VĂN BẢN HƯỚNG DẪN


Thông tri số 20/TT-MTTW ngày 26 tháng 5 năm 2006 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Ngày vì người nghèo".

Thông tri số 21/TT-MTTW, ngày 31 tháng 5 năm 2006 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Về việc mở rộng và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư.

Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010.

  Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phư­ờng, thị trấn từ năm 2005 đến  năm 2010.

Quyết định số 28/2006/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28 tháng 01 năm 2006 về việc “Phê duyệt các Đề án chi tiết thuộc Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010”.

Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư.


NGÀY 26 THÁNG 5 NĂM 2006, BAN THƯỜNG TRỰC UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM BAN HÀNH THÔNG TRI SỐ 20/TT-MTTW

“Về việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"

 

Hơn 5 năm qua cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" do Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát động đã được các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, đồng bào ta ở nước ngoài, nhiều cá nhân và tổ chức quốc tế tích cực hưởng ứng, đạt được những kết quả thiết thực. Phong trào giúp đỡ, xây dựng nhà ở, xoá nhà dột nát cho người nghèo đã thành phong trào của nhiều địa phương trong cả nước. Từ khi phát động đến tháng 4-2006 cả nước đã xây dựng và sửa chữa 384.419 căn nhà cho người nghèo (trong đó, xây dựng mới: 290.651 căn, sửa chữa: 93.768 căn); có 16 tỉnh, thành phố; 242 quận, huyện, thị; 4563 xã, phường, thị trấn đã hoàn thành chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, được cấp "Bằng ghi công" của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Cuộc vận động có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc đã mang lại niềm vui cho hàng triệu người nghèo và nhân dân cả nước, góp phần thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cuộc vận động chưa được thực hiện đồng đều trong toàn quốc. Một số địa phương cấp uỷ, chính quyền còn biểu hiện chưa quan tâm đến cuộc vận động, chưa có quyết tâm cao trong vận động, giúp đỡ người nghèo. Uỷ ban MTTQ Việt Nam một số tỉnh, thành phố hoạt động chưa đều, chưa thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền để tiến hành cuộc vận động, các nguồn quỹ dành cho người nghèo chưa được chỉ đạo tập trung thống nhất; nhiều cá nhân, nhà doanh nghiệp giàu có, nhiều tổ chức có điều kiện nhưng chưa ủng hộ đúng với khả năng của mình. Trong khi đó, theo tiêu chí mới, nhiều địa phương tỷ lệ hộ nghèo còn cao, mục tiêu xoá nhà dột nát cho hộ nghèo còn khó khăn, các hộ nghèo cần được giúp đỡ lại tập trung ở các tỉnh nghèo, có đông đồng bào dân tộc, miền núi.

Để phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế yếu kém, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", với những nội dung trọng tâm sau đây:

I. Mục đích - yêu cầu

- Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ người nghèo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực hiện cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", tập trung giúp đỡ xây dựng "Nhà Đại đoàn kết" sớm xoá xong nhà dột nát cho người nghèo.

- Thông qua cuộc vận động tạo ra phong trào thi đua làm giàu hợp pháp, đồng thời có biện pháp giúp người nghèo thoát nghèo bền vững, thực hiện mục tiêu xoá hết hộ nghèo ở mỗi địa phương, cơ sở.

- Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; huy động mọi nguồn lực của Nhà nước và nhân dân để chăm lo cho người nghèo; sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, không để xảy ra sai sót, tiêu cực làm ảnh hưởng đến ý nghĩa và mục đích của cuộc vận động.

II. Nội dung

1. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền và các ngành chức năng rà soát nắm chắc thực trạng số hộ nghèo (theo tiêu chí mới); nguyên nhân nghèo của từng hộ; số hộ  nghèo đặc biệt khó khăn thuộc diện Nhà nước phải thường xuyên giúp đỡ; số hộ nghèo còn ở nhà tạm, nhà dột nát; phân loại rõ: số hộ thuộc diện thực hiện Quyết định 134 của Chính phủ, số hộ còn ở trên sông, chưa có đất.v.v.. Từ đó xây dựng chương trình, nội dung giúp đỡ người nghèo và chương trình xây dựng "Nhà Đại đoàn kết" cho phù hợp để triển khai tổ chức thực hiện.

2. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội để chăm lo cho người nghèo. Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp phối hợp thống nhất hành động trong các tổ chức thành viên để chăm lo cho người nghèo, đoàn viên, hội viên nghèo phù hợp với đặc điểm của tổ chức mình.

3. Tập trung huy động các nguồn lực để thực hiện chương trình giúp đỡ xây dựng nhà ở, xoá nhà dột nát cho hộ nghèo:

a. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền có chủ trương huy động nguồn lực trên địa bàn để xây dựng nhà ở, xoá nhà dột nát cho hộ nghèo, coi đây là chương trình cần tập trung trong chiến lược xoá đói giảm nghèo, thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Đề nghị chính quyền địa phương dành một phần ngân sách để hỗ trợ cho việc xoá nhà dột nát cho hộ nghèo.

Những nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao, số lượng nhà dột nát còn lớn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, huyện miền núi khu IV, khu V, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần tham mưu cho cấp uỷ Đảng và phối hợp chặt chẽ với chính quyền để xây dựng đề án và có  quyết tâm thực hiện chương trình xoá nhà dột nát cho hộ nghèo, coi đây là trọng điểm lớn nhất của cuộc vận động trong những năm  tới.

b. Tiếp tục vận động, xây dựng "Quỹ vì người nghèo" các cấp, tạo ra nguồn vốn tập trung để phân bổ thực hiện chương trình xây dựng "Nhà Đại đoàn kết" xoá nhà dột nát cho hộ nghèo; Cùng với việc vận động rộng rãi và thường xuyên trong các tầng lớp nhân dân, tổ chức các đợt vận động cao điểm nhân các ngày lễ, tết và các hoạt động thiết thực để vận động gây Quỹ. Coi trọng vận động những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có điều kiện, giàu có, có khả năng ủng hộ Quỹ.

c. Phối hợp với chính quyền để thực hiện có hiệu quả chương trình 134 của Chính phủ sớm giải quyết nhà ở, đất ở và nước sạch cho đồng bào dân tộc thiểu số.

4. Đối với những địa phương đã hoàn thành mục tiêu xoá nhà dột nát cho hộ nghèo (theo tiêu chí cũ), cần tiếp tục quan tâm rà soát để xây dựng "Nhà đại đoàn kết" và sửa chữa nhà dột nát cho số hộ nghèo mới phát sinh. Ngoài ra nguồn Quỹ cần tập trung cho việc hỗ trợ để các hộ nghèo có điều kiện thoát khỏi đói nghèo, xoá đói giảm nghèo bền vững. Cụ thể như: giúp hộ nghèo về tư liệu sản xuất, vốn, giống, kinh nghiệm làm ăn, việc làm; giúp trẻ em hộ nghèo có điều kiện đi học, giúp người nghèo chữa bệnh, giúp cứu đói lúc giáp hạt... Mỗi nội dung Ban vận động và Mặt trận các cấp cần bàn bạc kỹ lưỡng, báo cáo cấp uỷ, phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các ngành chức năng để thực hiện có hiệu quả.

5. Vận động các địa phương, tổ chức nơi có điều kiện thuận lợi tham gia giúp đỡ những địa phương còn nhiều khó khăn để các địa phương sớm hoàn thành mục tiêu xoá nhà dột nát cho hộ nghèo, giảm nhanh tỷ lệ hộ đói nghèo.

6. Tiếp tục rà soát và hoàn chỉnh các thủ tục để Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp "Bằng ghi công" cho các địa phương đã hoàn thành chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo (hộ nghèo được xác định theo tiêu chí mới); đồng thời tuyên truyền công khai kết quả, ý nghĩa của cuộc vận động, những kinh nghiệm hay, điển hình tốt trong từng vùng miền, nhân điển hình làm cho phong trào giúp đỡ người nghèo ngày càng rộng rãi, thiết thực.

7. Coi trọng công tác quản lý sử dụng nguồn Quỹ, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các cấp thường xuyên tự kiểm tra kết quả thu, chi Quỹ, củng cố, kiện toàn bộ máy Ban vận động, Bộ phận tham mưu giúp việc và kế toán, thủ quỹ Quỹ bảo đảm thực hiện theo quy chế Quỹ đã ban hành.

III. Tổ chức thực hiện

1. Ở Trung ương:

 Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam:

- Cùng với Ban vận động "Ngày vì người nghèo" Trung ương tổ chức hội nghị đánh giá kết quả cuộc vận động, xây dựng chương trình đẩy mạnh cuộc vận động trong thời gian tới; bổ sung quy chế Quỹ; đề xuất Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam ban hành danh hiệu ghi công cấp xã, huyện, tỉnh đã phấn đấu hoàn thành mục tiêu xoá hộ nghèo tại địa phương.

- Tổ chức tập huấn quán triệt chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" cho cán bộ chủ chốt MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; hướng dẫn các địa phương thực hiện chủ trương đẩy mạnh cuộc vận động trong toàn quốc.

- Triển khai tổ chức đợt vận động cao điểm  ủng hộ giúp đỡ người nghèo từ 17/10 đến 18/11 hàng năm. Hướng dẫn Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp có chương trình xây dựng và trao nhà Đại đoàn kết nhân dịp tổ chức "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc"  và kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam.

 - Tiếp tục phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng để tuyên truyền về chủ trương của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc đẩy mạnh cuộc vận động "Ngày vì người nghèo". Phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam đưa nội dung cuộc vận động trong chương trình "Vì người nghèo" của đài; phối hợp tổ chức tốt chương trình "Nối vòng tay lớn" vào ngày 31-12 hàng năm.

        2. Ở địa phương:

- Căn cứ vào Thông tri này, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam và Ban vận động "Ngày vì người nghèo" các cấp tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo và chương trình hành động quyết tâm thực hiện cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" phù hợp với thực tế ở địa phương, cơ sở, khu dân cư.

- Uỷ ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ: tháng, quý, năm, kết quả vận động và kết quả kiểm tra về việc quản lý, sử dụng "Quỹ vì người nghèo" các cấp cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cấp uỷ, chính quyền cùng cấp.

 Các ban, đơn vị Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam theo chức năng nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện Thông tri này, Ban Thường trực giao cho Ban Phong trào, Văn phòng thường xuyên theo dõi, tổng hợp và báo cáo kết quả cuộc vận động.

TM. BAN THƯỜNG TRỰC

UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM

Phó Chủ tịch Kiêm Tổng thư ký

(Đã ký)

   Huỳnh Đảm

Về đầu trang


 

NGÀY 31 THÁNG 5 NĂM 2006, BAN THƯỜNG TRỰC UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM BAN HÀNH THÔNG TRI SỐ 21/TT-MTTW ;

"Về việc mở rộng và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”

              

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; Mặt trận Tổ quốc thường xuyên duy trì, tổ chức thực hiện, đạt kết quả thiết thực. Đã khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết, từng bước chăm lo nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của các tầng lớp nhân dân, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, xây dựng củng cố khối Đại đoàn kết dân tộc từ mỗi cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình thực hiện cuộc vận động vẫn còn những hạn chế: chất lượng cuộc vận động chưa đều, chưa sâu cả về địa bàn và nội dung. Cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, Mặt trận chủ trì tổ chức thực hiện có lúc, có nơi chưa thông suốt. Nội dung, tiêu chí thực hiện cuộc vận động ở nhiều khu dân cư chưa được cụ thể hoá, chưa tập trung giải quyết những bức xúc đặt ra trong cộng đồng. Công tác thi đua khen thưởng, công nhận các danh hiệu thi đua có nơi còn hình thức, chưa phát huy được vai trò Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư. Việc chỉ đạo cuộc vận động từ Trung ương tới cơ sở có lúc, có nơi phối hợp chưa chặt chẽ và thống nhất; trong khi cuộc vận động triển khai ngày một sâu rộng, nhiều nội dung và tiêu chí cần được bổ sung cho phù hợp với yêu cầu mới.

Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam  hướng dẫn việc mở rộng và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” như sau:

I. Mục đích yêu cầu:

- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện cuộc vận động. Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận trong tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền  để mở rộng nội dung, tạo thêm nguồn lực, tổ chức thực hiện cuộc vận động, tháo gỡ những vướng mắc, nảy sinh đưa cuộc vận động phát triển lên một bước mới về chất lượng.

- Huy động sức mạnh của cộng động thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân ở cộng đồng dân cư. Phấn đấu xây dựng ngày càng nhiều khu dân cư đạt toàn diện 6 nội dung của cuộc vận động, xây dựng “Khu dân cư tiên tiến”, “Khu dân cư văn hoá”, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, củng cố và xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

II. Nội dung mở rộng Và nâng cao chất lượng cuộc vận động:

Tiếp tục thực hiện 6 nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, song chương trình,  mục tiêu của cuộc vận động đề ra hàng năm phải xuất phát từ những căn cứ chủ yếu , đó là :  

- Những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chủ trương, Nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền các cấp có quan hệ trực tiếp đến đời sống chính trị - kinh tế - văn hoá ở cơ sở và khu dân cư.

- Những yêu cầu bức xúc đặt ra ở khu dân cư cần tập trung giải quyết .

-  Phối hợp thống nhất giữa cuộc vận động mang tính toàn dân, toàn diện do Mặt trận phát động với các cuộc vận động, phong trào thi đua của các tổ chức thành viên, các Nghị quyết liên tịch, chương trình mục tiêu quốc gia do Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam ký kết phối hợp với các cơ quan Nhà nước, làm cho cuộc vận động vừa thống nhất trong đa dạng, vừa thiết thực ở mỗi địa phương, cơ sở và khu dân cư.

Hàng năm Mặt trận các cấp tiếp tục hướng dẫn, tổ chức tốt “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư” để tổng kết, đánh giá kết quả cuộc vận động sau một năm thực hiện ở mỗi khu dân cư; biểu dương, khen thưởng điển hình tiên tiến; bàn bạc phương hướng, nhiệm vụ để thực hiện cuộc vận động trong năm tới. Phát huy sự sáng tạo, vai trò tự quản của các tầng lớp nhân dân và sự tham gia của cán bộ, Đảng viên sống ở khu dân cư trong các hoạt động ngày hội.

Căn cứ vào tình hình thực tế của mỗi địa phương, Mặt trận hướng dẫn những điểm cần tập trung chỉ đạo và làm chuyển biến tình hình một cách thiết thực. Trong thời gian tới, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đề nghị Mặt trận các cấp tập trung thực hiện những nội dung như sau:

1. Nội dung đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp:

- Mặt trận phối hợp hướng dẫn các hộ gia đình ở khu dân cư tiếp cận với các chính sách của Đảng, Nhà nước để xoá đói giảm nghèo. Các tổ chức thành viên Mặt trận có chương trình giúp đỡ đoàn viên, hội viên thiết thực; khuyến khích mọi người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giải quyết việc làm, làm giàu hợp pháp.

- Triển khai thực hiện thông tri của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”; trước hết tập trung mục tiêu xoá nhà dột nát cho hộ nghèo và phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo tiến tới xoá diện hộ nghèo bằng các nội dung: giúp tư liệu sản xuất, vốn giống, kinh nghiệm làm ăn để xoá nghèo bền vững.

- Quá trình tổ chức thực hiện cuộc vận động, cần quan tâm đến những vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc, vùng thường xuyên bị thiên tai. Cần vận động tinh thần chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong đoàn thể, cộng đồng, dòng họ để có những nội dung giúp đỡ thiết thực đối với người nghèo.

2. Về nội dung Đoàn kết thực hiện phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa”, nhân đạo, từ thiện, cần chú ý:

Mặt trận cùng với chính quyền chăm lo xây dựng nhà ở, không để các gia đình chính sách và ở nhà dột nát, tạm bợ. Tiếp tục chăm sóc, giúp đỡ để các gia đình chính sách có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống bình quân của các hộ tại cộng đồng dân cư. Động viên các gia đình phát huy truyền thống yêu nước, gương mẫu thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

3. Về nội dung “Đoàn kết phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, mọi người sống và làm việc theo pháp luật, theo hương ước, qui ước của cộng đồng...” Mặt trận các cấp cần chú ý:

- Phát huy vai trò hoạt động của Ban công tác Mặt trận, thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện Nghị định số 79 ngày 7-7-2003 của Chính phủ và Thông tri số 06 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.  ở khu dân cư 100% Ban công tác Mặt trận tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố; triển khai thực hiện có hiệu quả đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại cộng đồng dân cư  do MTTQ chủ trì và góp phần thực hiện tốt việc lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư vận động nhân dân tham gia thực hiện “Luật phòng, chống tham nhũng”, “Luật thực hành tiết kiệm,  chống lãng phí”, phát huy hoạt động của tổ chức thanh tra nhân dân, quyền làm chủ của nhân dân, kịp thời phát hiện những cán bộ, Đảng viên thoái hoá, biến chất, những việc làm sai trái ở cơ sở, khu dân cư và bày tỏ chính kiến, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết liên tịch, các chương trình phối hợp Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ký với các Bộ, Ngành Trung ương, nhất là thực hiện các nội dung: phòng chống ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS, bảo đảm an toàn giao thông thành nội dung, tiêu chí trong cuộc vận động.

- Mặt trận chủ động phối hợp, giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, chú ý những nơi nông dân giao đất cho xây dựng công trình công cộng, khu công nghiệp, không có việc làm, thu nhập, đời sống khó khăn, để việc đền bù,  bảo đảm chính sách, quyền lợi của người dân .

4. Về nội dung “Đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc”, cần bổ sung và hướng dẫn thực hiện tốt các nội dung sau:

- Mặt trận vận động nhân dân ở khu dân cư tham gia xây dựng cơ sở vật chất và các nội dung thiết chế văn hoá phục vụ cho các sinh hoạt văn hoá cộng đồng như: nhà văn hoá hoặc trụ sở sinh hoạt khu dân cư, sân thể thao, tủ sách, tổ chức các tổ nhóm văn nghệ.v.v...

- Mặt trận phối hợp để nâng cao chất lượng các cuộc vận động của các tổ chức thành viên ở cộng đồng dân cư; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan... Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" phải lấy xây dựng "Gia đình văn hoá" làm nội dung trọng tâm. Phát huy phong trào: "ông, bà, cha mẹ, mẫu mực, con cháu hiếu thảo" , xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ.

5. Nội dung Đoàn kết chăm lo sự nghiệp giáo dục, bảo vệ sức khoẻ, thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ môi trường, cần quan tâm:

- Bổ sung nội dung phong trào “Toàn dân học tập, xây dựng xã hội học tập” ở từng khu dân cư.

- Phối hợp với chính quyền và ngành y tế đưa tiêu chí sức khoẻ vào nội dung đăng ký và bình bầu “Gia đình văn hoá”, “Khu dân cư tiên tiến”, "Khu dân cư văn hoá".

- Tiếp tục thực hiện phong trào vận động khu dân cư không có người sinh con thứ ba.

- Triển khai, thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ môi trường, xây dựng môi trường xanh - sạch - đẹp từ mỗi gia đình và trong mỗi khu dân cư.

6. Phát huy hiệu quả hoạt động của Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư trong việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện cuộc vận động. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức thành viên, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh.

III. Về việc bình xét, công nhận các danh hiệu ở khu dân cư:

- Các danh hiệu ở khu dân cư gồm có: "Gia đình văn hóa", "Khu dân cư tiên tiến", "Khu dân cư văn hoá".

- Thời gian bình xét và đề nghị công nhận các danh hiệu vào dịp tổ chức "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" nhân kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất hàng năm.

+ Danh hiệu "Gia đình văn hoá" do Ban công tác Mặt trận vận động và đề nghị, Chủ tịch Uỷ ban nhân xã công nhận hàng năm.

+ Danh hiệu "Khu dân cư tiên tiến" do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã đề nghị, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện công nhận hàng năm.

+ Danh hiệu "Khu dân cư văn hoá" do Ban chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá cấp xã đề nghị, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện công nhận.

- Việc đánh giá các danh hiệu phải đảm bảo chất lượng. Khu dân cư khi đạt danh hiệu "Khu dân cư tiên tiến" mới xem xét công nhận "Khu dân cư văn hoá".

 IV. Tổ chức thực hiện :

1. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức quán triệt trong hệ thống Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở, khu dân cư, trước mắt tổ chức hội nghị triển khai chủ trương mở rộng và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đến đội ngũ cán bộ Mặt trận chủ chốt các tỉnh, thành phố.

2. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các cấp chủ động tham mưu cho cấp uỷ, phối hợp với chính quyền có chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo cuộc vận động, tiến hành xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện theo hệ thống đến Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư.

3. Mặt trận các cấp tiếp tục tiến hành xây dựng mô hình mới ở các loại hình khu dân cư để rút kinh nghiệm nhân ra diện rộng.

4. Mặt trận các cấp quan tâm kiện toàn, củng cố Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư, tăng cường hoạt động của Ban công tác Mặt trận để duy trì, tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả cuộc vận động.

5. Thường xuyên sơ kết, tổng kết để đánh giá, rút kinh nghiệm và biểu dương khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện cuộc vận động. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo hàng năm giữa Mặt trận Tổ quốc các cấp, thống nhất nội dung hoạt động, nội dung báo cáo, đưa công tác thông tin, báo cáo đi và nề nếp. Kết quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ” là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, là nội dung tiêu chí thi đua quan trong hàng năm của Mặt trận các cấp.

6. Các ban, đơn vị thuộc cơ quan uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, phối hợp làm tốt công tác tham mưu giúp Ban Thường trực nắm chắc tình hình, có chủ trương, giải pháp thiết thực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc vận động, Ban phong trào chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện. Ban Thường trực uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố tổng hợp kết quả, báo cáo định kỳ 6 tháng, 1 năm về Ban Thường trực uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

TM. BAN THƯỜNG TRỰC

UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MTTQ VIỆT NAM

Phó Chủ tịch Kiêm Tổng thư ký

(Đã ký)

   Huỳnh Đảm

Về đầu trang


NGÀY 16 THÁNG 12 NĂM 2004 , THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH

 QUYẾT ĐỊNH SỐ 212/2004/QĐ-TTg

 

Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến,

giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ,

nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2002 của Thủ tư ớng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH

            Điều 1. Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010 (gọi tắt là Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật) gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

1. Mục tiêu: tạo chuyển biến căn bản trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh và trật tự an toàn xã hội.

2. Nội dung của Chương trình gồm: 4 Đề án kèm theo Quyết định này.

Điều 2. Tổ chức thực hiện và kinh phí của Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật.

1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện Chương trình này.

2. Kinh phí thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm (bao gồm ngân sách trung ương, ngân sách địa phương).

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 4. Trách nhiệm thực hiện

1. Các bộ, ngành được giao chủ trì và phối hợp thực hiện Đề án chịu trách nhiệm triển khai thực hiện có hiệu quả và đúng tiến độ Đề án được phân công.

2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc thực hiện Chương trình này.

3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

                   THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

                                                                 Phan Văn Khải  -  Đã ký

 

Về đầu trang


CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA PHỔ BIẾN,

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO Ý THỨC CHẤP HÀNH

PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, NHÂN DÂN Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

TỪ NĂM 2005 ĐẾN  NĂM 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg

ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ)

 

 A. MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH

 

I. Mục tiêu chung:

Tạo chuyển biến căn bản trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh và trật tự an toàn xã hội.

II. Mục tiêu cụ thể:

1. Nâng cao năng lực, trách nhiệm thực hiện và thi hành pháp luật của cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.

2. Đẩy mạnh phổ biến, hướng dẫn thực hiện những quy định pháp luật gắn trực tiếp đến cuộc sống của ngời dân, phù hợp với đối tượng, đặc thù kinh tế, xã hội và tình hình thi hành pháp luật ở từng địa bàn.

3. Từng bước ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật ở khu dân cư; xây dựng môi trường sống lành mạnh trong từng gia đình, trong cộng đồng; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực đất đai, khiếu nại, tố cáo, an toàn giao thông, phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, dân số... tại các địa bàn trọng điểm.

4. Xây dựng các mô hình, cơ chế phối hợp trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và vận động chấp hành pháp luật có hiệu quả, phù hợp với địa bàn xã, phường, thị trấn.

5. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư.

 

B. CÁC ĐỀ ÁN CỦA CHƯƠNGTRÌNH

I. Đề án thứ nhất: Đưa thông tin pháp luật đến cán bộ, nhân dân thông qua phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hoá thông tin ở xã, phường, thị trấn.

1. Nội dung và mục tiêu:

a) Thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật một cách thường xuyên, có trọng điểm, bằng nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Coi trọng việc biểu dương các nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến trong thi hành, chấp hành pháp luật, đồng thời phê phán những hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tăng thời lượng, trang viết tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số.

b) Sử dụng có hiệu quả hệ thống truyền thanh cơ sở trong phổ biến, thông tin pháp luật. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cần thiết, kỹ năng biên soạn thông tin pháp luật cho cán bộ đài truyền thanh xã, phường, thị trấn.

c) Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật thông qua hoạt động của các Đội thông tin lưu động, Trung tâm văn hoá thông tin, Nhà văn hoá các cấp. Xây dựng các chương trình văn hoá, văn nghệ, thông tin cổ động, thông tin lưu động gắn với vận động chấp hành pháp luật, xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, tệ nạn xã hội trong cộng đồng dân cư.

d) Phấn đấu đến năm 2010, 100% phóng viên báo, đài chuyên trách về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và cán bộ văn hoá - thông tin xã, phường, thị trấn thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật để tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.

2. Cơ quan thực hiện:

Bộ Văn hoá - Thông tin chủ trì; Bộ Tư pháp, Bộ Bưu chính, Viễn thông, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tấn, báo chí khác phối hợp thực hiện.

II. Đề án thứ hai: Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư.

1. Nội dung và mục tiêu:

a) Lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; phong trào phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; hoạt động hoà giải ở cơ sở và việc thực hiện hương ước, quy ước ở cộng đồng dân cư.

b) Lựa chọn một số địa bàn xã, phường, thị trấn thuộc khu vực thành thị, nông thôn, miền núi và tại 3 vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để xây dựng điểm sáng trong chấp hành pháp luật.

c) Xây dựng nhóm cộng đồng ở khu dân cư tham gia phổ biến pháp luật, vận động chấp hành pháp luật phù hợp với đặc thù từng địa bàn, từng nhóm đối tượng.

2. Cơ quan thực hiện:

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì; Hội Nông dân Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá - Thông tin và các bộ, ngành khác phối hợp thực hiện.

III. Đề án thứ ba: Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn.

1.  Nội dung và mục tiêu:

a) Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn bằng nhiều hình thức thiết thực, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo của cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn.

b) Tuyên truyền việc chấp hành các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật, củng cố lòng tin của nhân dân vào tính đúng đắn của các quyết định giải quyết cụ thể; phê phán các hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối, coi thường và chống đối pháp luật.

c) Định kỳ bồi dưỡng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo của cán bộ ở xã, phường, thị trấn.

2. Cơ quan thực hiện:

Thanh tra Chính phủ chủ trì; Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá - Thông tin, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và các bộ, ngành khác phối hợp thực hiện.

IV. Đề án thứ tư: Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn.

1. Nội dung và mục tiêu:

a) Phát huy vị trí, vai trò của tư pháp xã, phường, thị trấn trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân thông qua nhiều hình thức phù hợp và có hiệu quả thiết thực như tuyên truyền miệng, thông qua câu lạc bộ pháp luật, thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở, tủ sách pháp luật...

b) Thực hiện cung cấp thông tin pháp luật, hướng dẫn, tư vấn pháp luật miễn phí định kỳ cho các đối tượng là người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các trung tâm tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý.

c) Tổ chức tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn.

d) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao sự hiểu biết pháp luật cho cán bộ, nhân dân.

đ) Nâng cao vai trò của cán bộ tư pháp, công an xã trong việc tham mưu cho chính quyền xã, phường, thị trấn thực hiện nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án trong phạm vi thẩm quyền.

e) Thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân xã, phường, thị trấn thông qua các phiên toà xét xử lưu động và công tác thi hành án trên địa bàn.

2.  Cơ quan thực hiện:

Bộ Tư pháp chủ trì; Ban Nội chính Trung ương, Toà án nhân dân tối cao, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ quan khác phối hợp thực hiện.

C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

I. Thời gian thực hiện

Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện từ năm 2005 đến năm 2010, chia làm 2 giai đoạn:

1. Từ năm 2005 đến năm 2007 triển khai một số hoạt động chính sau:

a) Xây dựng các Đề án của Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật, kế hoạch thực hiện cụ thể và tổ chức triển khai.

b) Xác định những địa bàn trọng điểm, tập trung chỉ đạo.

c) Tổ chức chiến dịch truyền thông; phát động phong trào sâu rộng trong nhân dân về tìm hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

d) Sơ kết giai đoạn 1.

2. Từ năm 2008 đến năm 2010:

Tiếp tục triển khai Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước. Tổng kết việc thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật vào năm 2010.

II. Giải pháp chủ yếu thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật

1. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, nhất là cấp xã; phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở xã, phường, thị trấn. Huy động tổ trưởng tổ dân phố, già làng, trưởng thôn, làng, ấp, bản, các chức sắc tôn giáo, cán bộ hoà giải và các lực lượng hoạt động tình nguyện ở cơ sở tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.

2. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở của các ngành và địa phưương nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Xây dựng chính sách, chế độ cho cán bộ và cộng tác viên thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

3. Triển khai đồng bộ các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động chấp hành pháp luật phù hợp với từng địa bàn, từng vùng và từng nhóm đối tượng ở xã, phường, thị trấn.

4. Đầu tư hợp lý các phương tiện, điều kiện phục vụ phổ biến, giáo dục pháp luật ở những vùng dân tộc ít người, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Huy động sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài, các nguồn lực của cộng đồng tham gia tích cực vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động chấp hành pháp luật ở xã, phường, thị trấn.

5. Phát động phong trào chấp hành pháp luật sâu rộng trong từng hộ gia đình, từng khu dân cư. Thu hút sự tham gia của nhân dân trong việc thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật; phát huy tính chủ động, tự giác của nhân dân trong tìm hiểu pháp luật và tự giác chấp hành pháp luật.

6. Gắn kết chặt chẽ việc thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, với phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở khu dân cư, với việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, hoạt động áp dụng và chấp hành pháp luật ở từng địa bàn xã, phường, thị trấn.

III. Tổ chức điều hành

1. Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải được tổ chức thực hiện đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên của các ngành, các cấp, các đoàn thể, sự hưởng ứng tham gia của toàn dân.

2. Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức điều hành và kiểm tra các hoạt động của Chương trình trên phạm vi cả nước, phối hợp chỉ đạo thực hiện các Đề án trong Chương trình trên cùng một địa bàn cụ thể nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực, các phương tiện, điều kiện, đội ngũ để tập trung tạo sự chuyển biến trong những lĩnh vực đã xác định.

3. Các cơ quan chủ trì đề án thành lập Ban Điều hành Đề án, do lãnh đạo của cơ quan đó làm Trưởng ban và các thành viên là lãnh đạo các cơ quan phối hợp thực hiện Đề án.

4. Các bộ, ngành được giao chủ trì Đề án có trách nhiệm xây dựng Đề án chi tiết trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nội dung; trực tiếp chỉ đạo, triển khai có hiệu quả các Đề án trong Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.

IV. Phân công trách nhiệm

1. Bộ Tư pháp:

a) Xây dựng kế hoạch từng giai đoạn, từng năm, cơ chế, chính sách, giải pháp để thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật một cách phù hợp, có hiệu quả; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật; định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tiến độ và kết quả thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật.

b) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo điểm việc thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số địa bàn để rút kinh nghiệm.

c) Phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành có liên quan lập dự trù kinh phí và các phương tiện cần thiết để thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả.

2. Bộ Tài chính:

a) Chủ trì xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể việc quản lý, sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật.

b) Hàng năm, căn cứ báo cáo dự toán kinh phí của các cơ quan chủ trì Đề án, thẩm tra và tổng hợp trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; đồng thời thực hiện việc kiểm tra công tác quản lý và sử dụng kinh phí theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.

c) Phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và các bộ, ngành có liên quan xây dựng chính sách, chế độ cho cộng tác viên thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

Phối hợp với Bộ Tài chính bố trí ngân sách cho Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật trong kế hoạch hàng năm trình Chính phủ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:

Xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với tình hình của địa phương; lồng ghép các hoạt động của Chương trình này với hoạt động của các chương trình, kế hoạch khác có liên quan trên cùng địa bàn; bố trí từ ngân sách địa phương để thực hiện các nội dung của Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn. Chỉ đạo xây dựng các điểm sáng trong chấp hành pháp luật tại khu dân cư.

5. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Chương trình này.

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

                                                                           Phan Văn Khải -  Đã ký

 

Về đầu trang


NGÀY 28 THÁNG 01 NĂM 2006, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH

QUYẾT ĐỊNH SỐ 28/2006/QĐ – TTg

Phê duyệt các Đề án chi tiết thuộc Chương trình hành động quốc gia

phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật

cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010

______

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ vào Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

 

QUYẾT ĐỊNH :

Điều 1. Phê duyệt các Đề án chi tiết thuộc Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010 thực hiện trong hai giai đoạn: từ năm 2005 đến năm 2007 và từ năm 2008 đến  năm 2010 (kèm theo Quyết định này) cụ thể như sau:

1. Đề án thứ nhất: Đưa thông tin pháp luật đến cán bộ, nhân dân thông qua phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hoá thông tin ở xã, phường, thị trấn.

a) Cơ quan chủ trì: Bộ Văn hoá - Thông tin.

b) Nội dung Đề án: phổ biến kịp thời quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn trong cả nước thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hoá - thông tin cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức tự giác chấp hành pháp luật trong nhân dân, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và hạn chế vi phạm pháp luật trong cộng đồng dân cư. Bảo đảm công tác thông tin, tuyên truyền pháp luật đến cán bộ, nhân dân ở cơ sở một cách thường xuyên và có hiệu quả.

2. Đề án thứ hai: Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư.

a)  Cơ quan chủ trì: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

b) Nội dung Đề án: tập trung vào việc tuyên truyền pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật, xây dựng các điểm sáng trong chấp hành pháp luật; thu hút, vận động nhân dân tham gia các phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư­; phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; hoạt động hoà giải ở cơ sở và thực hiện hương ư­ớc, quy ­ước ở cộng đồng dân cư­.

3. Đề án thứ ba: Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn.

a) Cơ quan chủ trì: Thanh tra Chính phủ.

b) Nội dung Đề án: tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các quy định về tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn bằng nhiều hình thức thiết thực; bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phổ biến pháp luật về khiếu nại, tố cáo thông qua xuất bản, biên dịch các tài liệu liên quan phù hợp với ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc; xây dựng quy chế phối hợp giữa Hội Nông dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn với chính quyền cấp xã trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo cho cán bộ, nhân dân ở các xã, phường, thị trấn.

4. Đề án thứ tư: Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn.

a) Cơ quan chủ trì: Bộ Tư­ pháp

b) Nội dung Đề án: tập trung khai thác có hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động tư pháp ở xã, phường, thị trấn; bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn; lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đặc thù từng loại hoạt động tư pháp; xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn trong phổ biến, giáo dục pháp luật.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 3. Trách nhiệm thực hiện

 1. Ban Chỉ đạo Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các Đề án chi tiết, định kỳ tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

2. Các Bộ, ngành, đoàn thể được giao chủ trì các Đề án có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể có liên quan ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện các Đề án chi tiết đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

3. Các Bộ, ngành được giao chủ trì thực hiện Đề án, căn cứ vào mục tiêu, nội dung Đề án chi tiết, lập dự toán kinh phí gửi Bộ Tài chính tổng hợp trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của Bộ, ngành.

4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. 

                                                                                                                 THỦ TƯỚNG

                                                                                               Phan Văn Khải – Đã ký

 

Về đầu trang


 

                                          ĐỀ ÁN THỨ HAI

XÂY DỰNG VÀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG

CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 28/2006/QĐ-TTg

ngày 28 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ

________

Cơ quan chủ trì: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Cơ quan phối hợp:

                         - Hội Nông dân Việt Nam;

                                  - Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

                         - Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

                         - Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

                         - Bộ Tư pháp;

                         - Bộ Văn hoá - Thông tin;

                         - Bộ Tài chính.

            I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

Một hệ thống pháp luật phù hợp và dễ tiếp cận đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, trong những năm gần đây các văn bản pháp luật ban hành ngày càng nhiều, trong khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở còn nhiều bất cập, nhất là trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở và điều kiện phương tiện, tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế; tuyên truyền, phổ biến chưa kết hợp chặt chẽ với vận động, thuyết phục, giáo dục. Mặt khác, trình độ dân trí của nhân dân ở nhiều nơi còn thấp, khiến cho người dân khó có thể nắm bắt thông tin pháp luật thiết yếu để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.

Từ thực trạng trên dẫn đến hiểu biết pháp luật của nhân dân còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân chưa cao. Theo thống kê thì tỷ lệ mất rừng của Việt Nam cao nhất trong khu vực, chiếm 2,8%/năm do tình trạng chặt phá rừng. Tình trạng người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai và tình hình khiếu kiện về đất đai diễn ra nghiêm trọng và phổ biến, có đến 70 % vụ khiếu kiện có nội dung liên quan đến đất đai. Năm 2004 cả nước xảy ra trên 17.600 vụ tai nạn giao thông làm trên 12.200 người chết mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của người dân còn nhiều hạn chế. Tệ nạn xã hội và tội phạm còn xảy ra nhiều. Nhận thức về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường còn hạn chế, dẫn đến môi trường – sinh thái hiện đã ở ngưỡng suy thoái. Hàng năm chính quyền cấp xã cả nước đã phải xử phạt hành chính hàng trăm nghìn vụ việc vi phạm pháp luật của người dân ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Những tồn tại trên làm hạn chế đến hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo nói riêng; việc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nói chung.

Hiện nay, cả nước có gần 17 triệu hộ gia đình, trong đó có 82,5% dân số sống ở vùng nông thôn; có trên 100.000 khu dân cư. Việc nâng cao dân trí pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp thiết, nhất là vùng nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, do đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân tộc, vùng miền, lứa tuổi rất khác nhau, điểm xuất phát thấp, nên việc xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân là một quá trình lâu dài, thường xuyên, có bước đi, hình thức phù hợp, từ thấp đến cao.

Để thực hiện mục tiêu làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, giúp họ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, góp phần ngăn ngừa vi phạm pháp luật, thì không chỉ dùng biện pháp hành chính đơn thuần, mà cần kết hợp nhiều biện pháp như tuyên truyền, vận động, thuyết phục, hướng dẫn, giải thích. Mặt khác, việc phổ biến, giáo dục, vận động thuyết phục thực hiện pháp luật theo hình thức một chiều từ trên xuống ít có hiệu quả, cần phải xây dựng mô hình, điển hình cụ thể để nhân dân mắt thấy tai nghe, từ đó phát huy tính tự giác, chủ động chấp hành pháp luật của người dân. Đồng thời, muốn thực hiện được mục tiêu này, phải tạo sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị, trong đó Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải đóng vai trò nòng cốt.

Một trong những mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ IX  đề ra là "...đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, thực hiện dân chủ cơ sở; chăm lo cho con người, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi người; phòng chống tệ nạn xã hội; phát huy vai trò của từng người dân, từng cộng đồng trong việc tham gia đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn này...". Nghị quyết lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn" đã đặt ra nhiệm vụ đối với Mặt trận và các đoàn thể ở cơ sở: "Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể sát hợp với nhu cầu và lợi ích của hội viên, đoàn viên ... nâng cao tính tự giác của hội viên, đoàn viên, xây dựng tổ chức vững mạnh; tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân; vận động nhân dân thực hiện.....". Nghị quyết lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng yêu cầu: "Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân cần có kế hoạch vận động, giáo dục, bồi dưỡng ý thức giác ngộ chính trị cho đoàn viên, hội viên và nhân dân”. Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tuyên truyền vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật...

Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy việc triển khai Đề án “Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư” là rất cần thiết; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ việc chấp hành pháp luật của người dân trên một số lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến người dân  ở một số địa bàn cụ thể. Đề án sẽ góp phần hỗ trợ việc nâng cao hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì tổ chức chỉ đạo, đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức thành viên trong tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.

II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

1. Mục tiêu chung

Huy động sự phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc, phát huy sáng kiến và tính chủ động sáng tạo của mỗi tổ chức thành viên, tạo nên sức mạnh tổng hợp để tuyên truyền sâu, rộng pháp luật đến từng người dân; góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật một cách tự giác của mỗi người dân, tạo nếp sống tự quản theo pháp luật trong từng cộng đồng dân cư; từng bước hạn chế mọi vi phạm pháp luật; giữ vững ổn định trật tự an toàn xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Nâng cao kỹ năng tập hợp, tuyên truyền nhận thức pháp luật và vận động nhân dân chấp hành pháp luật của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức Đoàn thể nhân dân, Ban công tác Mặt trận và các tổ chức thành viên ở cộng đồng khu dân cư.

Phấn đấu đến hết năm 2010 các đối tượng sau được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật: hầu hết Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, người đứng đầu của các tổ chức thành viên Mặt trận của cấp xã; Ban công tác Mặt trận, chi hội, chi đoàn của các tổ chức thành viên ở cộng đồng khu dân cư thuộc địa bàn trọng điểm.

b) Xây dựng điểm sáng trong chấp hành pháp luật tại các cơ sở xã, phường, thị trấn. Phấn đấu đến hết năm 2010 mỗi xã, phường, thị trấn trong cả nước xây dựng được một "Nhóm nòng cốt", "Câu lạc bộ pháp luật" ở khu dân cư hoạt động có hiệu quả.

c) Thông qua việc thực hiện Đề án, rút ra những kinh nghiệm trong xây dựng nội dung, hình thức, cơ chế phối hợp tuyên truyền vận động chấp hành pháp luật, huy động sức mạnh của toàn dân tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, hiệu quả thiết thực đối với việc tuân thủ pháp luật của cộng đồng dân cư.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ ÁN

1. Phát huy vai trò gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên, và của các cá nhân tiêu biểu ở cộng đồng dân cư; khả năng tập hợp, vận động nhân dân chấp hành pháp luật của Ban công tác Mặt trận, Chi hội, Chi đoàn của các tổ chức Đoàn thể nhân dân.

2. Xây dựng và nhân rộng các hình thức thu hút đông đảo nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật ngay tại khu dân cư như: xây dựng "Nhóm nòng cốt", "Câu lạc bộ pháp luật" để phổ biến, tuyên truyền vận động chấp hành pháp luật tại khu dân cư. Tổ chức tập huấn bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật, cung cấp các tài liệu, văn bản pháp luật thiết yếu cho các thành viên "Nhóm nòng cốt", "Câu lạc bộ pháp luật".

3. Lựa chọn một số địa bàn khu dân cư có nhiều bức xúc về chấp hành pháp luật đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn, miền núi; trong đó chú trọng vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ để xây dựng mô hình điểm sáng trong chấp hành pháp luật.

4. Lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động chấp hành pháp luật với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", trọng tâm là phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội; giám sát thực hiện Quy chế dân chủ, công tác hoà giải ở cơ sở và việc thực hiện quy ước, hương ước ở cộng đồng khu dân cư.

5. Thực hiện khen thưởng đối với tập thể, gia đình, cá nhân và khu dân cư thực hiện tốt việc chấp hành pháp luật; khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân tích cực trong công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật ở cở sở, cộng đồng dân cư.

IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

1. Phát động phong trào chấp hành pháp luật trong từng cộng đồng dân cư

a)  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp xây dựng chương trình kế hoạch chung về phong trào tuyên truyền và vận động chấp hành pháp luật ở cộng đồng dân cư, theo đó các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ chức phát động phong trào chấp hành pháp luật theo từng đối tượng đoàn viên, hội viên và các tầng lớp dân cư.

b) Xây dựng các tiêu chí và hình thức công nhận cộng đồng dân cư chấp hành tốt pháp luật  gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư" và được lồng ghép với các phong trào của từng tổ chức thành viên  thực hiện.

c)  Phát động và tổ chức cho các hộ gia đình, cá nhân ký cam kết không vi phạm phạm pháp luật, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt trong chấp hành pháp luật và đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật.

d) Vận động nhân dân chấp hành pháp luật gắn với thực hiện hương ước, quy ước nhằm phát huy vai trò của hương ước, quy ước ở cộng đồng khu dân cư.

đ) Lồng ghép các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật vào nội dung, chương trình hoạt động tại các trung tâm văn hoá, nhà văn hoá, tụ điểm sinh hoạt văn hoá, câu lạc bộ văn hoá, đội thông tin lưu động, câu lạc bộ pháp luật.

e) Tăng cường các hình thức tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt khu dân cư, câu lạc bộ; thông qua "Nhóm nòng cốt", từng bước xây dựng tủ sách pháp luật ở cộng đồng dân cư, biên tập và phát hành tờ rơi tờ gấp đến từng khu dân cư, xây dựng bảng tin ở khu dân cư; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật dưới các hình thức giao lưu văn nghệ.

2.  Xây dựng lực lượng nòng cốt vận động nhân dân chấp hành pháp luật ở khu dân cư

a) Xây dựng và tổ chức hoạt động "Nhóm nòng cốt" tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cộng đồng dân cư, bao gồm đại diện: Ban công tác Mặt trận, Chi hội Nông dân, Chi đoàn Thanh niên, Chi hội Phụ nữ, Chi hội Cựu chiến binh và Người có trình độ - uy tín tại khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, khu phố, tổ dân phố...). Mỗi "Nhóm nòng cốt" ở khu dân cư có từ 5 - 10 người tùy theo quy mô dân số và địa bàn.

b) Định kỳ tổ chức tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng tập hợp tuyên tuyền vận động nhân dân cho Ủy ban Mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể nhân dân.

- Trung ương tổ chức tập huấn cho các tỉnh, thành phố trong cả nước và những cơ sở xã, phường, thị trấn và khu dân cư được chọn triển khai điểm theo vùng, miền.

- Các tỉnh, thành phố tổ chức tập huấn cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn và khu dân cư được chọn triển khai điểm của địa phương.

c) Cung cấp một số tài liệu pháp luật thiết yếu có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện Đề án ở cộng đồng dân cư.

d) Đẩy mạnh các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật: trợ giúp pháp lý, truyền thanh nội bộ, tuyên truyền miệng, tờ gấp, sinh hoạt tổ nhân dân. v.v...

3. Lựa chọn địa bàn xây dựng mô hình điểm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc chấp hành pháp luật ở một số lĩnh vực trọng điểm

a) Tại một số địa bàn tập trung xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật trong một số lĩnh vực thiết yếu sau:

- Địa bàn thành thị xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh vực: môi trường, tệ nạn xã hội...

- Địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh vực: bảo vệ phát triển rừng, hôn nhân gia đình...

- Địa bàn nông thôn ven đô thị xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh vực đất đai, giao thông...

- Các địa bàn trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh vực: tôn giáo, dân tộc, đất đai.

- Tại những nơi làm điểm thực hiện đồng bộ các giải pháp và tập trung vào một số việc sau:

+ Xây dựng và tổ chức hoạt động của "Nhóm nòng cốt", củng cố "Câu lạc bộ pháp luật"; từng bước xây dựng tủ sách pháp luật tại khu dân cư nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia hoạt động, tìm hiểu nắm vững pháp luật để đấu tranh, phòng chống vi phạm pháp luật ngay tại cộng đồng dân cư;

+ Đẩy mạnh và đa dạng hoá các hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật như: học tập, tuyên truyền miệng, phát hành tờ gấp pháp luật, tổ chức thi tìm hiểu nội dung pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý;

+ Định kỳ sơ kết, tổng kết mô hình điểm, tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng để nhân ra diện rộng.

b) Trung ương triển khai điểm Đề án tại một số địa bàn.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các cơ quan tham gia Đề án hỗ trợ một số địa phương đại diện vùng, miền (miền núi, nông thôn, đô thị, đồng bào dân tộc; vùng đồng bào có Đạo; Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ) tổ chức triển khai Đề án. Tại nơi được chọn làm điểm sẽ được hỗ trợ tập huấn, tài liệu và kinh phí thực hiện.

c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các cơ quan có  liên quan cùng cấp ở địa phương phối hợp xây dựng mô hình điểm thực hiện Đề án phù hợp tình hình thực tế của địa phương.

 4. Động viên khen thưởng

- Xây dựng quy chế khen thưởng đối với cá nhân, gia đình và tập thể chấp hành pháp luật tốt tại địa bàn khu dân cư; tổ chức, cá nhân và nhóm nòng cốt làm tốt công tác vận động nhân dân chấp hành pháp luật ở cơ sở, cộng đồng.

- Đa dạng các hình thức biểu dương, khen thưởng cho những cá nhân, hộ gia đình, tổ chức và tập thể trong việc chấp hành và vận động chấp hành pháp luật ở cơ sở: tặng giấy khen hàng năm, bằng khen 5 năm, kỷ vật...

- Tổ chức thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về khen thưởng việc chấp hành pháp luật ở cơ sở.

5. Giải pháp về nhân lực

a) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan, chính quyền địa phương tổ chức thực hiện các nội dung của Đề án.

b) Kết hợp thực hiện Đề án với việc thực hiện các chương trình quốc gia về: phòng, chống tội phạm, ma túy; xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường; dân số; y tế, giáo dục...

c) Kết hợp công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, của các đoàn thể nhân dân để tuyên truyền, tư vấn pháp luật cho các đoàn viên, hội viên.

d) Phối hợp chặt chẽ với các Đề án khác trong chương trình quốc gia về phổ biến giáo dục pháp luật để thực hiện các nội dung của Đề án.

đ) Huy động sự tham gia của đông đảo nhân dân trong việc thực hiện các nội dung của Đề án với phương châm "Nhà nước hỗ trợ, nhân dân vận động nhân dân tự nguyện thực hiện".

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

1. Thành lập Ban Điều hành Đề án ở trung ương

- Thành lập Ban Điều hành Đề án trung ương gồm đại diện các cơ quan: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Tài chính.

- Trưởng ban Điều hành Đề án là lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên là đại diện các cơ quan tham gia Đề án.

- Ban Điều hành Đề án lập Tổ thư ký giúp việc gồm một số chuyên viên của các cơ quan tham gia Đề án.

2. Phân công trách nhiệm:

a) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan tham gia Đề án có trách nhiệm:

- Xây dựng các kế hoạch, chương trình thực hiện theo từng thời gian cụ thể;

- Hướng dẫn, kiểm tra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện Đề án tại cộng đồng dân cư;

- Xây dựng dự toán kinh phí thực hiện Đề án của Trung ương;

- Gắn việc thực hiện Đề án với chỉ đạo, tổ chức thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.

b) Hội Nông dân Việt Nam

Phối hợp các cơ quan tham gia Đề án lồng ghép việc tuyên truyền vận động chấp hành pháp luật trong hội viên nông dân với phong trào nông dân sản xuất giỏi, hoạt động của câu lạc bộ nông dân.., trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện Đề án tại vùng Tây bắc.

c) Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật trong đoàn viên, thanh niên; phát huy vai trò nòng cốt của thanh niên trong công tác phòng, chống ma tuý, tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện Luật Hôn nhân gia đình, Luật Nghĩa vụ quân sự... Gắn việc thực hiện Đề án với đẩy mạnh phong trào “Thi đua tình nguyện xây dựng và bảo vệ tổ quốc”; trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện Đề án tại khu vực miền Trung.

d) Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho hội viên và gia đình hội viên; phát huy vai trò nòng cốt của Hội Phụ nữ trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xây dựng gia đình văn hóa; gắn thực hiện Đề án với phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện Đề án tại khu vực Tây Nguyên.

đ) Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật trong hội viên và gia đình hội viên; phát huy vai trò nòng cốt của Hội Cựu chiến binh trong việc nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật ở cộng đồng dân cư; gắn việc thực hiện Đề án với đẩy mạnh phong trào “Phát huy bản chất, truyền thống bộ đội Cụ Hồ, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”, trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện Đề án tại khu vực đô thị.

e) Bộ Tư pháp

Phối hợp với các cơ quan chủ trì các Đề án trong chương trình chỉ đạo việc biên soạn tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở cộng đồng dân cư, tập trung các nguồn lực làm chuyển biến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở một số lĩnh vực, một số địa bàn trọng điểm. Cùng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo điểm xây dựng "Nhóm nòng cốt".

g) Bộ Văn hóa - Thông tin

Tăng cường chỉ đạo xây dựng các thiết chế văn hoá ở cơ sở và khu dân cư, nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các trung tâm văn hoá - thông tin, nhà văn hoá, tụ điểm sinh hoạt văn hoá, câu lạc bộ văn hoá, các đội thông tin lưu động, tổ tuyên truyền văn nghệ, xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước.... Trước mắt tập trung những địa bàn xây dựng mô hình điểm thực hiện các Đề án trong chương trình quốc gia phổ biến giáo dục pháp luật.

h) Bộ Tài chính

Phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng dự toán kinh phí thực hiện Đề án của Trung ương, xây dựng chính sách, chế độ cho "Nhóm nòng cốt" và cộng tác viên để thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở cộng đồng dân cư.

3. Tiến độ thực hiện:

a) Giai đoạn từ năm 2005 - 2007

- Năm 2005:

+ Xây dựng đề cương và lấy ý kiến tham gia hoàn thiện Đề án;

+ Thành lập Ban Điều hành Đề án và tổ thư ký;

+ Hoàn chỉnh Đề án trình Chính phủ phê duyệt;

+ Điều tra, khảo sát, nghiên cứu: đánh giá thực trạng tình hình chấp hành pháp luật ở cơ sở, khu dân cư.

- Năm 2006 - 2007:

+ Xây dựng kế hoạch chi tiết từng năm và cả giai đoạn I;

+ Trung ương tổ chức hội nghị tập huấn triển khai toàn quốc ở phiá Bắc và phía Nam;

+ Chọn địa bàn và triển khai xây dựng mô hình làm điểm của Trung ương;

+ Tổ chức các hội nghị rút kinh nghiệm xây dựng mô hình điểm ở các vùng, miền trên phạm vi cả nước.

+ Các địa phương tổ chức tập huấn triển khai thực hiện Đề án ở địa phương mình.

+ Trung ương và địa phương chỉ đạo điểm, sơ kết điểm.

+ Xây dựng đội ngũ cộng tác viên tuyên truyền, phổ biến pháp luật;  thông tin, tuyên truyền.

+ Kiểm tra giám sát.

+ Quý IV năm 2007 sơ kết giai đoạn I.

b) Giai đoạn từ năm 2008 - 2010:

- Xây dựng kế hoạch chi tiết giai đoạn II.

- Đẩy mạnh các phong trào.

- Nhân điển hình ra diện rộng.

- Củng cố nhóm nòng cốt và tập huấn.

- Thông tin, tuyên truyền.

- Kiểm tra giám sát.

- Tổng kết giai đoạn II.

- Đề xuất phương hướng tiếp tục Đề án từ 2010  – 2015.

4. Kinh phí thực hiện Đề án:

a) Từ ngân sách nhà nước cấp cho việc triển khai thực hiện Đề án theo phân cấp ngân sách trung ương và ngân sách địa phương:

- Kinh phí thực hiện các công việc của trung ương do ngân sách trung ương bảo đảm: hàng năm, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với các cơ quan liên quan lập dự toán kinh phí triển khai các nội dung công việc của Trung ương gửi Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và bố trí vào dự toán kinh phí hàng năm của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Kinh phí thực hiện các công việc của địa phương do ngân sách địa phương bảo đảm: hàng năm, cùng với việc lập dự toán kinh phí thường xuyên, cơ quan chủ trì thực hiện Đề án lập dự toán kinh phí triển khai các nội dung công việc của Đề án gửi cơ quan Tài chính cùng cấp trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

b) Lồng ghép với kinh phí thường xuyên chi cho việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật của các Bộ, ngành, địa phương.

Việc phân bổ và quyết toán kinh phí thực hiện Đề án theo sự hướng dẫn của Bộ Tài chính.

5. Nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Ban Điều hành Đề án:

- Xây dựng quy chế làm việc của Ban Điều hành và tổ thư ký.

- Lập kế hoạch thực hiện hàng năm.

- Kiểm tra, giám sát.

- Sơ kết, tổng kết, báo cáo, tổ chức hội nghị.

VI. ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN

1. Đối tượng được thụ hưởng và địa điểm thực hiện Đề án:

a) Đối tượng thụ hưởng: cán bộ và toàn thể nhân dân cư trú trên địa bàn khu dân cư, tuy nhiên trong giai đoạn đầu tập trung thực hiện một số địa bàn làm điểm.

b) Địa điểm thực hiện Đề án: các khu dân cư trong phạm vi toàn quốc, trước mắt do điều kiện thời gian, kinh phí đầu tư, nguồn nhân lực... trong giai đoạn đầu tập trung triển khai tại một số vùng có bức xúc về chấp hành pháp luật của nhân dân trên cơ sở ưu tiên vùng núi, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, đồng bào có đạo và những vùng bức xúc về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

2. Hiệu quả của Đề án

a) Về nhận thức

- Xác định vai trò, trách nhiệm của Mặt trận, các thành viên và nhân dân trong việc truyên truyền vận động nhân dân tham gia chấp hành pháp luật.

- Nâng cao hiểu biết chính sách pháp luật của cán bộ và nhân dân, giúp nhân dân thực thi chính sách pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.

- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tạo nếp sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân.

b) Về kinh tế

- Hạn chế các thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân từ hậu quả của việc vi phạm pháp luật.

- Giúp nhân dân tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình  khi tham gia các quan hệ hình sự, dân sự, kinh tế.

- Tạo điều kiện cho nhân dân phát huy dân chủ tích cực phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương và đất nước.

- Hạn chế các vi phạm pháp luật, từ đó giảm chi phí của Nhà nước và xã hội cho hoạt động xử lý các vi phạm pháp luật của nhân dân như: công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, điều tra, truy tố, xét xử, giam giữ...

c) Về xã hội, chính trị

- Thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết Đại hội Đảng khoá IX.

- Tạo môi trường dân chủ, bình đẳng trong mỗi cộng đồng dân cư và toàn xã hội; sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.

- Phát huy dân chủ đại diện của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên; dân chủ trực tiếp của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh - hiệu lực - hiệu quả, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở. Thực hiện có hiệu quả vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong việc thực thi chính sách, pháp luật ở cơ sở.

  - Nâng cao nhận thức chính sách, pháp luật cho nhân dân có khả năng tự  tổ chức và giải quyết tốt các mâu thuẫn vướng mắc của công dân, đảm bảo tăng cường đoàn kết từ trong mỗi gia đình và cộng đồng dân cư, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, góp phần với Đảng và Nhà nước giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng.

-  Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, tập hợp đông đảo nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội do Đảng và Nhà nước đề ra./.

                                        THỦ TƯỚNG

                                                                              Phan Văn Khải – Đã ký

Về đầu trang