Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     
 
 

 

 
 

    TIN MỚI :                                                           


                     

   


       

Đề án số 04/ĐA-MTTW-BTT về tổ chức thực hiện cuộc vận động  “Toàn dân đoàn kết XDNTM, đô thị văn minh”

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát động phong trào  “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua XD và BV Tổ quốc”

Tổng quan tình hình kinh tế – xã hội năm 2015

Một số thành tựu 15 năm thực hiện mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam


 

UỶ BAN TRUNG ƯƠNG

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

BAN THƯỜNG TRỰC

Số:  04 /ĐA-MTTW-BTT

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

         Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2015

       

ĐỀ ÁN

Tổ chức thực hiện cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”

Phần thứ nhất

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

   I. CĂN CỨ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG

  Căn cứ các văn bản chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam:

   - Các văn bản của Đảng: Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng khoá X về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Kết luận số 62- KL/TW ngày 08/12/2009 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới nội dung phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội”; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Quyết định số 217-QĐ/TW và số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành kèm theo Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quy định về việc MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền.

   - Các văn bản của Quốc hội khóa XIII: Luật MTTQ Việt Nam số 75/2015/QH13 được kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 09/6/2015; Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24/ 06/ 2014 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020; Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016- 2020.

- Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về ban hành bộ tiêu chí Quốc gia Nông thôn mới, Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Quyết định số 1620/QĐ-TTg ngày 20/09/2011 về Kế hoạch tổ chức Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.

- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014 - 2019 về yêu cầu đổi mới nội dung phương thức tổ chức thực hiện các cuộc vận động do MTTQ Việt Nam chủ trì cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 06/NQ-MTTW-ĐCT ngày 08/7/2015 Hội nghị lần thứ tư Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

II. CĂN CỨ THỰC TIỄN

1. Căn cứ vào thực tiễn 20 năm triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và 15 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trì và phát động:

Qua 20 năm triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” cho thấy: Nội dung Cuộc vận động đã bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và gắn với nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương. Quá trình triển khai Cuộc vận động đã phát huy được tính tích cực, sáng tạo và nội lực của người dân, cộng đồng dân cư, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự ở từng địa bàn khu dân cư; đã khơi dậy truyền thống đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân thông qua hình thức tự quản ở cơ sở, tích cực xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh… Kết quả của Cuộc vận động đã góp phần quan trọng cùng Nhà nước thực hiện đường lối của Đảng về công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” qua 15 năm thực hiện đã khẳng định được ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc; phù hợp với ý Đảng, lòng dân, được sự hưởng ứng nhiệt tình của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cuộc vận động đã góp phần phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái của cộng đồng các dân tộc; khơi dậy tình yêu thương, giúp đỡ của người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng chăm lo, giúp đỡ người nghèo, tạo điều kiện người nghèo vươn lên trong cuộc sống. Cùng với các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, từ quỹ “Vì người nghèo” và hoạt động an sinh xã hội, Ủy ban MTTQ Việt Nam và đoàn thể các cấp đã vận động nhân dân hỗ trợ, giúp đỡ các hộ nghèo, vùng kinh tế khó khăn một cách thiết thực, góp phần chia sẻ trách nhiệm với các cấp chính quyền và thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác chăm lo giúp đỡ người nghèo. Cuộc vận động còn thể hiện sự hưởng ứng tích cực mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc về xóa đói, giảm nghèo, đã nhận được sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế thông qua các hoạt động, dự án giúp cho người nghèo, vùng khó khăn. Kết quả Cuộc vận động đã góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, phát triển bền vững của đất nước.

Cùng với việc triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động năm 2011; Ủy ban MTTQ Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp  đã xây dựng chương trình, kế hoạch hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; các tiêu chí xây dựng nông thôn mới đã được Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên lồng ghép với nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Thông qua các hoạt động cụ thể, phù hợp với tình hình của địa phương, Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tích cực vận động nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới, góp phần thiết thực vào kết quả giai đoạn đầu của mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, ở khu vực đô thị, Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức thành viên đã vận động nhân dân xây dựng khu phố, phường, thị trấn văn minh đô thị với các nội dung thiết thực như: xây dựng tuyến phố tự quản, khu phố đảm bảo trật tự an ninh, khu phố thực hiện tốt công tác cảm hóa, giáo dục người lầm lỗi tại cộng đồng, khu phố văn minh, tuyến phố xanh, sạch, đẹp… góp phần cùng chính quyền và các ngành chức năng thực hiện nhiệm vụ xây dựng các đô thị phát triển, văn minh, hiện đại.

Tuy nhiên, việc triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” còn một số hạn chế kéo dài: cơ chế chỉ đạo và phối hợp triển khai Cuộc vận động và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở Trung ương và các địa phương không ổn định, nhất quán; việc phối hợp tổ chức thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua giữa Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên ở các cấp chưa cụ thể, thường xuyên; chưa đánh giá rõ được đóng góp của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên vào việc thực hiện các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Công tác thi đua khen thưởng chưa được quan tâm đúng mức; việc bình bầu các danh hiệu thi đua ở cơ sở và khu dân cư nhiều nơi còn hình thức, chưa chú trọng nâng cao chất lượng “Gia đình văn hóa”, khu dân cư văn hóa.

   Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” tuy đã có những kết quả đáng ghi nhận song vẫn còn nhiều bất cập. Công tác vận động ủng hộ quỹ “Vì người nghèo” ngày càng khó khăn, nhất là những địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, nơi có ít doanh nghiệp nên nguồn lực chăm lo giúp đỡ người nghèo còn hạn chế. Hỗ trợ của quỹ chưa tạo động lực, điều kiện để hộ nghèo vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh quỹ “Vì người nghèo” có rất nhiều quỹ do các tổ chức, các ngành vận động, do đó vừa phân tán nguồn lực, vừa gây nên tình trạng huy động sức dân quá mức. Trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” có nội dung vận động nhân dân đoàn kết, hỗ trợ người nghèo, do đó đánh giá kết quả còn có sự trùng lắp giữa cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.

   2. Trong giai đoạn hiện nay, nội dung và phương thức tổ chức các cuộc vận động  của  MTTQ Việt Nam phải bảo đảm thiết thực, sát với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh đất nước, đồng bộ với phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2016 - 2020 với chủ đề: “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và những nội dung thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX. Ủy ban MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội cần thống nhất, phối hợp tổ chức cuộc vận động và phong trào cụ thể để phát huy tinh thần sáng tạo trong nhân dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, giới, lứa tuổi, dân tộc và tôn giáo, tạo khí thế thi đua  sôi nổi, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn  hội nhập quốc tế hiện nay.

Kế thừa những kết quả quan trọng của hai cuộc vận động, khắc phục căn bản các hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện thời gian qua, đồng thời đảm bảo thống nhất nội dung trong công tác vận động các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh trật tự, xây dựng cộng đồng dân cư phát triển, góp phần thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chương trình, đề án của Chính phủ về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam xây dựng Đề án Tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

Phần thứ hai

MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP

THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG

   I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

   1. Mục đích

Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” nhằm không ngừng củng cố và phát huy khối đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần hoàn thành các mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững.

   2. Yêu cầu

- Nội dung Cuộc vận động thiết thực, toàn diện, phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và điều kiện thực tiễn của từng địa phương, đáp ứng các yêu cầu chính đáng của nhân dân. Đồng thời phát huy dân chủ, nhân dân tham gia giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước tại địa phương, góp phần xây dựng Đảng, Chính quyền trong sạch, vững mạnh.

- Đối với khu vực nông thôn:

+ Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới và thống nhất với Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã căn cứ tình hình thực tế của địa phương, lựa chọn các tiêu chí phù hợp, cụ thể hóa thành các nội dung để vận động nhân dân tham gia thực hiện ở từng khu dân cư.

+  Đối với các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới, vận động nhân dân tiếp tục phát huy kết quả, tích cực tham gia các hoạt động góp phần nâng cao chất lượng xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đối với các xã chưa đạt chuẩn, Ủy ban MTTQ Việt Nam hiệp thương với các tổ chức thành viên để phân công vận động nhân dân phát huy tính sáng tạo, tích cực đóng góp sức người, sức của góp phần thực hiện các tiêu chí xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới. Các tổ chức thành viên cần xây dựng các mô hình tự quản đảm nhận các phần việc cụ thể, hỗ trợ các gia đình để phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân chung sức xây dựng nông thôn mới.

- Đối với khu vực đô thị:

+ Căn cứ vào hướng dẫn, chỉ đạo của Trung ương và Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường, thị trấn thống nhất với Ủy ban nhân dân cùng cấp lựa chọn các tiêu chí phù hợp vận động nhân dân tham gia xây dựng khu dân cư (khu phố, tổ dân phố) và phường, thị trấn theo yêu cầu đô thị văn minh.

+ Ủy ban MTTQ Việt Nam hiệp thương với các tổ chức thành viên để phân công vận động nhân dân phát triển kinh tế, tích cực góp công, góp sức thực hiện các tiêu chí đô thị văn minh. Các tổ chức thành viên xây dựng các mô hình tự quản, đảm nhận các phần việc cụ thể, hỗ trợ các gia đình để phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân chung sức xây dựng đô thị văn minh.

  - Việc triển khai Cuộc vận động được tiến hành thường xuyên, liên tục, từng giai đoạn có sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung nội dung, giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.

  II. NỘI DUNG CUỘC VẬN ĐỘNG

  Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh với 5 nội dung trọng tâm là:

      1. Đoàn kết tham gia phát triển kinh tế, tích cực giúp nhau giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống, khuyến khích làm giàu chính đáng.

   Vận động nhân dân giúp nhau phát triển kinh tế, thoát nghèo bền vững, vươn lên làm giàu hợp pháp; thực hiện quy hoạch và chỉnh trang khu dân cư; hiến đất, góp công xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn và đường bê tông trong khu phố. Vận động, hướng dẫn và hỗ trợ các hộ gia đình đăng ký sản xuất kinh doanh thực phẩm an toàn. Vận động người thân ở xa quê đóng góp xây dựng quê hương. Từ hỗ trợ của quỹ “Vì người nghèo”, các chương trình, dự án và hỗ trợ từ cộng đồng giúp các hộ nghèo nâng cấp nhà ở, cải thiện đời sống.

- Ở nông thôn, vận động nông dân tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới; hỗ trợ liên kết giữa các hợp tác xã và hộ nông dân với doanh nghiệp để phát triển các chuỗi liên kết có sức cạnh tranh và hiệu quả cao; phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại; phát huy nghề truyền thống của địa phương; tích cực chuyển đổi cơ cấu sản xuất để không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.

 (Các hoạt động trên góp phần tích cực thực hiện các tiêu chí: 1, 2, 6, 9, 10, 11, 12 và 13 về xây dựng nông thôn mới).

- Ở đô thị, vận động nhân dân thực hiện nghiêm các quy định về quy hoạch đô thị; phát triển, đa dạng hoá ngành nghề dịch vụ và sản xuất kinh doanh, bảo tồn và phát triển ngành nghề truyền thống; xây dựng văn minh và đạo đức trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, không bán hàng không có xuất xứ theo quy định của pháp luật, hàng giả, hàng kém chất lượng.

2. Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, chăm lo sự nghiệp giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân dân; xây dựng gia đình văn hóa; phát huy truyền thống đền ơn, đáp nghĩa, tương thân, tương ái.  

Vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hoá, ứng xử văn minh, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các vùng, miền, bảo vệ các công trình văn hoá lịch sử. Thực hiện phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; khuyến khích học nghề và phát triển nguồn nhân lực, tích cực xây dựng xã hội học tập. Vận động nhân dân tập luyện thể dục, thể thao; phòng chống các dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe; mua bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội. Tích cực xây dựng gia đình hạnh phúc, nâng cao chất lượng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa.

Thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc các gia đình chính sách, người có công, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng. Tích cực tham gia công tác nhân đạo, từ thiện, giúp đỡ gia đình bị thiên tai, người bị nhiễm chất độc da cam-đioxin, người già yếu không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

(Các hoạt động trên góp phần tích cực vào thực hiện các tiêu chí 14, 15 và 16 về xây dựng nông thôn mới).

3. Đoàn kết tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng  cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp.

Vận động nhân dân tích cực tham gia các hoạt động giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường; xử lý chất thải sản xuất và sinh hoạt đảm bảo vệ sinh môi trường; trồng cây xanh; xây dựng các mô hình cổng nhà sân vườn, đường làng ngõ xóm, khu phố sáng - xanh - sạch - đẹp.

Hướng dẫn để người dân biết cách ứng phó với biến đổi khí hậu và tham gia giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường.

Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, phường hiệp thương với các tổ chức thành viên để phân công thực hiện các công trình, phần việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ở xã, phường và ở từng khu dân cư.

(Các hoạt động trên góp phần tích cực thực hiện tiêu chí 17 về xây dựng nông thôn mới).

   4. Đoàn kết chấp hành pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Vận động nhân dân thực hiện tốt hương ước, quy ước của cộng đồng; sống và làm việc theo pháp luật, tích cực phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội; giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, không vi phạm quy định của pháp luật về an toàn giao thông, về an toàn thực phẩm.

Phát huy vai trò các tổ hòa giải, giải quyết hiệu quả những mâu thuẫn, bất hòa trong nội bộ nhân dân, tạo không khí hòa thuận ở khu dân cư.

(Các hoạt động trên góp phần tích cực thực hiện tiêu chí 19 về xây dựng nông thôn mới).

 5. Đoàn kết phát huy dân chủ, tích cực tham gia giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch vững mạnh.

  Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng đạt hiệu quả cao. Tích cực tham gia góp ý với cán bộ đảng viên, với chi bộ, chi đoàn, chi hội các đoàn thể trong các cuộc họp khu dân cư và sinh hoạt đoàn thể; giám sát chính quyền xã, phường trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tổ chức thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tích cực đấu tranh với những hành vi tham nhũng, lãng phí của cán bộ, đảng viên; đấu tranh với các phần tử lợi dụng dân chủ, có hành vi gây rối trật tự xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

(Các hoạt động trên góp phần tích cực vào thực hiện tiêu chí 18 về xây dựng nông thôn mới).

  Kết quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới đô thị văn minh” đóng góp vào chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững được đánh giá qua:

  - Chất lượng và số lượng gia đình được công nhận gia đình văn hóa, với các tiêu chí phù hợp với yêu cầu về xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh.

  - Chất lượng và số lượng các khu dân cư được công nhận khu dân cư văn hóa (làng văn hóa, thôn văn hóa, tổ dân phố văn hóa...) với các tiêu chí phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh.

  - Số lượng và tác dụng của các công trình, phần việc mà MTTQ Việt Nam ở xã, phường, Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư, các tổ chức thành viên đã thực hiện, góp phần thiết thực hoàn thành các tiêu chí xã nông thôn mới và phường, thị trấn văn minh.

III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG

          1. Đẩy mạnh công tác truyền thông

- Thường xuyên tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân về ý nghĩa, mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững; tuyên truyền về vai trò, tác dụng và cách tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; lắng nghe ý kiến của nhân dân về trách nhiệm của chính quyền, về công tác phối hợp hướng dẫn nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, về kết quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, từ đó tạo sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân góp phần thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững.  

  - Kịp thời phát hiện và giới thiệu gương điển hình, mô hình khu dân cư, xã, phường, thị trấn tiêu biểu thực hiện hiệu quả các nội dung Cuộc vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng, các báo, ấn phẩm của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên.

2.  Hiệp thương, phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện Cuộc vận động

- Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp thực hiện tốt vai trò chủ trì, hiệp thương xây dựng chương trình phối hợp, kế hoạch triển khai Cuộc vận động, theo dõi, tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện Cuộc vận động; phát huy vai trò tự quản của nhân dân; tập hợp ý kiến đề xuất với Đảng, Nhà nước về chủ trương, cơ chế, chính sách để Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên triển khai có hiệu quả Cuộc vận động.

- Trên cơ sở nội dung của Cuộc vận động, hiệp thương và phân công trách nhiệm giữa Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận phát huy tính sáng tạo, đa dạng các phong trào thi đua của các tổ chức thành viên. Hướng dẫn các tổ chức thành viên ở xã, phường, khu dân cư đăng ký thực hiện ít nhất một nội dung, công việc cụ thể, một công trình tự quản để góp phần thực hiện mục tiêu  xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững.

 Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên ở xã, phường hiệp thương thống nhất việc vận động, hướng dẫn và hỗ trợ các gia đình cụ thể ở các thôn, ấp, bản, khu phố, phấn đấu không có hộ nghèo nào không được một tổ chức chính trị- xã hội hỗ trợ, tư vấn để thoát nghèo bền vững.

3.  Nâng cao chất lượng tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư

Hằng năm, nhân dịp Ngày truyền thống MTTQ Việt Nam - Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11), Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên hướng dẫn tổ chức các hoạt động thiết thực; tuyên truyền về truyền thống MTTQ Việt Nam và ý nghĩa Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc; đánh giá kết quả thực hiện Cuộc vận động và các phong trào thi đua do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tổ chức, phát động, qua đó biểu dương tập thể và cá nhân có đóng góp tích cực trong thực hiện Cuộc vận động ở khu dân cư.

4. Phối hợp rà soát, điều chỉnh các nội dung, điều kiện triển khai Cuộc vận động

- Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với các bộ, ngành, các tổ chức thành viên rà soát các nội dung đang thực hiện để thống nhất thay thế những điểm chưa hợp lý, điều chỉnh, bổ sung nội dung phù hợp khi tổ chức thực hiện Cuộc vận động.

- Kiện toàn Ban vận động quỹ “Vì người nghèo” các cấp; điều chỉnh nội dung, phương thức quản lý, sử dụng quỹ tập trung hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo và thăm Tết, hỗ trợ các hộ nghèo vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo, vùng còn nhiều khó khăn.

   5. Phối hợp nội dung Cuộc vận động với các phong trào thi đua yêu nước

- Thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đóng góp thiết thực vào triển khai phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”;  phối hợp với chính quyền xác định các yêu cầu cụ thể ở mỗi địa phương, gợi ý cho mỗi xã, phường, khu dân cư và từng gia đình đề xuất và tự nhận những việc làm, công trình cụ thể, thiết thực, góp phần đạt mục tiêu chung về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững.

- Hướng dẫn và tổ chức để nhân dân giám sát việc bình chọn và công nhận gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa đúng tiêu chí, có tính thuyết phục.

- Phối hợp với các tổ chức thành viên xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả Cuộc vận động phù hợp với từng vùng, miền và đóng góp của các tổ chức thành viên.

   6.  Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp cùng các bộ, ngành bổ sung, hoàn thiện cơ chế thực hiện Cuộc vận động

   -  Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xây dựng tiêu chí Gia đình văn hóa và khu dân cư văn hóa theo chuẩn nông thôn mới.

   - Phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xây dựng tiêu chí đô thị văn minh, hướng dẫn xây dựng tiêu chí Gia đình văn hóa và khu phố văn hóa theo chuẩn đô thị văn minh.

- Phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng thống nhất hướng dẫn cách bình chọn Gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

- Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ (Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương) hướng dẫn nội dung, tiêu chí, khen thưởng đối với Cuộc vận động.

   - Phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan xây dựng thông tư  hướng dẫn kinh phí đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện Cuộc vận động.

   - Phối hợp với Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và các tỉnh, thành phố khảo sát và phân loại các nhà văn hóa xã, phường, khu dân cư theo các tiêu chí đảm bảo phục vụ sinh hoạt của cộng đồng (diện tích, công năng, trang thiết bị, công tác quản lý, hiệu quả hoạt động...); xây dựng Đề án thí điểm xây dựng Trung tâm sinh hoạt cộng đồng báo cáo Thủ tướng Chính phủ. 

   7.  Đề xuất với Ban Bí thư, Chính phủ ban hành chủ trương, chính sách để tạo điều kiện triển khai Cuộc vận động

- Đề nghị Ban Bí thư ban hành Chỉ thị về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

- Đề nghị Chính phủ phối hợp với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững.

          8. Về kinh phí thực hiện Cuộc vận động

    Căn cứ Nghị quyết liên tịch của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam với Chính phủ, ngân sách Nhà nước cấp một phần kinh phí, đồng thời Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên vận động đóng góp của xã hội.

9. Xác định lộ trình thực hiện Cuộc vận động từ 2016 đến 2020

   * Năm 2016:

   - Quý I: Ký kết Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; rà soát và công bố các tiêu chí Gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa giai đoạn 2016 - 2020; ban hành thông tri hướng dẫn đảm bảo kinh phí cho Cuộc vận động.

   - Quý II: Tổ chức tập huấn, hướng dẫn triển khai Cuộc vận động đến cán bộ Mặt trận và tổ chức thành viên các cấp.

   - Quý III: Tiếp tục triển khai Cuộc vận động.

   - Quý IV: Đánh giá năm đầu và rút kinh nghiệm triển khai Cuộc vận động. Hướng dẫn triển khai Cuộc vận động năm 2017.

   * Năm 2017: Khảo sát, xây dựng Đề án thí điểm xây dựng Trung tâm hoạt động cộng đồng, triển khai thực hiện Đề án sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đánh giá 2 năm triển khai Cuộc vận động.

   * Năm 2018:  Đánh giá kết quả thí điểm Trung tâm hoạt động cộng đồng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; Sơ kết 3 năm thực hiện Cuộc vận động.

   * Năm 2019: Kiểm tra, sơ kết, đánh giá 4 năm triển khai Cuộc vận động trên địa bàn cả nước (trước Đại hội lần thứ IX của MTTQ Việt Nam).

   * Năm 2020: Tổng kết 5 năm thực hiện Cuộc vận động; báo cáo với Ban Bí thư và Chính phủ về kết quả thực hiện Cuộc vận động và phương hướng triển khai giai đoạn tiếp theo.

Phần thứ ba

TỔ CHỨC THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG

1. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

   - Phối hợp với các bộ, ngành Trung ương xây dựng Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững (Quý I/2016).

   - Phối hợp với Văn phòng Trung ương và các ban Đảng Trung ương xây dựng dự thảo Chỉ thị của Ban Bí thư về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” (Quý I/2016).

   - Củng cố, kiện toàn Ban vận động quỹ “Vì người nghèo” Trung ương; điều chỉnh, bổ sung Quy chế vận động, đối tượng và nội dung hỗ trợ, công tác quản lý quỹ “Vì người nghèo” hướng dẫn các tỉnh, thành phố thực hiện (Quý I/2016).

   - Ban hành Thông tri hướng dẫn triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và tổ chức tập huấn cán bộ Mặt trận các tỉnh, thành phố. Chủ trì phối hợp với các tổ chức thành viên và trực tiếp chỉ đạo thực hiện Cuộc vận động trong phạm vi cả nước (Quý II/2016).

   - Định kỳ hằng năm tổ chức đánh giá công tác phối hợp giữa Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam với các tổ chức thành viên, kết quả triển khai Cuộc vận động; 5 năm tổ chức hội nghị tổng kết, biểu dương điển hình tiêu biểu toàn quốc trong thực hiện Cuộc vận động.

2. Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố

- Báo cáo cấp ủy Đảng về chủ trương triển khai cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Phối hợp với chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp xây dựng chương trình phối hợp giữa Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, thành phố với UBND tỉnh, thành phố và các đoàn thể chính trị- xã hội để triển khai Cuộc vận động (Quý II/2016).

- Phối hợp với các tổ chức thành viên triển khai Cuộc vận động tới các xã, phường và khu dân cư (Quý II/2016).

- Định kỳ hằng năm phối hợp với các tổ chức thành viên và chính quyền cùng cấp kiểm tra, đánh giá; 05 năm tiến hành tổng kết, biểu dương điển hình tiêu biểu thực hiện Cuộc vận động.

3. Các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- Các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên khác của Mặt trận ở Trung ương hiệp thương với Ủy ban MTTQ Việt Nam để thống nhất việc tham gia Cuộc vận động và có hình thức triển khai thực hiện phù hợp trong hệ thống tổ chức mình, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững.

- Các tổ chức thành viên tham gia Cuộc vận động ở tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường. Báo cáo và tham gia đánh giá kết quả triển khai chương trình phối hợp giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và các tổ chức thành viên.

Trên đây là Đề án Tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố phối hợp tổ chức thực hiện có hiệu quả. Trong quá trình triển khai, Đề án sẽ tiếp tục được hoàn chỉnh phù hợp với tiến độ và kết quả thực hiện.

TM. BAN THƯỜNG TRỰC

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

 Nguyễn Thiện Nhân

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang 


THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO

 “ĐOÀN KẾT, SÁNG TẠO, THI ĐUA XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC”

Chiều 7-12-2015, tại phiên bế mạc Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng thi đua - khen thưởng Trung ương Nguyễn Tấn Dũng đã phát động phong trào thi đua trong cả nước, giai đoạn 2016-2020. Trân trọng giới thiệu toàn văn như sau:

"Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí Lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam Anh hùng,

Thưa quý vị đại biểu,

Thưa đồng bào, đồng chí,

Sau hai ngày làm việc tích cực, khẩn trương và trách nhiệm, Đại hội chúng ta đã nghe Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng 5 năm 2011-2015, phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020. Đại hội của chúng ta cũng được nghe các Báo cáo tham luận, giao lưu của các đơn vị, cá nhân điển hình tiên tiến xuất sắc ở các ngành, lĩnh vực, địa phương và ý kiến chỉ đạo quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội thống nhất đánh giá phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng trong 5 năm qua đã có nhiều đổi mới, thiết thực, hiệu quả. Các phong trào thi đua phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, tạo động lực quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, của các cấp, các ngành và từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Từ những phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua và các tấm gương điển hình tiên tiến, tiêu biểu trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, được Đảng, Nhà nước ghi nhận và trao tặng các danh hiệu, hình thức khen thưởng cao quý. Chúng ta đánh giá cao, khâm phục và thực sự xúc động trước những việc làm, hành động cao đẹp và thành tích xuất sắc của các anh hùng, chiến sỹ thi đua, điển hình tiên tiến đã báo cáo và giao lưu tại Đại hội và đang còn rất nhiều những tấm gương, điển hình tiên tiến tiêu biểu trên tất cả các lĩnh vực, các vùng miền của đất nước đang ngày đêm nỗ lực, hăng say lao động, chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không có điều kiện về dự Đại hội hôm nay của chúng ta.

Đại hội chúng ta cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong công tác thi đua, khen thưởng; đồng thời phân tích làm rõ nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong thời gian tới.

Thưa quý vị Đại biểu, đồng bào, đồng chí,

Trong những năm tới, khoa học, công nghệ phát triển rất nhanh cùng với toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng tác động mạnh đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia. Kinh tế thị trường; tiến bộ công bằng xã hội; dân chủ-pháp quyền; hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, vì hòa bình-phát triển và cùng chung tay giải quyết những thách thức toàn cầu là xu hướng chung của nhân loại. Kinh tế thế giới phục hồi chậm và còn nhiều khó khăn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố có biểu hiện gia tăng. Trong khu vực, các nước lớn tăng cường sức mạnh quân sự và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt. Tranh chấp lãnh thổ, đặc biệt là trên Biển Đông diễn biến phức tạp và rất khó lường.

Ở trong nước, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn và có thêm kinh nghiệm trong lãnh đạo quản lý điều hành nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Nhiệm vụ đặt ra là nặng nề trong khi nguồn lực còn hạn hẹp. Hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng; việc thực hiện các Hiệp định thương mại tự do đã ký kết và tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhất là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại Tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA), cùng với việc hình thành Cộng đồng ASEAN mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho phát triển nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức.

Bối cảnh quốc tế và trong nước đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục tăng cường đoàn kết nhất trí, chung sức, đồng lòng, đổi mới mạnh mẽ, năng động sáng tạo, nỗ lực phấn đấu cao nhất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và năm 2016.

Thay mặt Chính phủ và Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương, tôi phát động Phong trào thi đua trong cả nước giai đoạn 2016-2020 với chủ đề: “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” tập trung vào những nội dung sau:

Một là: Đẩy mạnh các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo môi trường và động lực mới cho sự phát triển. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.

Các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan, đoàn thể ở trung ương và địa phương tiếp tục phát huy, nhân rộng các mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực và sự tham gia của toàn xã hội xây dựng nông thôn mới, phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu xây dựng nông thôn mới đã đề ra cho 5 năm tới, 2016 - 2020.

Thi đua xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và các phong trào trên các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa và các phong trào phong phú khác. Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện kỷ cương và tiến bộ, công bằng xã hội, mang lại lợi ích thiết thực cho mọi người dân.

Hai là: Tiếp tục phát động các phong trào thi đua trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội, môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển, xây dựng và bảo vệ đất nước. Nâng cao chất lượng các phong trào “Thi đua quyết thắng,” “Vì an ninh Tổ quốc,” phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; đẩy mạnh phong trào thi đua trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, vun đắp niềm tin, niềm tự hào, hướng về Tổ quốc, chung tay, chung sức xây dựng quê hương, đất nước.

Ba là: Đẩy mạnh phong trào thi đua trong lĩnh vực xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng bộ máy tổ chức nhà nước. Hướng các phong trào thi đua vào việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Cải cách thủ tục hành chính, phục vụ tốt nhất người dân và doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, hiệu lực, hiệu quả.

Đổi mới các phong trào thi đua yêu nước của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, phát huy vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân và đoàn viên, hội viên, góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương và cả nước.

Bốn là: Đổi mới, tạo sự chuyển biến tích cực và hiệu quả trong công tác khen thưởng, bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch, có tác dụng giáo dục, nêu gương, quan tâm đến các tập thể, cá nhân người lao động trực tiếp, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; phát hiện những điển hình tiên tiến, nhân tố mới thông qua các phong trào thi đua và thực hiện nhiệm vụ để có các hình thức khen thưởng đột xuất, phù hợp, kịp thời.

Năm là: Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các mô hình mới, nhân tố mới. Các cơ quan thông tin truyền thông tăng thời lượng, chuyên trang, chuyên mục về các phong trào thi đua yêu nước, tấm gương người tốt, việc tốt để biểu dương, tôn vinh, nhân rộng, tạo sức lan tỏa. Phấn đấu trong thời gian tới, ngành nào, cấp nào cũng có ngày càng nhiều các điển hình tiên tiến xuất sắc.

Thưa quý vị đại biểu, đồng bào, đồng chí,

Sau Đại hội hôm nay, các Ban, Bộ ngành, các địa phương; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, căn cứ Chủ đề của Đại hội, Phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020 và tình hình thực tế của mình, phát động mạnh mẽ phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp, thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Đồng thời, quan tâm củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức thi đua, khen thưởng, tạo sự thống nhất, ổn định từ Trung ương đến địa phương, gọn nhẹ, hiệu quả. Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp theo quy định của Luật thi đua, khen thưởng.

Với tinh thần đó, thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thay mặt Chính phủ và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, tôi kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúc quý vị Đại biểu, đồng bào, đồng chí sức khỏe, hạnh phúc, nhiều thành công.

Xin trân trọng cảm ơn".

 

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang 


TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2015

Năm 2015, trước những biến động phức tạp của kinh tế thế giới và những khó khăn của tình hình kinh tế trong nước, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015; Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015 - 2016. Sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương; sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân đã góp phần tạo nên những kết quả tích cực.

Theo báo cáo của Tông cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014. Trong mức tăng trưởng chung: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, đóng góp 3,20 điểm phần trăm, trong đó ngành công nghiệp tăng 9,39% so với năm trước (công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,60%), ngành xây dựng tăng 10,82%, đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010; Khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm. 

Quy mô nền kinh tế năm nay theo giá hiện hành đạt 4.192,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương đương 2109 USD, tăng 57 USD so với năm 2014. Xét về góc độ sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng tăng 9,12% so với năm 2014; tích lũy tài sản tăng 9,04%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 8,62 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

Trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản lượng lúa cả năm 2015 ước tính đạt 45,2 triệu tấn, tăng 240,9 nghìn tấn so với năm 2014; diện tích gieo trồng đạt 7,8 triệu ha, tăng 18,7 nghìn ha; năng suất đạt 57,7 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha. Tại thời điểm 01-10-2015, đàn trâu cả nước có 2,5 triệu con, tăng 0,1% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,4 triệu con, tăng 2,5%; đàn lợn có 27,7 triệu con, tăng 3,7%; đàn gia cầm có 341,9 triệu con, tăng 4,3%. Sản lượng thịt trâu hơi đạt 85,8 nghìn tấn, tăng 0,1%; sản lượng thịt bò đạt 299,3 nghìn tấn, tăng 2,2%; sản lượng thịt lợn đạt 3,5 triệu tấn, tăng 4,2%; sản lượng thịt gia cầm đạt 908,1 nghìn tấn, tăng 3,8%. Sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 6.549,7 nghìn tấn, tăng 3,4% so với năm trước, trong đó thủy sản nuôi trồng đạt 3.513,4 nghìn tấn, tăng 2,9%; sản lượng khai thác đạt 3.036,3 nghìn tấn, tăng 4%.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 9,8% so với năm 2014, cao hơn nhiều mức tăng 5,9% của năm 2013 và 7,6% của năm 2014. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 6,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,6%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,4%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 11 tháng năm nay tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2014, cao hơn mức tăng của cùng kỳ hai năm gần đây. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01-12-2015 tăng 7,4% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng thời điểm năm 2014 (cùng thời điểm năm 2013 tăng 10,2%; năm 2014 tăng 10%). 

Trong năm 2015, cả nước có 94.754 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 601,5 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6% về số doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014 (Năm 2014, số doanh nghiệp giảm 2,7%; số vốn tăng 8,4% so với năm 2013). Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp năm 2015 đạt 6,3 tỷ đồng, tăng 9,9% so với năm trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2015 là 1.471,9 nghìn người, tăng 34,9% so với năm 2014. Trong năm, cả nước có 21.506 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 39,5% so với năm trước. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm là 9.467 doanh nghiệp, giảm 0,4% so với năm trước. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong năm là 71.391 doanh nghiệp, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2015 ước tính đạt 3.242,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm trước (loại trừ yếu tố giá tăng 8,4%, cao hơn mức tăng 8,1% của năm 2014). Xét theo ngành kinh doanh, bán lẻ hàng hóa đạt 2.469,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,6%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 372,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 30,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,5%; doanh thu dịch vụ khác đạt 370,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7%.

Trong lĩnh vực vận tải, vận tải hành khách năm nay ước tính đạt 3.283,1 triệu lượt khách, tăng 7,7% và 143 tỷ lượt khách.km, tăng 7,9% so với năm 2014, trong đó vận tải đường bộ đạt 3.099,2 triệu lượt khách, tăng 7,9% và 105 tỷ lượt khách.km, tăng 8,5%; đường sông đạt 146,5 triệu lượt khách, tăng 4% và 2,5 tỷ lượt khách.km, tăng 6,5%; đường hàng không đạt 20,7 triệu lượt khách, tăng 7,9% và 31,1 tỷ lượt khách.km, tăng 7,2%; đường biển đạt 5,4 triệu lượt khách, tăng 5,3% và 267,4 triệu lượt khách.km, tăng 4,9%; đường sắt đạt 11,2 triệu lượt khách, giảm 5,3% và 4,2 tỷ lượt khách.km, giảm 0,3%. Vận tải hàng hóa năm nay ước tính đạt 1.133,9 triệu tấn, tăng 6% và 226,8 tỷ tấn.km, tăng 3,1% so với năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 1.102 triệu tấn, tăng 6,1% và 98,8 tỷ tấn.km, tăng 6,9%; vận tải ngoài nước đạt 31,9 triệu tấn, tăng 3,8% và 128 tỷ tấn.km, tăng 0,3%. 

Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2015 ước tính đạt 7.943,7 nghìn lượt người, giảm 0,2% so với năm 2014, là năm đầu tiên khách đến Việt Nam giảm kể từ năm 2009. Khách đến bằng đường hàng không trong năm tăng 0,8% so với năm trước; đường bộ giảm 6,5%; đường biển tăng mạnh với 27,5%. Xét theo thị trường, đối với châu Á, khách đến từ Hàn Quốc tăng 31,3%; Nhật Bản tăng 3,6%; Ma-lai-xi-a tăng 4,1%; Xin-ga-po tăng 16,9%; Trung Quốc giảm 8,5%; Cam-pu-chia giảm 43,8%; In-đô-nê-xi-a giảm 9,3%; Thái Lan giảm 13,1%; Lào giảm 16,6%; Phi-li-pin giảm 3,5%. Đối với châu Âu, khách đến từ Anh tăng 5,2%; Đức tăng 4,7%; Hà Lan tăng 7,8%; Tây Ban Nha tăng 10,4%; I-ta-li-a tăng 10,6%; Nga giảm 7,1%; Pháp giảm 1%; Thụy Điển giảm 1,4%. Đối với châu Mỹ và châu Úc, khách đến từ Hoa Kỳ tăng 10,7%; Ôx-trây-li-a giảm 5,4%. Khách đến từ châu Phi đạt 27,2 nghìn lượt người, tăng 44,3%.

Về đầu tư phát triển, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 1.367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014 và bằng 32,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 519,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 38% tổng vốn và tăng 6,7%; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 529,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,7% và tăng 13%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 318,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,3% và tăng 19,9%. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách nhà nước ước tính đạt 220,4 nghìn tỷ đồng, bằng 100,6% kế hoạch năm và tăng 6,1% so với năm 2014. 

Thu hút đầu tư, đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 15-12-2015 có 2.013 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15,58 tỷ USD, tăng 26,8% về số dự án và giảm 0,4% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 22,76 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2014. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2015 ước tính đạt 14,5 tỷ USD, tăng 17,4% so với năm trước.

Tổng thu ngân sách nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15-12-2015 ước tính đạt 884,8 nghìn tỷ đồng, bằng 97,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 657 nghìn tỷ đồng, bằng 102,9%; thu từ dầu thô 62,4 nghìn tỷ đồng, bằng 67,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 160 nghìn tỷ đồng, bằng 91,4%. Tổng chi ngân sách nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15-12-2015 ước tính đạt 1.064,5 nghìn tỷ đồng, bằng 92,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 162 nghìn tỷ đồng, bằng 83,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 157,5 nghìn tỷ đồng, bằng 82,7%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính đạt 745 nghìn tỷ đồng, bằng 97,1%; chi trả nợ và viện trợ 148,3 nghìn tỷ đồng, bằng 98,9%.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2015 ước tính đạt 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2014, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 12,4% (chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa giảm 3,8%). Kim ngạch xuất khẩu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước tính đạt 115,1 tỷ USD, tăng 13,8%; khu vực trong nước ước tính đạt 47,3 tỷ USD, giảm 3,5%. Đóng góp chính vào mức tăng chung chủ yếu là nhóm hàng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ trọng cao, như: Điện thoại các loại và linh kiện chiếm 99,7%, điện tử máy tính và linh kiện chiếm 98,2%, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác chiếm 89,5%, giày dép chiếm 79,7%; hàng dệt may chiếm 60,4%. 

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 45,5% tổng kim ngạch, tăng 1,5 điểm phần trăm so với năm 2014; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 39,9%, tăng 0,6 điểm phần trăm; hàng nông, lâm chiếm 10,5%, giảm 1 điểm phần trăm; hàng thủy sản chiếm 4,1%, giảm 1,1 điểm phần trăm. Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch ước tính chiếm tỷ trọng 20,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; tiếp đến là EU chiếm 19%...

Về nhập khẩu hàng hóa, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2015 ước tính đạt 165,6 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 98 tỷ USD, tăng 16,4%; khu vực kinh tế trong nước đạt 67,6 tỷ USD, tăng 6,3%. Nếu loại trừ yếu tố giá (giá nhập khẩu giảm 5,8%), kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tăng 18,9%, cao hơn mức tăng 13,2% của năm 2014. 

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 91,3% tổng kim ngạch, tăng 0,2 điểm phần trăm so với năm 2014; hàng tiêu dùng chiếm 8,7%, giảm 0,2 điểm phần trăm. Một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng cao so với năm trước: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 23,1%; vải đạt tăng 8,2%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép tăng 7,5%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn tăng so với năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 24,2%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 25,4%; ô tô tăng 59%, trong đó ô tô nguyên chiếc tăng 87,7%.

Xét về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch chiếm 28,8% tổng kim ngạch nhập khẩu; tiếp đến là Hàn Quốc chiếm 16,7%; ASEAN chiếm 14,4%...

Năm 2015, nước ta nhập siêu 3,2 tỷ USD (sau 3 năm liên tiếp xuất siêu), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,3 tỷ USD; khu vực FDI xuất siêu 17,1 tỷ USD. Nhập siêu lớn là thị trường Trung Quốc ước tính nhập siêu tới 32,3 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm trước; thị trường Nhật Bản sau nhiều năm xuất siêu, năm 2015 nhập siêu hơn 300 triệu USD. 

Về chỉ số giá tiêu dùng (CPI), CPI tháng 12-2015 tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2014. CPI bình quân năm 2015 tăng 0,63% so với bình quân năm 2014.

Các lĩnh vực xã hội nhìn chung phát triển ổn định. Dân số trung bình năm 2015 ước tính 91,70 triệu người, tăng 974,9 nghìn người so với năm 2014. Tổng tỷ suất sinh năm nay ước tính đạt 2,10 con/phụ nữ. Tỷ suất sinh thô là 16,20‰; tỷ suất chết thô là 6,81‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 14,73‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 22,12‰. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2015 là 73,3 tuổi, trong đó nam là 70,7 tuổi và nữ là 76,1 tuổi. 

Vấn đề lao động, việc làm, đời sống dân cư được quan tâm giải quyết. Tại thời điểm 01-01-2016, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước là 54,61 triệu người, tăng 185 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014; lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,19 triệu người, tăng 506,1 nghìn người. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2015 ước tính 52,9 triệu người, tăng 142 nghìn người so với năm 2014, trong đó lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 44,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 22,9%; khu vực dịch vụ chiếm 32,8%. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2015 ước tính đạt 21,9%, cao hơn mức 19,6% của năm 2014.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015 là 2,31%, trong đó khu vực thành thị là 3,29%; khu vực nông thôn là 1,83%. Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất là của thanh niên từ 15 - 24 tuổi là 6,85%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên là 1,27%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2015 là 1,82%. 

Năng suất lao động xã hội toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 79,3 triệu đồng/lao động, tương đương 3.657 USD/lao động. Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm nay ước tính tăng 6,4% so với năm 2014. 

Về giáo dục và đào tạo, đến cuối năm 2015, cả nước có 37/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 12 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2. 

Đến thời điểm đầu năm học 2015 - 2016, số giáo viên mẫu giáo là 231 nghìn người; số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy 829 nghìn người, bao gồm: 365 nghìn giáo viên tiểu học; 313 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 151 nghìn giáo viên trung học phổ thông. Trong năm học này, cả nước có 3,9 triệu trẻ em đi học mẫu giáo; 7,7 triệu học sinh tiểu học; 5,1 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông. Cả nước có 1.467 cơ sở dạy nghề, bao gồm 190 trường cao đẳng nghề; 280 trường trung cấp nghề; 997 trung tâm dạy nghề và hơn 1 nghìn cơ sở có dạy nghề với tổng số giáo viên dạy nghề hơn 40,6 nghìn người. 

Về thiên tai, thiên tai xảy ra trong năm làm 157 người chết và mất tích; 199 người bị thương; hơn 30 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; gần 80 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng, hư hỏng; hơn 70 km đê, kè, kênh mương và 341 km đường xe cơ giới bị sạt lở; khoảng 500 đập, cống bị phá hủy và hư hỏng; hơn 200 cột điện trung, cao và hạ thế bị gãy, đổ. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm ước tính khoảng 5,4 nghìn tỷ đồng.

Nhìn chung, những kết quả tích cực của sự phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 góp phần quan trọng vào việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015, tạo đà cho những bước phát triển tích cực hơn trong giai đoạn 2016-2020.

                                                                                                               B.B.T

 

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang 


MỘT SỐ THÀNH TỰU 15 NĂM THỰC HIỆN MỤC TIÊU

PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ CỦA VIỆT NAM

Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (gọi là Mục tiêu Thiên niên kỷ) là 8 mục tiêu được 189 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc nhất trí phấn đấu đạt được vào năm 2015 tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày 6 -  8/9/2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc New York (Hoa Kỳ). Tám mục tiêu Thiên niên kỷ gồm: Triệt để loại trừ tình trạng bần cùng (nghèo cùng cực) và thiếu ăn; Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học; Nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ; Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; Cải thiện sức khỏe sinh sản; Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác; Đảm bảo sự bền vững của môi trường; Tăng cường quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển.

 Việt Nam đã hoàn thành một số mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, cụ thể như sau:

 Mục tiêu 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói 

 Việt Nam là một trong những quốc gia thành công về giảm nghèo và đã đạt Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giảm nghèo trước thời hạn. Quá trình giảm nghèo ấn tượng trên là kết quả của tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, tự do hóa thương mại và các chính sách giảm nghèo hướng trực tiếp vào các nhóm yếu thế. Trong thời gian từ 1993-2008, tỷ lệ nghèo tính theo chi tiêu giảm từ 58,1% xuống còn 14,5%, đưa hàng triệu người ra khỏi tình trạng đói nghèo. Trong giai đoạn tiếp theo, tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia 2011-2015 đã giảm từ 14,2% năm 2010 xuống còn 9,8% năm 2013. Mức sống bình quân chung của người dân được nâng cao, các hộ gia đình đã sở hữu nhiều tài sản lâu bền hơn. Tỷ lệ hộ thiếu đói đã giảm mạnh trong vòng 15 năm qua và tình trạng thiếu đói kinh niên đã được xóa bỏ ở hầu hết các tỉnh thành. Đến năm 2008, Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu “giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi”. 

 Mục tiêu 2: Phổ cập giáo dục tiểu học 

 Việt Nam đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học (theo chuẩn quốc gia) và đang tiến dần tới việc phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở. Đến năm 2014, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc tiểu học đạt mức xấp xỉ 99%, cao nhất từ trước đến nay.  Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc phổ thông cơ sở đạt 87,2% vào năm 2012. Trong những thập kỷ vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã chứng tỏ cam kết và đạt được thành công trong việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục quốc gia, giúp tăng cường chất lượng dạy và học cũng như cải thiện cơ sở vật chất của nhà trường và môi trường học tập. Việt Nam cần tiếp tục nâng cấp về chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Do đó, cải cách giáo dục để tăng cường chất lượng dạy và học là một nhu cầu cấp thiết. 

 Mục tiêu 3: Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ

 Việt Nam đã thành công với việc đạt được tất cả các chỉ tiêu của Mục tiêu này. Đến năm 2014, không còn có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ biết đọc, biết viết và tỷ lệ nhập học ở tất cả các cấp học giữa nam và nữ. Phụ nữ cũng chứng tỏ vai trò ngày càng tăng trong giáo dục. Tỷ lệ giảng viên nam và giảng viên nữ tại các trường đại học và cao đẳng hiện nay tương đương nhau, trong khi ở đầu những năm 2000 số lượng giảng viên nam vẫn chiếm đại đa số. Về việc làm, sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động phi nông nghiệp đã tăng mạnh, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ chênh lệch về tiền lương giữa lao động nam và nữ trong khu vực phi nông nghiệp đã giảm xuống còn 106,7% vào năm 2014. 

 Mục tiêu 4: Giảm tử vong trẻ em

 Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc theo dõi tỷ suất tử vong trẻ em. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm một nửa trong khoảng từ năm 1990 và năm 2014, trong khi tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh giảm nhanh hơn 2,5 lần trong cùng giai đoạn. Các kết quả tích cực của chương trình tiêm chủng mở rộng và các chính sách bảo vệ sức khỏe phụ nữ đã đóng góp đáng kể vào tiến bộ này. Việt Nam có nhiều khả năng sẽ đạt được mục tiêu về chỉ số tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh. 

 Mục tiêu 5: Tăng cường sức khỏe bà mẹ 

 Việt Nam đã giảm tỷ số tử vong bà mẹ xuống gần với mục tiêu vào năm 2015, đây là một bước tiến bộ đáng kể. Sức khỏe sinh sản của bà mẹ đã được quan tâm đặc biệt, tỷ lệ tránh thai đạt 75,7% trên toàn quốc, tỷ lệ sinh vị thành niên giảm xuống còn 45 ca trên 1.000 phụ nữ vào năm 2014. Đa số phụ nữ trong thời kỳ thai sản được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc tiền sản, 95,8% được thăm khám ít nhất 1 lần và 73,7% được thăm khám ít nhất 4 lần (số liệu năm 2014). 

 Mục tiêu 6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các dịch bệnh nguy hiểm khác

 Việt Nam đã đạt những kết quả đáng khích lệ trong việc ngăn chặn HIV/AIDS: giảm tỷ lệ mắc HIV xuống dưới 0,3% dân số. Số lượng và chất lượng các dịch vụ điều trị, chăm sóc và hỗ trợ về HIV/AIDS đã được cải thiện, đặc biệt là độ bao phủ của liệu pháp ARV đã lên tới 67,6% số người cần được điều trị vào năm 2013, tăng gần gấp 34 lần so với năm 2005. Việt Nam cũng đã đạt được mục tiêu kiểm soát sốt rét từ năm 2011 với tỷ lệ ca tử vong liên quan đến sốt rét chỉ ở mức 0,01% trên 100.000 người trong năm 2012. Việt Nam cũng đã vượt mục tiêu toàn cầu về kiểm soát bệnh lao khi giảm thành công 62% số lượng các ca mắc mới và tử vong so với mức năm 1990. Để duy trì các thành tựu này và tiếp tục hướng tới việc hoàn thành các Mục tiêu Phát triển bền vững trong những năm tới, Việt Nam cần phải vượt qua nhiều thách thức, đặc biệt là những thách thức về nguồn lực tài chính. 

 Mục tiêu 7: Đảm bảo bền vững môi trường

 Nhận thức được vai trò của môi trường là một trong các yếu tố chính của phát triển bền vững, Việt Nam đã không ngừng đưa các nguyên tắc bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia, cũng như tôn trọng các cam kết quốc tế. Các kết quả về tăng cường tiếp cận nước sạch, điều kiện vệ sinh cơ bản và nơi ở an toàn là đáng khích lệ, tập trung ở phần đông dân số và các nhóm yếu thế. Việt Nam cũng đã có các nỗ lực ấn tượng để hoàn thành trách nhiệm trong việc kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính (GHG) và các chất gây hại tầng ôzôn (ODS) và tăng các bể các-bon tự nhiên qua các chương trình trồng rừng. 

 Mục tiêu 8: Thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì phát triển

 Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng trong việc xây dựng mối quan hệ toàn cầu vì phát triển. Những năm qua đã chứng kiến quá trình tự do hóa thương mại sâu rộng, nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết gần đây, phản ánh rõ mức độ hội nhập kinh tế sâu sắc hơn. Quá trình tự do hóa thương mại đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, mặc dù vẫn còn tồn tại một vài vấn đề như tăng thâm hụt thương mại, các hàng rào phi thuế quan tạo ra bởi thị trường quốc tế, trong khi còn thiếu các rào cản tương ứng trên thị trường trong nước nhằm hỗ trợ các ngành công nghiệp non trẻ của Việt Nam. Bên cạnh đó, ODA là một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA thời kỳ hậu MDG, Chính phủ đã cố gắng cải thiện hiệu quả quản lý đầu tư công và sẵn sàng giải quyết những rủi ro liên quan đến vốn vay, đặc biệt là khả năng trả nợ. 

 Có thể nói, trong những năm vừa qua, cho dù gặp nhiều khó khăn và thách thức, Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ nhằm đạt được các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Việt Nam đã thể hiện được khả năng và sự linh hoạt của mình trong việc vượt qua những khó khăn và bối cảnh bất lợi của kinh tế toàn cầu, giữ vững những tiến bộ khả quan trong phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và bảo vệ môi trường. Những nỗ lực thống nhất của Nhà nước, xã hội và các đối tác phát triển đã tạo nên những thành công trong giảm nghèo và cải cách kinh tế. Việt Nam đã chuyển mình từ một trong những đất nước nghèo nhất thế giới trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình vào năm 2010.

B.B.T

| MỤC LỤC | Trở Về đầu trang 



 

 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TTCTMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn