TRANG CHỦ

   Văn bản hướng dẫn

 Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường

 

 

    TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG


  Một số kết quả thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia..

  Đôi điều về môi trường và công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam  

  Đôi điều về môi trường và công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam  

 

MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA CỦA UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM

                                                                                                        

  LÊ BÁ TRÌNH

                                                             UỶ VIÊN TT UỶ BAN TƯMTTQ VIỆT NAM

 

Từ năm 2003, sau khi Chiến luợc bảo vệ môi trường quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nội dung bảo vệ môi trường được Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam xác định là một trong 6 nội dung quan trọng của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư từng bước triển khai  thực hiện trong hệ thống Mặt trận các cấp từ Trung ương đến cơ sở.

Ngày  28/10/2004, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài nguyên - Môi trường tiến hành ký kết Nghị quyết liên tịch số 01 Về việc phối hợp thực hiện Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia.  Nghị quyết liên tịch này được triển khai thực hiện thành nề nếp và ngày càng hiệu quả ở cấp Trung ương. ở cấp địa phương, đến nay đã có 40 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành ký kết và thực hiện các chương trình phối hợp thực hiện Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia giữa Ban Thường trực UBMTTQVN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và sở Tài nguyên -  Môi trường cùng cấp.

Trong thời gian qua, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã  mở 6 lớp tập huấn nâng cao nhận thức về môi trường và  bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền, vận động, giám sát thực hiện bảo vệ môi trường cho cán bộ chủ chốt của Mặt trận các cấp trong cả nước. Đến nay, đã hoàn thành việc tập huấn về môi trường cho cán bộ chủ chốt của Mặt trận cấp tỉnh. Bên cạnh đó, đã mở 02 lớp tập huấn tại Hà Nội và Tiền Giang về công tác tuyên truyền, vận động và giám sát nhiệm vụ bảo vệ môi trường cho các cán bộ chuyên môn của các Ban: Dân chủ pháp luật,  Phong trào,  Tôn giáo dân tộc của Mặt trận 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong năm 2006 đã mở 03 lớp tập huấn nhiệm vụ bảo vệ môi trường cho cán bộ chủ chốt của Mặt trận cấp huyện và cấp xã,  đại diện đồn biên phòng  trên địa bàn các xã của 21 tỉnh có đường biên giới chung với Trung Quốc, Lào, Campuchia với số lượng 800 học viên .

Thông qua các lớp huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ nói trên, đội ngũ cán bộ của Mặt trận đã được trang bị những kiến thức cơ bản,  có hệ thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ môi trường cũng như các kỹ năng, nghiệp vụ của công tác tuyên truyền, vận động, giám sát bảo vệ môi trường ở cơ sở, địa bàn dân cư.

Ban Thường trực  Uỷ ban TƯMTTQ Việt Nam đã chỉ đạo mở các chuyên mục về bảo vệ môi trường trên các phương tiện thông tin của hệ thống Mặt trận như: Chuyên mục Môi trường quanh ta  trên báo Đại đoàn kết, chuyên mục Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường trên Thông tin Công tác Mặt trận, Tạp chí Mặt trận được tiến hành thường xuyên, đồng thời phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam xây dựng các phóng sự  về toàn dân tham gia bảo vệ môi trường phát trong Chương trình Đại đoàn kết; Tổ chức  biên soạn tài liệu Sổ tay Bảo vệ môi trường cho cán bộ Mặt trận ở cơ sở, sau khi hoàn thành sẽ  phát hành đến Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư.

Vào dịp kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới (5/6) hàng năm, Ban Thường trực Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có thông tri hướng dẫn  Uỷ ban MTTQ  các tỉnh, thành phố trên toàn quốc tổ chức các hoạt động như mít - tinh kỷ niệm; hưởng ứng phong trào Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường bằng các hoạt động làm vệ sinh đường làng ngõ xóm, các khu vực công cộng; trồng và chăm sóc cây xanh; trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xây dựng các công trình vệ sinh. Để động viên các địa phương thực hiện công việc này, Ban TT UBTUMTTQVN  đã triển khai  thí điểm ở một số địa phưong  như:  mớt tinh hưởng ứng Ngày môi trường thế giới tại trụ sở UBTƯMTTQVN; phối hợp với cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ chức mit - tinh  ở một số tỉnh như: T.p Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Bắc Giang, Lâm Đồng.

Trong năm 2007, Ủy ban TƯMTTQVN tập trung công tác truyền thông nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho nhân dân ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo. Thông qua các vị chức sắc tôn giáo, các vị gìa làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng để chuyển tải những chủ trương, chính sách của Đảng, những quy định pháp luật của Nhà nước và nội dung vận động, giám sát của Mặt trận về bảo vệ môi trường các tầng lớp nhân dân ở các địa bàn dân cư này.

Trong năm 2006, Ban Thường trực Ủy ban TƯ MTTQVN đã triển khai xây dựng 20 mô hình thí điểm (mỗi mô hình là một khu dân cư) lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" tại 10 tỉnh, thành phố trong toàn quốc, gồm có: Quảng Ninh, Lai Châu, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Bình Định, Bình Thuận, Kon Tum, Lâm Đồng, TP. Hồ Chí Minh, Trà Vinh. Sau khi tổng kết các mô hình thí điểm sẽ tiến hành nhân rộng việc cụ thể hoá lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào  Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư".

Cùng với những việc làm có tính chất đặt cơ sở cho việc thực hiện Chương trình Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Ban TT UBTƯMTTQVN đã chỉ đạo xây dựng đề án khung chiến lược của chương trình Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, trong đó phân công công việc cụ thể của UBMTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận để  trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Huy động các ban, đơn  vị chuyên môn của cơ quan Uỷ ban Trung ưong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện các chuyên đề nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tiễn về nội dung tự quản bảo vệ môi trường ở các khu dân cư,  làm cơ sở thực tiễn cho việcc tổ chức thực hiện Chương trình Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường và những nội dung xã hội hoá nhiệm vụ bảo vệ môi trường được ghi trong Luật Bảo vệ môi trường và trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia.

 Qua hon 3 năm thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, có thể khẳng định rằng, cùng với các nhiệm vụ chính trị khác, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên đã thể hiện vai trò, trách nhiệm của mình cùng với hệ thống chính trị đã từng bước thực hiện có hiệu quả các nội dung, nhiệm vụ được quy định trong Chiến lược, cụ thể:

Thứ nhất, đã góp phần từng bước tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của người dân và cộng đồng xã hội về nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Thông qua hoạt động tích cực của Ban Công tác Mặt trận và các tổ tự quản bảo vệ môi trường ở khu dân cư đã giúp định hướng nhận thức và tạo sự quan tâm, chú ý của người dân đến việc bảo vệ môi trường ở nơi sinh sống, trong việc tổ chức cuộc sống gia đình hằng ngày và những hoạt động sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là những vùng dân cư có đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ hai, thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động, giám sát của Mặt trận các cấp đã phát huy quyền làm chủ, nâng cao tính tích cực, chủ động của người dân trong việc tham gia  thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như xây dựng các  quy ước, hương ước của cộng đồng dân cư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức trách nhiệm, tự giác trong bảo vệ môi trường và sống thân thiện, hài hoà với môi trường; sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên ở cộng đồng dân cư.

Thứ ba, góp phần phát huy và tăng cường sự thống nhất hành động giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, sự phối hợp ngày càng hiệu quả giữa ngành chuyên môn với Mặt trận và các tổ chức thành viên trong việc huy động toàn xã hội tham gia thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia.

Bảo vệ môi trường là một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận độngng Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văm hoá ở  khu dân cư  nhưng đội ngũ cán bộ hoạt động chuyên trách về công tác tuyên truyền, vận động, giám sát thực hiện bảo vệ môi trường ở các cấp Mặt trận chưa có mà phải kiêm nhiệm với nhiều nhiệm vụ khác nên dù đã được tập huấn hàng năm nhưng vẫn chưa sâu về nghiệp vụ, hoạt động chưa đều tay. Phương tiện phục vụ cho công tác tuyên truyền còn nhiều thiếu thốn. Chế độ, chính sách cho cán bộ Mặt trận cấp cơ sở còn nhiều bất cập. Điều này thể hiện rõ nhất ở những cơ sở, khu dân cư được chọn làm thí điểm triển khai các mô hình, do có đầu tư ban đầu về nguồn lực nên cán bộ triển khai công việc rất hiệu quả nhưng khi triển khai ra diện rộng thì còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực con người và các điều kiện khác. Vì vậy, cần có sự quan tâm kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ nhiều hơn của các cấp lãnh đạo ³

  [Về đầu trang]


ĐÔI ĐIỀU VỀ MÔI TRƯỜNG

 VÀ CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM


Chúng ta đều biết đối tượng, phạm vi của môi trường bao gồm các thành tố chính: yếu tố tự nhiên, vật chất nhân tạo, con người và xã hội tác động, quan hệ lẫn nhau. Đó là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên (TNTN), không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Môi trường là tất cả những gì có xung quanh con người; duy trì cuộc sống, sự phát triển của con người và xã hội loài người.

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho mô  i trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNTN. Nhiệm vụ của công tác BVMT là quản lý và bảo vệ chất lượng các thành phần môi trường sống của con người và sinh vật trên trái đất.

So sánh với nhiều nước trong khu vực và thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia sớm hưởng ứng kêu gọi của cộng đồng quốc tế bằng những hoạt động cụ thể. Sự kiện đầu tiên đáng ghi nhớ, ngay trong năm 1972 diễn ra Hội nghị LHQ về Môi trường Con Người, Stockholm-Thuỵ Điển, cả dân tộc ta đang dốc sức cho cuộc chiến tranh Giải phóng Dân tộc, thống nhất đất nước, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ Rừng và thành lập lực lượng Kiểm lâm Nhân dân. Công trình thủy điện Hoà Bình được coi là công trình thế kỷ, năm 1973 đã xem xét một số vấn đề liên quan đến môi trường.

Đối chiếu với những quan niệm, nhận thức sau này và ngược dòng thời gian xem xét có thể thấy nhiều ý tưởng nội dung về BVMT theo quan điểm Phát triển bền vững (PTBV) đã được thể hiện trong chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau khi giành được chính quyền. Hơn thế nữa những ý tưởng, nội dung đó còn hiện hữu qua nhiều phong trào, cuộc vận động diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm cùng với các cuộc vận động giữ gìn vệ sinh, phòng ngừa bệnh tật, xây dựng đời sống mới v.v... được phát động ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công được mở ra và duy trì phát triển bằng các phong trào thi đua yêu nước diễn ra liên tục, sôi nổi qua các thời kỳ cách mạng.

Sau ngày thống nhất đất nước cho đến nay trước thời kỳ đổi mới hoạt động BVMT được triển khai nhiều hơn và từng bước tiếp cận với những nội dung, phương pháp của Cộng đồng quốc tế. Ngay trong năm Đảng chính thức khởi xướng, phát động công cuộc đổi mới (1986) thì cũng là năm bắt tay khởi thảo và đến năm 1991 chính thức triển khai Kế hoạch BVMTQG (1991-2000). Để nhận diện, nhận dạng về tính cấp thiết phải BVMT ở nước ta chưa tính đến hậu quả của chiến tranh, của hơn một thập kỷ sử dụng, quản lý môi trường TNTN theo cơ chế tập trung quan liêu chỉ sau thập kỷ đổi mới đưa đất nước thoát ra cuộc khủng hoảng KT-XH, bắt đầu vào thời kỳ CNH-HĐH đất nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII đã nhận định hiện trạng môi trường nước ta nêu rõ: tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường sinh thái, huỷ hoại tài nguyên ngày càng tăng; mức độ ô nhiễm và huỷ hoại về môi trường, môi sinh rất đáng lo ngại. Đại hội khẳng định quyết tâm ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường và đề ra chủ trương, phương hướng cơ bản các công tác BVMT. Tiếp theo là Chỉ thị của Bộ Chính trị (BCT) 36CT/TW (ngày 25-6-1998) cụ thể hoá công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước. Năm 2000 Nhà nước đã xây dựng, thực hiện Chiến lược BVMTQG (2001-2010) và tiếp theo đã Định hướng Chiến lược để tiến tới PTBV là CTNS 21 của Việt Nam cụ thể hoá cam kết với Cộng đồng quốc tế. Hệ thống các văn kiện nói trên cùng với Luật BVMT và hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật Công ước các Chương trình, kế hoạch, chiến lược môi trường trên từng lĩnh vực KT-XH hình thành về cơ bản đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về BVMT & PTBV ở Việt Nam.

Chỉ thị số 36CT/TW của BCT khẳng định hoạt động BVMT của nước ta đạt được những kết quả bước đầu, đã xuất hiện nhiều gương người tốt, việc tốt về BVMT. Kết quả chuyển biến biểu hiện trên 5 mặt sau:

+ Nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội về BVMT đã có chuyển biến tích cực so với trước đây. Người dân có ý thức hơn đối với việc BVMT sống xung quanh và ý thức đó đang dần trở thành thói quen, nếp sống tốt.

+ Hoạt động giáo dục tuyên truyền, nâng cao nhận thức về BVMT đạt được những kết quả nhất định và đã bắt đầu được đưa vào hệ thống giáo dục quốc dân.

+ Lãnh đạo nhiều bộ, ngành, địa phương đã quan tâm hơn đến công tác BVMT trong các hoạt động phát triển KT-XH, thấy rõ trách nhiệm của mình, điều chỉnh các nhận thức lệch lạc và càng ngày càng có nhận thức đúng hơn về quan điểm PTBV.

+ Nhận thức của các doanh nghiệp về sản xuất sạch, về công nghệ không gây ô nhiễm môi trường đã được nâng lên.

+ Công tác BVMT góp phần PTBV đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống đang được sự quan tâm của đông đảo nhân dân. Nhiều đội tình nguyện hành động vì môi trường ra đời. Nhiều phong trào quần chúng được phát triển rộng khắp.

Chúng ta đã thiết lập được thể chế, chính sách BVMT như: hệ thống quản lý; hệ thống luật pháp, chính sách và kế hoạch quốc gia về BVMT. Bước đầu đã hình thành công tác quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại; quản lý ô nhiễm công nghiệp đô thị và khả năng phòng ngừa ứng cứu sự cố môi trường có nhiều chuyển biến. Báo cáo hiện trạng môi trường trong quá trình lập kế hoạch phát triển KT-XH và đầu tư BVMT ngày càng được chú trọng.

Liên tục từ năm 1991 đến nay nước ta thuộc hàng ngũ các nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới. Những chuyển biến, tiến bộ về cơ cấu kinh tế, đô thị hoá, thu hút đầu tư nước ngoài, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước và xây dựng các thể chế, chính sách kinh tế đảm bảo sự phát triển KT-XH đang phát huy tác dụng. Công tác XĐGN, thực hiện chính sách dân số, chính sách sở hữu tài nguyên, thay đổi mẫu hình tiêu thụ đặc biệt về sự phát triển con người được cải thiện đáng kể³

KINH BẮC

[Về đầu trang]


 MỐI HIỂM HOẠ MÔI TRƯỜNG VÀ CUỘC SỐNG NHÂN LOẠI

 

Cho đến nay nhân loại chưa biết đến một chất thải nào do chính con người tạo ra lại gây hiểm hoạ đến môi trường và cuộc sống nhân loại hơn Prô-lu-si-on. Đây là chất thu được bằng cách dùng nơ-tơ-ron chiếu xạ vào Uraniom.

Chúng ta biết Uranion 238 nếu được hấp thu thêm nơ-tơ-ron sẽ trở thành Prô-lu-si-on 238. Nếu Uranion được lấy từ chất U-ran có trong các quặng mỏ thiên nhiên thì Prô-lu-si-on được chế tạo từ những năm 40 của thế kỷ trong cuộc chạy đua vũ khí nguyên tử. Cho đến nay trên toàn thế giới có khoảng 1.100 tấn Prô-lu-si-on dưới dạng vũ khí hoặc dưới dạng "mục đích quân sự". Chúng ta biết chỉ cần 2 kg Prô-lu-si-on khi phát nổ có thể phá huỷ cả một thành phố. Cứ 5 kg Prô-lu-si-on tương đương với 2.000 tấn thuốc nổ T.N.T và chỉ cần sống trong môi trường nhiễm xạ Prô-lu-si-on 5 giây bất cứ ai đều sẽ bị ung thư. Hơn nữa Prô-lu-si-on là một chất rất khó lưu trữ, bảo quản, việc loại bỏ nó lại càng khó hơn. Prô-lu-si-on đủ được lưu trữ, bảo quản cách nào cũng luôn bị phân huỷ thành những chất phóng xạ huỷ hoại môi trường. Còn những vụ "rò rỉ" hạt nhân ở các nhà máy điện nguyên tử hay những tai nạn như  Trec-nô-bưn thì những tác hại với môi sinh là không thể tính đếm được trong vòng dăm bảy chục năm.

 Hiện nay các nước Anh, Pháp, Nhật vẫn còn sản xuất Prô-lu-si-on dưới dạng xử lý chất thải hạt nhân trong các lò phản ứng. Khi dùng Prô-lu-si-on trong các nhà máy điện nguyên tử người ta lầm tưởng sẽ giúp cho nhân loại trong tương lai vì sợ nguồn dự trữ Uraniom sẽ cạn dần. Theo lý thuyết nếu dùng Prô-lu-si-on có thể tăng gấp 70 lần số lượng nguyên liệu hạt nhân. Theo dự đoán trước đây dự trữ Uraniom trên toàn thế giới sử dụng được 60 năm. Nhưng nếu chuyển thành Prô-lu-si-on có thể dùng được 4.200 năm. Ngày nay người ta đã nhận ra rằng nguồn trữ lượng dầu mỏ của nhân loại còn lâu mới hết mà chất Uranion cũng còn rất nhiều. Hơn nữa sử dụng Prô-lu-si-on trong các nhà máy điện hạt nhân hoá ra tốn kém hơn rất nhiều so với các kỹ thuật khác, thật là lợi bất cấp hại. Còn mối thảm hoạ của Prô-lu-si-on và các chất thải phóng xạ thì đã trông thấy nhỡn tiền. Theo hiệp ước giải trừ vũ khí hạt nhân chiến lược với việc tháo gỡ các đầu đạn hạt nhân của Liên Xô (cũ) và Mỹ trong vòng 10 năm tới thế giới sẽ có dư thêm 200 tấn Prô-lu-si-on cần bảo quản hoặc xử lý thật an toàn. Để loại bỏ nó, hiện nay người ta có các phương án: -Trộn lẫn với Uanion rồi đốt trong các nhà máy điện hạt nhân; - Đưa sâu xuống lòng đất rồi cho phá nổ; - Phóng vào không gian vũ trụ.

Tuy vậy tất cả các phương án này đều có những tác hại không thể lường trước được. Sẽ là nguy hiểm hơn nữa nếu nó được bí mật đưa sang các nước thứ 3, các nước chậm phát triển dưới bất kỳ dạng nào. Con người đang đứng trước nguy cơ huỷ hoại môi trường và cuộc sống mà mối hiểm hoạ lại do chính con người tạo ra. Rõ ràng, việc quản lý và chế ngự Prô-lu-si-on đang làm đau đầu các nhà bác học, các nhà quản lý và tất cả chúng ta đều phải có trách nhiệm ³

                 NGUYỄN THỊ KIM LAN

[Về đầu trang]


 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THÔNG TIN CÔNG TÁC MẶT TRẬN

Cơ quan chủ quản: UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Trụ sở : 46 - Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội, ĐT: 04 - 8.257447, FAX : 04 - 8.287650,
Chịu trách nhiệm xuất bản: Đ/c Lê Truyền, Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trưởng Ban Biên tập : Đ/c Lê Bá Trình, Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Ban Biên tập : Đ/c Lê Bá Trình, Đ/c Hà Thị Liên, Đ/c Nguyễn Văn Pha, Đ/c Trần Ngọc Nhẫn, Đ/c Nguyễn Tuấn Anh
Thư ký Toà soạn: Đ/c Nguyễn Tuấn Anh
E-Mail : Thongtinmt@mattran.org.vn, Website: WWW.MATTRAN.ORG.VN,