mạng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, đường lối chiến lược của Đảng về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương đã đề ra;

Tiếp tục củng cố, tăng cường và xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xứng đáng là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị; là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân.

Việc tổ chức Đại hội phải được chuẩn bị chu đáo, phát huy dân chủ, trang trọng, thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm.

2. Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tiến hành những nội dung, công việc sau đây:

 - Với chủ đề của Đại hội: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đại hội Mặt trận các cấp sẽ tiến hành đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ qua, xây dựng chương trình thống nhất hành động cho nhiệm kỳ mới và tham gia góp ý kiến vào các văn kiện dự thảo của Đại hội Mặt trận cấp trên với các nội dung sau:

Đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở cấp mình, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; biểu dương những nhân tố mới, những cách làm hay và phát hiện kịp thời những xu hướng, những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết trong nhiệm kỳ mới.

Bám sát vào nhiệm vụ chính trị của từng cấp theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương để xây dựng Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới với các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể; có nội dung phong phú, thiết thực; có giải pháp đúng và gắn liền với đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời, thể hiện rõ vai trò của Mặt trận trong việc thực hiện đa dạng hoá các hình thức tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh các cuộc vận động xã hội, các phong trào thi đua yêu nước rộng khắp và có hiệu quả; đẩy mạnh phát huy dân chủ bằng việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở các cấp; nắm bắt và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị đúng đắn của các tầng lớp nhân dân; chăm lo bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; hướng mạnh về cơ sở, khu dân cư; coi trọng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động để Mặt trận các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí của mình trong thời kỳ nước ta thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với nền kinh tế thế giới.   

Đại hội Mặt trận các cấp sẽ đóng góp ý kiến vào các văn kiện dự thảo của Đại hội Mặt trận cấp trên và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để Đại hội lần thứ VII của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xem xét quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới đặt ra.

- Hiệp thương cử ra Uỷ ban Mặt trận và cơ quan lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc cấp mình:  Việc chuẩn bị nhân sự của Uỷ ban Mặt trận các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu, thành phần theo quy định của Điều lệ Mặt trận; coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện đầy đủ các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận cấp mình trong tình hình mới; tăng số uỷ viên Uỷ ban Mặt trận  là người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu ở Trung ương là trên 50%, ở các cấp địa phương là trên 30%). Trên cơ sở đó, số lượng ủy viên Ủy ban Mặt trận các cấp ở địa phương như sau:

+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, phường, thị trấn: Từ 30 đến 45 vị, nơi có điều kiện có thể nhiều hơn.

+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp quận, huyện: Từ 45 đến 65 vị, nơi có điều kiện có thể nhiều hơn.

+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, thành phố: Từ 65 đến 90 vị (riêng đối với thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa:  120 vị trở lên.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan Mặt trận các cấp theo hướng tinh gọn, đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, có chất lượng và có cơ cấu phù hợp, đồng thời, coi trọng việc mở rộng và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ hưu trí, cán bộ không chuyên trách, lực lượng cộng tác viên thông qua hoạt động của các tổ chức tư vấn. Các cấp uỷ đảng cử đồng chí Uỷ viên Thường vụ cấp uỷ làm bí thư Đảng đoàn (ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và giới thiệu để Đại hội bầu vào Uỷ ban Mặt trận và Uỷ ban Mặt trận bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

- Hiệp thương cử đoàn đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận cấp trên trực tiếp.

3. Thời gian tiến hành Đại hội Mặt trận các cấp:

- Đại hội Mặt trận cấp xã, phường, thị trấn: Quý II và quý III năm 2008.

- Đại hội Mặt trận cấp huyện, quận: Quý IV năm 2008 và quý I năm 2009.

- Đại hội Mặt trận cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW: Quý I và quý II năm 2009.

- Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII : Quý III năm 2009.

IX. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA VÀ CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN HƯỚNG VỀ ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CÁC CẤP NHƯ THẾ NÀO?:

1. Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân với những nội dung như sau:

-  Quán triệt và đánh giá kết quả việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay ở cấp mình.

-  Khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị  nước ta từ khi mới thành lập đến nay, đặc biệt là giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới, công  nghiệp hóa, hiện đại hóa  đất nước và hội nhập kinh tế thế giới.

 Nêu bật những yêu cầu và  nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức phối hợp của Nhà nước đối  với  Mặt trận Tổ quốc Việt  Nam;  phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần nghị quyết Đại hội X và nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa X) của Đảng. Trên cơ sở đó, cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận các cấp xem xét lại những việc đã làm được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để tiếp tục thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

-  Kiểm điểm kết quả thực hiện vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  các cấp trong việc vận động, tập hợp,  xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tại địa phương, đơn vị, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết của Người, về vai trò của Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhân dân ngày càng vững mạnh.

-  Đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư  và cuộc vận động Ngày vì người nghèo. Phát động các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các công trình về  kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn dân cư và ở các địa phương, đơn vị để thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2008) và lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận của từng cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

-  Đóng góp trí tuệ, tham gia xây dựng dự thảo báo cáo chính trị và cơ cấu nhân sự Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới của Đại hội Mặt trận cấp mình, dự thảo văn kiện Đại hội Mặt trận cấp trên và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sửa đổi (nêu có).

 Đợt sinh hoạt chính trị được triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa bàn dân cư, gắn với kế hoạch tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và được tổng kết vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2009).

2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đại hội Mặt trận các cấp:

*  Chủ đề tuyên truyền: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

-  Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham mưu cấp uỷ và phối hợp với Ban Tuyên giáo cấp ủy, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp và các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương thường xuyên tổ chức các hình thức tuyên truyền phù hợp để kịp thời phản ánh các nội dung và phương thức sinh hoạt chính trị sinh động, các phong trào thi đua có hiệu quả  ở cơ sở, cơ quan, đơn vị, từng khu dân cư; các sự kiện trước, trong và sau Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII;

Phối hợp chặt chẽ với Đài Phát thanh, Đài Truyền hình, Báo của tỉnh, thành phố mở các chuyên mục tuyên truyền từ khi tiến hành Đại hội Mặt trận cấp xã tới Đại hội Mặt trận cấp huyện, cấp tỉnh và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII; vận động các cơ quan báo chí tích cực tham gia: Giải báo chí Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc

Phát huy lực lượng tuyên truyền viên, báo cáo viên trong việc tổ chức các hình thức tuyên truyền miệng như các buổi nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ, báo cáo trong hội nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên, các buổi sinh hoạt của nhân dân ở khu dân cư...

Tùy điều kiện cụ thể của từng tổ chức, địa phương, đơn vị, có thể tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về các kỳ đại hội của Mặt trận địa phương và Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Coi trọng cả công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.

3. Phát động phong trào thi đua yêu nước kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2008) và lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp:

- Trên cơ sở 6 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” để phát động các phong trào thi đua thực hiện có hiệu quả, đạt nhiều thắng lợi cụ thể trên từng lĩnh vực, nội dung, được thể hiện qua mỗi công trình, mỗi việc làm của các chương trình mục tiêu quốc gia đang triển khai thực hiện ở mỗi địa bàn dân cư, mỗi địa phương, mỗi cơ quan, đơn vị, cụ thể:

Xây dựng các công trình chào mừng Đại hội Mặt trận các cấp: Lựa chọn các công trình kinh tế, xã hội thiết thực, phù hợp với khả năng thực hiện ở địa bàn dân cư như: Xây nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; xử lý các vụ việc cụ thể đem lại quyền và lợi ích hợp pháp, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân trên địa bàn;  phấn đấu xây dựng khu dân cư tiên tiến, làng văn hóa, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa...

- Đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng thực hiện cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, trong đó tập trung vào các nội dung:

Vận động xây dựng Qũy vì người nghèo, xây dựng nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền vững;

 Phối hợp với các cấp các ngành chức năng đẩy mạnh chương trình làm nhà ở cho hộ nghèo và vận động các doanh nghiệp thực hiện thư kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ về việc giúp đỡ xây dựng nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo. Mỗi địa bàn dân cư, mỗi cấp thi đua phấn đấu sớm xóa xong nhà dột nát cho hộ nghèo để cùng với cả nước hoàn thành cơ bản xoá nhà dột nát cho hộ nghèo vào năm 2009.

-  Thi đua thực hiện có hiệu qủa Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở gắn liền với việc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm; giám sát có hiệu quả cán bộ, đảng viên ở khu dân cư. Mỗi địa bàn dân cư, mỗi địa phương có cách làm hay, sáng tạo để vừa lắng nghe được ý kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, đồng thời bênh vực được quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người dân khi bị vi phạm.

 

BAN TUYÊN HUẤN 

ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM

Về đầu trang


PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM, TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG ... (XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN)VĂN MINH, GIÀU ĐẸP

(Đề cương báo cáo tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn)

---------------

      * Mở đầu: Nêu khái quát bối cảnh, tình hình kinh tế, xã hội và điều kiện xây dựng khối đoàn kết toàn dân của địa phương trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN)  cấp mình ở nhiệm kỳ trước.

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH  ĐỘNG CỦA  MTTQ VIỆT NAM  XÃ (PHƯỜNG, THỊ TRẤN)... TRONG NHIỆM KỲ QUA

I. TÌNH HÌNH CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN VÀ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC.

      1. Đánh giá mặt tích cực của tình hình các tầng lớp nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương: Những chuyển biến về số lượng, chất lượng, các mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể..., trong đó tập trung vào các lực lượng:

-  Công nhân; nông dân; trí thức; thanh thiếu nhi; phụ nữ; cựu chiến binh; người cao tuổi; đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng bào là tín đồ các tôn giáo; đồng bào ở địa phương đang sinh sống và làm việc ở các tỉnh trong nước và nước ngoài...

- Khẳng định sự vui mừng, phấn khởi của nhân dân trước những kết quả đạt được của quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng ... từ những chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và công tác vận động, tập hợp xây dựng khối đoàn kết toàn dân của Mặt trận và  các tổ chức thành viên.

- Đại hội nhiệt liệt biểu dương các giai cấp, các tầng lớp nhân dân ở địa phương trong năm năm qua đã chung sức, chung lòng xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước.

2. Nêu lên những băn khoăn, lo lắng của các tầng lớp nhân dân trước nhiệm vụ phát triển của địa phương và của đất nước:

- Vấn đề tăng trưởng  kinh tế chưa đi đôi với yêu cầu phát triển xã hội ...

- Sự thiếu đồng đều về chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí, mức hưởng thụ các thành quả của kinh tế, xã hội  trong các tầng lớp nhân dân ở các địa bàn dân cư.

- Những yếu kém trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở để bảo đảm quyền làm chủ của người dân.

- Những vấn để khác của địa phương ...

II.  ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG:

1. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa phương: Nêu các kết quả cụ thể của việc thu hút các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và tham gia các cuộc vận động, các phong trào ở cơ sở, đặc biệt là tham gia hai cuộc vận động lớn do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động:

1.1 Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư": Nêu kết quả cụ thể về phương thức triển khai và kết quả thực hiện 6 nội dung của Cuộc vận động. Ở từng nội dung cần nêu rõ các phong trào của quần chúng nhân dân đã thực hiện được; những mô hình, điển hình, cá nhân, tập thể nổi bật ở địa phương.

1.2 Cuộc vận động "Ngày vì người nghèo": Đánh giá sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân và kết quả đạt được trên các mặt: Xây dựng, quản lý và sử dụng Quỹ vì người nghèo; xây nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; các hoạt động khác của Quỹ theo quy định của quy chế...; những đóng góp của Cuộc vận động đối với chủ trương xoá đói, giảm nghèo ở địa phương; những mô hình, điển hình thực hiện Cuộc vận động...

1.3 Nêu các phong trào, các cuộc vận động của các tổ chức thành viên đã triển khai thực hiện để huy động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân thực hiện 2 cuộc vận động của Mặt trận.

1.4 Đánh giá về hiệu quả đóng góp của các phong trào, các cuộc vận động triển khai theo 6 nội dung của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và của các tổ chức thành viên vào việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương trong năm năm qua: (lấy kết quả về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương để minh hoạ).

 1.5. Nêu kết quả của việc tập hợp, đoàn kết đồng bào tín đồ các tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa bàn dân cư.

2.  Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị ở địa phương:

- Kết quả về tuyên truyền các chủ trương, đường lối,  chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tổ chức cho các tầng lớp nhân dân tham gia  ý kiến đóng góp về sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền; giám sát về đạo đức, tác phong, năng lực làm việc của cán bộ,  đảng viên... góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, chính quyền vững mạnh, tạo ra sự gắn bó mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.

- Kết qủa việc tham gia các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; công  tác tiếp xúc cử tri, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; động viên nhân dân thực hiện luật Phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ...

- Kết qủa hoạt động của ban Thanh tra nhân dân, ban Giám sát đầu tư cộng đồng ....

3. Củng cố  tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động của Uỷ ban Mặt trận và của các Ban Công tác Mặt trận:

- Về tổ chức và hoạt động Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Viêt Nam xã (phường, thị trấn) theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VI) và theo Nghị quyết, chương trình thống nhất hành động của Đại hội Mặt trận cấp mình nhiệm kỳ qua.

- Về tổ chức và hoạt động của Ban công tác Mặt trận khu dân cư.

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT, CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG CỦA NHIỆM KỲ QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

1. Về ưu điểm: (Nêu những kết quả nổi bật)

2. Tuy nhiên, với tinh thần thẳng thắn, dân chủ, cầu tiến bộ, Đại hội nghiêm túc nhìn nhận những tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận ở địa phương trong nhiệm kỳ qua cần phải khắc phục: (tuỳ vào tình hình cụ thể ở địa phương để nêu cho rõ, đúng với thực thực tiễn).

 3. Nguyên nhân của những thành công và hạn chế:

3.1. Nguyên nhân về thành công:

Công tác Mặt trận không ngừng được tăng cuờng sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng; ngày càng được sự quan tâm phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền; sự phối hợp hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng tich cực của các tầng lớp nhân dân.

Ủy ban MTTQVN xã (phường, thị trấn) và ban Công tác Mặt trận các khu dân cư đã có nhiều nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn trong việc đổi mới phương thức tập hợp, nội dung hoạt động để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương ngày càng ổn định và phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày càng giữ vững đem lại lòng tin vững chắc trong các tầng lớp nhân dân. Khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong các lực lượng vũ trang, trong cán bộ, viên chức, người lao động, đoàn kết giữa các đồng bào dân tộc ngày càng bền vững tạo nên những thuận lợi cơ bản cho công tác vận động, tập hợp của Mặt trận.

3.2. Nguyên nhân của  những yếu kém trong công tác Mặt trận nhiệm kỳ qua như sau:

 Nhận thức về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân theo quan điểm, đường lối của Đảng có lúc, có nơi chưa được sâu sắc dẫn đến việc thực hiện cơ chế Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thông qua Mặt trận chưa được nhịp nhàng.

Việc thực hiện cơ chế phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên trong UBMTTQVN các cấp cũng như giữa chính quyền với Mặt trận có lúc, có nơi chưa được chặt chẽ, kịp thời. Đặc biệt, do chưa có những quy định cụ thể, thống nhất từ Trung ương và các cấp về chế độ chính sách,  bảo đảm điều kiện, phương tiện làm việc của Mặt trận ở cơ sở và địa bàn dân cư mà phần lớn phải thực hiện sự vận dụng của địa phương nên trong thực hiện chưa được đồng bộ và thiếu hợp lý.

  Về phía chủ quan, cán bộ Mặt trận còn nhiều hạn chế về năng lực tổ chức, thực hiện nhiệm vụ, chưa được đầu tư đúng mức nên trong thực hiện nhiệm vụ còn nhiều lúng túng. Sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của Mặt trận cấp trên chưa được kịp thời, sâu sát; phương thức hoạt động của Mặt trận cơ sở chậm được đổi mới, còn chung chung, chưa có tính kế hoạch cụ thể....

4. Những bài học kinh nghiệm:

* Bài học thứ nhất:  Sự quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc trong khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng mang tính quyết định hiệu quả của công tác mặt trận ở thời kỳ cách mạng mới. Cấp uỷ Đảng lãnh đạo công tác Mặt trận ngoài việc chỉ đạo, tổ chức  thực hiện có hiệu quả các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về công tác mặt trận ở địa phương còn cần cử cán bộ có đầy đủ các tiêu chuẩn, ngang tầm với  vị trí của Mặt trận để phụ trách. Đồng thời cấp uỷ Đảng là trung tâm điều hoà các mối quan hệ phối hợp giữa Thường trực HĐND, UBND, Ban Thường trực UBMTTQVN cùng cấp.

* Bài học thứ hai:  Việc thực hiện tốt qui chế phối hợp giữa Thường trực HĐND, Lãnh đạo UBND với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQVN xã (phường, thị trấn) là những điều kiện quan trọng để Mặt trận hoàn thành chức năng, nhiệm vụ theo luật định. Trong cơ chế thị trường hiện nay, các phong trào, các cuộc vận động của Mặt trận ngoài việc tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện còn phải có sự phối hợp quản lý, cung cấp phương tiện, điều kiện thực hiện của chính quyền. Thực tiễn cho thấy rằng khi nào có sự  phối hợp đầy trách nhiệm giữa chính quyền với Mặt trận thì hiệu quả công tác của Mặt trận mới được phát huy đúng mức.

* Bài học thứ ba:  Bản thân Mặt trận phải không ngừng nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động, biết bám sát chương trình, kế hoạch kinh tế, xã hội của địa phương cũng như hướng dẫn của Mặt trận cấp trên để triển khai công việc. Công tác mặt trận trước yêu cầu của nhiệm vụ mới cần khắc phục cung cách làm việc chung chung, đại khái mà phải đi vào những vấn đề, lĩnh vực cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của mỗi người dân.

* Bài học thứ tư: Đội ngũ làm công tác Mặt trận, bao gồm các cán bộ chuyên trách, lực lượng cộng tác viên, cán bộ tư vấn  là nhân tố quan trọng quyết định kết quả của công tác Mặt trận. Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ chuyên trách của Mặt trận xã (phường, thị trấn), chăm lo đội ngũ cán bộ Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư  cũng như đầu tư xây dựng lực lượng cộng tác viên, tư  vấn cho công tác mặt trận có ý nghĩa chiến lược của công tác Mặt trận. Đồng thời cán bộ Mặt trận xã và khu dân cư phải tự mình trao dồi đạo đức cách mạng, nhiệt tình và tâm huyết với nhiệm vụ, thường xuyên thực hiện việc tự bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ công tác Mặt trận mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

PHẦN THỨ HAI

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ, CHƯƠNG TRÌNH  THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM  XÃ (PHƯỜNG, THỊ TRẤN) ... NHIỆM KỲ ... (2008 - 2013)

* Nêu khái quát bối cảnh, tình hình của địa  phương trong nhiệm kỳ mới của Đại hội, trong đó nêu một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị của xã (phường, thị trấn) trong nhiệm kỳ tới để làm cơ sở xác định mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình hành động.

I.  MỤC TIÊU,  NHIỆM VỤ, CHỈ TIÊU PHẤN ĐẤU:

 * Mục tiêu, nhiệm vụ:

Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong xã (phường, thị trấn); đổi mới hơn nữa phương thức tập hợp, nội dung hoạt động, hướng mạnh về các khu dân cư để triển khai cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động " Ngày vì người nghèo". Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ  kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội để xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh, đi đôi với phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân.

* Các chỉ tiêu cụ thể thực hiện công tác Mặt trận của xã (phường, thị trấn) trong nhiệm kỳ mới: (Tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương để xác dịnh các chỉ tiêu phấn đấu, sau đây là một số gợi ý):

- 100 % khu dân cư triển khai thực hiện đầy đủ 6 nội dung của cuộc vận động " Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ";

- Hằng năm có 100 % khu dân cư tổ chức "Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc" ; 100% gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa không vi phạm các quy định của hương ước, quy ước; trên …. % khu dân cư đạt tiên tiến;

- 100 % khu dân cư triển khai cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"  từng hộ gia đình;

- Trên 90 % Ban Công tác Mặt trận hoạt động khá trở lên; không còn Ban Công tác Mặt trận yếu kém;

- ……

II. CHƯƠNG TRÌNH THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG:

1. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp, vận động nhân dân để tạo ra sự đồng thuận xã hội trên cơ sở quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thắt chặt  mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa các tầng lớp nhân dân với hệ thống chính trị:

Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt tư tưởng, quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ VII "Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; "Về công tác Dân tộc"; "Về công tác tôn giáo"  đến mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. UB MTTQVN các cấp phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thành viên và các cơ quan chức năng của cấp uỷ Đảng, chính quyền thực hiện có kế hoạch việc tuyên truyền, vận động cán bộ và nhân dân học tập, nghiên cứu, thực hành tư tưởng, quan điểm, đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trên từng lĩnh vực công tác và hoạt động của xã hội.

Lấy mục tiêu  Đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Mặt trận. Mỗi tổ chức thành viên thông qua các phương thức tập hợp và  nội dung hoạt động làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên từng địa phương, đơn vị, địa bàn dân cư để có sự  thống nhất hành động. Tạo ra sự đồng bộ trong nhận thức về đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; sự  điều hành, quản lý của các cấp chính quyền và sự thực hiện tự giác của người dân, trên cơ sở đó, nâng cao hơn nữa sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân với cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức trong hệ thống chính trị, tạo ra sự đồng thuận thực sự trong xã hội vì sự phát triển của quê hương.

 2. Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng:

 Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; nâng cao chất lượng hai cuộc vận động do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của địa phương nhằm xoá đói, giảm nghèo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Trên cơ sở đó, cần đưa ra những công việc cụ thể của Mặt trận và các tổ chức thành viên theo từng nhiệm vụ: Trên lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các hoạt  động kinh tế (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ,văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao,dân số, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, trật tự xã hội …).

3. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đồng bộ:

Tổ chức, động viên nhân dân có những việc làm thiết thực để xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong sạch vững mạnh; tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thực sự xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân (thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền phổ biến pháp luật; xây dựng cho dân ý thức "Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật"; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân về mọi mặt để phản ảnh cho Đảng, chính quyền địa phương; tổ chức tốt hơn các hình thức giám sát cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử về việc thực hiện chính sách, pháp luật, giám sát cán bộ, viên chức và đảng viên ở khu dân cư về việc làm, đạo đức, lối sống v.v...).

4. Tăng cường công tác quan tâm vận động đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào là tín đồ các tôn giáo, đồng bào của địa phương đang làm việc các nơi trong nước và ở nước ngoài cùng với  hoạt động đối ngoại nhân dân.

5. Củng cố tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận xã (phường, thị trấn) và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư:

* Mỗi nội dung của Chương trình hành động cần đề ra các giải pháp cụ thể và khả thi để đạt được các nục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra ở trên.

**************

Trên đây là đề cương mang tính gợi ý. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, tỉnh hướng dẫn Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các xã (phường, thị trấn) căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương mình để xây dựng Báo cáo của Đại hội.

Về đầu trang


BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG                                           ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

      -----------¯------------                                                                    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

          Số: 18-CT/TW                                                            Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2007

           

CHỈ THỊ

CỦA BAN BÍ THƯ

Về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

 

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII sẽ tổ chức vào cuối quý III năm 2009. Đây là sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trong bối cảnh nước ta đanh tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, công cuộc đổi mới ngày càng toàn diện, đi vào chiều sâu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng rộng mở, với nhiều thời cơ và thách thức mới. Trong bối cảnh đó, yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa rất quan trọng, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi vững chắc của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quá trình tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, là quá trình nâng cao nhận thức, hành động cách mạng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, đường lối chiến lược của Đảng về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) đã đề ra.

Để tiếp tục củng cố, tăng cường và xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xứng đáng là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ và tổ chức đảng tập trung chỉ đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, cụ thể cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

1- Chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chuẩn bị và tiến hành đại hội đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất.

- Về báo cáo tổng kết nhiệm kỳ: Cần đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; chú ý biểu dương những nhân tố mới, những cách làm hay và phát hiện kịp thời những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết trong nhiệm kỳ mới.

- Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới cần bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các nghị quyết của Trung ương, nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, giải pháp đúng đắn, gắn liền với đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận ở từng cấp. Chương trình hành động phải thể hiện rõ vai trò của Mặt trận trong việc thực hiện đa dạng hoá các hình thức tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước rộng khắp và có hiệu quả; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở các cấp; nắm bắt và phản ánh kịp thời tâm tư nguyện vọng, kiến nghị đúng đắn, chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng hệ thống chính trị; hướng mạnh về cơ sở, khu dân cư. Coi trọng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động để Mặt trận các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí của mình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế.

- Đại hội Mặt trận các cấp cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; để Đại hội toàn quốc xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu, tình hình, nhiệm vụ mới.

- Việc chuẩn bị nhân sự Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu thành phần theo quy định của Điều lệ Mặt trận, coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài; có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình; tăng số uỷ viên là người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu ở Trung ương là trên 50%, ở các cấp đia phương là trên 30%) để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực sự là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất, là hình ảnh tiêu biểu nhất cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở mỗi cấp và trên phạm vi toàn quốc.

- Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan Mặt trận các cấp theo hướng tinh gọn, đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp. Đồng thời coi trọng việc mở rộng và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ không chuyên trách, lực lượng cộng tác viên, thông qua hoạt động của các tổ chức tư vấn.

Các cấp uỷ Đảng phân công đồng chí uỷ viên thường vụ cấp uỷ làm Bí thư Đảng đoàn Mặt trận và giới thiệu để đại hội bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

2- Coi trọng công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với kiều bào; về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị ở nước ta; đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.

3- Đảng đoàn Quốc hội chủ trì, phối hợp với Ban cán sự Đảng Chính phủ và Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng hoàn thiện luật pháp và các văn bản pháp quy của Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.

4- Các cấp uỷ đảng chỉ đạo việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung những quy định về chế độ, chính sách để phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực hoạt động của cán bộ Mặt trận các cấp; chỉ đạo các cấp chính quyền, các đoàn thể phối hợp và tạo mọi điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tổ chức tốt đại hội.

5- Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với Ban Dân vận Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Ban cán sự Đảng Chính phủ giúp Ban Bí thư theo dõi và tổ chức thực hiện Chỉ thị này; định kỳ báo cáo Ban Bí thư.

Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ Đảngq

T/M BAN BÍ THƯ

TRƯƠNG TẤN SANG 

Về đầu trang


       UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                                                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                                   Độc lp – T do – Hnh phúc

           ***                                          -----------------------------------

       BAN THƯỜNG TRỰC                                         Hà Ni, ngày 6  tháng 12  năm 2007

      Số: 149/TB-MTTW-BTT

      THÔNG BÁO

Ý kiến chỉ đạo Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội VII MTTQ Việt Nam của Ban Bí thư Trung ương Đảng

Ngày 07 tháng 11 năm 2007, Ban Bí thư đã nghe Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo việc chuẩn bị tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo nhiệm kỳ 2009 - 2014.

Đồng chí Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì buổi họp.

Sau khi nghe đại diện Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo về việc tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban Bí thư đã cho ý kiến chỉ đạo:

1. Ban Bí thư nhất trí việc Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ động chuẩn bị việc tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp và tổ chức Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào quý III năm 2009. Để chuẩn bị chu đáo cho Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần tập trung chỉ đạo tốt việc tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp như dự kiến:

- Đại hội Mặt trận cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) từ quý II đến quý III năm 2008;

- Đại hội Mặt trận cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) từ quý IV năm 2008 đến quý I năm 2009;

- Đại hội Mặt trận cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) từ quý I đến quý II năm 2009;

2. Để tạo ra sự đồng bộ trong việc chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng đối với Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Bí thư đã ban hành chỉ thị với những nội dung chính như sau:

- Quá trình tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tổng kết, đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết toàn dân, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; chú ý biểu dương những nhân tố mới, những cách làm hay và phát hiện kịp thời những xu hướng, những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết trong nhiệm kỳ mới. Đánh giá kết quả thực hiện vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được xác định tại Đại hội lần thứ X của Đảng, tập trung vào những nhiệm vụ: Tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội...

- Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới cần bám sát vào nhiệm vụ chính trị của từng cấp theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương để thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể; có nội dung phong phú, thiết thực; có giải pháp đúng; nhấn mạnh việc đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận theo tinh thần hiệu quả, thiết thực, hướng mạnh về cơ sở, khắc phục bệnh hành chính, phô trương, hình thức để Mặt trận các cấp thực hiện tốt vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình trong thời kỳ nước ta thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với nền kinh tế thế giới.

Theo đó, Đại hội Mặt trận các cấp cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, để Đại hội toàn quốc xem xét quyết định việc sửa đổi bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới đặt ra.

- Việc chuẩn bị nhân sự của Uỷ ban Mặt trận các cấp phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu, thành phần theo quy định của Điều lệ Mặt trận; coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện đầy đủ các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận cấp mình trong tình hình và nhiệm vụ mới; tăng số uỷ viên Uỷ ban Mặt trận là người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu ở Trung ương là trên 50%, ở các cấp địa phương là trên 30%) để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp thực sự là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất là hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở mỗi cấp và toàn quốc.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan Mặt trận các cấp theo hướng tinh gọn, đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, có chất lượng và có cơ cấu phù hợp, đồng thời, coi trọng việc mở rộng và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ hưu trí, cán bộ không chuyên trách, lực lượng cộng tác viên thông qua tổ chức và hoạt động của các tổ chức tư vấn.

Các cấp uỷ Đảng cử đồng chí Uỷ viên Thường vụ cấp uỷ làm Bí thư Đảng đoàn và giới thiệu để Đại hội bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

- Coi trọng công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về chính sách đại đoàn kết, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách kiều bào; về tổ chức, hoạt động thực tiễn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị ở nước ta; đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.

- Ban Bí thư cũng yêu cầu các cấp uỷ Đảng và đảng đoàn các cấp phối hợp chỉ đạo hoàn thiện các văn bản pháp quy của Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sửa đổi, bổ sung một số điều cần thiết của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phù hợp với Nghị quyết Đại hội X của Đảng trong thời kỳ mới: Rà soát đề nghị bổ sung những quy định về chế độ, chính sách còn chưa hợp lý để phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực hoạt động của cán bộ Mặt trận các cấp; phối hợp và tạo mọi điều kiện để Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức tốt Đại hội.

3. Trên cơ sở Chỉ thị của Ban Bí thư, Ban Thường trực sẽ chuẩn bị kế hoạch báo cáo Đoàn Chủ tịch và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có Nghị quyết để tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp có kết quả.

Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xin thông báo nhanh những nội dung theo chỉ thị của Ban Bí thư để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động có kế hoạch đại hội để báo cáo cấp uỷ Đảng và chính quyền chỉ đạo phối hợp tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp ở địa phương có kết quảq

TM. BAN THƯỜNG TRỰC

UỶ BAN TRUNG ƯƠNG

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Chủ tịch

Phạm Thế Duyệt

Về đầu trang


     UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                               Độc lp – T do – Hnh phúc

       Số : 09/NQ-MTTW                                                              ----------------------------------

                                                                                                                       Ngày 9 tháng 01 năm 2008

 

NGHỊ QUYẾT
Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam (khóa VI)
về tổ chức Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp và
 Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII

*

Thực hiện Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở Kế hoạch tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ban Thường trực trình bày, Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam (khóa VI) họp từ ngày 07/01/2008 đến ngày 09/01/2008, tại
thủ đô Hà Nội, thống nhất quyết nghị:

1. Về tổ chức Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp

Giao cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp thu ý kiến của Hội nghị để hoàn chỉnh Kế hoạch tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp và hướng dẫn triển khai thực hiện.

2. Về tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII

- Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII vào quý III năm 2009.

- Căn cứ vào Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại hội sẽ:

+ Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động do
Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VI đề ra, xây dựng Nghị quyết và Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VII (nhiệm kỳ 2009 - 2014).

+ Bổ sung, sửa đổi Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI.

+ Hiệp thương cử Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VII. 

3. Giao cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

 - Thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

     - Chỉ đạo các tiểu ban chuẩn bị Đại hội sớm hoàn thành các dự thảo
văn kiện để xin ý kiến của Đại hội Mặt trận các cấp, các tổ chức thành viên và lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân để bổ sung, hoàn chỉnh các báo cáo trình Hội nghị lần thứ sáu Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VI) vào đầu năm 2009.

- Chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

- Chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

TM. UỶ BAN TRUNG ƯƠNG

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

CHỦ TỊCH

HUỲNH ĐẢM

Về đầu trang


CHƯƠNG TRÌNH PHỐI HỢP VÀ THỐNG NHẤT

HÀNH ĐỘNG CỦA MTTQ VIỆT NAM NĂM 2008

Năm 2008 là năm "bản lề" thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội 5 năm (2006- 2010), năm kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2008), năm tổ chức Đại hội MTTQ các cấp từ cơ sở, tiến tới Đại hội lần thứ VII MTTQ Việt Nam vào năm 2009, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực của toàn xã hội.

Nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên là không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2008; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trong sạch, vững mạnh; tăng cường đoàn kết quốc tế và tổ chức thành công Đại hội MTTQ các cấp..., với các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

1. Chuẩn bị và tổ chức tốt Đại hội MTTQ các cấp, tiến tới Đại hội VII MTTQ Việt Nam

Trên tinh thần không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên quán triệt Chỉ thị số 18, ngày 22/11/2007, của Ban Bí thư TW Đảng về lãnh đạo Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII nhằm tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, nâng cao nhận thức, hành động cách mạng của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đường lối chiến lược của Đảng về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò của MTTQ Việt Nam trong tình hình mới.

Quá trình chuẩn bị nội dung Đại hội cần phát huy trí tuệ của Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên, nhằm đánh giá đúng tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tổng kết những bài học kinh nghiệm, những điển hình tốt, những nhân tố mới; đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể; có giải pháp đồng bộ để thực hiện có hiệu quả.

Công tác nhân sự của Uỷ ban MTTQ cần được thật sự coi trọng, đổi mới nội dung và phương pháp chuẩn bị; căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu, thành phần theo quy định của Điều lệ Mặt trận; coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện đầy đủ các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài và người ngoài Đảng; đồng thời, có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận cấp mình trong tình hình mới.

2. Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức tập hợp, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc

- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền và thực hiện Nghị quyết Đại hội X và các Nghị quyết Trung ương Đảng khoá X; chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về Đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới; đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các cuộc vận đông… Qua đó, tập hợp và phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, góp sức cùng Đảng, Nhà nước tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Qua việc phối hợp thực hiện các chính sách liên quan đến công nhân, nông dân, nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài để củng cố và tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất và Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư (18/11).

3. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nâng cao chất lượng các cuộc vận động

- Kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2008), Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên có chương trình hành động đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước phù hợp với địa phương, tổ chức mình; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội năm 2008, lập thành tích thiết thực chào mừng Đại hội MTTQ các cấp tiến tới Đại hội VII MTTQ Việt Nam.

- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"; quan tâm đưa các chương trình, mục tiêu quốc gia, các cuộc vận động của các tổ chức thành viên, nhất là xây dựng xã hội học tập, bảo vệ môi trường… vào nội dung cuộc vận động.

- Đẩy mạnh cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, tập trung làm nhà đại đoàn kết cho người nghèo; phối hợp với các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt Chương trình 134, chăm lo cho đồng bào các dân tộc thiểu số; phối hợp với các cấp chính quyền vận động các doanh nghiệp thực hiện thư của Thủ tướng Chính phủ, góp phần xây dựng nhà đại đoàn kết cho người nghèo. Đồng thời, cần quan tâm phối hợp chăm lo công ăn việc làm, học hành, khám chữa bệnh cho người nghèo.

- Tiếp tục phối hợp với các cơ quan Nhà nước, vận động các tầng lớp nhân dân, đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với nước; giúpđỡ các nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật và trẻ mồ côi.

4. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

- Uỷ ban MTTQ các cấp, các tổ chức thành viên chủ động tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật, nhất là những vấn đề liên quan đến nông dân, công nhân, trí thức và đông đảo các tầng lớp nhân dân. Khẩn trương chuẩn bị dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật MTTQ Việt Nam để trình Quốc hội sớm thông qua; tiếp tục kiến nghị và giúp Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về giám sát và phản biện xã hội của MTTQ, các đoàn thể và nhân dân theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng và chủ động đề xuất với các cơ quan Nhà nước sớm thể chế hoá để thực hiện.

- Uỷ ban MTTQ phối hợp với các tổ chức thành viên và các cơ quan dân cử (Quốc hội, HĐND) có chương trình cụ thể để giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước, nhất là về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và cải cách hành chính…; sơ kết việc làm điểm thực hiện Quy chế "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức và đảng viên ở khu dân cư"; triển khai Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; tăng cường giám sát đầu tư cộng động; tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân

- Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử; tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh tại các kỳ họp Quốc hội, HĐND các cấp; cùng Quốc hội, HĐND phối hợp giám sát việc giải quyết kiến nghị đó. Làm tốt công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đôn đốc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết dứt điểm những vụ khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp ở địa phương; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

5. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân

- Trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên tiếp tục triển khai đề án đối ngoại nhân dân của MTTQ Việt Nam; tăng cường phối hợp với các cơ quan Nhà nước đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

- Tăng cường đoàn kết quốc tế, tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ hữu nghị với các nước, các tổ chức có quan hệ truyền thống và mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức khác vì hoà bình, hợp tác, cùng phát triển.

- Tiếp tục triển khai công tác vận động nhân dân các tỉnh có đường biên giới xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị với Lào, Trung Quốc, Campuchia. Tạo điều kiện và phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hiệp Quốc năm 2008 tại Hà Nội.

6. Tiếp tục củng cố kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động

- Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách của Mặt trận và các tổ chức thành viên, chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; trong quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp cần coi trọng việc bố trí cán bộ chủ chốt đúng tầm, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

- Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên, nhất là cấp cơ sở và Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư, làm cho phạm vi, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận ngày càng được mở rộng và nâng cao.

- Phát huy vai trò của các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp. Đổi mới phương thức trao đổi và tăng cường thông tin giữa các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các Hội đồng tư vấn với Ban Thường trực. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hội đồng tư vấn và đội ngũ tư vấn, cộng tác viên của Mặt trận.

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả phối hợp công tác với các cơ quan Nhà nước, thực hiện tốt các quy chế phối hợp công tác, các văn bản liên tịch đã ký kết nhằm thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam. Đối với Trung ương, Đoàn Chủ tịch nâng cao chất lượng hiệu quả công tác với Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính Phủ để kịp thời giải quyết những vấn đề đặt ra cho công tác Mặt trận trong tình hình mới.

- Nâng cao chất lượng thông tin, báo cáo; đổi mới công tác thi đua-khen thưởng trong hệ thống Mặt trận; đồng thời, đẩy mạnh phối hợp và phát huy vai trò các cơ quan báo chí trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc.

 BAN THƯỜNG TRỰC

     ỦY BAN TƯMTTQ VIỆT NAM

Về đầu trang


      UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

   MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                               Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

     BAN THƯỜNG TRỰC                                                     ------------------------------------------------

     Số:  257 /KH/MTTW                                                  Hà Nội, ngày  17  tháng 3  năm 2008

           

KẾ HOẠCH

Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền Đại hội Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

 

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban  Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  (khóa VI) Về tổ chức Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII;
Thực hiện Chỉ thị số 18/CT-TW,  ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hướng dẫn số 31, ngày 07/3/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương về Triển khai đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII;

 Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng Kế hoạch tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp  tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:

1. Thông qua đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền, góp phần làm cho hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ về nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và trách nhiệm của hệ thống chính trị về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để thực hiện thắng lợi  mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 Động viên các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của Mặt trận, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở cơ sở để chào mừng Đại hội Mặt trận các cấp.

2. Đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền về Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống Mặt trận phải được triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa bàn dân cư, gắn với kế hoạch tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; coi trọng cả công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.

II. NỘI DUNG:

1. Về tổ chức đợt sinh hoạt chính trị:

- Đánh giá kết quả việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

- Khẳng định  vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị  nước ta từ khi mới thành lập đến nay, đặc biệt là giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới, công  nghiệp hóa, hiện đại hóa  đất nước và hội nhập kinh tế thế giới. Nêu bật những yêu cầu và  nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức phối hợp  của  Nhà nước  đối  với  Mặt trận Tổ quốc Việt  Nam;  phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần nghị quyết Đại hội X và nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 (khóa X) của Đảng. Trên cơ sở đó, Mặt trận các cấp xem xét lại những việc đã làm được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao vị thế, vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Kiểm điểm kết quả thực hiện vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  các cấp trong việc vận động, tập hợp,  xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tại địa phương, đơn vị, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết của Người, về vai trò của Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhân dân ngày càng vững mạnh.

- Đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư  và cuộc vận động Ngày vì người nghèo. Phát động các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các công trình về  kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn dân cư và ở các địa phương, đơn vị để thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc và  lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận của từng cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Đóng góp ý kiến, tham gia xây dựng dự thảo báo cáo chính trị và cơ cấu nhân sự Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới của Đại hội Mặt trận cấp mình, dự thảo văn kiện Đại hội Mặt trận cấp trên và Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sửa đổi (nêu có).

2. Về tuyên truyền đại hội Mặt trận các cấp:

-  Chủ đề tuyên truyền: Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi vững chắc của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,  thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.

- Nội dung tuyên truyền:

Những quan điểm, chủ trương của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất; lịch sử, truyền thống và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; những kết quả về việc thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nghị định 50/CP của Chính phủ và các văn bản pháp quy liên quan đến vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Quá trình chuẩn bị  và tổ chức Đại hội Mặt trận các cấp: Nêu bật những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, những vấn đề đặt ra để tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của Mặt trận ở địa phương trong nhiệm kỳ mới; những tập thể, cá nhân tiên tiến, những bài học kinh  nghiệm qua phong trào thi đua yêu nước, các phong trào của Mặt trận trên các lĩnh vực khác nhau ở địa phương, cơ sở, đặc biệt là 2 cuộc vận động:  Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư  và   Ngày vì người nghèo, những kết quả cụ thể về thực hiện xoá nhà dột nát cho người nghèo, phấn đấu giảm hộ nghèo ở các địa phương.

Về kết quả Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, tham gia xây dựng chính sách pháp luật, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công tác giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư; phối hợp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Mặt trận và các tổ chức thành viên thực hiện giám sát và phản biện xã hội; công tác đối ngoại nhân dân, vận động tôn giáo, dân tộc...

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  phối hợp với  Ban Tuyên giáo Trung ương  thực hiện các công việc như sau:

-  Xây dựng văn bản hướng dẫn nội dung và kế hoạch triển khai việc tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

- Biên soạn tài liệu phục vụ đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền  phát hành đến Ban Công tác Mặt trận khu dân cư.

- Tổ chức hội nghị báo cáo viên ở 3 khu vực và tổ chức họp báo để giới thiệu Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, sơ, tổng kết việc thực hiện theo nội dung hướng dẫn và kế hoạch thời gian dự kiến.

2. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với Ban Tuyên giáo cấp ủy, các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp và các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương có kế hoạch cụ thể tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền các nội dung nêu trên ở cấp mình; thường xuyên tổ chức các hình thức tuyên truyền phù hợp để kịp thời phản ánh các nội dung và phương thức sinh hoạt chính trị sinh động, có hiệu quả  ở cơ sở, cơ quan, đơn vị, từng khu dân cư; các sự kiện trước, trong và sau Đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

Phối hợp chặt chẽ với Đài Phát thanh, Đài Truyền hình, Báo của tỉnh, thành phố mở các chuyên mục tuyên truyền từ khi tiến hành Đại hội Mặt trận cấp xã tới Đại hội Mặt trận cấp huyện, cấp tỉnh và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

Phát huy lực lượng tuyên truyền viên, báo cáo viên trong việc tổ chức các hình thức tuyên truyền miệng như các buổi nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ, báo cáo trong hội nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên, các buổi sinh hoạt của nhân dân ở khu dân cư...

Tùy điều kiện cụ thể của từng tổ chức, địa phương, đơn vị, có thể tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về các kỳ đại hội của Mặt trận địa phương và Đại hội của MTTQ Việt Nam.

3.  Đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền được triển khai sâu rộng trong hệ thống Mặt trận và các tổ chức thành viên từ Trung ương đến địa bàn khu dân cư với kế hoạch thời gian như sau:

-  Từ  Quý II  năm 2008 đến hết Quý II năm 2009, ứng với thời gian tổ chức Đại hội Mặt trận cấp xã,  cấp huyện và cấp tỉnh:

Xây dựng kế hoạch và triển khai các hình thức sinh hoạt trong Ủy ban Mặt trận và các tổ chức thành viên cùng cấp, cùng với sinh hoạt của tổ chức đảng (từ chi bộ trở lên), sinh hoạt cơ quan, công đoàn, các đoàn thể, các hội quần chúng và khu dân cư với các nội dung nêu trên, gắn với quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận từ cấp xã đến cấp tỉnh.

Tập trung tuyên  truyền các hình thức và nội dung sinh hoạt chính trị, công việc chuẩn bị và quá trình diễn ra Đại hội Mặt trận các cấp; phản ánh kết quả cụ thể của Đại hội Mặt trận từ cấp xã đến cấp tỉnh.

 Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận các cấp tổ chức sơ kết đợt sinh họat chính trị và tuyên truyền về Đại hội Mặt trận từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh,  rút kinh nghiệm để triển khai đợt sinh hoạt chính trị chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

- Từ Quý II năm 2009 đến Quý IV năm 2009: Ứng với thời gian kết thúc đại hội Mặt trận cấp tỉnh và triển khai  Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII:

Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức sơ  kết đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ cơ sở đến tỉnh, tiếp tục triển khai đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền về Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tiếp tục phát động các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nhiều công trình chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .

Tổ chức sơ kết 3 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  gắn với chuẩn bị nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá VII và kết quả phấn đấu thực hiện nghị quyết của Đại hội X của Đảng. Kết quả thực hiện Cuộc vận động trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên sẽ là sản phẩm cụ thể góp phần chuẩn bị Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tổ chức mít - tinh và các hoạt động chào mừng thành công của Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuyên truyền về kết quả của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

-  Tổng kết đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận các cấp và  Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII: Tổ chức vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2009).

4. Một số điểm cần lưu ý:

- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham mưu với cấp ủy và phối hợp với chính quyền cùng cấp thực hiện tốt nội dung Kế hoạch này.

- Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chỉ đạo Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư phối hợp, tổ chức vận động nhân dân làm vệ sinh đường làng, ngõ xóm, ngõ phố, treo cờ Tổ quốc, pa nô, áp phích, khẩu hiệu chào mừng...  trong quá trình diễn ra Đại hội Mặt trận các cấp.

- Đối với việc xây dựng các công trình chào mừng Đại hội Mặt trận các cấp: Lựa chọn các công trình kinh tế, xã hội thiết thực, phù hợp với khả năng thực hiện ở địa bàn dân cư như: Xây nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; xử lý các vụ việc cụ thể đem lại quyền và lợi ích hợp pháp, phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân trên địa bàn;  phấn đấu xây dựng khu dân cư tiên tiến, làng văn hóa, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa... Khi sơ tổng kết cần nêu được việc làm, công trình cụ thể, mô hình tốt, cách làm hay, không báo cáo chung chung.

- Coi trọng cả công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách kiều bào; về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị ở nước ta; đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch.

Trên cơ sở Hướng dẫn số 31, ngày 07/3/2008  của Ban Tuyên giáo Trung ương và Kế hoạch này, Ban Thường trực Uỷ ban  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện ở cấp mình, báo cáo kết quả thực hiện theo định kỳ thời gian về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Tuyên huấn, số 46 Tràng Thi, Hà Nội; Điện thoại: 04 8257447; 04 9287401) để kịp thời theo dõi, tổng hợp.

 

                                                            T/M. BAN THƯỜNG TRỰC

  * Nơi nhận:                             UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM

- CT và PCT UBTƯMTTQVN (để báo cáo);                         UỶ VIÊN

- BTT UBMTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;                                                             

- Các tổ chức thành viên;

- Ban Tuyên giáo TƯ;                                                 (Đã ký)

- Ban Dân vận TƯ;                                                 Lê Bá Trình

- Các Đ/C trong Ban TT UBTƯMTTQVN;

- Các ban, đơn vị thuộc CQ UBTƯMTTQVN;

- Lưu: V.P, TH.

Về đầu trang


Về đầu trang


ỦY BAN TRUNG ƯƠNG                    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

           ------------------------                                                              

        BAN THƯỜNG TRỰC                Hà Nội, ngày 04  tháng 4  năm 2008

          Số:  32  /TT - MTTW

THÔNG TRI

 Hướng dẫn Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh

tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Thực hiện Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI; thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 22 tháng 11 năm 2007 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn việc tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh tiến tới Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII như sau:

 

 I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

1. Quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh tiến tới Đại hội lần thứ VII của MTTQ Việt Nam là tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của MTTQ Việt Nam lần thứ VII.

2. Đánh giá kết quả hoạt động trong nhiệm kỳ vừa qua, xây dựng chương trình phối hợp thống nhất hành động cho nhiệm kỳ tới nhằm góp phần tích cực thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp mình và chương trình phối hợp thống nhất hành động của Uỷ ban MTTQ các cấp. Đồng thời tham gia góp ý kiến vào các văn kiện dự thảo của Đại hội cấp trên.

3. Hiệp thương cử ra Uỷ ban Mặt trận và cơ quan lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc cấp mình; cử đoàn đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận cấp trên trực tiếp.

4. Việc tổ chức Đại hội phải được chuẩn bị chu đáo, phát huy dân chủ, trang trọng, thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm.

 

II- VỀ CÁC NỘI DUNG CỦA ĐẠI HỘI

1- Về xây dựng nội dung báo cáo

1.1. Đánh giá tổng kết nhiệm kỳ

 - Trong nội dung tổng kết nhiệm kỳ, cần đánh giá về tình hình của các tầng lớp nhân dân ở địa phương, kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ vừa qua, nêu rõ những mặt làm được, chưa làm được, nguyên nhân và kinh nghiệm. Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thiết thực để thực hiện trong nhiệm kỳ tới. Cụ thể tập trung kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện các nội dung sau:

+ Đánh giá tình hình các tầng lớp nhân dân ở địa phương.

+ Kết quả việc đa dạng hoá tập hợp các tầng lớp nhân dân, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

+ Việc tuyên truyền, động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới. Tập trung đánh giá kết quả thực hiện 6 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và kết quả cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”.

+ Công tác Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền (Kết quả tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện pháp luật, công tác hiệp thương bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp, tổ chức tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến kiến nghị của cử tri, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, việc vận động nhân dân giám sát cán bộ công chức, cán bộ dân cử, công tác thanh tra nhân dân, công tác hoà giải và giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân ở địa phương...)

+ Việc tổ chức thực hiện các hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế.

+ Kết quả công tác tổ chức và đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam.

- Đánh giá chung: (những ưu điểm, tồn tại, nguyên nhân và kinh nghiệm)

1.2. Xây dựng chương trình hành động cho nhiệm kỳ tới.

- Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới cần bám sát vào nhiệm vụ chính trị của cấp uỷ Đảng các địa phương và chương trình hành động của Mặt trận cấp trên, nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp thực hiện gắn với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam ở từng cấp theo các nội dung cơ bản sau:

 + Đa dạng hoá các hình thức tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

+ Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc trong thời kỳ mới, nhất là nâng cao chất lượng 2 cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”.

+ Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cùng cấp góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

+ Mở rộng và tăng cường hoạt động đối ngoại nhân dân.

+ Kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên để Mặt trận thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí của mình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Kiểm điểm hoạt động của Uỷ ban Mặt trận nhiệm kỳ qua (hoặc xây dựng thành báo cáo riêng)  

2. Về thảo luận các dự thảo báo cáo.

- Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp triệu tập Đại hội gợi ý những vấn đề trọng tâm trong báo cáo chính trị của Đại hội cấp mình để các thành viên và đại biểu Đại hội nghiên cứu thảo luận. Tổ chức thảo luận trước Đại hội và tại Đại hội cần tách riêng thành 2 phần:

+ Đóng góp ý kiến văn kiện của Đại hội cấp mình.

+ Đóng góp ý kiến văn kiện của Đại hội cấp trên trực tiếp và sửa đổi, bổ sung Điều lệ MTTQ Việt Nam khoá VI.

- Việc tổ chức thảo luận các dự thảo văn kiện cần được tiến hành dân chủ, thu hút được sự tham gia của các tổ chức thành viên, cán bộ Mặt trận đương nhiệm; các đồng chí lão thành cách mạng và các đồng chí cán bộ Mặt trận trong các thời kỳ; các nhà khoa học và lãnh đạo quản lý...

- Phần thảo luận các dự thảo văn kiện tại Đại hội cần xác định những vấn đề trọng tâm, trình bày ngắn gọn những vấn đề đặt ra, nhất là những đề xuất, kiến nghị về nội dung và giải pháp thực hiện.

- Việc thảo luận các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của MTTQ Việt Nam sẽ thực hiện theo hướng dẫn riêng của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

3. Về việc chuẩn bị nhân sự Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh nhiệm kỳ mới

3.1. Tiêu chuẩn Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh.

- Trung thành với Tổ quốc, tán thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và nhiệm vụ của tổ chức MTTQ Việt Nam. Có năng lực, kinh nghiệm tập hợp, đoàn kết nhân dân và tự nguyện tham gia làm Uỷ viên Uỷ ban MTTQ các cấp.

- Chấp hành Hiến pháp, các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ MTTQ Việt Nam.

- Có tín nhiệm trong một tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp hoặc một tầng lớp nhân dân mà mình hoạt động, công tác, cư trú...

- Đủ sức khoẻ, có kiến thức và khả năng đóng góp ý kiến với cấp ủy Đảng, chính quyền và Mặt trận các cấp trong việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

3.2.  Cơ cấu thành phần Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh:

Cơ cấu thành phần Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện theo quy định tại điều 22 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ, tình hình thực tế của từng địa phương, coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực. Mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam. Tăng số Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận là người ngoài Đảng hơn khoá trước (phấn đấu đạt trên 30%) để Uỷ ban MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh thực sự là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất, là hình ảnh tiêu biểu nhất cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở các địa phương.

3.3. Số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh.

Thực hiện khoản 2, điều 8 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn số lượng Uỷ viên Uỷ ban MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh như sau:

- Đối với Uỷ ban MTTQ cấp huyện: Số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận từ 45 đến 65 người. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện có số lượng từ 3 - 7 người, gồm các chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Uỷ viên Thường trực.

- Đối với Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh: Số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận từ 65 đến 90 người. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh có số lượng 7 đến 11 người gồm các chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Uỷ viên Thường trực. (Riêng Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Nghệ An có thể cơ cấu số lượng Uỷ viên Uỷ ban tối đa 120 người, Uỷ viên Thường trực tối đa 13 người).

* Lưu ý: - Thực hiện điều 1, chương I và khoản 1, điều 22, chương IV, Điều lệ MTTQ Việt Nam đề nghị mời tổ chức Đảng và Quân đội ở các địa phương cử người đứng đầu hoặc đại diện lãnh đạo tham gia Uỷ ban MTTQ Việt Nam cùng cấp.

- Thực hiện khoản 2, điều 25, chương IV, Điều lệ MTTQ Việt Nam, Uỷ ban MTTQ từ cấp huyện trở lên có thể cử một số Phó Chủ tịch không chuyên trách.

3.4. Số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã:

- Thực hiện khoản 1, điều 24, chương IV, Điều lệ MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn bổ sung như sau:

+ Căn cứ vào điều kiện cụ thể của một số xã, phường, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh báo cáo Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và hướng dẫn số lượng Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã có thể ít hơn quy định của Thông tri hướng dẫn số 28-/TT-MTTW ngày 14/02/2008 song phải đảm bảo cơ cấu, thành phần Uỷ ban theo quy định của Điều lệ.

+ Đối với những phường có nhiều Ban Công tác Mặt trận thì chỉ lựa chọn một số Trưởng Ban Công tác Mặt trận tham gia Uỷ ban MTTQ cấp phường.

3.5. Quy trình giới thiệu người tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh.

          - Đối với thành phần đại diện của tổ chức thành viên cùng cấp và Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực tiếp:

+ Người đứng đầu các tổ chức thành viên và Chủ tịch Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực tiếp hiện đang là Uỷ viên Uỷ ban MTTQ khóa đương nhiệm, nếu đến thời điểm Đại hội mà chưa thay đổi thì Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội lập danh sách dự kiến nhân sự để giới thiệu vào Uỷ ban MTTQ khóa mới và thông báo cho tổ chức thành viên cùng cấp và Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực tiếp biết.

+ Sau khi nhận được thông báo, nếu đề nghị tiếp tục hoặc thay thế người khác thì các tổ chức thành viên và Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực tiếp có văn bản gửi đến Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội báo cáo và ghi tên vào danh sách chính thức để Đại hội hiệp thương cử vào Uỷ ban MTTQ khóa mới.

 - Đối với cá nhân tiêu biểu ở các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của MTTQ các cấp:

+ Đối với cá nhân tiêu biểu của khóa đương nhiệm:

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội cần rà soát lại những vị là cá nhân tiêu biểu và chuyên gia của khóa đương nhiệm để đề xuất ai tiếp tục, ai không tiếp tục tham gia khóa mới, lý do vì sao. Sau đó trao đổi với các tổ chức, cơ quan, đơn vị đang quản lý các cá nhân tiêu biểu và chuyên gia để xin ý kiến. Người được giới thiệu để tiếp tục tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới phải được tổ chức, cơ quan, đơn vị quản lý nhân sự đồng ý và bản thân các vị đó tự nguyện tiếp tục tham gia mới lập danh sách trình Đại hội hiệp thương cử vào Uỷ ban MTTQ khóa mới.

+ Đối với các cá nhân tiêu biểu chưa tham gia Uỷ ban MTTQ khóa đương nhiệm:

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ khóa đương nhiệm phát hiện và giới thiệu nhân sự, đồng thời liên hệ với Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên, các cơ quan, các tổ chức có liên quan đến hoạt động của Mặt trận và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực tiếp để cùng phát hiện và giới thiệu nhân sự mới. Tiến hành phối hợp với các cơ quan quản lý cán bộ của địa phương xem xét và thống nhất danh sách trình ra Đại hội hiệp thương cử vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới. Người được giới thiệu để đưa vào danh sách hiệp thương phải được tổ chức, cơ quan, đơn vị đang trực tiếp quản lý nhân sự đồng tình và bản thân các vị đó tự nguyện tham gia.

+ Đối với cán bộ chuyên trách tại cơ quan Uỷ ban MTTQ:

 Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội phối hợp với cơ quan quản lý cán bộ cùng cấp tổ chức cho cán bộ, công chức cơ quan Mặt trận tiến hành giới thiệu để lập danh sách nhân sự (kể cả số cán bộ chuyên trách đang là Uỷ viên và Ban Thường trực khóa đương nhiệm).

Trên cơ sở quy hoạch, đánh giá cán bộ và tham khảo ý kiến tín nhiệm của cán bộ, công chức cơ quan, tập thể Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội phối hợp cùng cơ quan quản lý cán bộ trao đổi và thống nhất về danh sách nhân sự để Đại hội hiệp thương cử vào Uỷ ban MTTQ cấp mình nhiệm kỳ mới.

3.6. Quy trình hiệp thương cử các chức danh lãnh đạo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh.

Thực hiện điều 9, chương II, Điều lệ MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn việc cử các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực của Uỷ ban MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh như sau:

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc Uỷ viên Thường trực khóa trước triệu tập hội nghị và là chủ tọa Hội nghị lần thứ nhất Uỷ ban MTTQ các cấp ở địa phương khóa mới để cử Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới.

+ Chủ tọa hội nghị giới thiệu nhân sự dự kiến là Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới.

+ Hội nghị trao đổi và hiệp thương cử Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới.

+ Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới chủ trì Hội nghị và trình bày dự kiến danh sách các Phó Chủ tịch chuyên trách và không chuyên trách (nếu có) theo dự kiến chuẩn bị của Ban Thường trực khóa trước.

+ Hội nghị trao đổi và hiệp thương cử các Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam khóa mới.

+ Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới chủ trì hội nghị và trình bày dự kiến danh sách Uỷ viên Thường trực khóa mới theo dự kiến chuẩn bị của Ban Thường trực khóa trước.

+ Hội nghị trao đổi và hiệp thương cử các Uỷ viên Thường trực Uỷ ban MTTQ khóa mới.

+ Chủ tịch Uỷ ban MTTQ khóa mới công bố danh sách Ban Thường trực đã được cử hoặc bầu ở trên.

3.7. Về một số tiêu chuẩn của Chủ tịch MTTQ nhiệm kỳ mới:

- Căn cứ hướng dẫn số 14-HD/BTCTW ngày 29/02/2008 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn như sau:

+ Đối với những vị Chủ tịch MTTQ mới tham gia lần đầu cần đảm bảo độ tuổi để có thể tham gia ít nhất một nhiệm kỳ.

+ Đối với những vị Chủ tịch MTTQ đương nhiệm có đủ, điều kiện, tiêu chuẩn và còn tuổi để công tác ít nhất 2/3 nhiệm kỳ khoá mới thì tiếp tục giới thiệu bầu làm Chủ tịch MTTQ khoá mới cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu.

4. Về cơ cấu thành phần và số lượng đại biểu tham dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh

Thực hiện khoản 4, điều 7, Điều lệ MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn cơ cấu thành phần, số lượng đại biểu của Đại hội MTTQ Việt Nam cấp huyện, cấp tỉnh như sau:

 4.1. Cơ cấu thành phần đại biểu của Đại hội MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh.

- Đại biểu của Đại hội MTTQ Việt Nam cấp huyện, cấp tỉnh phải là những người đủ tiêu chuẩn, tiêu biểu, có tín nhiệm và có khả năng đóng góp ý kiến vào những quyết định của Đại hội, không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên. Cơ cấu thành phần đại biểu chính thức của Đại hội gồm:

+ Các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ đương nhiệm của cấp tổ chức Đại hội.

+ Đại biểu phân bổ cho MTTQ cấp dưới trực tiếp và các tổ chức thành viên cùng cấp.

+ Các cá nhân tiêu biểu được Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội giới thiệu làm đại biểu để hiệp thương cử vào Uỷ ban Mặt trận khóa mới.

+ Một số cán bộ chuyên trách cơ quan MTTQ cấp tổ chức Đại hội.

4.2. Về số lượng đại biểu của Đại hội Mặt trận cấp huyện, cấp tỉnh.

- Đại hội MTTQ cấp huyện: Từ 120 - 200 đại biểu.

 - Đại hội MTTQ cấp tỉnh: Từ 200 - 300 đại biểu.

4.3. Về khách mời của Đại hội Mặt trận cấp huyện, cấp tỉnh.

 Tùy tình hình cụ thể của từng địa phương để quyết định số lượng khách mời cho phù hợp. Khách mời của Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh thường có các thành phần sau:

Đại diện Ban Thường trực MTTQ cấp trên, đại diện của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, một số đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị có quan hệ công tác thường xuyên với Uỷ ban MTTQ cùng cấp; đại diện các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình liệt sĩ, lão thành cách mạng... của địa phương; một số vị trong Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ chuyên trách của cấp mình các nhiệm kỳ trước; đại biểu là Uỷ viên Uỷ ban MTTQ cấp trên đang cư trú và công tác tại địa phương; đại diện Uỷ ban MTTQ một số địa phương bạn...

5. Về cử đại biểu dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp trên.

- Trên cơ sở số lượng, cơ cấu thành phần đại biểu do Uỷ ban MTTQ cấp trên trực tiếp phân bổ, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp được phân bổ đại biểu tiến hành dự kiến cơ cấu thành phần, số lượng và danh sách đoàn đại biểu của địa phương mình trình ra đại hội cùng cấp để tiến hành hiệp thương cử đoàn đại biểu đi dự đại hội cấp trên. Người được cử đi dự đại hội cấp trên phải được quá nửa tổng số đại biểu dự Đại hội tán thành.

 - Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp dưới trực tiếp có trách nhiệm báo cáo danh sách trích ngang đoàn đại biểu đi dự đại hội cấp trên của đơn vị mình theo yêu cầu của Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tổ chức Đại hội để tiến hành các thủ tục triệu tập đại biểu.

 

III. CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CẤP HUYỆN, CẤP TỈNH

 1. Về chương trình Đại hội:

Đại hội cấp huyện tiến hành trong 02 ngày, Đại hội cấp tỉnh tiến hành trong 03 ngày. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương để xây dựng chương trình Đại hội bảo đảm hoàn thành các nội dung của Đại hội theo quy định tại khoản 4, điều 7, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chương trình Đại hội gồm các nội dung như sau:

- Lễ chào cờ, hát Quốc ca.

- Hiệp thương cử Đoàn Chủ tịch và Thư ký Đại hội.

- Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu. Khai mạc Đại hội.

- Trình bày báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, dự kiến chương trình hành động của nhiệm kỳ mới (đầy đủ hoặc tóm tắt) và báo cáo kiểm điểm hoạt động của Uỷ ban Mặt trận khóa cũ.

- Chào mừng của đại diện Mặt trận địa phương bạn (nếu có).

- Báo cáo tổng hợp tình hình đại biểu đi dự Đại hội MTTQ cấp mình.

- Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo văn kiện của Uỷ ban MTTQ cấp mình và ý kiến đóng góp vào dự thảo văn kiện của Đại hội MTTQ cấp trên và các ý kiến đề nghị sửa đổi Điều lệ MTTQ Việt Nam.

- Tham luận của đại biểu dự Đại hội.

- Phát biểu của đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên, của đại diện cấp Uỷ, chính quyền cùng cấp.

- Báo cáo danh sách nhân sự và hiệp thương cử Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc nhiệm kỳ mới.

- Họp Uỷ ban MTTQ nhiệm kỳ mới phiên đầu tiên để cử Ban Thường trực (Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Uỷ viên Thường trực).

- Công bố kết quả phiên họp đầu tiên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới về việc cử nhân sự vào các chức danh trong Ban Thường trực.

          - Ra mắt Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới, đại diện Uỷ ban MTTQ khoá mới phát biểu nhận nhiệm vụ.

          - Hiệp thương cử đoàn đại biểu đi dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.

          - Công bố các quyết định khen thưởng (nếu có).

          - Thông qua Nghị quyết Đại hội.

- Bế mạc Đại hội (chào cờ).

Những nơi có điều kiện nên tổ chức các tổ hoặc trung tâm thảo luận theo các chuyên đề về tập hợp, củng cố tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về 2 cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng và Chính quyền, về đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận...)

2. Về Đại hội MTTQ của các đơn vị mới chia tách, sáp nhập

- Thực hiện khoản 5, điều 8, chương II, Điều lệ MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn như sau:

+ Đối với những đơn vị mới chia tách, sáp nhập đã tổ chức Đại hội MTTQ quá ½ nhiệm kỳ theo quy định của Điều lệ thì tổ chức Đại hội MTTQ nhiệm kỳ mới  

+ Đối với những đơn vị mới Đại hội MTTQ chưa quá ½ nhiệm kỳ theo quy định của Điều lệ thì tổ chức Hội nghị đại biểu để góp ý kiến vào văn kiện của Đại hội MTTQ Việt Nam cấp trên, đánh giá kết quả thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động của cấp mình từ Đại hội đến nay, bổ sung phương hướng nhiệm vụ thời gian tới và cử đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam cấp trên trực tiếp (Để đảm bảo thời gian Đại hội MTTQ các cấp thống nhất thì nhiệm kỳ Đại hội MTTQ tiếp theo của các đơn vị trên tính từ thời gian tổ chức Hội nghị đại biểu).

 

IV. VỀ TRANG TRÍ ĐẠI HỘI

Căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương mà tiến hành công tác tuyên truyền và trang trí Đại hội, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn như sau:

- Đường chính tới địa điểm tổ chức Đại hội và xung quanh phía ngoài có thể bố trí cờ, pa nô, áp phích, băng rôn...

- Trong hội trường nhìn từ dưới lên:

+ Phía bên trái phông là cờ tổ quốc, tượng Bác hoặc ảnh Bác, chính giữa phông là biểu trưng của MTTQ Việt Nam, dưới biểu trưng là dòng chữ “Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam......Nhiệm kỳ........ngày...tháng....năm.....” (có thể bố trí 2 hoặc 3 hàng với 2 kiểu chữ khác nhau).

+ Dưới chân phông có thể bố trí một hàng cây cảnh.

+ Hai bên phía trên hội trường có thể để 2 tấm pa nô, áp phích, khẩu hiệu hành động hoặc chủ đề của Đại hội (Có ma két trang trí kèm theo)

+ Xung quanh hội trường có thể trang trí khẩu hiệu, tranh cổ động tuyên truyền hoặc triển lãm ảnh về các hoạt động của MTTQ Việt Nam trong nhiệm kỳ vừa qua.

Nội dung khẩu hiệu tuyên truyền theo hướng dẫn số 31- HD/BTGTW ngày 07/03/2008 của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng.

 

V. VIỆC DUYỆT CÔNG TÁC CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI MẶT TRẬN CẤP HUYỆN, CẤP TỈNH

- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam duyệt nội dung chương trình Đại hội Mặt trận cấp tỉnh; Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh duyệt nội dung chương trình Đại hội Mặt trận cấp huyện

          - Hồ sơ duyệt công tác tổ chức Đại hội gồm:

          + Dự kiến chương trình Đại hội.

+ Dự thảo báo cáo tổng kết nhiệm kỳ, chương trình hành động nhiệm kỳ mới và báo cáo kiểm điểm hoạt động của Uỷ ban Mặt trận khóa cũ.

+ Đề án xây dựng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới, danh sách trích ngang dự kiến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới.

         

VI. VỀ VIỆC CHUẨN Y KẾT QUẢ BẦU CỬ.

- Sau Đại hội, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khóa mới phải báo cáo về Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp biên bản Đại hội, biên bản hội nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc lần thứ nhất, công văn đề nghị công nhận các chức danh của Ban Thường trực và sơ yếu lý lịch của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thường trực.

- Sau khi nhận được báo cáo của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới về kết quả cử hoặc bầu, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp chuẩn y danh sách Ban Thường trực và các chức danh của cấp dưới theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 

VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, cấp tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức Đại hội, chủ động báo cáo với Ban Thường vụ cấp uỷ cùng cấp về nội dung của Đại hội và công tác chuẩn bị nhân sự Uỷ viên Uỷ ban, Ban Thường trực của nhiệm kỳ mới theo tinh thần Chỉ thị số 18/CT/TW ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và hướng dẫn số 14- HD/BTCTW ngày 29/2/2008 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng.  

- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh cần chọn và chỉ đạo điểm Đại hội MTTQ cấp huyện để rút kinh nghiệm, đồng thời phân công các Uỷ viên Thường trực hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức Đại hội MTTQ của cấp huyện. Duy trì chế độ thông tin, báo cáo tiến độ, kết quả Đại hội MTTQ cấp huyện, cấp tỉnh về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam (qua Ban Tổ chức cán bộ).

- Phối hợp với các tổ chức thành viên, các ban, ngành của cấp huyện, cấp tỉnh, tổ chức các hoạt động, phát động phong trào thi đua chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của MTTQ Việt Nam lần thứ VII.

- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam phân công các Uỷ viên Thường trực theo dõi, hướng dẫn Đại hội điểm cấp huyện ở các tỉnh, thành phố để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung trong toàn quốc.

 Trong quá trình triển khai thực hiện hướng dẫn trên đây, nếu có vấn đề gì nảy sinh vướng mắc đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh tập hợp, phản ánh về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam (qua Ban Tổ chức cán bộ) để xem xét giải quyết.      

 

 Nơi nhận:                                               T/M. BAN THƯỜNG TRỰC  

- Ban BTTW Đảng (để báo cáo)                 UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM

- Ban TT UBMTTQ các tỉnh                            Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký

  thành phố (để triển khai, thực hiện)                                 (Đã ký)

- Ban Dân vận Trung ương (để phối hợp)                        Vũ Trọng Kim

- Các Ban, đơn vị trực thuộc (để thực hiện)                             

- Lưu VP, TCCB.                   

     

Về đầu trang


BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG                              ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

        BAN TUYÊN GIÁO                           

                *                                                                Hà Nội, ngày 7 tháng 3  năm 2008   

       Số  31- HD/BTGTW

 

HƯỚNG DẪN

Triển khai đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền

Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

 

Thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 22-11-2007 của Ban Bí thư về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn việc triển khai đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền như sau:

I. Mục đích, yêu cầu

1. Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị và tuyên truyền sâu rộng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, đúng đắn những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với kiều bào; đấu tranh bác bỏ những luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, vu khống ta vi phạm về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

3. Đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII cần được các cấp uỷ đảng quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, gắn với triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” để góp phần tích cực vào thành công của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

4. Cổ vũ, động viên nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế đi liền với phát triển văn hóa - xã hội; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đẩy mạnh thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo ra không khí phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân; xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.

II. NỘI DUNG

1.     Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị

Đợt sinh hoạt chính trị được triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

- Khẳng định vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị của nước ta từ khi mới thành lập đến nay, đặc biệt là giai đoạn đất nước đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Nêu bật những yêu cầu và nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; phương thức phối hợp của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khóa X) của Đảng. Trên cơ sở đó, từng tổ chức đảng, chính quyền và mặt trận cùng cấp kiểm điểm, đánh giá những việc đã làm được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để bổ sung các biện pháp đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực sự đi vào cuộc sống.

- Tham gia ý kiến, đóng góp trí tuệ vào việc xây dựng dự thảo Báo cáo chính trị của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp  và dự thảo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (bổ sung, sửa đổi).

- Kiểm điểm, đánh giá kết quả việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tại địa phương, đơn vị; kết quả thực hiện đại đoàn kết theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; kết quả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết những khó khăn bức xúc trong nhân dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

- Các đợt sinh hoạt chính trị được tổ chức trước, trong và sau Đại hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và thông qua các buổi sinh hoạt của các tổ chức đảng, sinh hoạt cơ quan, các đoàn thể nhân dân và khu dân cư để triển khai thực hiện các nội dung nêu trên. Các cấp ủy đảng chỉ đạo nội dung và kế hoạch sinh hoạt theo định kỳ, phù hợp với thời gian Đại hội của Mặt trận các cấp.

- Ngoài các sinh hoạt chung, tùy điều kiện cụ thể của từng tổ chức, địa phương, đơn vị, có thể tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về các kỳ Đại hội của Mặt trận Tổ quốc ở địa phương và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2. Tuyên truyền Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp

- Chủ đề tuyên truyền: Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi vững chắc của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Nội dung, tư liệu, tài liệu sử dụng để tuyên truyền:

      + Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 22-11-2007 của Ban Bí thư về việc lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII; Nghị quyết số 09 ngày 9-1-2008 của Hội nghị lần thứ 5 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa VI) về tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

      + Những quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lịch sử, truyền thống và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; kết quả thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nghị định 50/CP của Chính phủ.

      + Quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp: kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, những vấn đề đặt ra và giải pháp để tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương trong nhiệm kỳ mới; những tập thể, cá nhân tiên tiến, những bài học kinh nghiệm qua phong trào thi đua yêu nước, các phong trào của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trên các lĩnh vực khác nhau ở địa phương, đơn vị, đặc biệt là hai cuộc vận động lớn: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” ,“Ngày vì người nghèo”; kết quả cụ thể về thực hiện xoá nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo, phấn đấu giảm hộ nghèo tiến tới xoá hộ nghèo ở các địa phương.

      + Kết quả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; tham gia xây dựng chính sách pháp luật, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công tác giám sát, phản biện xã hội; công tác giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư; phối hợp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; công tác đối ngoại nhân dân, công tác dân tộc, tôn giáo...

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1.     Thời gian:

 Thời gian tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đến Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII khá dài (từ quý II/2008 đến quý III/2009). Căn cứ vào thời gian tổ chức Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của từng địa phương, đơn vị, các cấp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng kế hoạch tổ chức sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền trước, trong, sau Đại hội đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm và đạt chất lượng, hiệu quả.

2. Đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

- Hướng dẫn các tổ chức thành viên, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trong cả nước tổ chức thực hiện đợt sinh hoạt chính trị; biên soạn phát hành tài liệu phục vụ đợt sinh hoạt chính trị và công tác tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội.

- Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội nghị Báo cáo viên ở 3 khu vực để giới thiệu về Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

- Phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức họp báo về Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

3. Ban Tuyên giáo các cấp, các ngành:

- Phối hợp chặt chẽ với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chuẩn bị kỹ về nội dung, kế hoạch sinh hoạt chính trị và tuyên truyền, báo cáo với cấp ủy đảng để triển khai thực hiện; tổ chức Hội nghị báo cáo viên, họp báo, tọa đàm giới thiệu những nội dung chính của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và truyền thống vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, những cá nhân, tập thể tiểu biểu thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo dõi nắm tình hình tư tưởng các tầng lớp nhân dân, định hướng dư luận xã hội xung quanh Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.

-  Định hướng thông tin về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong Bản tin Thông báo nội bộ của Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

- Chỉ đạo các cơ quan báo chí của địa phươnng có kế hoạch tuyên truyền, mở chuyên trang, chuyên mục chào mừng Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .

- Phối hợp với chính quyền cùng cấp chỉ đạo việc tổ chức các cụm panô, áp phích, triển lãm, treo cờ Tổ quốc và khẩu hiệu chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; phát động đợt thi đua lập nhiều thành tích trên các lĩnh vực chào mừng Đại hội; xây dựng các công trình về kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng và củng cố khối đoàn kết toàn dân trên địa bàn dân cư…

4. Các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương:

- Có kế hoạch cụ thể tổ chức tuyên truyền các nội dung nêu trên; kịp thời phản ánh các nội dung, hình thức sinh hoạt chính trị sinh động, có hiệu quả ở cơ sở, cơ quan, đơn vị; thông tin các sự kiện trước, trong và sau Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .

- Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, các tạp chí, ấn phẩm thông tin đối ngoại, có kế hoạch thông tin ra nước ngoài không khí dân chủ, đoàn kết xung quanh Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.

- Đài truyền hình Việt Nam, đài phát thanh, truyền hình các tỉnh, thành phố phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương xây dựng phim tài liệu, các phóng sự phản ảnh hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chiếu vào dịp tổ chức Đại hội.

  IV. MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN

 1. Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII !

 2. Nhiệt liệt chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII !

3.  Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

   Thành công, thành công, đại thành công !

4. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh !

5. Thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII !

6. Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn  năm !

7. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

8. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Ban Tuyên giáo các tỉnh uỷ, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương phối hợp chặt chẽ với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp triển khai thực hiện, báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Trung ương để tổng hợp báo cáo Ban Bí thư.

 

Nơi nhận:                                                               K/T TRƯỞNG BAN

- Thường trực Ban Bí thư (để báo cáo);                               PHÓ TRƯỞNG BAN

- Văn phòng Trung ương Đảng;                                                 Đã ký

- Ban Dân vận Trung ương;                                               Vũ Văn Phúc

- Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam;                                                                 

- Trung ương các đoàn thể chính trị-xã hội;

- Ban tuyên giáo các tỉnh, thành,                                              

đảng uỷ trực thuộc TW;                                                                              

- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 các tỉnh, thành phố Trực thuộc TW;

- Các báo, đài TW; 

- Lưu Vụ TT, HC.

Về đầu trang


 
 

 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết quả thực hiện Quy chế phối hợp giữa Chủ tịch Nước và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2008

Làm việc với Ðoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương  MTTQ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để ngăn chặn suy giảm kinh tế, phát triển bền vững

Hội nghị liên tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Các tổ chức, cá nhân, bà con việt kiều  ở trong và ngoài nước hãy tham gia tích cực ủng hộ "TẾT CHO NGƯỜI NGHÈO"

 


 Bế mạc Hội nghị
Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam 
 lần thứ V (khóa VI)

 
Tiểu sử tóm tắt của ông Huỳnh Đảm
 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương 
MTTQ Việt Nam
 

Đ/c Vũ Trọng Kim Phó Chủ tịch kiêm
 Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

Khai mạc Hội nghị lần thứ sáu Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VI)

 
 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 
 
 
 
 
 
 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn