Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
       
     
 
 

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân

 
 

     VĂN BẢN HƯỚNG DẪN            


Đề án số:02/ĐA-MTTW-BTT, ngày 6 tháng 9 năm 2010 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về  tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, góp phần bảo đảm An sinh xã hội, phát triển bền vững trong giai đoạn mới

Thông tri số 12/TTr-MTTW-BTT, ngày 23 tháng 9 năm 2010 hướng dẫn góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng

Kế hoạch số 80/KH-MTTW-BTT, ngày 13 tháng 9 năm 2010 hướng dẫn tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư nhân kỷ niệm 80 năm ngày thành lập  Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930-18/11/2010)

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.

Hướng dẫn tuyên truyền Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII năm 2010

Kế hoạch triển khai thực hiện đề án  xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư năm 2010

Thông tri hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hướng dẫn số 09/HD-MTTW-BTT, ngày 25 tháng 2 năm 2010 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về công tác tham gia xây dựng chính quyền của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2010

Thông tri số 33/TT-MTTW, ngày 18 tháng 4 năm 2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc vận động và phối hợp tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nhà ở, xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi     


  

THÔNG TRI

Về việc vận động và phối hợp tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nhà ở, xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi.

  

          Trong những năm qua, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và các cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc, Hội người cao tuổi, các đoàn thể, đời sống của người nghèo nói chung và các hộ nghèo có người cao tuổi nói riêng đã được cải thiện đáng kể. Việc hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo đạt kết quả bước đầu quan trọng. Chương trình 134 của Chính phủ và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", xây dựng nhà tình thương, nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì đã thu được nhiều kết quả, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho hàng triệu người nghèo nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.

          Tuy nhiên, bên cạnh một số địa phương, cơ sở đã cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng nhà ở, xoá nhà dột nát cho hộ nghèo, hiện cả nước còn trên 400.000 hộ nghèo đang ở trong những căn nhà dột nát, trong đó có trên 100.000 hộ nghèo có người cao tuổi, tập trung ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.

          Thực hiện chương trình hành động của Uỷ ban quốc gia người cao tuổi Việt Nam và tiếp tục nội dung cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" năm 2008-2009, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trương vận động và phối hợp tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nhà ở, xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi, cụ thể như sau:

          I- Mục đích, yêu cầu:

          1- Phát huy vai trò của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, Hội người cao tuổi, các tổ chức thành viên, phối hợp thực hiện có hiệu quả chương trình của Uỷ ban quốc gia người cao tuổi về nội dung xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi, nhanh chóng ổn định nhà ở để người cao tuổi có điều kiện: "Sống vui, sống khoẻ, sống có ích" góp phần cùng con cháu giữ gìn truyền thống của dân tộc, thực hiện tốt phong trào: "Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".

          2- Thực hiện ngày càng tốt hơn cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", chương trình xoá nhà dột nát cho hộ nghèo, có mục tiêu và bước đi thích hợp, phấn đấu năm 2008 và 2009 hoàn thành chương trình xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi.

          3- Góp phần thiết thực vào công cuộc giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, xây dựng, củng cố khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

          II- Nội dung:

          1- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp cùng với Ban đại diện Hội Người cao tuổi cấp tỉnh, huyện, Hội Người cao tuổi cơ sở phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên khảo sát, nắm chắc thực trạng hộ nghèo đang ở nhà dột nát nói chung, hộ nghèo có người cao tuổi ở nhà dột nát nói riêng, xây dựng kế hoạch hoặc chương trình để giúp đỡ xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi, coi đó là đối tượng ưu tiên của chương trình xoá nhà dột nát cho hộ nghèo ở địa phương sau các gia đình chính sách, gia đình có công với nước.

          2- Phối hợp tuyên truyền về đạo lý truyền thống chăm lo cho người cao tuổi, nét đẹp văn hoá của dân tộc, của con cháu và các thế hệ mai sau đối với bậc sinh thành và bậc cha ông đi trước, tạo sự đồng thuận trong xã hội về chương trình xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi.

          3- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận phối hợp với chính quyền và Ban dân tộc ở địa phương thực hiện có hiệu quả chương trình 134 và các chương trình của Chính phủ về việc hỗ trợ nhà ở cho đồng bào nghèo:

           Thực hiện vận động, gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư chăm lo giúp đỡ hộ nghèo các dân tộc nơi có chương trình 134, các chương trình khác của Chính phủ và của địa phương về xây dựng nhà ở cho hộ nghèo. Sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí  hỗ trợ của Nhà nước và sự giúp đỡ của cộng đồng để xây dựng nhà ở cho hộ nghèo. Phối hợp giám sát và kiến nghị bổ sung, sửa chữa những điểm bất hợp lý để phát huy hiệu quả của chương trình 134 của Chính phủ và các chương trình do địa phương đang thực hiện để làm nhà cho hộ nghèo.

          4- Vận động các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp tập trung thực hiện chương trình xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi, cụ thể:

          - Từng tổ chức, đoàn thể vận động giúp đỡ gia đình đoàn viên, hội viên có người cao tuổi nghèo đang ở nhà dột nát được hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết, phấn đấu mỗi đoàn, hội cơ sở hỗ trợ và vận động giúp đỡ xây dựng ít nhất một nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo có người cao tuổi.

          - Vận động các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trực tiếp nhận giúp đỡ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo có người cao tuổi đang ở nhà dột nát.

          - Tiếp tục vận động Quỹ "vì người nghèo" các cấp để tập trung chăm lo cho chương trình làm nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo có người cao tuổi theo chương trình, kế hoạch của Ban vận động các cấp.

          5- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc và Ban vận động "Ngày vì người nghèo" các cấp vận động và ưu tiên phân bổ Quỹ "vì người nghèo" năm 2008 cho chương trình xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo có người cao tuổi.

          III- Tổ chức thực hiện:

          1- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp cùng với Ban đại diện Hội Người cao tuổi cấp tỉnh, huyện, Hội Người cao tuổi cơ sở căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình báo cáo và tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp với chính quyền để xây dựng chương trình hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo có người cao tuổi, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm trong cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" năm 2008 và 2009.

          2- Từng tổ chức thành viên có kế hoạch và nội dung cụ thể để vận động đoàn viên, hội viên thực hiện chương trình phù hợp với chức năng của tổ chức mình, chăm lo giúp gia đình hội viên nghèo có người cao tuổi xoá đói, giảm nghèo và xây dựng nhà, xoá nhà ở dột nát. Phát huy vai trò của Hội người cao tuổi Việt Nam, nhất là Hội người cao tuổi ở cơ sở trong công tác tuyên truyền, vận động và tổ chức thực hiện chương trình xoá nhà dột nát cho hộ nghèo có người cao tuổi.

          3- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp sơ kết việc thực hiện chương trình xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo có người cao tuổi vào cuối năm 2008 để rút kinh nghiệm cho việc thực hiện và tổng kết chương trình vào năm 2009, động viên, khen thưởng những địa phương, đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện chương trình này.

          4- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giao cho Ban Phong trào và Văn phòng theo dõi việc tổ chức triển khai, thực hiện Thông tri này, báo cáo tiến độ và kết quả việc thực hiện của các địa phương trong cả nước để Ban Thường trực có biện pháp hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời.

          Thông tri này được triển khai đến Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư và tuyên truyền trong toàn dân biết để tham gia hưởng ứng và thực hiện.

TM. BAN THƯỜNG TRỰC

UỶ BAN TRUNG ƯƠNG

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

CHỦ TỊCH

 

 (Đã ký)

 

Huỳnh Đảm

[Về đầu trang]


         UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                       Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

         BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

       Số: 09/HD-MTTW-BTT                                     Hà Nội, ngày 25  tháng 02  năm 2010

 

HƯỚNG DẪN

Công tác tham gia xây dựng chính quyền của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2010

                            

Thực hiện Chương trình phối hợp, thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam năm 2010, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn những nhiệm vụ trọng tâm công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền của Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương năm 2010 như sau:

1. Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật

Trong năm 2010, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố cần chú trọng việc tham gia góp ý kiến vào các dự án luật, pháp lệnh theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2010, nhất là tham gia góp ý, xây dựng một số dự án luật như: Luật thuế nhà, đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động (sửa đổi), Luật Công đoàn (sửa đổi), Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi), Luật bầu cử đại biểu Quốc hội (sửa đổi), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi)… Đồng thời, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các cấp cần chủ động tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.

2. Tham gia thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (số 34, ngày 20/4/2007) đã được triển khai hơn hai năm. Để tiếp tục thực hiện tốt công tác Mặt trận tham gia thực hiện dân chủ ở cơ sở theo tinh thần của Pháp lệnh, trong năm nay, Uỷ ban MTTQ các cấp ở địa phương tiếp tục phối hợp thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã theo các quy định của Pháp lệnh và hướng dẫn của Chính phủ và Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Lưu ý: Chỉ lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức danh trên đã đủ 02 năm trở lên. Những người không còn giữ các chức danh trên sau Đại hội đảng bộ cấp xã thì thôi không lấy phiếu tín nhiệm; người mới được bầu bổ sung vào một trong các chức danh trên nếu chưa đủ hai năm trong nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân cấp xã thì cũng không lấy phiếu tín nhiệm.

3. Chỉ đạo tổ chức và hoạt động của Ban thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn; Ban giám sát đầu tư cộng đồng  

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố cần chuẩn bị tốt cho việc sơ kết 5 năm công tác Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn theo hướng dẫn của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam; đồng thời cần tiếp tục hướng dẫn, kiểm tra Uỷ ban MTTQ cấp huyện, cấp xã trong việc củng cố, kiện toàn về tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các Ban thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn theo các quy định của Luật thanh tra, Nghị định 99/2005/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tri số 12 (năm 2005) của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Cần tập trung đẩy mạnh hoạt động của Ban thanh tra nhân dân trong việc giám sát thực hiện chính sách pháp luật; công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo… ở xã, phường, thị trấn.

Uỷ ban MTTQ các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ giám sát đầu tư cộng đồng theo Thông tư liên tịch số 04 giữa Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam với Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định 80/2005/QĐ-TTg ngày 28/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh cần chủ động phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tập huấn nghiệp vụ giám sát cho các Ban giám sát đầu tư của cộng đồng tại địa phương.

Những địa phương chưa thành lập các Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh cần khẩn trương xin ý kiến của cấp uỷ, đồng thời phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan hữu quan để xúc tiến các thủ tục thành lập theo các quy định nêu trên trong năm 2010.

4. Tham gia thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các cấp tiếp tục thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam (khoá VI), ngày 10/01/2006 về MTTQ Việt Nam tham gia thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Thông tri số 17, ngày 21/4/2006 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn thực hiện Nghị quyết nêu trên và Thông tư liên tịch hướng dẫn một số điều của Nghị định số 47/CP của Chính phủ về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc phối hợp tạo điều kiện để Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh cần thường xuyên đôn đốc, kiểm tra Mặt trận cấp huyện, cấp xã thực hiện tốt công tác này.

5. Về việc sơ kết thí điểm những nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh ở những nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường cần chủ động chỉ đạo và hướng dẫn Uỷ ban MTTQ các huyện, quận, phường tiến hành sơ kết về vai trò của MTTQ ở những nơi làm thí điểm. Qua sơ kết, cần nêu được những kiến nghị cụ thể với trung ương những giải pháp để triển khai thực hiện trong thời gian tới.

6. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật

Uỷ ban MTTQ các cấp tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phối hợp với chính quyền, Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cùng cấp và các tổ chức thành viên để tuyên truyền cho hội viên, đoàn viên và nhân dân nội dung các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành (ở cả trung ương và địa phương). Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các nhiệm vụ của Mặt trận trong việc thực hiện Đề án xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư theo Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ.

7. Phối hợp tổ chức các hội nghị tiếp xúc cử tri với đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; công tác tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân

Đây là các công việc thường xuyên của Uỷ ban MTTQ các cấp. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh cần thực hiện tốt các nhiệm vụ của cấp mình và hướng dẫn, kiểm tra Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp huyện, cấp xã thực hiện tốt theo tinh thần Nghị quyết liên tịch số 06 ngày 10/9/2004 giữa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Đối với công tác tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân địa phương tại các kỳ họp Quốc hội khoá XII, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh cần chủ động và định kỳ báo cáo về Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam theo các nội dung yêu cầu của từng kỳ. Các vấn đề nêu ra cần có số liệu, địa chỉ cụ thể để chứng minh.

8. Công tác tiếp dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo

Tiếp tục thực hiện tốt các quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và Thông tri số 06 (năm 2000) của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc hướng dẫn công tác Mặt trận thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo; đồng thời chủ động phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên của Mặt trận ở địa phương để thực hiện tốt việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương, nhất là những vụ việc khiếu nại, tố cáo có tính chất bức xúc, kéo dài, đông người; hạn chế thấp nhất tình trạng khiếu kiện vượt cấp.

9. Tham gia tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh cần tiếp tục tham gia và thực hiện tốt công tác tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương. Trong quá trình tham gia Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán và Kiểm sát viên ở địa phương, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cần thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật và Quy chế phối hợp công tác với các cơ quan Nhà nước hữu quan. Đối với các trường hợp cần phải tổ chức lấy ý kiến của Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban MTTQ cấp xã hoặc nhân dân ở khu dân cư thì Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp tỉnh cần hướng dẫn, chỉ đạo Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp xã thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01, ngày 01/4/2003 của liên ngành: Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Trên đây là những công việc trọng tâm của công tác MTTQ tham gia xây dựng chính quyền năm 2010. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố căn cứ vào đặc điểm của từng địa phương mình để xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cho phù hợp với thực tiễn ở địa phương; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện về Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

 

Nơi nhận:                                                                  TM. BAN THƯỜNG TRỰC

- Ban TT UBMTTQVN (để b/c);                                                     PHÓ CHỦ TỊCH

- Các đ/c trong BTT UBTWMTTQVN;

- Uỷ ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố;                                                       (Đã ký)

- Các tổ chức thành viên của MT ở TW;

- Các Ban, đơn vị trực thuộc;

- Lưu VP, BDCPL.                                                                       

                                                                                           Nguyễn Văn Pha

 

[Về đầu trang]


       UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                       Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

         BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

       Số: 03/TTr-MTTW-BTT                                     Hà Nội, ngày 26  tháng 05  năm 2010

 

THÔNG TRI
Hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

          Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua. Căn cứ quy định tại Điều 37 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi tắt là Điều lệ) như sau:

I. GIẢI THÍCH MỘT SỐ KHÁI NIỆM

          Một số khái niệm trong Điều lệ được hiểu như sau:

          1. Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Chương trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề ra là: "Chương trình Đại đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước" gồm 12 điểm; đây là Chương trình của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới của đất nước theo "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội" của Đảng năm 1991 và sau khi Bộ Chính trị có Nghị quyết 07 ngày 17 tháng 11 năm 1993 về "Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận  Dân tộc thống nhất".

          2. Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là Chương trình do Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi khóa ở mỗi cấp đề ra cho một nhiệm kỳ mới.

          3. Chương trình phối hợp và thống nhất hành động là Chương trình do hội nghị thường kỳ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp đề ra cho một năm, sáu tháng, ba tháng theo quy  định của Điều lệ đối với từng cấp.

          II. Về Chương I: THÀNH VIÊN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

          1. Về Điều 1: Thành viên

          Thủ tục, trình tự xem xét để kết nạp, công nhận làm thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp được tiến hành như sau:

          a. Trừ những tổ chức, cá nhân đã là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tổ chức, cá nhân thuộc quy định tại khoản 1 Điều 1 Điều lệ khi gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cấp nào phải có các điều kiện và hồ sơ sau đây gửi đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó:

          - Đối với tổ chức:

          + Là tổ chức hoạt động độc lập, không phải là thành viên của Liên hiệp hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoặc Hiệp hội đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc cho phép thành lập và chỉ được xem xét để công nhận là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

          + Hồ sơ gồm có: đơn gia nhập làm thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sơ yếu lý lịch người đứng đầu tổ chức có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú thường xuyên (theo mẫu quy định); Điều lệ, Hiến chương của tổ chức, Quyết định công nhận hoặc cho phép thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Đối với cá nhân:

+ Tự nguyện gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công tác hoặc của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú thường xuyên.

+ Có một trong các văn bản sau đây: Giới thiệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công tác hoặc nơi cư trú; giới thiệu của tổ chức thành viên; giới thiệu của  Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp; giới thiệu của Ban công tác Mặt trận (đối với cấp xã).

          b. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp công nhận là thành viên, sau khi xem xét nếu nhất trí thì có văn bản trình Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp xem xét, quyết định. Đối với cấp trung ương,  Ban Thường trực trình Đoàn Chủ tịch để Đoàn Chủ tịch cho ý kiến trước khi trình Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xem xét, quyết định. Hội nghị biểu quyết từng tổ chức, cá nhân và phải được quá nửa số Ủy viên Ủy ban Mặt trận  Tổ quốc Việt Nam dự hội nghị tán thành. Quyết định công nhận là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp nào phải gửi đến tổ chức, cá nhân được công nhận ngay sau hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó.

2. Về Điều 2: Nghĩa vụ của thành viên

          Về quy định chế độ "tập hợp và phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân" và hội viên, đoàn viên của tổ chức mình (khoản 1) được tiến hành như sau:

- Các tổ chức thành viên có nghĩa vụ thường xuyên tập hợp và phản ánh ý kiến, kiến nghị của hội viên, đoàn viên đến các cơ quan có thẩm quyền.

- Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các tổ chức thành viên tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân, của hội viên, đoàn viên của tổ chức mình về những vấn đề bức xúc nhất gửi đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà mình là thành viên.

3. Về Điều 4: Quan hệ giữa các thành viên

          Để thực hiện tốt 5 nguyên tắc của quan hệ giữa các thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần thực hiện một số phương thức sau đây:

          a. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp chịu trách nhiệm chủ trì việc phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên cùng cấp để thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

          b. Khi thành viên nào có sáng kiến hoặc đề xuất về một hoạt động nào đó liên quan đến việc thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đề nghị Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chủ trì thì Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó tổ chức hiệp thương để thỏa thuận với các tổ chức thành viên liên quan phối hợp thực hiện.

          c. Khi hai hoặc nhiều tổ chức thành viên cùng cấp cần phối hợp và thống nhất hành động để thực hiện một nội dung hoặc chương trình công tác nào đó thì có thể ký kết Quy chế phối hợp công tác và đề nghị Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam cấp đó chứng kiến và giám sát việc thực hiện nội dung Quy chế đó.

4. Về tổ chức thành viên đương nhiên

a. Tổ chức nào đã là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên thì tổ chức cấp dưới của tổ chức ấy đương nhiên là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy chỉ ra quyết định công nhận mà không cần phải làm các thủ tục kết nạp như với tổ chức thành viên mới.

b. Khi có một đơn vị hành chính được sáp nhập, chia tách thì tổ chức nào đã là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở đơn vị hành chính cũ sẽ đương nhiên là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở đơn vị hành chính mới.

III. Về Chương III: NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

          1. Về Điều 5: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

          Nguyên tắc "tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động" trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thể hiện như sau:

          a. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, Đoàn Chủ tịch, Ủy ban  Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các chức danh lãnh đạo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đều được hiệp thương, thỏa thuận để cử ra.

          b. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp là Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cấp đó. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp. Giữa hai kỳ họp của   Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cơ quan lãnh đạo là Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực. Giữa hai kỳ họp của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp ở địa phương, cơ quan lãnh đạo là Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cấp đó.

          c. Chương trình hành động của đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuyên bố của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nghị quyết các kỳ họp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi đã được đại hội, hội nghị hiệp thương thống nhất thì mọi thành viên trong Mặt trận đều có trách nhiệm thực hiện.

d. Khi phối hợp và thống nhất hành động, mỗi tổ chức thành viên được thực hiện theo cách làm phù hợp của tổ chức mình.

2. Về Điều 8: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

           Khoản 3: Về việc thông báo trước Hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc      Việt Nam danh sách những người "đương nhiên không còn là Ủy viên Ủy ban   Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" và những người được thay thế vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tiến hành như sau:

          Trước mỗi kỳ họp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực   Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp lập danh sách những người đương nhiên không còn là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (nếu có) để báo cáo trong Hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo khoản 3 Điều 8 Điều lệ và báo cáo danh sách những người được thay thế làm Ủy viên Ủy ban Mặt trận    Tổ quốc Việt Nam cấp đó để hội nghị Ủy ban Mặt trận  Tổ quốc Việt Nam quyết định. Đối với cấp trung ương, Ban Thường trực phải báo cáo Đoàn Chủ tịch trước khi đưa ra hội nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định.

          3. Về Điều 12: Tổ chức tư vấn, cộng tác viên

a. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp được thành lập tổ chức tư vấn, mở rộng cộng tác viên ở cấp mình.

b. Tổ chức tư vấn là tổ chức không chuyên trách của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi cấp gồm một số Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số chuyên gia ở những lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Mặt trận có tâm huyết và tự nguyện tham gia.

c. Tổ chức tư vấn ở cấp nào do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy ra quyết định thành lập; Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn, tạo điều kiện để tổ chức tư vấn hoạt động có hiệu quả.

d. Tổ chức tư vấn ở cấp trung ương, cấp tỉnh gọi là Hội đồng tư vấn, của    Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã gọi là Ban tư vấn. Phạm vi tư vấn về lĩnh vực nào thì có tên gọi về lĩnh vực ấy. Ví dụ: (Hội đồng (Ban) tư vấn về Dân chủ - Pháp luật, Kinh tế, Văn hoá - xã hội...)

đ. Hội đồng tư vấn cấp trung ương, cấp tỉnh có Chủ nhiệm, một số Phó Chủ nhiệm. Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm và các thành viên của Hội đồng, quy chế hoạt động của từng Hội đồng do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp thành lập quyết định. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phân công Ban chuyên môn giúp việc thường xuyên cho từng Hội đồng.

e. Ban tư vấn cấp huyện, cấp xã có Trưởng ban, một số Phó Trưởng ban. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Quy chế hoạt động của Ban tư vấn do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp thành lập quyết định.

Những nơi chưa có điều kiện thành lập tổ chức tư vấn thì sử dụng hình thức cộng tác viên theo từng lĩnh vực hoạt động.

g. Nhiệm kỳ của tổ chức tư vấn các cấp theo nhiệm kỳ của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp (5 năm).

h. Nhiệm vụ của tổ chức tư vấn, cộng tác viên được thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của tổ chức tư vấn do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từng cấp ban hành.

IV. Về Chương III: CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM Ở CẤP TRUNG ƯƠNG

1. Về Điều 14: Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

a. Trình tự, thủ tục cử Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực và các chức danh trong Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo khoản 2 như sau:

          Tại hội nghị lần thứ nhất của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi tắt là Ủy ban Trung ương) khóa mới, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký hoặc Phó Chủ tịch chuyên trách Uỷ ban Trung ương khóa trước được hội nghị thoả thuận cử làm chủ tọa hội nghị cho đến khi Ủy ban Trung ương cử được Chủ tịch Ủy ban Trung ương khóa mới. Việc cử các chức danh tiếp theo do Chủ tịch Ủy ban Trung ương khóa mới chủ tọa. Trường hợp có chức danh nào đó hội nghị không tán thành bằng hình thức cử thì phải bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín.

          Chủ tọa hội nghị điều hành những nội dung công việc theo trình tự như sau:

* Cử Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương khóa mới:

          - Chủ tọa hội nghị báo cáo số lượng và danh sách dự kiến Đoàn Chủ tịch  Uỷ ban Trung ương khóa mới theo tờ trình của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương khóa trước;

          - Hội nghị thảo luận; trường hợp có sự giới thiệu thêm thì tiến hành biểu quyết từng người một sau đó hội nghị tiến hành biểu quyết một lần toàn bộ danh sách Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương khóa mới.

* Cử các chức danh lãnh đạo của Uỷ ban Trung ương khóa mới và công bố danh sách Ban Thường trực:

          - Chủ tọa hội nghị giới thiệu nhân sự dự kiến làm Chủ tịchỦy ban  Trung ương khóa mới theo tờ trình của Ban Thường trực khóa trước;

          - Hội nghị trao đổi để thỏa thuận và biểu quyết cử Chủ tịch Ủy ban Trung ương khóa mới;

          - Chủ tịch Ủy ban Trung ương khóa mới chủ trì hội nghị giới thiệu danh sách dự kiến Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký và các Phó Chủ tịch (chuyên trách và không chuyên trách) theo tờ trình của Ban Thường trực khóa trước;

          - Hội nghị trao đổi để thỏa thuận và biểu quyết cử Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và các Phó Chủ tịch (chuyên trách và không chuyên trách);

          - Chủ tịch Ủy ban Trung ương khóa mới công bố danh sách Ban Thường trực Ủy ban Trung ương khóa mới với các chức danh liên quan đã được cử nêu trên.

b. Trình tự, thủ tục cho thôi, cử bổ sung, thay thế Ủy viên Đoàn Chủ tịch,  Ủy viên Ủy ban Trung ương, các chức danh trong Ban Thường trực Ủy ban    Trung ương như sau:

          * Việc cho thôi, cử bổ sung, thay thế Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban Trung ương:

          - Ban Thường trực trình hội nghị Đoàn Chủ tịch về lý do cho thôi Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban Trung ương và danh sách bổ sung, thay thế Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban Trung ương để Đoàn Chủ tịch cho ý kiến, trình ra Ủy ban Trung ương quyết định;

          - Đoàn Chủ tịch trình hội nghị Ủy ban Trung ương biểu quyết nhân sự mới được bổ sung hoặc thay thế vào Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch.

          * Việc cho thôi, cử bổ sung các chức danh trong Ban Thường trực:

          - Ban Thường trực trình hội nghị Đoàn Chủ tịch lý do cho thôi chức danh nào đó trong Ban Thường trực, hoặc dự kiến bổ sung nhân sự mới vào Ban Thường trực để Đoàn Chủ tịch cho ý kiến trình ra Ủy ban Trung ương quyết định;

          - Đoàn Chủ tịch trình hội nghị Ủy ban Trung ương cho thôi chức danh nào đó trong Ban Thường trực, hoặc dự kiến nhân sự mới vào Ban Thường trực để Ủy ban Trung ương quyết định.

2. Về Điều 20: Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thường trực

          a. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh (khoản 5) chủ yếu là những nội dung sau:

          - Ban hành quyết định, thông tri, văn bản hướng dẫn công tác Mặt trận và tổ chức các hoạt động kiểm tra thường xuyên, đột xuất việc thực hiện các văn bản đó.

          - Họp với Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh mỗi năm một lần vào khoảng thời gian giữa năm theo chương trình, chủ đề do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương quyết định.

          - Chủ trì giao ban các cụm thi đua của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mỗi năm một lần vào khoảng thời gian hai tháng cuối năm.

          - Cho ý kiến vào việc chuẩn bị đại hội nhiệm kỳ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh (về chương trình, nội dung và nhân sự).

         b. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương xem xét, công nhận việc cử, bổ sung hoặc thay đổi chức danh trong Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh (khoản 6) theo trình tự, thủ tục sau:

          - Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương lý do thay đổi chức danh nào đó trong Ban Thường trực cấp mình, kèm theo sơ yếu lý lịch dự kiến nhân sự mới;

          - Ban Thường trực Ủy ban Trung ương quyết định tán thành hoặc không tán thành nhân sự mới dự kiến thay thế hoặc bổ sung, có văn bản phúc đáp tờ trình của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh;

          - Trên cơ sở văn bản phúc đáp của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh triển khai thực hiện và trình Ban Thường trực Ủy ban Trung ương công nhận;

          - Thủ tục đề nghị công nhận chức danh Ban Thường trực:

          + Hồ sơ đề nghị công nhận gồm: Văn bản đề nghị công nhận các chức danh Ban Thường trực; Biên bản hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử hoặc bầu; Sơ yếu lý lịch (theo mẫu quy định).

+ Sau khi Ban Thường trực Ủy ban Trung ương ra quyết định công nhận,  Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo quyết định công nhận với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình trong hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gần nhất.

V. Về Chương IV: CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CÁC CẤP Ở ĐỊA PHƯƠNG

          1. Về Điều 23, Điều 24: Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

 Trình tự, thủ tục hiệp thương theo khoản 4 như sau:

a. Trình tự, thủ tục cử các chức danh lãnh đạo và công bố danh sách Ban Thường trực tại hội nghị lần thứ nhất của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc    Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã:

          Tại hội nghị lần thứ nhất Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương khóa mới, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch hoặc Ủy viên Thường trực khóa trước được Hội nghị thỏa thuận cử làm chủ tọa hội nghị cho đến khi Ủy ban       Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử được Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới. Trường hợp có chức danh nào đó hội nghị không tán thành bằng hình thức cử thì phải bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín. Việc cử các chức danh lãnh đạo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới và công bố danh sách Ban Thường trực được tiến hành theo trình tự sau:

- Chủ tọa hội nghị giới thiệu nhân sự dự kiến làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận     Tổ quốc Việt Nam khóa mới;

- Hội nghị trao đổi thỏa thuận và biểu quyết cử Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới chủ trì hội nghị và trình bày dự kiến danh sách các Phó Chủ tịch chuyên trách và Phó Chủ tịch không chuyên trách (nếu có) theo tờ trình của Ban Thường trực khóa trước;

- Hội nghị trao đổi để thỏa thuận và biểu quyết cử các Phó Chủ tịch;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới trình bày dự kiến danh sách Ủy viên Thường trực khóa mới theo tờ trình của Ban Thường trực khóa trước;

- Hội nghị trao đổi để thỏa thuận và biểu quyết cử các Ủy viên Thường trực;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới công bố danh sách            Ban Thường trực với các chức danh đã được cử hoặc bầu ở trên. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa mới trình Ban Thường trực Ủy ban     Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp công nhận.

Hồ sơ, thủ tục công nhận Ban Thường trực khóa mới:

+ Hồ sơ gồm có: Văn bản đề nghị công nhận các chức danh của Ban Thường trực; Biên bản Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử hoặc bầu; Sơ yếu lý lịch (theo mẫu     quy định).

+ Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp xem xét ra quyết định công nhận. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đề nghị công nhận có trách nhiệm thông báo quyết định công nhận với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình tại hội nghị gần nhất.

b. Trình tự, thủ tục cử bổ sung, thay thế chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Thường trực và Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã: 

* Trình tự, thủ tục cử bổ sung các chức danh trong Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã:

 - Căn cứ tình hình cụ thể và sự cần thiết bổ sung các chức danh trong Ban Thường trực của cấp mình, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp đó chuẩn bị các phương án nhân sự để báo cáo với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.

- Hồ sơ báo cáo gồm: Văn bản đề nghị của Ban Thường trực; Sơ yếu lý lịch (theo mẫu quy định).

 - Sau khi Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp thống nhất mới đưa ra hội nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình hiệp thương dân chủ cử vào các chức danh dự kiến. 

- Tổ chức hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

+ Đại diện Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp triệu tập hội nghị đọc tờ trình và sơ yếu lý lịch nhân sự dự kiến bổ sung;

+ Hội nghị trao đổi để thỏa thuận và biểu quyết từng người theo từng chức danh được bổ sung.

- Hồ sơ, thủ tục công nhận các chức danh trong Ban Thường trực:

+ Hồ sơ gồm có: Văn bản đề nghị công nhận các chức danh của Ban Thường trực; Biên bản Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử hoặc bầu; Sơ yếu lý lịch (theo mẫu     quy định).

+ Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp xem xét ra quyết định công nhận. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc     Việt Nam cấp đề nghị công nhận có trách nhiệm thông báo quyết định công nhận với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình tại hội nghị gần nhất.

* Thủ tục cử bổ sung, thay thế Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã:

- Việc cử bổ sung:

Căn cứ tình hình cụ thể và sự cần thiết bổ sung Ủy viên Ủy ban Mặt trận    Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình về dự kiến nhân sự bổ sung Ủy viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và danh sách trích ngang để hội nghị quyết định.

- Thủ tục thay thế:

+ Đối với tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp:

 Trong nhiệm kỳ nếu người đứng đầu hoặc người đại diện của tổ chức thành viên tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp có sự thay đổi, thì tổ chức đó gửi văn bản đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp (kèm theo lý lịch nhân sự mới) đề nghị thay thế để đại diện cho tổ chức mình tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

+ Đối với đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp:

Trong nhiệm kỳ nếu Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên có sự thay đổi, thì khi làm thủ tục đề nghị công nhận chức danh Chủ tịch mới đồng thời phải đề nghị thay thế Chủ tịch trước để tham gia Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp. 

+ Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên sau khi tiếp nhận đầy đủ văn bản đề nghị thay thế của tổ chức thành viên và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp thì trình hội nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình quyết định.

2. Về Điều 25: Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thường trực Uỷ ban  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện

          a. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam cấp dưới trực tiếp (điểm d, khoản 3) chủ yếu là những nội dung sau:

          - Ban hành quyết định, thông tri, văn bản hướng dẫn công tác Mặt trận và tổ chức các hoạt động kiểm tra thường xuyên, đột xuất việc thực hiện các văn bản đó.

          - Chủ trì giao ban công tác Mặt trận sáu tháng, một năm đối với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp dưới trực tiếp.

          - Cho ý kiến vào việc chuẩn bị đại hội nhiệm kỳ của Mặt trận Tổ quốc   Việt Nam cấp dưới trực tiếp (về chương trình, nội dung và nhân sự).

          b. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện xem xét, công nhận việc cử, bổ sung hoặc thay đổi chức danh trong Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp được tiến hành theo các quy định tại phần 1 Mục V (Về Điều 23, Điều 24…) nêu trên.

3. Về Điều 27: Ban Công tác Mặt trận

Ban Công tác Mặt trận do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã ra quyết định thành lập. Quyết định của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phải chỉ định các chức danh Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên theo cơ cấu mà Điều lệ đã quy định. Nhiệm kỳ của Ban Công tác Mặt trận là 5 năm theo nhiệm kỳ của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Trong nhiệm kỳ, nếu thành viên Ban Công tác Mặt trận có sự thay đổi về vị trí công tác hoặc không có điều kiện tiếp tục tham gia thì Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã ra quyết định bổ sung, thay thế.

VI. Về Chương VI: KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT

1. Về Điều 31: Khen thưởng

- Thủ tục, trình tự khen thưởng các tổ chức, đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc được thực hiện theo các quy định pháp luật về thi đua, khen thưởng của Nhà nước và quy định của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Thủ tục, trình tự khen thưởng Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc" được thực hiện theo quy định của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. 

2. Về Điều 32: Kỷ luật

Về quy định "Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp xem xét, quyết định hình thức kỷ luật thành viên ở cấp mình": Riêng đối với thành viên là  Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (gọi tắt là Ủy viên) thì quy trình, thủ tục xử lý kỷ luật ở mỗi cấp được tiến hành như sau:

   - Họp Ban Thường trực để kiểm điểm, đánh giá sai phạm của Ủy viên.       Ủy viên có sai phạm được tham dự cuộc họp này và trực tiếp trình bày bản tự kiểm điểm. Ban Thường trực thống nhất hình thức kỷ luật (bằng biểu quyết giơ tay hoặc bỏ phiếu kín) để đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xem xét, quyết định. 

   - Tổ chức hội nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tại hội nghị này,   Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo kết quả cuộc họp xem xét hình thức kỷ luật Ủy viên của Ban Thường trực. Hội nghị thảo luận, xem xét quyết định hình thức kỷ luật (bằng biểu quyết giơ tay hoặc bỏ phiếu kín); nếu có quá nửa số Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dự hội nghị tán thành hình thức kỷ luật nào thì Ủy viên đó phải chấp nhận hình thức kỷ luật đó. Riêng đối với cấp trung ương thì Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương xin ý kiến Đoàn Chủ tịch để đưa ra hội nghị Uỷ ban Trung ương xem xét quyết định.    

   Điều lệ quy định có 3 hình thức kỷ luật là "khiển trách", "cảnh cáo""thôi công nhận là thành viên"; nếu một người đang giữ một trong các chức danh như Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Uỷ viên Thường trực, Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà bị xử lý hình thức kỷ luật “Thôi công nhận là thành viên” thì đương nhiên không còn được giữ các chức danh đó nữa.

- Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông báo kết quả xem xét kỷ luật đối với Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến các cơ quan, tổ chức hữu quan.

                                                    TM. BAN THƯỜNG TRỰC
                                                              PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

 Nơi nhận:                                                                                 (đã ký)      

- Các vị Ủy viên UBTWMTTQVN;                                                      Vũ Trọng Kim
-
UBMTTQVN các tỉnh, TP trực thuộc TW;
- Các tổ chức thành viên của Mặt trận;
- Các ban, đơn vị trong CQ UBTWMTTQVN;
- Lưu VP, Ban DCPL, TCCB.
       

[Về đầu trang]


      UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                       Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

         BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

       Số: 09/KH-MTTW-BTT                                     Hà Nội, ngày 29  tháng 07  năm 2010

 

 KẾ HOẠCH

TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ĐỀ ÁN  XÂY DỰNG VÀ ĐẨY MẠNH

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT

TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ NĂM 2010

 

Để tiếp tục thực hiện Đề án “Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư” (Đề án 02-212) đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 28/2006/QĐ-TTg ngày 28/01/2006, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án 02-212 năm 2010 như sau:

I. MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU

1. Tổ chức triển khai thực hiện Đề án 02-212 năm 2010 nhằm tiếp tục nâng cao trách nhiệm trong vận động nhân dân chấp hành pháp luật của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức đoàn thể nhân dân, qua đó bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật của đội ngũ cán bộ mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhân dân.

 2. Triển khai thực hiện Đề án 212 phải gắn với nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"; tập trung triển khai thực hiện Đề án ở những cơ sở làm điểm đồng thời mở rộng việc xây dựng mô hình hoạt động của “Nhóm nòng cốt”, “Câu lạc bộ pháp luật”, giảm các vi phạm pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.

3. Việc triển khai thực hiện Đề án lấy khu dân cư làm địa bàn tổ chức thực hiện đồng thời tập trung triển khai ở những nơi làm điểm nhằm tìm ra những mô hình hiệu quả trong việc xây dựng nội dung, hình thức, mô hình, cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên với các cơ quan chức năng Nhà nước trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

II. NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

1. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình điểm thực hiện Đề án 

a) Ở địa phương:

- Đối với các tỉnh, thành phố đã được Trung ương hỗ trợ kinh phí chỉ đạo điểm (Điện Biên, Phú Thọ, Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hoá, Quảng Bình, Quảng Nam, Đắc Lắc, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Trà Vinh) tiếp tục duy trì, mở rộng mô hình đã được xây dựng.

 Ở các xã, phường, thị trấn được chọn làm điểm, yêu cầu duy trì các khu dân cư đã xây dựng mô hình điểm, mở rộng thêm một số khu dân cư khác, tuỳ thuộc vào điều kiện và khả năng cụ thể ở địa phương.

 - Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không trực tiếp có sự hỗ trợ kinh phí từ trung ương, chủ động xây dựng mô hình điểm bằng nguồn kinh phí của địa phương; chú trọng lựa chọn địa bàn khu dân cư có nhiều bức xúc trong chấp hành pháp luật đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn, miền núi, vùng dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo để xây dựng điểm sáng về chấp hành pháp luật.

b) Các cơ quan tham gia Đề án Trung ương:

Tiếp tục xây dựng và nhân rộng mô hình điểm tại một số địa phương tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi cơ quan.

- Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục chỉ đạo và mở rộng mô hình điểm tại tỉnh Điện Biên và tỉnh Hoà Bình.

- Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo và mở rộng mô hình điểm tại tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Trị.

- Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tiếp tục chỉ đạo và mở rộng mô hình điểm tại tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắc Lắc.

- Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tiếp tục chỉ đạo và mở rộng mô hình điểm tại thành phố Hà Nội.

- Bộ Văn hoá Thể thao và Du Lịch tiếp tục chỉ đạo và mở rộng mô hình điểm tại tỉnh Quảng Nam.

- Bộ Tư pháp phối hợp cơ quan chủ trì Đề án biên soạn nội dung các lớp tập huấn, toạ đàm, tờ rơi, tờ gấp,... và một số sách cung cấp cho các tỉnh, thành phố và các khu dân cư làm điểm.

- Bộ Tài chính phối hợp cơ quan chủ trì Đề án hướng dẫn chế độ kinh phí cho hoạt động triển khai Đề án.

2. Các đơn vị thực hiện Đề án chủ động xây dựng kế hoạch triển khai những nội dung về tổ chức tập huấn, bồi dưỡng; cấp phát tài liệu pháp luật, kỹ năng tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật cho cán bộ mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn

3. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư

a) Ở Trung ương:

Các thành viên tham gia Đề án (Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp) chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền lồng ghép nội dung với các chương trình, kế hoạch của đơn vị mình.

b) Ở địa phương:

- Tổ chức lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật trong các buổi sinh hoạt khu dân cư.

- Biên soạn, in ấn, cấp phát tờ rơi, tờ gấp và các tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với thực tế địa phương.

- Phối hợp với Ngành Tư pháp xây dựng và hướng dẫn việc khai thác tủ sách, ngăn sách pháp luật đạt hiệu quả.

- Xây dựng các bảng tin phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại khu dân cư.

4. Công tác kiểm tra triển khai Đề án

- Ban điều hành Đề án Trung ương sẽ tổ chức kiểm tra việc triển khai Đề án tại một số địa phương để phục vụ cho việc tổng kết 5 năm thực hiện Đề án và triển khai giai đoạn tiếp theo, thời gian tiến hành dự kiến quý III/2010 (có kế hoạch hoạch riêng).

- Đề nghị các thành viên tham gia Đề án (Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Bộ Văn hoá Thể thao và Du Lịch; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính) chủ động kiểm tra việc triển khai Đề án trong hệ thống tổ chức của mình và ở những địa bàn được phân công chỉ đạo; Cử người tham gia Đoàn kiểm tra của Ban điều hành Đề án 02-212 Trung ương.

5. Tổng kết 5 năm việc thực hiện Đề án

- Các cơ quan thành viên Ban điều hành Đề án Trung ương; các địa phương chủ động tổ chức tổng kết việc thực hiện Đề án, báo cáo về Ban điều hành Đề án 02-212 Trung ương chậm nhất vào 20/9/2010.

 - Ban điều hành Đề án Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết việc thực hiện Đề án trong toàn quốc (Có kế hoạch riêng)

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ban điều hành Đề án 02-212 Trung ương giúp Ban Thường trực Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai từng công việc cụ thể.

2. Đề nghị các cơ quan tham gia Đề án ngoài việc triển khai nhiệm vụ cụ thể tại kế hoạch này tiếp tục thực hiện các nội dung của Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

3. Trên cơ sở kế hoạch và kinh phí thực hiện Đề án năm 2010 đã được phê duyệt, cơ quan chủ trì Đề án phân bổ kinh phí và ký hợp đồng trách nhiệm với các cơ quan tham gia thực hiện Đề án, các tỉnh, thành phố làm điểm.

4. Đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ Đề án chi tiết đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và kế hoạch này chủ trì xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án năm 2010 của địa phương.

5. Giao cho Ban Dân chủ - Pháp luật, Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm đầu mối giúp Ban điều hành Đề án Trung ương theo dõi, nắm tình hình kết quả triển khai Đề án trong phạm vi toàn quốc. Định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả thực hiện Đề án với Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban chỉ đạo Chương trình 212 Trung ương. Các báo cáo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các địa phương và các tổ chức thành viên, các cơ quan tham gia Đề án về việc triển khai thực hiện Đề án từ nay gửi về Ban Dân chủ-Pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 46 Tràng Thi, Hà Nội./.

 

Nơi nhận:                                                          TM. BAN THƯỜNG TRỰC

- Chủ tịch Huỳnh Đảm (để báo cáo);              PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

- Các đ/c trong BTT (để phối hợp);                                           (đã ký)

- TW Hội Nông dân VN, TW Hội LHPNVN,
TW Đoàn TNCS HCM, TW Hội CCBVN,
                                 Vũ Trọng Kim
 Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá TT&DL,
 Thanh tra Chính phủ, Bộ TC (để phối hợp);

- Các đ/c Ban điều hành, Tổ thư ký Đề án;

- Vụ PBGDPL- Bộ Tư pháp;

- MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc TW (để thực hiện);

- Các Ban, đơn vị cơ quan UBTW MTTQ VN (để phối hợp);

- Lưu: VP,DC-PL.           

[Về đầu trang]


Hướng dẫn tuyên truyền Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII năm 2010

Ngày 21/6/2010, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 111 – HD/BTGTW Hướng dẫn tuyên truyền Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII năm 2010. Sau đây là toàn văn:

Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII sẽ được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội vào tháng 11 năm 2010. Đây là sự kiện quan trọng góp phần tạo không khí phấn khởi, tin tưởng trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Đại hội sẽ tập trung đánh giá ưu điểm, kết quả và tác dụng của phong trào thi đua yêu nước từ sau Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VII đến nay; nhận rõ những mặt hạn chế, yếu kém cần khắc phục; đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong những năm tới. Đại hội biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua, các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đại hội cũng ghi nhận, tôn vinh các tập thể, cá nhân xuất sắc trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

I. Mục đích, yêu cầu

1.Thông qua các hoạt động tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí, ý nghĩa to lớn của phong trào thi đua yêu nước đối với sự phát triển của đất nước, của mỗi ngành, địa phương, đơn vị.

2. Tuyên truyền, cổ vũ, góp phần nhân rộng kết quả, bài học của phong trào thi đua yêu nước, các tập thể, cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc, gương điển hình tiên tiến tiêu biểu trong các ngành, các cấp, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo…nhằm phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy mạnh mẽ nội lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

3. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, chỉ đạo, tuyên truyền, tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước lên một tầm cao mới theo hướng thiết thực, hiệu quả.

II. Nội dung và phương pháp tuyên truyền

1. Tuyên truyền trước Đại hội

- Tuyên truyền phong trào thi đua yêu nước theo 5 nội dung được đúc kết nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng; kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám thành công; Quốc khánh 2-9 và Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

- Tuyên truyền việc các ban, bộ, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức Đại hội thi đua yêu nước hoặc Hội nghị biểu dương các điển hình tiên tiến trong quý III/2010. Thông qua công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về Luật Thi đua – Khen thưởng; phổ biến, giới thiệu học tập, nhân rộng các nhân tố mới, điển hình tiên tiến theo tinh thần Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”.

- Các báo, đài Trung ương và địa phương từ tháng 9/2010 mở chuyên mục: “Tiến tới Đại hội Thi đua yêu nước Toàn quốc lần thứ VIII”, tập trung tuyên truyền các nội dung sau:

+ Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước.

+ Nội dung chính các văn bản quan trọng hướng dẫn, chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước của Trung ương, địa phương.

+ Những nội dung, bài học, nhân tố, điển hình nổi bật, ấn tượng qua 7 kỳ tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc. Mỗi kỳ Đại hội diễn ra trong thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng đều được cộng đồng xã hội quan tâm, là dịp để ghi nhận và tôn vinh thành tích của tập thể, cá nhân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Tuyên truyền những kinh nghiệm tốt rút ra từ việc tổ chức các Đại hội điểm Thi đua yêu nước của một số ban, bộ, ngành, tỉnh, thành.

+ Tiến trình, kết quả, bài học những tấm gương điển hình qua việc tổ chức Đại hội thi đua ở các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

+ Hoạt động quan trọng, mang tính chỉ đạo của Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương và của các ngành, các địa phương.

+ Tuyên truyền một số cá nhân, tập thể tiêu biểu từ Đại hội các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các tỉnh, thành trên tất cả các lĩnh vực tiến tới Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII.

+ Tuyên truyền các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, xây dựng “Quỹ xóa đói, giảm nghèo”…

2. Tuyên truyền trong Đại hội.

- Tuyên truyền thành tích nổi bật trên các lĩnh vực, các công trình của các ngành, địa phương, đơn vị chào mừng đại hội đảng bộ các cấp và hướng tới Đại hội lần thứ XI của Đảng và chào mừng Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII.

- Tuyên truyền diễn biến nội dung chính của Đại hội. Giới thiệu, cổ vũ, biểu dương các tập thể và cá nhân là đại biểu của Đại hội, chú ý đại biểu là chức sắc và tín đồ tôn giáo, người dân tộc thiểu số; đại biểu trẻ; đại biểu nữ; đại biểu là công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nhân…

- Đặc biệt chú trọng tuyên truyền các sáng kiến, các kinh nghiệm hay, bài học quý, kinh nghiệm nổi bật của các anh hùng, chiến sĩ thi đua, điển hình tiên tiến, từ đó cần được học tập, làm theo, nhân rộng trên phạm vi cả nước.

3. Tuyên truyền sau Đại hội

- Tuyên truyền kết quả, thành công của Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII gắn với tổng kết Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị, lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

- Tiếp tục đẩy mạnh cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, noi gương học tập các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; thi đua đuổi kịp và vượt các nhân tố mới, điển hình tiên tiến ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực.

III. Tổ chức thực hiện

- Hội đồng Thi đua – Khen thưởng các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương xây dựng kế hoạch tổ chức Đại hội, trong đó có công tác tuyên truyền của cấp mình gửi về Ban Tổ chức Đại hội và Tiểu ban Tuyên truyền Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII. Đồng thời chủ động, kịp thời cung cấp thông tin cho các báo, đài để tuyên truyền rộng rãi tạo nên khí thế thi đua sôi động chào mừng kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII.

- Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thường xuyên định hướng công tác tuyên truyền cho các báo, đài; phát huy sức mạnh tổng hợp của các phương tiện thông tin đại chúng, như: báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, báo điện tử trên mạng Internet, hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên…để đưa phong trào thi đua lan tỏa sâu rộng từ Trung ương xuống cơ sở.

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành tuyên truyền Đại hội Thi đua yêu nước của tỉnh, thành tiến tới Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII gắn với tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp, với kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội thông qua hệ thống truyền thông của ngành, như: các đội thông tin lưu động, nhà văn hóa, triển lãm, câu lạc bộ, thư viện…Từ cuối tháng 10/2010 triển khai các băng rôn, pa nô, áp phích, khẩu hiện trên đường phố, ở các khu dân cư. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo tổ chức biểu diễn một số Chương trình nghệ thuật trong thời điểm trước, trong và sau Đại hội.

- Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các phim phóng sự, tổ chức một số cuộc tọa đàm, gặp gỡ với các anh hùng, chiến sĩ thi đua, điển hình tiên tiến phát trên sóng vào dịp diễn ra Đại hội. Tổ chức cầu truyền hình giao lưu với các đại biểu trong thời gian diễn ra Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII.

- Ủy ban Toàn quốc các hội văn học, nghệt thuật Việt Nam tổ chức cho văn nghệ sĩ sáng tác các tác phẩm văn, thơ, họa, kịch….cổ vũ phong trào thi đua và về các nhân tố mới, điển hình tiên tiến.

- Các ban, bộ, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở đẩy mạnh việc thực hiện phong trào thi đua yêu nước gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn lạm phát, phục hồi đà tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

IV. Một số khẩu hiệu tuyên truyền về Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII:

1. Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII!

2. Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua!

3. Thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010!

4. Quyết tâm thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”!

5. Thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII!

6. Thi đua yêu nước vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc!

7. Tích cực học tập và làm theo các nhân tố mới, điển hình tiên tiến!

8. Tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh!

 

K/T TRƯỞNG BAN
PHÓ TRƯỞNG BAN
TRƯỞNG TIỂU BAN TUYÊN TRUYỀN
ĐHTĐYNTQ LẦN THỨ VIII

Đã ký

Nguyễn Bắc Son

[Về đầu trang]


Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.

Nhân kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ban Tuyên giáo - Nữ Công LĐLĐ thành phố Đà Nẵng gởi đến các cấp công đoàn thành phố đề cương kỷ niệm để làm nội dung sinh hoạt và tuyên truyền trong cán bộ, đoàn viên, công nhân lao động.

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

KỶ NIỆM 65 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

(19/8/1945 - 19/8/2010) VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

 

I. Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc tổng nổi dậy của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng

          Cách mạng tháng Tám thành công mau lẹ và ngoạn mục không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của các tầng lớp nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, khéo léo của Đảng.

Sau cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái do Việt Nam Quốc dân Đảng chủ trương thất bại, Đảng ta tuy mới thành lập đã kịp thời nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trải qua muôn vàn thử thách trong máu lửa đấu tranh, qua các cao trào cách mạng như Xô Viết -Nghệ Tĩnh (1930 -1931), vào những đầu năm thập niên 40, Đảng ta đã củng cố và phát triển. Số lượng đảng viên tuy chưa nhiều nhưng phần lớn là những chiến sĩ cách mạng trung kiên, được tôi luyện trong thử thách đấu tranh, có quan hệ gắn bó mật thiết với các tầng lớp nhân dân.

Ngày 13-8, được tin Nhật hàng Đồng minh, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập ngay Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc.

23 giờ cùng ngày, Uỷ ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng công bố mệnh lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến ! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà... Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta”.

Cũng trong ngày 13-8, Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc tại Tân Trào (Tuyên Quang). Tham gia Hội nghị có đại biểu các đảng bộ và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài.

       Trên cơ sở phân tích tình hình, Hội nghị quyết định Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa; đề ra những nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong công tác đối nội, đối ngoại, sẽ thi hành sau khi giành được chính quyền. Hội nghị thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh.

Hội nghị toàn quốc của Đảng vừa kết thúc, Đại hội quốc dân Tổng bộ Việt Minh triệu tập đã khai mạc tại Tân Trào (Tuyên Quang) vào ngày 16-8-1945. Hơn 60 đại biểu thay mặt cho ba miền Bắc, Trung, Nam, kiều bào ở nước ngoài, các đảng phái, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo, tiêu biểu cho ý chí thống nhất của toàn dân tộc về dự Đại hội.

Đại hội đã ủng hộ chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng; thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh; quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

      Khắp nơi, quần chúng hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa đã đồng loạt nổi dậy. Ở những vùng xa xôi, dù chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào tình hình cụ thể ở địa phương và vận dụng chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa.

Ngày 14-8-1945, lực lượng vũ trang Quảng Ngãi giành chính quyền thắng lợi tại tỉnh lỵ.

Từ ngày 14 đến ngày 18-8, các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên -Huế, Khánh Hòa lần lượt nổi dậy giành chính quyền.

Ngày 16-8-1945, một đơn vị quân giải phóng đã tiến công thị xã Thái Nguyên và ngày 17-8, tiến công vào thị xã Tuyên Quang. Một số địa phương ở Hải Ninh, Quảng Yên, Kiến An nổi dậy.

Ngày 17-8, một số vùng ngoại ô Hà Nội đã khởi nghĩa giành thắng lợi.

Ngày 18-8, lực lượng khởi nghĩa ở Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Mỹ Tho giành chính quyền. Đó là những nơi giành được chính quyền sớm nhất trong cả nước.

Xứ uỷ Bắc kỳ quan tâm đặc biệt tới địa bàn Hà Nội vì Hà Nội có tầm quan trọng chiến lược đối với Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Uỷ ban khởi nghĩa) được thành lập ngày 15-8.

Được tin Tổng hội viên chức sẽ tổ chức một cuộc míttinh lớn vào chiều 17-8 tại Nhà hát lớn để ủng hộ Chính phủ bù nhìn, Uỷ ban khởi nghĩa quyết định biến cuộc khởi nghĩa míttinh của quần chúng ủng hộ cách mạng.

        Trước khí thế cách mạng của quần chúng Thủ đô dâng cao, chính quyền bù nhìn không dám chống cực, quân Nhật không dám can thiệp. Uỷ ban khởi nghĩa quyết định khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày 19-8-1945.

Ngày 18-8, cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên các đường phố Hà Nội, từ Bưởi, qua Dịch Vọng, xuống Tương Mai, Mai Động...

Sáng 19-8,  hàng chục vạn nhân dân nội, ngoại thành xuống đường biểu dương lực lượng. Tất cả tập trung trước Nhà hát lớn. Đúng 11 giờ, Uỷ ban khởi nghĩa đọc lời kêu gọi khởi nghĩa. Sau đó, cuộc míttinh biến thành cuộc biểu tình vũ trang giành chính quyền. Quần chúng cách mạng, có sự hỗ trợ của các đội tự vệ chiến đấu, lần lượt chiếm các cơ quan đầu não của địch: Phủ Khâm sai Bắc bộ, Sở Mật thám, Sở Cảnh sát Trung ương, Sở Bưu điện, Trại Bảo an binh... Tối 19-8-1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội đã kết thúc hoàn toàn thắng lợi.

Ngày 20-8-1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc bộ và Uỷ ban nhân dân cách mạng Hà Nội chính thức thành lập.

            Cùng với Hà Nội, nhân dân các tỉnh Thái Bình, Phúc Yên, Khánh Hòa giành chính quyền thắng lợi ở tỉnh lỵ vào ngày 19/8.

        Sau đó các cuộc khởi nghĩa nổ ra đồng loạt mang tính dây chuyền, thành công nhanh chóng tại các tỉnh lỵ: Thanh Hóa, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Sơn Tây (20-8); Yên Bái, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Nam Định, Nghệ An, Ninh Thuận, Tân An (21-8); Cao Bằng, Hưng Yên, Kiến An (22-8); Hải Phòng, Hà Đông, Hòa Bình, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Bạc Liêu, Thừa Thiên-Huế (23-8).

Nhận rõ tầm quan trọng của Huế, Trung ương Đảng cùng Đảng bộ Thừa Thiên -Huế xúc tiến mọi việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Ngày 20-8, Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh được thành lập. Uỷ ban quyết định giành chính quyền vào ngày 23-8. Hàng chục vạn nhân dân bao gồm cả nông dân các huyện kéo về biểu tình thị uy chiếm các công sở.

Đêm 23-8, Chính phủ cách mạng lâm thời gửi điện đòi Bảo Đại thoái vị. Chiều 30-8, một cuộc míttinh lớn được tổ chức tại Ngọ Môn. Trước hàng vạn quần chúng, Bảo Đại đọc chiếu thoái vị, nộp ấn, kiếm cho phái đoàn Chính phủ lâm thời. Chế độ phong kiến sụp đổ.

Ngày 24-8, khởi nghĩa tiếp tục nổ ra và giành thắng lợi ở các tỉnh lỵ Hà Nam, Quảng Yên, Đăk Lăk, Phú Yên, Gò Công.

Ngày 25-8, chính quyền địch bị đánh đổ ở thị xã Lạng Sơn, Phú Thọ, Kon Tum, Bình Thuận.

       Tại Sài Gòn, từ ngày 20/8 cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện công khai, khí thế cách mạng của nhân dân sôi sục. Xứ uỷ Nam kỳ quyết định khởi nghĩa ở Sài Gòn và các tỉnh vào ngày 25-8.

Đồng thời với khởi nghĩa ở Sài Gòn, nhân dân các tỉnh Nam bộ như Chợ Lớn, Gia Định, Sóc Trăng, Long Xuyên, Vĩnh Long, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Tây Ninh, Bến Tre, Sa Đéc đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 26-8, thị xã Hồng Gai, Sơn La, Châu Đốc, Biên Hòa, Cần Thơ giải phóng.

Ngày 27-8, chính quyền bù nhìn bị lật đổ ở Đồng Nai Thượng, Hà Tiên.

      Chỉ trong vòng 2 tuần lễ, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn. Chế độ thuộc địa và chế độ quân chủ từng ngự trị trên đất nước ta bị lật nhào.

Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Uỷ ban dân tộc giải phóng từ Tân Trào về đến Hà Nội.

Ngày 27-8, Uỷ ban dân tộc giải phóng triệu tập cuộc họp các thành viên trong Uỷ ban. Trong cuộc họp này, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Đại hội quốc dân Tân Trào bầu ra được cải tổ thành Chính phủ cách mạng lâm thời.

Ngày 28-8-1945, danh sách các thành viên của Chính phủ được công bố trên các báo ở Hà Nội, gồm 15 người, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Chiều ngày 2-9-1945, tại cuộc míttinh ở Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước đông dảo nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, tự do ra đời.

Ngày 2-9-1945 trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam. 

II. Nguyên nhân thắng lợi Cách mạng tháng Tám

       Cách mạng tháng Tám thành công mau lẹ, ngoạn mục là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định, đó là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo của Đảng.

      Tổng khởi nghĩa tháng Tám là đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua ba cao trào cách mạng lớn, ba cuộc tổng diễn tập cách mạng. Qua đấu tranh gian khổ, hy sinh to lớn, Đảng đã từng bước trưởng thành về chính trị, tư tưởng, tổ chức, xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng hùng hậu chung quanh mình. Đảng  đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp và chiến lược, chiến thuật cách mạng thích hợp và linh hoạt, luôn luôn giương cao ngọn cờ dân tộc, không ngừng củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết và toàn dân, phân hóa lực lượng kẻ thù, xác định rõ kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt.

        Đảng đã coi trọng cả đấu tranh chính trị lẫn đấu tranh vũ trang, kết hợp chặt chẽ, linh hoạt hai hình thức đấu tranh này. Lực lượng vũ trang được Đảng lãnh đạo tuyệt đối, được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc có chỗ đứng vững chắc là các căn cứ cách mạng.

         Đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng, phương châm, phương pháp, sách lược cách mạng mềm dẻo, linh hoạt đã lôi cuốn, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân thành một khối thống nhất, hun nóng thêm bầu nhiệt huyết, làm bừng cháy ngọn lửa cách mạng đang âm ỉ trong lòng mỗi người Việt Nam.

Trong 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng để đi đến thắng lợi Cách mạng tháng Tám đã có biết bao đồng bào, đồng chí đã hy sinh oanh liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Họ đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của dân tộc lên trên hết, đã tin tưởng sâu sắc vào tương lai của Đảng, của dân tộc, đã hy sinh  tất cả, đem xương máu vun tưới cho cây cách mạng, cho nền cách mạng đã khai hoa kết quả tốt đẹp như ngày nay”. 

III. Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám

      - Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân đã tập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử nước ta và cũng là Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mât, bất hợp pháp trở thành một đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước.

- Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, là thắng lợi của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nước ta không những trở thành một nước độc lập, tự do mà còn trở thành một trong những nước đi tiên phong trong việc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên CNXH, thực hiện hoài bão, ước mơ của biết bao thế hệ người Việt Nam xưa và nay.

- Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi đầu tiên của cách mạng ở những nước thuộc địa, nửa thuộc địa do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Nó như một quả bom có sức công phá mạnh làm sụp đổ một mảng quan thành trì chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, thức tỉnh các dân tộc bị áp ức bóc lột vùng dậy, báo hiệu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám : “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Đây là lần đâu tiên trong lịch sử cách mạng, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. 

IV. Bài học của Cách mạng tháng Tám

- Bài học thứ nhất là có một Đảng tiên phong thật sự cách mạng, với một bộ tham mưu giỏi, một lãnh tụ kiệt xuất, nắm bắt được những lý luận, những tư tưởng tiên tiến của thời đại và biết vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể của đất nước, đề ra được những đường lối cách mạng đúng đắn, phương pháp, hình thức đấu tranh phong phú, linh hoạt.

- Bài học thứ hai là Đảng ta giải quyết tốt vấn đề động lực của cách mạng.

Với đường lối đúng đắn, nghệ thuật chỉ đạo tài giỏi, phương pháp, sách lược cách mạng khôn khéo, linh hoạt, hình thức đấu tranh phong phú... Đảng ta đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nông và trí thức, khai thác và phát huy triệt để “tinh thần Việt Nam”, “ý chí Việt Nam” thông minh, dũng cảm, sáng tạo, sẵn sàng xông lên cứu nước, cứu nhà-tạo thành một nguồn động lực vô cùng mạnh mẽ đưa cách mạng tiến lên.

- Bài học thứ ba là bắt mạch đúng diễn biến của tình hình trong nước và quốc tế, nắm lấy thời cơ ngàn năm có một, đề ra những quyết định chính xác.

- Bài học thứ tư là giành chính quyền và kiên quyết bảo vệ chính quyền.

Giành chính quyền, đó là mục tiêu của bất kỳ một cuộc cách mạng nào. Nhưng cái độc đáo của Cách mạng tháng Tám, bản sắc Việt Nam, một sự sáng tạo của Đảng ta là không phải đợi đến khi phát động tổng khởi nghĩa toàn quốc mới đặt vấn đề giành chính quyền về tay nhân dân.

 

*

*    *

 

        Kể từ Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời tới nay đã hơn nửa thế kỷ. Trong hơn nửa thế kỷ, cách mạng Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với những bước ngoặc lớn. Dù ở giai đoạn nào, Đảng ta, quân đội ta, nhân dân ta đều phải đương đầu với những thế lực sừng sỏ, gặp muôn vàn khó khăn, thử thách và cuối cùng chúng ta đều chiến thắng.

       Nếu như trước đây, dân tộc ta khổ nhục vì mất nước và đã kiên trì, anh dũng đấu tranh để giải phóng dân tộc, thì ngày nay, mọi người Việt Nam yêu nước cũng đang day dứt vì tình trạng đất nước còn nghèo nàn, dân ta còn khổ, con em ta chưa được chăm sóc thật chu đáo, trình độ kinh tế, văn hóa, mức sống của nước ta còn thấp so với nhiều nước trên thế giới. Do đó, chúng ta càng quyết tâm chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, ra sức làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh./.

[Về đầu trang]


      UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

         BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

        Số: 80/KH-MTTW-BTT                                     Hà Nội, ngày 13  tháng 09  năm 2010

 

KẾ HOẠCH

Hướng dẫn tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư nhân kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930-18/11/2010)

  

Trong những năm qua việc tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng, trở thành sinh hoạt xã hội rộng rãi ở từng cộng đồng dân cư trong cả nước.

          Để việc tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư năm 2010 đạt hiệu quả cao, thiết thực chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18-11-2010), Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư năm 2010, như sau:

I. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC NGÀY HỘI

1. Nội dung

- Tiếp tục tuyên truyền về lịch sử, truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, về thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước ở địa phương, cơ sở.

- Đánh giá kết quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” năm 2010 và bàn biện pháp tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động trong năm 2011.

- Biểu dương những tập thể, gia đình và cá nhân tiêu biểu trong thực hiện cuộc vận động và thực hiện Đợt thi đua đặc biệt do Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động.

- Tổ chức các hoạt động:

+ Xây dựng các công trình vì cuộc sống của cộng đồng dân cư, trao nhà tình nghĩa, nhà “Đại đoàn kết” thiết thực lập thành tích chào mừng đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng; chào mừng 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội và 80 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam;

+ Thăm và tặng quà các gia đình chính sách, những cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ Mặt trận các thời kỳ, các gia đình có hoàn cảnh khó khăn;

+ Tổ chức làm vệ sinh môi trường, sinh hoạt văn nghệ, thể thao, các trò chơi dân gian truyền thống, sinh hoạt cộng đồng…

2. Hình thức và biện pháp thực hiện

- Tổ chức "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" ở khu dân cư do Ban công tác Mặt trận chủ trì. Thời gian có thể diễn ra một ngày trong dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (từ ngày 01/11 đến 18/11/2010). Công tác tuyên truyền cần chuẩn bị chu đáo và triển khai trước Ngày hội; nên có băng rôn, khẩu hiệu, cờ, phướn về chủ đề "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc"; phối hợp với chính quyền và các cơ quan tuyên truyền nội dung tổ chức Ngày hội trên các phương tiện thông tin đại chúng và phương tiện truyền thanh để toàn dân biết.

- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã có kế hoạch tổ chức Ngày hội ở khu dân cư; tổ chức làm điểm ở một số khu dân cư trước khi tổ chức đồng loạt Ngày hội.

Căn cứ vào nội dung và yêu cầu của việc tổ chức Ngày hội, Ban công tác Mặt trận xây dựng chương trình, phân công chuẩn bị tốt các nội dung của Ngày hội.

- Thành phần tham dự Ngày hội:

+ Các hộ gia đình đang cư trú trên địa bàn dân cư, không phân biệt thường trú hay tạm trú; tuỳ theo điều kiện có thể mời toàn thể các thành viên trong gia đình hoặc đại diện hộ gia đình; chú ý mời các vị là chức sắc tôn giáo, các nhân sĩ,
trí thức, người tiêu biểu, cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan đóng trên địa bàn, sinh sống ở khu dân cư cùng tham gia Ngày hội;

+ Mời các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính quyền, Mặt trận, Đoàn thể ở các cấp dự Ngày hội. Từng cấp có kế hoạch mời các đồng chí lãnh đạo tham gia ở các địa điểm khác nhau để  động viên nhân dân trong hoạt động Ngày hội.

- Chương trình Ngày hội: cần phát huy sự sáng tạo của mỗi khu dân cư; tuỳ đặc điểm điều kiện từng nơi để tổ chức. Ban Thường trực hướng dẫn một số nội dung cơ bản như sau:

“Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư gồm 2 phần chính:

- Phần lễ: gồm có:

+ Chào cờ;

+ Giới thiệu thành phần đại biểu dự Ngày hội;

+ Ôn lại lịch sử và truyền thống của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam; vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  trong sự nghiệp cách mạng ngày nay;

+ Báo cáo tổng kết Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” năm 2010 gắn với kết quả thực hiện Đợt thi đua đặc biệt do Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động từ tháng 9 năm 2009 đến 18/11/2010, nhiệm vụ nâng cao hiệu quả Cuộc vận động năm 2011;

+ Các đại biểu trao đổi, thảo luận;

+ Công bố danh sách hộ gia đình văn hoá;

+ Biểu dương, khen thưởng tập thể, gia đình và cá nhân tiêu biểu trong thực hiện cuộc vận động và trong đợt thi đua đặc biệt;

+ Mời lãnh đạo cấp trên phát biểu (nếu có);

+ Phát động thi đua, đăng ký phấn đấu đạt các danh hiệu thi đua năm 2011;

+ Kết thúc buổi lễ.

- Phần hội:

+ Tùy theo từng nơi, có thể tổ chức trước hoặc sau phần lễ, khuyến khích các hoạt động văn hóa, thể thao, trò chơi dân gian mang tính truyền thống của địa phương, dân tộc; chú ý phát huy vai trò, thế mạnh của các tổ chức thành viên, các tổ chức, cá nhân sinh sống tại địa bàn dân cư, con em quê hương sinh sống hoặc đang công tác ở địa phương khác cùng hướng về "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" ở khu dân cư; những nơi có điều kiện có thể tổ chức “Bữa cơm đoàn kết” để nhân dân trong khu dân cư cùng tham gia.

+ Các hoạt động phần hội được tổ chức ở từng khu dân cư; nếu có điều kiện các khu dân cư có thể hoạt động liên kết phối hợp với nhau, hoặc tổ chức ở cấp xã do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã thống nhất với cấp uỷ, chính quyền cùng cấp quyết định phù hợp thực tế của địa phương, cơ sở.

 II. CÁCH TIẾN HÀNH

1. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp xây dựng kế hoạch
tổ chức Ngày hội, báo cáo với cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền, các tổ chức thành viên cùng cấp để thống nhất chủ trương, nội dung, hình thức, thời gian tiến hành; hướng dẫn Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư tổ chức Ngày hội.

2. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ động xây dựng
 kế hoạch mời các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính quyền, Mặt trận và Đoàn thể các cấp về dự "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" ở khu dân cư.

Ở Trung ương, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc       Việt Nam mời các đồng chí lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc về dự "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" ở khu dân cư tại một số địa phương.

3. Kết thúc thời gian tổ chức Ngày hội, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc các cấp cần tổ chức rút kinh nghiệm và tổng hợp gửi báo cáo về Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên. Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố gửi báo cáo đánh giá kết quả về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Phong trào, số Fax: 04.3.928.7402, email: thanh_huyen1975@yahoo.com.vn) trước ngày 06/12/2010.

                                                                                     TM. BAN THƯỜNG TRỰC

                                                                             PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

Nơi nhận:                                                                                   (Đã ký)

- Chủ tịch (báo cáo và chỉ đạo);                                                 

- Các đ/c Ban Thường trực (chỉ đạo);                                                    Vũ Trọng Kim

- Các tổ chức thành viên; (phối hợp);   

- Ban Thường trực MTTQ 63 tỉnh, TP (th/h);

- Các ban, đơn vị MTTW (th/h);

- Lưu VP,PT.

Về đầu trang]


       UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                      Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

         BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

        Số: 12/TTr-MTTW-BTT                                         Hà Nội, ngày 23  tháng 09  năm 2010

 

THÔNG TRI

Hướng dẫn góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng

 

Ngày 10-9-2010, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 112-BTGTW về việc công bố và lấy ý kiến của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn công tác Mặt trận tham gia góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng như sau:

 1. Tầm quan trọng và ý nghĩa

Nội dung các dự thảo văn kiện và việc lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng có tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt nhằm xác định hướng đi lâu dài, đánh giá tổng quát quá trình cách mạng Việt Nam; đánh giá những thành tựu và hạn chế thực hiện Chiến lược kinh tế-xã hội 2001-2010 và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội năm 2011-2020; đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, phương hướng nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011-2015; đồng thời phát huy trách nhiệm, dân chủ trong mọi tầng lớp nhân dân góp phần hiến kế xây dựng Đảng, xây dựng đất nước theo tinh thần của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

2. Yêu cầu và cách thức tiến hành

- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trân Tổ quốc Việt Nam đề nghị Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên tổ chức góp ý vào dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để quán triệt những định hướng lớn của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc tổ chức góp ý cần bảo đảm dân chủ, trách nhiệm, chân thành, cởi mở và tôn trọng những ý kiến khác nhau. Thông qua việc tổ chức góp ý để tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân đối với Đảng.

- Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tổ chức Hội nghị Uỷ ban MTTQ tỉnh, thành phố mở rộng để góp ý, trong đó cần mời các thành phần mở rộng là các nhóm đại biểu đại diện các tổ chức thành viên, các ngành, các giới, các thành phần tham gia (không chỉ mời một người đại diện). Đối với các địa phương có nhiều đối tượng, thành phần như dân tộc thiểu số, các tôn giáo, doanh nhân, vùng đông người Hoa... có thể tổ chức riêng hội nghị góp ý trong từng đối tượng, thành phần một cách phù hợp. Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố mời đồng chí Bí thư tỉnh, thành uỷ hoặc một đồng chí trong Thường trực, Ban Thường vụ tỉnh, thành uỷ đến dự và phát biểu, hướng dẫn việc góp ý vào dự thảo văn kiện.

- Các tổ chức thành viên: Thông qua các hình thức khác nhau để tổ chức việc lấy ý kiến rộng rãi của đoàn viên, hội viên của tổ chức mình tham gia góp ý vào dự thảo các văn kiện.

3. Thời gian tiến hành

Việc tổ chức góp ý được tiến hành sau khi công bố dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng trên các phương tiện thông tin đại chúng (ngày 15-9) đến hết ngày 31-10-2010.

4. Tổng hợp ý kiến

- Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng hợp bằng văn bản ý kiến của Mặt trận Tổ quốc các cấp, của các tầng lớp nhân dân tham gia vào dự thảo các văn kiện gửi về Ban Dân vận tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

- Các tổ chức thành viên tổng hợp bằng văn bản ý kiến của các đoàn viên, hội viên tham gia vào dự thảo các văn kiện gửi về Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

                                                                                      TM. BAN THƯỜNG TRỰC

                                                                             PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

      Nơi nhận:

- Ban Bí thư (báo cáo);                                                                (Đã Ký)

- Uỷ ban MTTQVN các tỉnh, thành phố;                                    Vũ Trọng Kim

- Các tổ chức thành viên;

- Chủ tịch, Các Phó Chủ tịch,

  VP, Ban CTPN và các ban, đơn vị MTTW;

- Các VP: TW Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ;

- Ban Dân vận TW;

- Ban Tuyên giáo TW;

- Vụ Tổng hợp-Văn phòng TW Đảng;

- Vụ Đoàn thể-Ban Dân vận TW;

- Vụ Tuyên truyền-Ban Tuyên giáo TW;

- Vụ Tổng hợp, Văn phòng Chính phủ;

- Lưu Văn thư, Tổng hợp MTTW.

Về đầu trang]


        UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                      Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

          BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

          Số: 02/ĐA-MTTW-BTT                                         Hà Nội, ngày 6  tháng 09  năm 2010

 

ĐỀ ÁN

Tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”,

góp phần bảo đảm An sinh xã hội, phát triển bền vững trong giai đoạn mới

 

 

I. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động trong 10 năm qua đã được cả hệ thống chính trị và toàn xã hội hưởng ứng, mang lại kết quả thiết thực, góp phần vun đắp truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái; chăm lo, củng cố, phát triển khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” gắn với việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm An sinh xã hội và phát triển bền vững, phát huy mạnh mẽ vai trò phấn đấu, tự tin, vươn lên để thoát khỏi cảnh nghèo khó của bộ phận người nghèo.

Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2009 - 2014.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” phù hợp với thực tiễn đặt ra trong giai đoạn mới, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam xây dựng Đề án tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, góp phần bảo đảm An sinh xã hội, phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

 Huy động mọi nguồn lực của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình... ở trong và ngoài nước chăm lo giúp đỡ người nghèo, vùng nghèo, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp giảm nghèo, bảo đảm An sinh xã hội, phát triển bền vững của đất nước. Qua đó tăng cường phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong thời
kỳ mới.

III. NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Bổ sung các nội dung của Cuộc vận động tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” để phù hợp với yêu cầu mới, nhằm tạo thêm nguồn lực giúp đỡ người nghèo, đồng thời vận động thực hiện các chương trình An sinh xã hội, trọng tâm là:

 1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền:

Nêu cao ý nghĩa và hiệu quả mà Cuộc vận động đã đạt được; những kinh nghiệm tốt và điển hình của Cuộc vận động đến các tổ chức, cá nhân và đến đông đảo các tầng lớp nhân dân. Thông qua những hoạt động thiết thực, tự nguyện của từng cá nhân, đơn vị, góp phần tạo thêm nguồn lực cùng Đảng và Nhà nước giúp đỡ người nghèo từng bước vươn lên ổn định cuộc sống và thoát nghèo bền vững.

2. Tăng cường công tác phối hợp, vận động ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” và nguồn lực bảo đảm An sinh xã hội:

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và Ban vận động các cấp phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các ngành chức năng để tham mưu với cấp uỷ có những chủ trương chỉ đạo sát hợp để tăng cường vận động ủng hộ“Quỹ vì người nghèo.

Cùng với việc tập trung xây dựng nhà "Đại đoàn kết" cho các hộ nghèo, Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp với chính quyền để vận động các nguồn lực thực hiện các nội dung An sinh xã hội, nhất là vận động giúp đỡ 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững. Nơi có điều kiện có thể thành lập Quỹ “ Vì người nghèo và An sinh xã hội”

3. Tiếp tục thực hiện tốt tháng cao điểm “Vì người nghèo” từ 17/10 đến 18/11 và thực hiện Chương trình “Nối vòng tay lớn” (31/12) hàng năm:

Hàng năm từ 17/10 đến 18/11, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và Ban vận động “Ngày vì người nghèo” các cấp tiếp tục vận động tháng cao điểm “Vì người nghèo”, phối hợp tổ chức Chương trình “Nối vòng tay lớn” với 2 nội dung:

- Các tổ chức và cá nhân ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” do Uỷ ban MTTQ các cấp quản lý điều hành chung để giúp đỡ người nghèo theo 5 nội dung được qui định  tại Quy chế xây dựng, quản lý, sử dụng quỹ.

- Các doanh nghiệp trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức Phi chính phủ đăng ký ủng hộ trực tiếp cho người nghèo và chương trình An sinh xã hội.

4. Tiến hành kiểm tra, giám sát, sơ kết, khen thưởng:

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với các địa phương về công tác vận động, xây dựng, quản lý “Quỹ vì người nghèo”. Đảm bảo tính công khai, dân chủ, minh bạch trong công tác vận động và sử dụng Quỹ các cấp. Hỗ trợ Quỹ đúng đối tượng và đúng mục đích, tránh để xảy ra thất thoát, tiêu cực.

Tổ chức sơ kết việc thực hiện tháng vận động cao điểm “Vì người nghèo” và Chương trình “Nối vòng tay lớn” hàng năm để đánh giá rút kinh nghiệm và biểu dương các tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp cho Cuộc vận động, đồng thời phát động trong thời gian tiếp theo.

Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tiếp tục xem xét cấp Bằng ghi công cho các đơn vị (tỉnh, huyện, xã) đã hoàn thành chương trình xây dựng nhà Đại đoàn kết, xoá nhà dột nát cho các hộ nghèo.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

Phối hợp với Chính phủ, các bộ, ban, ngành có liên quan triển khai thực hiện Đề án; phân công các ban, đơn vị thuộc cơ quan MTTW thực hiện Đề án:

- Ban Phong trào tham mưu đề xuất các nội dung, giải pháp triển khai cuộc vận động ở từng thời điểm cho phù hợp, thường xuyên theo dõi và báo cáo Ban Thường trực tiến độ thực hiện.

- Ban Tuyên giáo tham mưu với Ban Thường trực triển khai công tác tuyên truyền Cuộc vận động.

- Các ban, đơn vị khác theo chức năng, nhiệm vụ của mình chủ động tham gia thực hiện Đề án.

2. Các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

- Tiếp tục phát huy kết quả các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, nhất là các nội dung chăm lo giúp đỡ đoàn viên, hội viên nghèo, giảm dần số hộ đoàn viên, hội viên nghèo trong mỗi tổ chức.

- Tuỳ theo đặc điểm của từng tổ chức để thực hiện các nội dung của Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” trong giai đoạn mới; phối hợp thống nhất hành động với Mặt trận để cùng Chính phủ hoàn thành chương trình nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

3. Các địa phương:

- Trên cơ sở Đề án tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, góp phần bảo đảm An sinh xã hội, phát triển bền vững trong giai đoạn mới của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc các cấp căn cứ vào tình hình thực tế địa phương để triển khai và tổ chức thực hiện ở khu dân cư cho phù hợp; đồng thời có kế hoạch giám sát việc sử dụng “ Quỹ vì người ngèo” các cấp đúng quy định.

- Tham mưu với cấp uỷ, phối hợp với chính quyền để vận động nguồn lực thực hiện chương trình An sinh xã hội tại địa phương, bao gồm cả chương trình vận động “Quỹ vì người nghèo” và các nguồn lực khác chăm lo cho người nghèo, vùng nghèo.

4. Về Quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng “Quỹ vì người nghèo”:

 Nghiên cứu bổ sung, sửa đổi:

- Quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng “Quỹ vì người nghèo cho phù hợp với thực tế tại địa phương và Trung ương.

- Quy chế đăng ký giám sát thực hiện việc ủng hộ vùng nghèo, người nghèo trực tiếp của các tổ chức, doanh nghiệp,...

Chương trình giảm nghèo, phát triển bền vững là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”  là một nội dung quan trọng để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VII MTTQ Việt Nam. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận nghiên cứu triển khai và thực hiện có hiệu quả Đề án này.

                                                                                   TM. BAN THƯỜNG TRỰC

                                                                             PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

Nơi nhận:                                                                                   (Đã ký)

- Ban TT Uỷ ban TƯMTTQVN  (chỉ đạo);                                                 

- Ban Vận động "Ngày Vì người nghèo"                                               Vũ Trọng Kim

 - Lãnh đạo các Ban, đơn vị Uỷ ban

Trung ương MTTQ Việt Nam;

- Lưu VT.

Về đầu trang]


 

 
 
 
 

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
 ĐẠI HỘI MTTQ VIỆT NAM LẦN THỨ VII THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 Đ/c Huỳnh Đảm
 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương 
MTTQ Việt Nam
 

Đ/c Vũ Trọng Kim
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn