Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 
 

    TIN MỚI :                                                           


                     

   


       

Chỉ thị số 25-CT/TW của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VIII

Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân (kỳ họp thứ 5, QHK VII)

Hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng năm 2013 của MTTQ Việt Nam

Kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc


   BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG       ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
                        *             
                  Số 25-CT/TW                                     Hà Nội, ngày 20  tháng 5  năm 2013

CHỈ THỊ
CỦA BAN BÍ THƯ
về lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp
và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII
(nhiệm kỳ 2014 - 2019)

             Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2014 - 2019) là sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trong bối cảnh đất nước ta đang tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với nhiều thuận lợi và khó khăn, thách thức mới. Trong bối cảnh đó, yêu cầu tăng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định.

            Để lãnh đạo đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII đạt kết quả, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

            1- Lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chuẩn bị và tiến hành tổ chức đại hội đạt chất lượng và hiệu quả tốt nhất.

            - Về báo  cáo tổng kết nhiệm kỳ, cần đánh giá đúng tình hình nhân dân và việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nêu rõ những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của công tác Mặt trận trong nhiệm kỳ qua; chú ý biểu dương những nhân tố mới, những cách làm hay; phát hiện những vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết trong nhiệm kỳ tới trên tinh thần cụ thể, sát thực tế và khả thi.

            Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới cần bám sát yêu cầu, nhiệm vụ của nghị quyết đại hội đảng các cấp và Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, các nghị quyết của Trung ương, Kết luận số 62-KL/TW, ngày 08-12-2009 của Bộ Chính trị khóa X về "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội"; nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, gắn liền với đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận ở các cấp, hướng mạnh về cơ sở, xây dựng khu dân cư văn hóa. Thể hiện rõ vai trò của Mặt trận trong việc thực hiện đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động rộng khắp và có hiệu quả; phát huy dân chủ, tiếp thu sáng kiến, kiến nghị của nhân dân; thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị vững mạnh; mở rộng công tác đối ngoại nhân dân để không ngừng nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước. Cổ vũ, phát huy tiềm năng, sức mạnh, trí tuệ nhân dân cống hiến cho đất nước, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội.

            - Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần được đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp kiến nghị để Đại hội toàn quốc xem xét, quyết định phù hợp với yêu cầu tình hình, nhiệm vụ mới.   

            - Việc chuẩn bị nhân sự Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, phải căn cứ tiêu chuẩn cán bộ và cơ cấu theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; coi trọng tính tiêu biểu, tính đại diện và tính thiết thực; mở rộng thành phần là những cá nhân tiêu biểu, đại diện cho các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ của ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình. Tăng số ủy viên là người ngoài Đảng (bảo đảm ở Trung ương đạt từ 45% - 50%, ở các cấp địa phương đạt từ 25% - 30%) để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực sự là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất, là hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc hiệp thương cử đại biểu dự đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc cấp trên cần được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, bảo đảm cơ cấu, thành phần, chất lượng đại biểu để hoàn thành tốt nhiệm vụ tham gia đại hội.

            - Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan Mặt trận các cấp và đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng và cơ cấu phù hợp. Đồng thời, mở rộng và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ cán bộ không chuyên trách, chuyên gia tư vấn, cộng tác viên cho các hoạt động đa dạng, sâu sát các tầng lớp nhân dân của Mặt trận. Các cấp ủy đảng cần phân công đồng chí trong Ban Thường vụ làm Bí thư Đảng đoàn và giới thiệu để bầu giữ chức Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

            2- Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp phải được tập trung chỉ đạo, chuẩn bị chu đáo để đại hội diễn ra trang trọng, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, đúng tiến độ và đúng quy định của Điều lệ. Thời gian tiến hành đại hội cấp cơ sở thực hiện từ quý IV-2013 và hoàn thành trước tháng 3-2014; cấp huyện hoàn thành trước tháng 5-2014; cấp tỉnh hoàn thành trước tháng 7-2014; Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII tổ chức vào tháng 9-2014.

            3- Tăng cường công tác tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội; coi trọng công tác tuyên truyền trong nước và thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt trận Tổ quốc các cấp cần tổ chức phát động phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, đạt kết quả cao nhất chào mừng đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp mình và Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII. Thực hiện tốt công tác đối ngoại nhân dân để góp phần cùng với hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước nhằm xây dựng, củng cố và phát triển môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển. Đồng thời, chú trọng đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài nhằm quy tụ, tạo sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy vai trò tích cực của người Việt Nam ở các nước trong việc mở rộng và tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc, tích cực ủng hộ sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

            4- Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban cán sự đảng Chính phủ tăng cường phối hợp, tập trung lãnh đạo việc thể chế hóa các nội dung cơ bản về đại đoàn kết toàn dân tộc, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan phù hợp Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng. Chính phủ chỉ đạo các cấp chính quyền, các ngành tạo mọi điều kiện để Mặt trận chuẩn bị và tiến hành tổ chức tốt Đại hội.

            5- Các cấp ủy đảng chỉ đạo việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung những quy định về chế độ, chính sách để phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ Mặt trận, nâng cao năng lực hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; lãnh đạo các cấp chính quyền, đoàn thể phối hợp và bảo đảm điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tổ chức tốt đại hội.

            6- Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân vận Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng giúp Ban Bí thư theo dõi và tổ chức thực hiện Chỉ thị này.

            Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ.

Nơi nhận:                                                                                        T/M BAN BÍ THƯ
- Các tỉnh ủy, thành ủy,
- Các ban đảng, ban cán sự đảng,
   đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương,                                          ( đã ký )
- Các đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương,                                                      
- Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên
   Cộng sản Hồ Chí Minh,
- Các đồng chí Ủy viên             
                                                           Lê Hồng Anh
   Ban Chấp hành Trung ương,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng                                                              

          

      | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |


 

           ỦY BAN TRUNG ƯƠNG                 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

      MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                     Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                ĐOÀN CHỦ TỊCH

           Số: 422/BC-MTTW-ĐCT                            Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2013

 

BÁO CÁO

Tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân

(Tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XIII)

 

Kính gửi: Quốc hội

Chuẩn bị cho kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XIII, tính đến nay, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tổng hợp được 1.724 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội. Thay mặt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi xin trình bày trước Quốc hội Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước. 

Những tháng đầu năm 2013, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức do tác động của suy thoái kinh tế thế giới và những tồn tại, yếu kém của nền kinh tế trong nước, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu như hạn hán, nước biển xâm mặn, lốc xoáy, mưa đá… gây thiệt hại ở nhiều nơi, nhưng với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, lạm phát bước đầu được kiềm chế, mặt bằng lãi suất đã giảm, nền kinh tế có chiều hướng phục hồi; an sinh xã hội được quan tâm; an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội được giữ vững; các tầng lớp nhân dân cả nước sôi nổi tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.   

Tuy nhiên, cử tri và nhân dân còn nhiều băn khoăn, lo lắng trước thực trạng phát triển chưa bền vững của nền kinh tế; giá điện, xăng dầu và một số mặt hàng thiết yếu, nhất là giá vật tư nông nghiệp còn cao gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống của nhân dân; nhiều dự án sử dụng đất kém hiệu quả, gây lãng phí; nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, thất thoát tài sản nhưng việc xử lý trách nhiệm chưa nghiêm; hậu quả của đầu tư công dàn trải, hiệu quả thấp; tình trạng tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi; đời sống, việc làm của nhân dân gặp nhiều khó khăn; chênh lệch giàu nghèo tiếp tục gia tăng; tình trạng ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông, tội phạm và tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp gây bức xúc trong nhân dân. 

Tại kỳ họp này, cử tri và nhân dân cả nước tập trung kiến nghị những nội dung trọng tâm sau đây: 

1. Về tổ chức lấy ý kiến nhân dân góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 

Cử tri hoan nghênh Quốc hội đã ban hành nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, cũng như việc Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp kéo dài thời gian góp ý đến hết tháng 9/2013. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vừa qua thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý dân chủ, rộng khắp trong toàn xã hội, thu hút được sự quan tâm và sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân, kể cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Bước đầu các cơ quan chức năng đã tập hợp được hơn 26 triệu lượt ý kiến góp ý của nhân dân, qua đó đã huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp, góp phần phát huy quyền làm chủ, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân, đồng thời tăng cường sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thực sự thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân.  

 Tuy nhiên, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp ở một số nơi, nhất là ở cấp cơ sở còn hình thức, lúng túng, bị động, chưa có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan; một số nơi in, phát Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tới từng hộ gia đình nhưng việc hướng dẫn nhân dân thảo luận góp ý và tổng hợp ý kiến góp ý của nhân dân chưa tốt. 

Cử tri và nhân dân kiến nghị các cơ quan hữu quan tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác những ý kiến của nhân dân đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; nghiên cứu tiếp thu nghiêm túc; đồng thời giải trình rõ những nội dung không tiếp thu để hoàn thiện, nâng cao chất lượng Dự thảo, phản ánh đúng và đầy đủ ý nguyện của nhân dân tới Quốc hội; kiến nghị Quốc hội phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ để xây dựng bản Hiến pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.   

2. Về sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân 

Trong thời gian qua, hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn rất khó khăn; lãi suất cho vay của ngân hàng có giảm nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận với nguồn vốn vay; từ đầu năm 2013 đến nay đã có hàng ngàn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị giải thể, phá sản, tạm ngừng hoặc thu hẹp sản xuất dẫn đến số người mất việc làm tiếp tục gia tăng. Sức mua trong quý I/2013 giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước, dẫn tới hàng hóa tồn kho lớn. Tình trạng giá vàng trong nước chênh lệch quá lớn với giá vàng thế giới hiện nay dẫn đến sự băn khoăn, thiếu tin tưởng của cử tri và nhân dân về năng lực của cơ quan nhà nước hữu quan trong việc quản lý điều hành thị trường vàng. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo, có những giải pháp xử lý, khắc phục tình trạng trên; đồng thời kiến nghị Chính phủ chỉ đạo quyết liệt việc sắp xếp lại các tập đoàn kinh tế nhà nước; tái cấu trúc các doanh nghiệp, kiên quyết giải thể các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, kinh doanh thua lỗ làm thất thoát vốn và tài sản nhà nước. 

Tình hình sản xuất nông nghiệp còn rất nhiều khó khăn do giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao, giá đầu ra một số nông sản, nhất là giá lúa giảm liên tục; thời tiết diễn biến bất thường; tình trạng giống cây, phân bón, thuốc trừ sâu giả tràn lan, không được kiểm soát gây thiệt hại lớn cho nông dân. Lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản cũng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Đời sống của ngư dân, diêm dân cũng gặp nhiều khó khăn do giá xăng dầu cao, thời tiết không thuận lợi, ngư trường một số nơi bị nước ngoài đe dọa, giá cả đầu ra thấp. Tình trạng nhập lậu thuỷ sản, gia cầm, thịt gia súc rất phức tạp, vừa cạnh tranh quyết liệt với sản xuất trong nước vừa tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh rất lớn nhưng chưa được các cơ quan chức năng kiểm soát, xử lý đến nơi, đến chốn. Cử tri và nhân dân kiến nghị Nhà nước cần tiếp tục có các cơ chế, chính sách để hỗ trợ trực tiếp cho nông dân, ngư dân, diêm dân, để người dân yên tâm sản xuất, nâng cao đời sống, góp phần bảo vệ vùng biển của Tổ quốc, giữ ổn định xã hội ở địa bàn nông thôn; đồng thời có các giải pháp kiên quyết, hữu hiệu xử lý hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng nhập lậu.   

Tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tiếp tục diễn ra ở các khu công nghiệp, làng nghề, vùng nông thôn; nạn phá rừng, khai thác khoáng sản bừa bãi ở một số địa phương tác động nghiêm trọng đến môi trường sống; tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ tràn lan trên thị trường thiếu sự kiểm soát của cơ quan chức năng; tình trạng nước biển xâm mặn, dịch bệnh, nhất là dịch cúm A diễn biến phức tạp ở một số địa phương, ảnh hưởng tới sản xuất và sức khoẻ người dân. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ có các giải pháp đồng bộ, đủ mạnh để giải quyết tình trạng trên nhằm phát triển kinh tế bền vững, bảo vệ sức khỏe và đảm bảo đời sống nhân dân. 

Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục nhận được sự quan tâm của đông đảo cử tri khu vực nông thôn. Cử tri và nhân dân hoan nghênh Chính phủ đã có các quyết định sửa đổi một số tiêu chí của Chương trình cho phù hợp với các địa phương. Tuy nhiên, cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành hướng dẫn cụ thể về nguồn kinh phí “Ngân sách Trung ương hỗ trợ một phần” để xây dựng cơ sở hạ tầng; kiến nghị Nhà nước quan tâm hơn nữa đối với các địa phương nghèo trong việc thực hiện Chương trình nông thôn mới vì việc huy động vốn trong nhân dân rất khó khăn; quy định rõ vấn đề huy động mức đóng góp, tham gia của nhân dân, của doanh nghiệp trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng… để chương trình này được thực hiện có hiệu quả. 

3. Về lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo và dạy nghề 

Cử tri và nhân dân tiếp tục phản ánh, mặc dù viện phí đã tăng nhưng tình trạng xuống cấp, quá tải ở các bệnh viện, nhất là các bệnh viện ở Trung ương vẫn không giảm. Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ cần tiếp tục ưu tiên đầu tư mở rộng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến huyện; xây dựng thêm các bệnh viện khu vực để giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên; nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ y, bác sĩ cả về chuyên môn và y đức; thực hiện việc luân chuyển bác sĩ có tay nghề cao ở những bệnh viện Trung ương về địa phương. Cử tri cũng bức xúc trước tình trạng buông lỏng quản lý của cơ quan chức năng dẫn đến nhiều cơ sở hành nghề y của người nước ngoài hoạt động trái phép, chất lượng khám, chữa bệnh không đảm bảo, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Y tế và các ngành hữu quan có biện pháp quản lý chặt chẽ hoạt động của các cơ sở này nhằm bảo vệ sức khỏe và quyền lợi cho người dân. 

Cử tri và nhân dân phản ánh, việc học thêm, dạy thêm vẫn diễn ra tràn lan, nhất là ở khu vực đô thị mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy định mới về dạy thêm, học thêm; bệnh thành tích trong giáo dục không giảm, tỷ lệ học sinh khá, giỏi ở các bậc học phổ thông nhiều nơi rất cao nhưng không phản ánh đúng thực trạng chất lượng của ngành giáo dục. Hậu quả của việc cho phép mở quá nhiều trường đại học, cao đẳng thời gian qua đã dẫn đến việc nhiều trường thiếu các điều kiện cơ bản cả về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và năng lực quản trị nên chất lượng đào tạo thấp, số lượng tuyển sinh ngày càng giảm sút, lãng phí nguồn lực đầu tư của xã hội. Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục có các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; chấn chỉnh, xử lý các cơ sở giáo dục, đào tạo không đảm bảo chất lượng. 

Cử tri và nhân dân cũng phản ánh, hệ thống các cơ sở dạy nghề trên toàn quốc rất phân tán, trực thuộc nhiều bộ ngành, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, thiếu sự quản lý thống nhất về chương trình, chất lượng đào tạo; việc dạy nghề cho nông dân, nhất là nông dân ở những nơi bị thu hồi đất còn nhiều bất cập dẫn tới lãng phí nguồn lực đầu tư của nhà nước và xã hội; nhiều nơi cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện giảng dạy, học tập cũ kỹ, lạc hậu, đội ngũ giáo viên không đảm bảo chất lượng, làm cho chất lượng đào tạo rất hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu, sắp xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo nghề cho hợp lý; rà soát nhu cầu đào tạo nghề của nhân dân, nhu cầu về lao động theo ngành nghề của các doanh nghiệp và khả năng đào tạo của các cơ sở dạy nghề, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng các nguồn viện trợ cho hoạt động đào tạo nghề, nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. 

4. Về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo  

Công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua tuy đạt được một số kết quả nhưng còn nhiều hạn chế và chưa thực hiện được mục tiêu đề ra là ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng. Số vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý còn ít; một số vụ án tham nhũng xử lý chậm, kéo dài, gây tâm lý hoài nghi, giảm sút lòng tin trong nhân dân về tính nghiêm minh của pháp luật. 

Cử tri và nhân dân kiến nghị các cơ quan chức năng của nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm sát và xử lý kịp thời, nghiêm túc các vụ việc tham nhũng, lãng phí, nhất là những vụ việc nghiêm trọng, phức tạp mà dư luận xã hội quan tâm; chủ động rà soát xử lý dứt điểm những vụ việc tồn đọng;  đồng thời kiến nghị Quốc hội tăng cường hoạt động giám sát việc thực hiện và tuân theo pháp luật đối với những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực như quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, đầu tư xây dựng, quản lý tài chính, tài sản công…  

Cử tri và nhân dân hết sức quan tâm và hoan nghênh việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do đồng chí Tổng Bí thư đứng đầu cùng với việc thành lập lại Ban Nội chính ở Trung ương và các tỉnh, thành phố nhằm giúp các cấp uỷ Đảng và chính quyền trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và hy vọng trong thời gian tới công tác phòng, chống tham nhũng sẽ có những chuyển biến rõ rệt, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI), đáp ứng niềm tin của nhân dân vào quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước. 

Cử tri và nhân dân cho rằng tình trạng lãng phí vẫn diễn ra phổ biến trong sản xuất và tiêu dùng, trong đầu tư, mua sắm tài sản công… Đầu tư công dàn trải, hiệu quả thấp; nhiều công trình dở dang do thiếu vốn hoặc xây dựng xong nhưng không khai thác hoặc khai thác kém hiệu quả gây lãng phí nghiêm trọng. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ có các giải pháp chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục tình trạng trên. 

Tình hình khiếu nại, tố cáo thời gian qua vẫn rất phức tạp, phần lớn các vụ khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai, đặc biệt liên quan đến vấn đề thu hồi đất, giải tỏa, đền bù… Nhiều vụ khiếu nại, tố cáo mặc dù đã được các cấp chính quyền và cơ quan chức năng giải quyết nhưng người dân vẫn không đồng tình. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội khi xem xét sửa đổi Luật đất đai cần có những quy định cụ thể; mục đích thu hồi đất khác nhau thì cần có cơ chế thu hồi khác nhau để tránh tiêu cực, đồng thời phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người sử dụng đất; kiến nghị thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân cần dài hạn hơn hiện nay để người dân yên tâm đầu tư sản xuất; việc thu hồi đất cần phải đảm bảo hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Cử tri và nhân dân cũng kiến nghị Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, UBND các cấp tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài; đồng thời, ưu tiên xây dựng thể chế về giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là sớm trình Quốc hội xem xét thông qua Luật tiếp công dân; xử lý nghiêm cán bộ vi phạm pháp luật, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.    

5. Về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn 

 Cử tri và nhân dân hoan nghênh việc Quốc hội ban hành nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. 

Đây là lần đầu tiên Quốc hội tiến hành việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, vì vậy cử tri và nhân dân kiến nghị các đại biểu Quốc hội nêu cao ý thức trách nhiệm trước cử tri và nhân dân cả nước để việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành thực chất, không hình thức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Nhà nước thực sự có năng lực, đạo đức tốt, liêm khiết, gương mẫu, có tinh thần kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.  

Để làm tốt việc này, cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội cần tăng cường công tác giám sát; yêu cầu Bộ trưởng, trưởng ngành và người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường trách nhiệm trong quản lý ngành, lĩnh vực; tăng cường giám sát việc thực hiện lời hứa của các thành viên Chính phủ tại các phiên chất vấn của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.  

Trên đây là Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi đến kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XIII. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết và trả lời cử tri, nhân dân, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng thời thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết và giám sát.

                                                                              TM. ĐOÀN CHỦ TỊCH

   Nơi nhận:                                                           ỦY BAN TRUNG ƯƠNG

 Các vị đại biểu Quốc hội;                                          MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

- Ban Bí thư Trung ương Đảng;                                                 CHỦ TỊCH              

- Chủ tịch nước;                                                                                               

- Ủy ban thường vụ Quốc hội;                                                        (Đã ký)

-Thường trực Chính phủ;

- Các vị trong ĐCT UBTWMTTQ VN;

- Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố;                                                Huỳnh Đảm

 - Lưu ;

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |


   

          UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

            BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

            Số: 96 /HD-MTTW-BTT                            Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2013  

 

      HƯỚNG DẪN

Công tác thi đua, khen thưởng năm 2013

 

Căn cứ Quy chế thi đua, khen thưởng của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp (ban hành kèm theo Quyết định số 1202/QĐ-MTTW-BTT ngày 13/12/2011 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) và Chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2013, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng năm 2013 đối với Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố như sau:

I. NỘI DUNG TIÊU CHÍ THI ĐUA VÀ ĐIỂM CHẤM

1. Công tác Tuyên giáo: (14 điểm)

- Có kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện hướng dẫn số 80/HD-MTTW-BTT ngày 28/01/2013 của Trung ương Mặt trận về công tác tuyên giáo năm 2013; có các hình thức phối hợp với các cơ quan thông tin báo chí, truyền hình để tuyên truyền về các nội dung trong hướng dẫn. Có báo cáo định kỳ quý, 6 tháng, 01 năm, sơ, tổng kết các nội dung gửi về trung ương theo yêu cầu. (3 điểm)

- Có kết hoạch cụ thể và triển khai thực hiện Hướng dẫn số 84/HD-MTTW-BTT ngày 20/02/2013 của Trung ương Mặt trận về tuyên truyền công tác phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia và Hướng dẫn số 86/HD-MTTW-BTT ngày 25/02/2013 của Trung ương Mặt trận về công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2013; thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết công tác tuyên truyền về biển, đảo và phân giới cắm mốc năm 2013; định kỳ 6 tháng, 1 năm có báo cáo kết quả gửi về Trung ương. (2 điểm)

- Có kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện Hướng dẫn số 79/HD-MTTW-BTT ngày 31/01/2013 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2013 trong hệ thống MTTQ Việt Nam các cấp. Có tổ chức sơ kết, nêu gương, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và có báo cáo kết quả gửi về Trung ương. (2 điểm)

- Có các giải pháp chỉ đạo, phối hợp, triển khai thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (cuối năm có báo cáo chuyên đề gửi về Trung ương). (2 điểm)

- Có nội dung, giải pháp tuyên truyền thực hiện Chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2013; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam. (2 điểm)

- Có bài viết tham gia và phối hợp thực hiện tốt việc phát hành báo Đại đoàn kết, Tạp chí Mặt trận, Thông tin Công tác Mặt trận tới các cấp Mặt trận ở cơ sở; có xây dựng trang thông tin điện tử (Website) và tờ thông tin Mặt trận của tỉnh, thành phố phát hành hàng tháng hoặc quý. (3 điểm).

2. Công tác Phong trào: (14 điểm)

- Có kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Hướng dẫn số 82/HD-MTTW-BTT ngày 01/02/2013 của Trung ương Mặt trận về công tác phong trào năm 2013. Có báo cáo định kỳ quý, 6 tháng, 1 năm, sơ, tổng kết các nội dung gửi về trung ương theo yêu cầu. (4 điểm) 

- Có kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Phong trào cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới (theo Hướng dẫn số 70/HD-MTTW-BTT ngày 20/8/2012 của Trung ương Mặt trận). (3 điểm) 

- Có kế hoạch và phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát động toàn dân tham gia phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS; chương trình phòng, chống mua bán người; bảo đảm an toàn giao thông; nâng cao sức khỏe nhân dân…gắn với thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. (3 điểm)

- Có hướng dẫn và tổ chức tốt ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư năm 2013 và có báo cáo đầy đủ theo hướng dẫn của Trung ương. (2 điểm)

- Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, các chương trình an sinh xã hội ở địa phương; công tác vận động, tiếp nhận, quản lý tiền, hàng cứu trợ ủng hộ đồng bào bị thiên tai lũ lụt (nếu có). (2 điểm)

3. Công tác Dân chủ - Pháp luật: (16 điểm)

- Có kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện hướng dẫn số 78/HD-MTTW-BTT ngày 23/01/2013 của Trung ương Mặt trận về công tác tham gia xây dựng chính quyền năm 2013. Có báo cáo định kỳ quý, 6 tháng, 1 năm, sơ, tổng kết các nội dung gửi về Trung ương theo yêu cầu. (5 điểm) 

- Có kế hoạch và tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch số 317/KH-MTTW-BTT ngày 02/01/2013 của Trung ương Mặt trận về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Tiếp tục triển khai xây dựng dự án Luật MTTQVN (sửa đổi); dự án Luật Đất đai (sửa đổi)…; chủ động tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐNDUBND. Có báo cáo gửi về Trung ương theo đúng yêu cầu, tiến độ. (5 điểm)

- Có nội dung, giải pháp thực hiện công tác giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước. (1,5 điểm)

- Có nội dung, giải pháp triển khai thực hiện Kế hoạch số 311/KH-MTTW-BTT ngày 28/02/2013 của Trung ương Mặt trận về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013; tham gia tổ chức tốt công tác hoà giải các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; tổ chức tốt công tác tiếp dân, giám sát, đôn đốc các cơ quan Nhà nước giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân. (1,5 điểm)

- Có giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, giám sát đầu tư của cộng đồng, thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã. (1điểm)

- Tổ chức tốt các hội nghị tiếp xúc cử tri của các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hôi đồng nhân dân các cấp. Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, có báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhân dân địa phương và gửi về Trung ương (các vấn đề nêu ra cần có số liệu, địa chỉ cụ thể để chứng minh). (2 điểm)

4. Công tác Kinh tế và Đối ngoại: (9 điểm)

- Có nội dung, giải pháp triển khai thực hiện Hướng dẫn số 81/HD-MTTW-BTT ngày 07/02/2013 của Trung ương Mặt trận về công tác Đối ngoại nhân dân, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài; công tác xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, công tác Kinh tế năm 2013. Có báo cáo hàng quý, 6 tháng, 1 năm, các nội dung gửi về trung ương theo yêu cầu. (4 điểm)

- Có kế hoạch và triển khai thực hiện Chương trình hành động số 30/CTr-MTTW-BTT ngày 17/10/2012 của Trung ương Mặt trận về tăng cường tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. (3 điểm)

- Có nội dung, giải pháp tham gia xây dựng, giám sát các chính sách về kinh tế của Đảng, Nhà nước; tập hợp được ý kiến, nguyện vọng của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để phản ánh với Đảng, Nhà nước. (2 điểm)

5. Công tác Tổ chức - Cán bộ: (14 điểm)

- Có kế hoạch và triển khai thực hiện các văn bản hướng dẫn của Mặt trận Trung ương về chuẩn bị đại hội Mặt trận các cấp tiến tới đại hội VIII MTTQ Việt Nam và về tổ chức, bộ máy, biên chế; kiện toàn các chức danh Ban Thường trực theo đúng Điều lệ và hướng dẫn của Mặt trận Trung ương. Có báo cáo định kỳ quý, 6 tháng, 1 năm, sơ, tổng kết các nội dung gửi về trung ương theo yêu cầu (5 điểm)

- Có nội dung, giải pháp tiếp tục thực hiện tốt Kết luận số 62-KL/TW ngày 08/12/2009 của Bộ Chính trị và Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25/2/2010 của Bộ Chính trị về việc ban hành và thực hiện Quy chế Công tác dân vận của hệ thống chính trị. Có hướng dẫn triển khai thực hiện các tiêu chí “Rèn luyện tư cách người cán bộ Mặt trận” theo Hướng dẫn của Trung ương Mặt trận. (5 điểm)

- Có nội dung, giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư; phối hợp với HĐND cùng cấp tham mưu để đảm bảo kinh phí hoạt động của Ban công tác Mặt trận và chế độ phụ cấp đối với Trưởng ban công tác Mặt trận. (2 điểm)

- Có nội dung, giải pháp kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng tư vấn cấp tỉnh, các ban tư vấn, các tổ chức tư vấn và cộng tác viên các cấp. (2 điểm)

6. Công tác Dân tộc và Tôn giáo (14 điểm)

- Có kế hoạch triển khai thực hiện Hướng dẫn số 85/HD-MTTW-BTT ngày 23/02/2013 của Trung ương Mặt trận về công tác dân tộc, tôn giáo năm 2013. Có xây dựng chương trình phối hợp giữa Ban Thường trực MTTQ với Ban Dân tộc tỉnh, thành phố (đối với các tỉnh, thành phố có đông dân tộc thiểu số). Có báo cáo định kỳ quý, 6 tháng, 1 năm, sơ, tổng kết các nội dung gửi về trung ương theo yêu cầu. (5 điểm)

- Thực hiện tốt Hướng dẫn số 62/HD-MTTW-BTT ngày 04/5/2012 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam“về một số nội dung MTTQ các tỉnh, thành phố tham gia phối hợp giúp đỡ Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tổ chức Đại hội Đại biểu những người Công giáo Việt Nam xây dựng và  bảo vệ Tổ quốc lần thứ VI nhiệm kỳ 2012-2017”. (2 điểm)

- Có nội dung, giải pháp và triển khai công tác vận động chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo, người tiêu biểu các dân tộc thiểu số tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhân đạo từ thiện. (3 điểm)

- Có nội dung, giải pháp vận động, tập hợp, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo; tích cực và chủ động tham gia giải quyết nhu cầu, nguyện vọng chính đáng và hợp pháp của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo; không để xảy ra “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo ở địa phương. (4 điểm)

7. Công tác Văn phòng: (14 điểm)

- Có đầy đủ báo cáo công tác Mặt trận hằng tháng, 6 tháng, tổng kết năm, báo cáo chuyên đề, báo cáo đột xuất... đảm bảo thời gian và chất lượng (5 điểm)

- Thực hiện tốt các thông tin bằng thư điện tử; thực hiện đúng, đầy đủ các yêu cầu và nguyên tắc về công tác tài chính đối với các chương trình, hoạt động của Trung ương chỉ đạo, triển khai ở địa phương. (3 điểm)

- Có kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện Hướng dẫn số 88/HD-MTTW-BTT ngày 11/3/2013 của Trung ương Mặt trận về tổ chức kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc - Ngày truyền thống Thi đua yêu nước (11/6/1948 - 11/6/2013); có phát động thi đua đặc biệt chào mừng Đại hội MTTQ Việt Nam các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ VIII. (4 điểm)

- Có văn bản đăng ký thi đua gửi về Trung ương; xây dựng kế hoạch thi đua năm 2013 và thực hiện tốt công tác thông tin báo cáo và hồ sơ thủ tục khen thưởng theo đúng số lượng, thời gian quy định. (2 điểm)

Tổng cộng: 95 điểm. Còn 5 điểm sẽ do Ban Thường trực, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam xem xét, thưởng cho các tỉnh, thành phố có thành tích đột xuất,  có nhiều mô hình, cách làm sáng tạo.

II. TIÊU CHUẨN VÀ TỔ CHỨC XÉT TẶNG THƯỞNG

1. Tiêu chuẩn tặng thưởng

a. Cờ xuất sắc toàn diện của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

- Hoàn thành xuất sắc, toàn diện chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tiêu chí thi đua năm 2013; các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ, chính quyền địa phương; những hoạt động đột xuất (nếu có) trong năm và có đăng ký thi đua với cấp trên đúng thời hạn quy định.

- Có nhiều mô hình tốt, kinh nghiệm hay, cách làm hiệu quả trong việc hướng dẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động. Xây dựng và nhân rộng được nhiều điển hình, nhân tố mới để các đơn vị khác học tập.

- Có biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội. Nội bộ đoàn kết, không có cá nhân trong cơ quan Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên.

- Được cụm thi đua bình chọn, suy tôn đề nghị Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tặng Cờ xuất sắc toàn diện.

- Được các ban, đơn vị cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chấm điểm và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đánh giá đạt từ 95 đến 100 điểm.

b. Cờ xuất sắc của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

- Hoàn thành xuất sắc chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tiêu chí thi đua năm 2013; các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ, chính quyền địa phương; những hoạt động đột xuất (nếu có) trong năm và có đăng ký thi đua.

- Có mô hình tốt, kinh nghiệm hay, cách làm hiệu quả trong việc hướng dẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động. Xây dựng và nhân rộng được nhiều điển hình, nhân tố mới để các đơn vị khác học tập.

- Có biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội. Nội bộ đoàn kết, không có cá nhân trong cơ quan Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên.

- Được cụm thi đua bình chọn, suy tôn đề nghị Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tặng Cờ xuất sắc.

- Được các ban, đơn vị cơ quan Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam chấm điểm và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đánh giá đạt từ 90 đến dưới 95 điểm

c. Bằng khen của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

- Hoàn thành tốt chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và các tiêu chí thi đua năm 2013; các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ, chính quyền địa phương; những hoạt động đột xuất (nếu có) trong năm.

- Có mô hình tốt, kinh nghiệm hay, cách làm hiệu quả trong việc hướng dẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động. Xây dựng và nhân rộng được nhiều điển hình, nhân tố mới để các đơn vị khác học tập.

- Có biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội. Nội bộ đoàn kết, không có cá nhân trong cơ quan Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên.

- Được các ban, đơn vị cơ quan Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam chấm điểm và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đánh giá đạt từ 80 đến dưới 90 điểm.

2. Tổ chức xét tặng

- Điều kiện xét tặng thưởng:

+ Phải có bản đăng ký thi đua từ đầu năm (đối với danh hiệu Cờ thi đua của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam).

+ Có ý kiến nhận xét, đánh giá bằng văn bản của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thành uỷ về những thành tích đã đạt được trong năm.

+ Có báo cáo những mô hình tốt, kinh nghiệm hay, cách làm hiệu quả trong việc hướng dẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động. Xây dựng và nhân rộng được các điển hình, nhân tố mới để các đơn vị khác học tập. Có bản tự chấm điểm.

+ Không xét khen thưởng đối với các tỉnh, thành phố có cán bộ lãnh đạo chủ chốt bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên và những tỉnh, thành phố được các ban, đơn vị cơ quan Trung ương Mặt trận chấm điểm thấp hơn 80 điểm.

- Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam xem xét, trình Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam quyết định việc tặng thưởng Cờ thi đua và Bằng khen của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam cho Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh trên cơ sở kết quả bình xét thi đua tại Hội nghị giao ban cụm cuối năm, ý kiến nhận xét đánh giá đồng ý của đồng chí Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam phụ trách cụm thi đua và kết quả theo dõi chấm điểm của các ban, đơn vị thuộc cơ quan Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Căn cứ các nội dung tiêu chí thi đua nêu trên, cuối năm các địa phương xây dựng báo cáo thi đua, có nhận xét đánh giá từng nội dung (có số liệu cụ thể chứng minh kèm theo) tự nhận xét, chấm điểm và đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tặng thưởng (Cờ xuất sắc toàn diện, Cờ xuất sắc, Bằng khen).

2. Tại Hội nghị giao ban cụm cuối năm, tiến hành nhận xét, đánh giá từng tỉnh, thành phố theo các nội dung tiêu chí thi đua trên và mỗi cụm bình chọn, suy tôn 04 tỉnh, thành phố tiêu biểu xuất sắc đề nghị Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tặng 1 Cờ xuất sắc toàn diện, 3 Cờ xuất sắc.

3. Các ban, đơn vị chuyên môn của cơ quan Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam có trách nhiệm giúp Ban Thường trực và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam theo dõi và chấm điểm theo các lĩnh vực phụ trách.

4. Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Uỷ ban Trung ương Mặt trận xem xét thẩm định trình Ban Thường trực quyết định.

Căn cứ hướng dẫn, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện tốt các lĩnh vực công tác, cuối năm gửi báo cáo kết quả thi đua về Văn phòng cơ quan Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam (qua Phòng Thi đua - Khen thưởng, địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội; ĐT: 04.38265865,  Fax: 04.38251887) trước ngày 30/11/2013.

   TM. BAN THƯỜNG TRỰC

PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

 (Đã ký)

 Vũ Trọng Kim

      | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |


ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc

(11/6/1948 – 11/6/2013)

 

I- Hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa của Lời kêu gọi thi đua ái quốc và Ngày Tuyên thống thi đua yêu nước

1- Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 19/12/1946 toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đứng trước hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước, chống thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27/3/1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Phát động phong trào thi đua ái quốc để động viên mọi lực lượng cho kháng chiến và kiến quốc. Chỉ thị nêu rõ: “Nước nhà đang kháng chiến và kiến quốc, mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”. Để triển khai Chỉ thị này, nhân dịp toàn quốc kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến (Ngày Nam bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 23/9/1945), ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc.

Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc: Động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống anh hùng, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi hi sinh, gian khổ diệt giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đem hết sức mình, tham gia kháng chiến, kiến quốc, đưa đất nước vượt qua thời điểm đầy gian nguy, bảo vệ được chính quyền cách mạng non trẻ, xóa được nạn đói, nạn dốt. Từ những kết quả bước đầu đó, phong trào thi đua ái quốc được tiếp thêm sức mạnh, ngày càng phát triển, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại trong công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

2- Mục đích, ý nghĩa của Ngày Truyền thống thi đua yêu nước (11/6/1948)

Nhằm tiếp tục phát huy sức mạnh của các phong trào thi đua yêu nước, tạo khí thế thi đua thường xuyên, sôi nổi, rộng khắp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ngày 4/3/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 258/QĐ-TTg về việc lấy ngày 11 tháng 6 hàng năm là Ngày truyền thống thi đua yêu nước.

- Đây là dịp để đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, gắn với việc triển khai sâu rộng và có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với công tác tổ chức, vận động và hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

- Làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ vai trò, tác dụng to lớn của thi đua yêu nước đối với những thắng lợi của cách mạng Việt Nam; nhận thức sâu sắc vai trò của thi đua yêu nước là động lực to lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; động viên các tầng lớp nhân dân phát huy tinh thần yêu nước, vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng.

- Khơi dậy truyền thống yêu nước, truyền thống anh hùng, lòng tự hào dân tộc, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó của dân tộc; củng cố và phát triển phong trào thi đua yêu nước ngày càng sâu, rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

- Góp phần giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm với gia đình, cộng đồng, dân tộc, đất nước.

- Phát huy, bồi dưỡng, nhân rộng và biểu dương các điển hình tiên tiến, nhân tố mới, đẩy lùi tiêu cực.

II- Tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về thi đua yêu nước và công tác khen thưởng trong thời kỳ đổi mới đất nước

1- Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước

Vận dụng sáng tạo, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Coi tổ chức thi đua là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, biến thành sức mạnh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Thi đua yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”, “công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”. Thi đua phải được tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và phải thực hiện thường xuyên, lâu dài, rộng khắp. Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp phải tuyên truyền, giải thích, động viên cho mọi người tự nguyện, tự giác tham gia phong trào thi đua với kế hoạch, mục tiêu cụ thể, rõ ràng; đồng thời, phải có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, tổng kết phong trào thi đua. Khéo léo đề ra được tên phong trào với những khẩu hiệu hành động, tuyên truyền sắc bén, sát đúng với tình hình, nguyện vọng, lợi ích của quần chúng nhân dân, phù hợp với yêu cầu thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Cán bộ, đảng viên phải tích cực vận động quần chúng, đi đầu làm gương cho mọi người. Tích cực phát hiện điển hình, phổ biến những kinh nghiệm, nêu gương khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích trong phong trào thi đua.

Phải kết hợp chặt chẽ thi đua với khen thưởng “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục. Cần nhanh chóng biểu dương những tấm gương “người tốt việc tốt”. Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước: “Lãnh đạo phải cụ thể, kịp thời, thiết thực, có trọng điểm và nắm điển hình”.

2- Quan điểm của Đảng ta về thi đua yêu nước và công tác khen thưởng trong thời kỳ đổi mới đất nước

Từ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác thi đua, khen thưởng đứng trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới. Từ thực tế đó, ngày 03/6/1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW “về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới” khẳng định: “Chặng đường hơn nửa thế kỷ qua, những thành quả to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của cách mạng Việt Nam trong mấy chục năm qua gắn liền với việc tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua ái quốc trên phạm vi cả nước”; Chỉ thị yêu cầu tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, coi “Thi đua khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày”.

Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 21/5/2004 Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW “về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”. Chỉ thị yêu cầu “các cấp ủy đảng, tổ chức Đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác thi đua”. Các phong trào thi đua phải gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các đơn vị, địa phương; có mục tiêu, nội dung thi đua cụ thể, thiết thực. Đổi mới nội dung và hình thức thi đua khen thưởng, kết hợp chặt chẽ giữa thi đua với khen thưởng. Khen thưởng phải đảm bảo chính xác, công khai, công bằng, kịp thời. Mỗi chi bộ, đảng viên cần phát huy tốt vai trò tiên phong gương mẫu và là hạt nhân trong các phong trào thi đua ở cơ sở. Tiếp đó, Chỉ thị 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị yêu cầu: gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với các phong trào thi đua yêu nước.

III- Phong trào thi đua yêu nước qua các giai đoạn cách mạng

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước. Ngoài chiến trường, các chiến sĩ thi đua giết giặc lập công; ở hậu phương, nhân dân thi đua tăng gia sản xuất giỏi, diệt giặt đói, diệt giặt dốt… Khẩu hiệu “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ, hậu phương thi đua với tiền phương” và “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”…

Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam (1954 – 1975), sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết về “Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước” (26/01/1961), hàng loạt cuộc phát động hưởng ứng thi đua của các ngành, các giới đã được tổ chức, điển hình là các phong trào: Thi đua trong nông nghiệp với lá cờ đầu là Hợp tác xã Đại Phong (xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), phong trào thi đua của Nhà máy cơ khí Duyên Hải, Hải Phòng, phong trào thi đua “Hai tốt” (Dạy tốt, học tốt) theo tấm gương điển hình của Trường Phổ thông Cấp II Bắc Lý (Lý Nhân, Hà Nam)…

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân miền Bắc: đẩy mạnh phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, cả nước dấy lên phong trào thi đua: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Tay búa, tay súng”, phong trào “Ba sẵn sàng”, “5 xung phong” trong thanh niên, “Ba đảm đang” trong phụ nữ…

Cùng với các phong trào thi đua xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ở miền Nam các phong trào thi đua “Bám đất giữ làng” “Một tấc không đi, một ly không dời”, phong trào “Giết giặc lập công” cũng đã phát triển rộng khắp.

Trong thời kỳ đất nước thống nhất, tập trung xây dựng Chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước:

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, các phong trào thi đua hướng vào các nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tiêu biểu là các phong trào: “Tất cả vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”; “Tất cả vì công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước (1986), từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, khẩu hiệu thi đua của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là “Tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhiều phong trào được phát động và thực hiện có hiệu quả như: “Chuyên dịch cơ cấu kinh tế”, “Xóa đói, giảm nghèo”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Vì an ninh của Tổ quốc”, “Thi đua quyết thắng”…

IV- Kết quả chủ yếu của phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng trong những năm gần đây; hạn chế yếu kém và bài học kinh nghiệm

1- Kết quả chủ yếu

Sau khi có Luật Thi đua, Khen thưởng (2003) và từ khi thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị, phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước đã có bước tiến bộ. Các cấp ủy, tổ chức Đảng, lãnh đạo chính quyền các cấp đã có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo; các bộ, ngành, địa phương tổ chức được nhiều phong trào thi đua; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã chủ động và có sự phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền tổ chức nhiều phong trào thi đua thiết thực, được đông đảo đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia hưởng ứng.

Ở Trung ương, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương đã phát động nhiều phong trào thi đua trong cả nước như: Phong trào “Cả nước chung sức, đồng lòng, chia sẻ khó khăn, thi đua giành thắng lợi”; phong trào thi đua thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; phong trào “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa…

Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai nhiều phong trào thi đua thiết thực, bám sát nhiệm vụ chính trị trọng tâm của địa phương; đổi mới nội dung và hình thức tổ chức phong trào thi đua phong phú, đa dạng. Bên cạnh thi đua thường xuyên còn phát động các phong trào thi đua theo đợt, chuyên đề, đột xuất.

Các bộ, ngành Trung ương đã đẩy mạnh các phong trào thi đua tiêu biểu như: Phong trào thi đua Quyết thắng và đợt thi đua cao điểm với chủ đề “Âm vang Điện Biên Phủ trên không” trong quân đội; phong trào “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” trong công an; phong trào “Thi đua phấn đấu hoàn thành các công trình trọng điểm quốc gia” của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước; phong trào “Thi đua dạy tốt, học tốt” của Bộ Giáo dục và Đào tạo; phong trào “Học tập Bác Hồ làm báo, viết báo” của Thông tấn xã Việt Nam; phong trào “Vì một nền nông nghiệp chất lượng cao, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn…

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã đẩy mạnh các phong trào thi đua theo chuyên đề, gắn với việc biểu dương, tôn vinh các điển hình tiên tiến, đã góp phần học tập, giáo dục, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và góp phần phát triển kinh tế - xã hội tiêu biểu như: phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; phong trào “5 xung kích, 4 đồng hành” của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; phong trào “Cựu chiến binh gương mẫu” của Hội Cựu chiến binh Việt Nam…

Nhìn chung, phong trào thi đua được triển khai trên mọi lĩnh vực, hình thức thi đua phong phú và thiết thực hơn, thu hút được sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường hội nhập quốc tế.

- Công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến đã có bước chuyển biến tích cực. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin - Truyền thông, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương và Đài Truyền hình Việt Nam đã xây dựng chương trình phối hợp về tăng cường công tác tuyên truyền, giới thiệu các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua. Các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương trong cả nước đã có nhiều biện pháp phong phú như: mở Hội nghị biểu dương, tôn vinh các điển hình, tổ chức Hội thảo trao đổi kinh nghiệm thông qua hoạt động của các cụm, khối thi đua.

- Công tác khen thưởng trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, bám sát về tiêu chuẩn, đối tượng, đảm bảo chặt chẽ, chính xác, kịp thời. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã chú trọng khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; quan tâm khen thưởng thành tích đột xuất và khen thưởng cho công nhân, nông dân, người trực tiếp lao động, sản xuất.

- Công tác thi đua và khen thưởng đã có sự gắn kết chặt chẽ hơn. Thông qua các phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều mô hình mới, nhân tố mới, nhiều điển hình tiên tiến xuất sắc mang tính sáng tạo.

2- Hạn chế, yếu kém

- Phong trào thi đua ở một số nơi còn hình thức, chưa gắn kết thi đua với công việc thường xuyên, hàng ngày. Nội dung, tiêu chí thi đua chưa cụ thể. Trong chỉ đạo phong trào thi đua chưa kịp thời, chưa thực sự gắn với lợi ích của người lao động, do đó chưa thu hút, phát huy, tạo động lực thi đua từ cơ sở. Đối với doanh nghiệp, nhất là khu vực kinh tế ngoài nhà nước và các cơ sở liên doanh với nước ngoài chưa chú ý đúng mức đến việc tổ chức các phong trào thi đua. 

- Nhiều nơi chưa coi trọng công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, sơ, tổng kết; chưa đầu tư đúng mức cho phong trào thi đua; chưa tạo được sự phối hợp, liên kết giữa các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng liên quan, từ đó hạn chế tính động lực và hiệu quả của các phong trào thi đua. Hoạt động của các cụm, khối thi đua tuy đã có bước đổi mới về nội dung, tiêu chí, song còn hạn chế trong phương thức hoạt động và trong phối hợp, tổ chức thực hiện.

- Công tác khen thưởng chưa bám sát các phong trào thi đua, chưa động viên được người lao động, người trực tiếp sản xuất, trí thức, nhà khoa học. Một số trường hợp khen thưởng thiếu chính xác, nể nang, chạy theo thành tích. Thủ tục khen thưởng còn qua nhiều cấp, nhiều thủ tục hành chính, gây phiền hà và khó khăn cho cơ sở.

- Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến chưa đáp ứng được yêu cầu Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị; trong chỉ đạo nhiều bộ, ngành, địa phương còn buông lỏng, thiếu kế hoạch bồi dưỡng, chăm lo, xây dựng điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt chưa làm được thường xuyên; hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng chưa dành thời lượng tương xứng; các biện pháp tuyên truyền về các điển hình tiên tiến còn nghèo nàn, thiếu tích cực và đồng bộ.

3- Bài học kinh nghiệm

Một là, công tác thi đua, khen thưởng phải được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên và sâu sát của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong tổ chức, vận động và phát huy tính tự giác của mọi tầng lớp nhân dân trong các phong trào thi đua yêu nước, tạo sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị tham gia các phong trào thi đua ngay từ cơ sở.

Hai là, phong trào thi đua phải gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị; phải có mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, nội dung thiết thực. Bên cạnh những phong trào thi đua lớn, cần có những phong trào thi đua theo chuyên đề, thi đua theo đợt, thi đua trong những khu vực, đối tượng cụ thể để có thể tạo ra phong trào rộng khắp, toàn diện cả về bề rộng và chiều sâu.

Ba là, trong công tác thi đua, khen thưởng luôn coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục với nhiều nội dung và hình thức phong phú, đa dạng, thiết thực. Gắn chặt việc tuyên truyền với việc nêu gương, giao lưu, trao đổi, học tập, nhân điển hình tiên tiến các tập thể, cá nhân trong các lĩnh vực của đời sống.

Bốn là, cần hết sức quan tâm củng cố, kiện toàn, ổn định bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ. Đây là yếu tố rất quan trọng, quyết định chất lượng công tác tham mưu và kết quả triển khai tổ chức thực hiện các phong trào thi đua và công tác khen thưởng.

Năm là, thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, sơ, tổng kết phong trào thi đua, công tác khen thưởng, phát triển nhân tố mới, cách làm hay để rút kinh nghiệm và nhân rộng. Thực hiện công khai, dân chủ trong bình xét thi đua, tạo mối quan hệ biện chứng giữa thi đua và khen thưởng, để thi đua thực sự là động lực to lớn của cách mạng, là cơ sở để thực hiện công tác khen thưởng.

V- Quan điểm, mục tiêu, nội dung, giải pháp đổi mới công tác thi đua - khen thưởng trong thời gian tới

1- Quan điểm

- Tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí và tầm quan trong của thi đua, khen thưởng đã được ghi trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước; thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Càng khó khăn thì càng phải thi đua”. Thi đua, khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới.

- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, thi đua phải được tạo dựng từ phong trào của quần chúng và được quần chúng tích cực hưởng ứng, tham gia. Tổ chức phong trào thi đua yêu nước phải thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức.

- Cấp ủy, tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện công tác tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị. Thống nhất quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng theo pháp luật. Mở rộng phân cấp trong công tác khen thưởng.

2- Mục tiêu

- Phong trào thi đua và công tác khen thưởng phải nhằm động viên được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, phải thực sự trở thành động lực to lớn, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020.

- Phong trào thi đua phải thiết thực, sâu rộng và bao quát toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội, các tầng lớp nhân dân. Nội dung, phương thức tổ chức phong trào thi đua phải được gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của từng bộ, ngành, địa phương, đơn vị cơ sở.

- Chuyển trọng tâm thi đua, khen thưởng về cơ sở và người lao động, người sản xuất trực tiếp, có thành tích sáng tạo trong công tác, lao động, sản xuất và bảo vệ Tổ quốc; khen thưởng cần đảm bảo tính nêu gương, giáo dục, được dư luận đồng tình, khắc phục bệnh thành tích, hình thức trong thi đua, khen thưởng.

- Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong công tác thi đua, khen thưởng theo hướng công khai, minh bạch, công bằng.

3- Nội dung đổi mới

a)- Đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình hiện nay

- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua, khen thưởng, tiếp tục quán triệt, làm chuyển biến nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng. “Mỗi chi bộ, đảng viên cần phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu và là hạt nhân trong các phong trào thi đua ở cơ sở”, “cơ quan chính quyền nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phải chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng trong việc tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, báo cáo kịp thời đầy đủ và chịu trách nhiệm trước cấp ủy tổ chức Đảng kết quả tổ chức các phong trào thi đua, yêu nước”.

- Các cấp ủy, tổ chức Đảng cần có kế hoạch cụ thể để tiếp tục tập trung tuyên truyền, quán triệt sâu sắc, đầy đủ Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Kết luận số 83-KL/TW của Ban Bí thư (khóa X) “Về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”; các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng.

- Phong trào thi đua phải bám sát nhiệm vụ chính trị của bộ, ngành, địa phương, đơn vị để làm nội dung thi đua, tập trung vào mục tiêu phấn đấu hoàn thành toàn diện, vượt mức các nhiệm vụ, chỉ tiêu trong chương trình, kế hoạch đề ra.

- Gắn kết các phong trào thi đua yêu nước với việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị.

b)- Đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước

- Mỗi phong trào thi đua phải xác định được mục tiêu, nội dung cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm, tình hình của từng cơ quan, đơn vị. Phong trào thi đua cần tập trung về cơ sở và được tổ chức, phát động với những hình thức phong phú, hấp dẫn, có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, có tiêu chí thi đua cụ thể.

- Phát động các phong trào thi đua theo đợt, theo chuyên đề để hướng phong trào thi đua vào việc giải quyết những khó khăn vướng mắc, những mặt  còn tồn tại, yếu kém, những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của từng bộ, ngành, địa phương, đơn vị.

- Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm trong đổi mới phương thức tổ chức chỉ đạo các phong trào thi đua hiện nay.

c)- Đổi mới chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng, trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, Khen thưởng.

- Thực hiện phân cấp và mở rộng thẩm quyền các hình thức khen thưởng, nhằm tạo được động lực trực tiếp và khen thưởng được kịp thời, chính xác.

- Chuyển việc đề nghị khen thưởng theo thủ tục hành chính các cấp hiện nay sang đề nghị khen thưởng thông qua phát hiện, lựa chọn các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc để khen thưởng kịp thời, chính xác. Đề cao vai trò của đơn vị, cá nhân trong phát hiện, giới thiệu những điển hình tiên tiến để khen thưởng và đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng.

- Chuyển hướng sang khen thưởng cho đối tượng là tập thể, công nhân, nông dân, người trực tiếp sản xuất, công tác, người lao động sáng tạo. Quan tâm khen thưởng cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số.

- Cải cách hành chính về hồ sơ, thủ tục khen thưởng, quy định rõ về quy trình, tiến trình khen thưởng, lấy ý kiến nhân dân về một số hình thức khen thưởng bậc cao trên các phương tiện thông tin đại chúng, đảm bảo công khai, minh bạch trong công tác khen thưởng.

4- Giải pháp

- Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; qua đó nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, ý thức gương mẫu của cán bộ, đảng viên, xây dựng thói quen và ý thức chấp hành nghiêm túc pháp luật về thi đua, khen thưởng.

- Đổi mới hoạt động của các cơ quan truyền thông, định hướng dư luận, tôn vinh tuyên truyền các gương điển hình tiên tiến; hạn chế, đẩy lùi các mặt tiêu cực trong xã hội. Định kỳ tổ chức các hình thức tôn vinh, gặp mặt các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới cấp nhà nước.

- Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống tổ chức thi đua, khen thưởng các cấp; thông tin các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng, lấy ý kiến nhân dân tham gia vào việc bình xét phong tặng danh hiệu và các hình thức khen thưởng cấp nhà nước, làm cho hoạt động của toàn hệ thống tổ chức thi đua, khen thưởng các cấp được minh bạch hơn.

- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp. Đổi mới nội dung hoạt động và chú trọng việc kiểm tra, giám sát các hoạt động về thi đua, khen thưởng, đảm bảo tính khách quan, chính xác trong việc xét khen thưởng.

- Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng về chủ trương, chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng.

                           BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG 

  | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |




 
 

 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn