Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
       
     
 
 

 

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh: Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sống hàng ngày của mỗi người dân

 
 

     VĂN BẢN HƯỚNG DẪN            


Kế hoạch số 08/KH-MTTW-BVĐTW của Ban Vận động “Ngày Vì người nghèo” Trung ương về Tổ chức vận động "Tháng cao điểm vì người nghèo" từ 17/10 đến 18/11/2009 hướng tới thực hiện chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2009

Kế hoạch số 05/KH-MTTW-BTT của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về triển khai thực hiện đợt thi đua đặc biệt do Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII phát động

Hướng dẫn số 01/HD-MTTW-BTT, ngày 1 tháng 10 năm 2009 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Tổ chức thực hiện Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vận động toàn dân ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra

Thông tri số 36/TTr-MTTW-BTT ngày 16 tháng 9 năm 2009 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

Công văn số 4287/CV-MTTW-BTT, ngày 08 tháng 9 năm 2009 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc phối hợp, tạo điều kiện trong việc tổ chức Đại hội lần thứ VII MTTQVN

Hướng dẫn số 90/HD-MTTW-BTT, ngày 27 tháng 7 năm 2009 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của  Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 - 2/9/2009) trong hệ thống Mặt trận các cấp

Đề cương tuyên truyền 40 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh ( 2/9/1969 – 2/9/2009)

Đề cương tuyên truyền kỷ nệm 105 năm ngày sinh đồng chí Trần Phú-Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2009)

Hướng dẫn đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị và nội dung sửa đổi, bổ xung điều lệ tại Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VI

Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết phát động thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hướng dẫn nhiệm vụ công tác Tuyên huấn của MTTQ Việt Nam năm 2009

Hướng dẫn công tác tôn giáo, dân tộc của MTTQ các tỉnh, thành phố năm 2009

Nghị quyết Hội nghị Uỷ ban TƯMTTQ Việt Nam lần thứ sáu ( Khoá VI )

Nghị quyết của Hội nghị Uỷ ban TƯMTTQ Việt Nam lần thứ sáu ( Khoá VI) về phát động thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII

Chương trình Phối hợp và thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam năm 2009

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 100 năm ngày sinh Đồng chí Ngô Gia Tự - Bí Thư xứ uỷ đầu tiên của Nam Kỳ (3/12/1908 – 3/12/2008

Nghị quyết liên tịch Số 19 /2008/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN, ngày 22 tháng 8 năm 2008 về việc ban hành Quy chế phối hợp công tác của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Quy chế phối hợp công tác của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Kế hoạch số 310/KH-MTTW-BTT, ngày 15 tháng 9 năm 2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về Tổ chức vận động "Tháng cao điểm Vì người nghèo" từ 17/10 đến 18/11/2008  và Chương trình "Nối vòng tay lớn" 31/12/2008


  

 CHÍNH PHỦ - ỦY BAN TRUNG ƯƠNG                               CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

   MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                             Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

     --------------------------------------------------------                    -                      -------------------------------------------------------

 Số:19 /2008/NQLT/CP-UBTUMTTQVN                                            Hà Nội, ngày 22 tháng 8  năm 2008

 

NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH

Về việc ban hành Quy chế phối hợp công tác của Chính phủ

và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

CHÍNH PHỦ - ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;     

Căn cứ Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 12 tháng 6 năm 1999;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;

Để tăng cường sự phối hợp công tác đối với các nhiệm vụ có liên quan, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới,

 QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị quyết này Quy chế phối hợp công tác của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Điều 2. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quy chế về mối quan hệ công tác giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành ngày 24               tháng 4 năm 1996.

Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; Ban Thường trực, các ban, đơn vị liên quan của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết, Văn phòng Chính phủ, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm kiến nghị Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xem xét sửa đổi, bổ sung khi cần thiết./.

 

TM. ỦY BAN TW MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                       TM. CHÍNH PHỦ

                    CHỦ TỊCH                                           THỦ TƯỚNG

                     (Đã ký)                                                   (Đã ký)

                    Huỳnh Đảm                                      Nguyễn Tấn Dũng

Nơi nhận:

- Ban Bí thư Trung ương Đảng;

- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

- VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;

- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

- Kiểm toán Nhà nước;

- BQL KKTCKQT Bờ Y;

- Ngân hàng Chính sách Xã hội;

- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;

- Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

- VPCP: BTCN, các PCN,

  các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

- Lưu: Văn thư, TH (5b), UBTWMTTQVN (3b).M

 

[Về đầu trang]


  CHÍNH PHỦ - ỦY BAN TRUNG ƯƠNG                                                CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

   MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

     --------------------------------------------------------                                                        --------------------------------------------------------

QUY CHẾ

Phối hợp công tác của Chính phủ

và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

(Ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 19 /2008/NQLT/CP-UBTUMTTQVN

ngày 22  tháng 8 năm 2008 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)

 

Điều 1. Về phối hợp tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

1. Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp chặt chẽ trong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội, xây dựng đồng bộ các chính sách để phát huy mọi khả năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước và chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp, tạo điều kiện để Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức việc vận động, tập hợp các nhân sĩ, trí thức, cá nhân tiêu biểu trong các dân tộc, các tôn giáo, chuyên gia trên các lĩnh vực tham gia các hoạt động của Mặt trận tạo sự đồng thuận trong xã hội; tuyên truyền, vận động người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 3. Hàng năm, đại diện của Chính phủ tham dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức.

Điều 2. Về phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân

1. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi dự thảo kế hoạch tuyên truyền, vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động mang tính toàn dân, toàn diện đến Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để phối hợp xây dựng. Cơ quan nhận được yêu cầu phối hợp có trách nhiệm tham gia ý kiến để bảo đảm kế hoạch có tính khả thi cao.

2. Đối với các cuộc vận động nhân dân mà Chính phủ xét thấy Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên chủ trì thì Thủ tướng Chính phủ trao đổi, thống nhất với Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về mục đích, yêu cầu, nội dung và các bước tiến hành, đồng thời tạo điều kiện để Mặt trận tổ chức thực hiện. Đối với cuộc vận động nhân dân do Chính phủ chủ trì thì Chính phủ mời đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia.

Đối với cuộc vận động nhân dân do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề xướng và chủ trì, Chính phủ phối hợp, tạo điều kiện để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức triển khai thực hiện.

Đối với cuộc vận động nhân dân do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phát động cần có sự phối hợp của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc cuộc vận động nhân dân do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động cần có sự phối hợp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì lãnh đạo hai bên thảo luận về mục đích, yêu cầu, nội dung cuộc vận động, các bước tiến hành và phối hợp cùng chỉ đạo triển khai thực hiện.

Điều 3. Về phối hợp xây dựng pháp luật

1.Hàng năm, Bộ Tư pháp thông báo dự kiến chương trình, kế hoạch xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ để Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia ý kiến chậm nhất là 15 ngày, trước khi dự thảo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được trình cơ quan có thẩm quyền.

Hàng năm, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi văn bản kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh đến Bộ Tư pháp để trình Chính phủ cho ý kiến.

2. Chính phủ tham gia ý kiến bằng văn bản đối với các dự án luật, pháp lệnh do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì soạn thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

3. Khi xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến các tầng lớp nhân dân do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trực tiếp vận động; đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đến tổ chức bộ máy Nhà nước thì các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo gửi dự thảo văn bản để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia ý kiến.

4. Khi xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ liên quan đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chế độ, chính sách đối với cán bộ Mặt trận thì cơ quan chủ trì soạn thảo gửi dự thảo để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia ý kiến.

5. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp ý kiến bằng văn bản về các dự thảo nêu tại khoản 3, khoản 4 Điều này gửi các cơ quan soạn thảo và Thủ tướng Chính phủ; cơ quan soạn thảo có trách nhiệm tiếp thu, giải trình theo quy định của pháp luật.

Điều 4. Về phối hợp thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

1. Căn cứ Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ ban hành Nghị quyết liên tịch hướng dẫn quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; việc vận động bầu cử; những vấn đề phát sinh trong quá trình tiến hành bầu cử, bảo đảm sự thống nhất trong việc chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật.

2. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn cơ cấu, thành phần của các tổ chức thành viên Mặt trận tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; tổ chức hội nghị tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác bầu cử; tổ chức hội nghị giao ban theo vùng, miền; chỉ đạo, kiểm tra công tác bầu cử; tổng kết công tác bầu cử.

3. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc sử dụng kinh phí bầu cử đối với các địa phương.

Điều 5. Về kiến nghị và trả lời kiến nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh với Chính phủ. Chính phủ có trách nhiệm xem xét, xử lý và có văn bản trả lời Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2. Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo của công dân do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chuyển đến thuộc trách nhiệm giải quyết của mình, có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản đến Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thời hạn trả lời theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Định kỳ hàng tháng, Thanh tra Chính phủ thông báo đến Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp tình hình công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

3. Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm nghiên cứu xem xét, xử lý và trả lời đối với những kiến nghị của nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình không còn phù hợp với thực tế do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp gửi đến.

Điều 6. Về các hoạt động giám sát và phản biện xã hội

1. Trong quá trình tham gia giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nếu phát hiện có biểu hiện vi phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thì Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kiến nghị bằng văn bản với các cơ quan đó. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm xem xét và trả lời kiến nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo luật định.

2. Trong trường hợp Chính phủ tổ chức hoạt động kiểm tra liên ngành về một lĩnh vực cụ thể trong phạm vi một địa phương hoặc nhiều địa phương, khi cần thiết Chính phủ mời đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia đoàn kiểm tra đối với những vấn đề liên quan đến quyền giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

3. Chính phủ phối hợp, tạo điều kiện để Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hoạt động giám sát, phản biện xã hội theo quy định.

Điều 7. Về phối hợp ban hành văn bản liên tịch; gửi văn bản mới ban hành

1. Chính phủ phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch để hướng dẫn thi hành những vấn đề mà pháp luật quy định trách nhiệm tham gia quản lý nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo đề nghị của mỗi bên.

Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành văn bản liên tịch để thực hiện những vấn đề có liên quan đến quyền, trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương theo đề nghị của mỗi bên.

2. Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Quy chế phối hợp công tác để tổ chức thực hiện những công việc liên quan theo đề nghị của mỗi bên.

3. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành.

Điều 8. Về kinh phí hoạt động

1. Kinh phí hoạt động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do ngân sách trung ương bảo đảm. Hàng năm, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lập dự toán ngân sách năm kế hoạch của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật.

2. Trường hợp có hoạt động đột xuất phát sinh chưa được bố trí trong dự toán kinh phí hoạt động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng dự toán chi tiết gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Điều 9. Về việc tham gia các kỳ họp, phiên họp

1. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được mời dự các phiên họp của Chính phủ, cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ bàn về những vấn đề liên quan.

2. Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ hoặc các thành viên khác của Chính phủ được mời dự các kỳ họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để phối hợp thực hiện các chương trình công tác có liên quan.

Điều 10. Về trao đổi thông tin và làm việc liên tịch

1. Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thường xuyên trao đổi thông tin về những vấn đề có liên quan để bảo đảm hiệu quả trong phối hợp công tác.

Chính phủ gửi Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các báo cáo định kỳ về tình hình kinh tế - xã hội và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi Chính phủ các báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2. Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức họp liên tịch định kỳ hàng năm để kiểm điểm việc thực hiện Quy chế phối hợp công tác và bàn nhiệm vụ phối hợp của năm sau.

3. Khi cần thiết, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp để bàn về nội dung phối hợp công tác hoặc xử lý đề xuất, kiến nghị của mỗi bên.

Điều 11. Tổ chức thực hiện

Văn phòng Chính phủ, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc thực hiện Quy chế này./.

 TM. ỦY BAN TW MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                       TM. CHÍNH PHỦ

                    CHỦ TỊCH                                             THỦ TƯỚNG

                     (Đã ký)                                                   (Đã ký)

                    Huỳnh Đảm                                      Nguyễn Tấn Dũng

[Về đầu trang]


     UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                     Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

   BAN THƯỜNG TRỰC

  Số:310 /KH-MTTW-BTT                                          Hà Nội, ngày 15  tháng 09  năm 2008

 

KẾ HOẠCH

Tổ chức vận động "Tháng cao điểm Vì người nghèo" từ 17/10 đến 18/11/2008 và Chương trình "Nối vòng tay lớn" 31/12/2008

           

Phát huy kết quả đã đạt được của Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” trong những năm qua, tiếp tục đẩy mạnh phong trào giúp đỡ người nghèo nhằm tạo thêm nguồn lực để giảm nghèo; thiết thực lập thành tích chào mừng 78 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam và Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam xây dựng kế hoạch tổ chức "Tháng cao điểm vì người nghèo” (Từ ngày 17/10 đến ngày 18/11/2008) và Chương trình "Nối vòng tay lớn" 31/12/2008 như sau:

I- Mục đích - yêu cầu:

1. Tổ chức triển khai "Tháng cao điểm vì người nghèo" và chương trình "Nối vòng tay lớn" năm 2008 nhằm tiếp tục vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, các doanh nghiệp, người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế tham gia hưởng ứng cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; tiếp tục đóng góp ủng hộ "Quỹ vì người nghèo" các cấp.

2. Tạo ra nguồn lực trực tiếp chăm lo giúp đỡ người nghèo, tập trung thực hiện chương trình xây dựng "Nhà Đại đoàn kết" cho các hộ nghèo và một số nội dung khác; tăng thêm số địa phương, cơ sở hoàn thành việc xoá nhà dột nát cho người nghèo.

 II- Nội dung- Biện pháp tổ chức thực hiện:

 1. Ở Trung ương:

1.1. Công tác tuyên truyền:

- Tiếp tục phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, đặc biệt là Đài Truyền hình Việt Nam để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền cuộc vận động trong "Tháng cao điểm vì người nghèo" (từ 17/10- 18/11/2008) và Chương trình "Nối vòng tay lớn" (31/12/2008). Tăng cường tuyên truyền trên Báo Đại đoàn kết, Thông tin công tác Mặt trận, Tạp chí Mặt trận, trên Website Mặt trận Tổ quốc và trên các phương tiện thông tin đại chúng khác về thành tích và kết quả cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" trong cả nước, tập trung nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình góp "Quỹ vì người nghèo" các cấp; động viên, biểu dương các địa phương có nhiều thành tích trong việc phấn đấu hoàn thành chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo.

- Báo Đại đoàn kết, Tạp chí Mặt trận, Thông tin công tác Mặt trận, trang Website Mặt trận... phấn đấu trong tháng cao điểm có nhiều tin bài phản ánh sự tham gia vận động ủng hộ Quỹ cũng như kết quả thu được ở các cấp. Đồng thời phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam thường xuyên đưa tin về không khí ra quân khắp nơi trên cả nước hưởng ứng "Tháng cao điểm vì người nghèo".

1.2. Phối hợp với một số cơ quan đồng tổ chức để thống nhất về nội dung cuộc vận động "Ngày vì người nghèo":

- Phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức cuộc gặp mặt với các Doanh nghiệp nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2008) theo tinh thần Thư của Thủ tướng Chính phủ kêu gọi các Doanh nghiệp tham gia hưởng ứng cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" (dự kiến sẽ tổ chức trước ngày 13/10).

(Có giới thiệu một số thông tin về 60 huyện nghèo nhất cả nước ở 19 địa phương để các tổ chức, cá nhân đăng ký giúp đỡ).

- Phối hợp với Bộ Ngoại giao và Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức cuộc gặp mặt với Đại sứ quán các nước ở Hà Nội đưa thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với công tác xoá đói giảm nghèo và thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong những năm vừa qua, kết quả sự tham gia và một số điển hình các tổ chức quốc tế ở Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia cuộc vận động.

1.3. Các tổ chức Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

- Đề nghị có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn trong hệ thống để phối hợp thực hiện tháng cao điểm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo và vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên ủng hộ "Quỹ vì người nghèo” các cấp.

- Đăng ký với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam việc thực hiện xoá nhà dột nát cho các hộ là đoàn viên, hội viên nghèo của tổ chức mình.

1.4. Tổ chức một số cuộc làm việc để bàn biện pháp vận động trong "Tháng cao điểm vì người nghèo" và Chương trình "Nối vòng tay lớn":

+ Làm việc với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và một số Tập đoàn, Doanh nghiệp để vận động sự tham gia hưởng ứng ủng hộ của các đơn vị trong Tháng cao điểm và tại Chương trình "Nối vòng tay lớn".

+ Họp với Đài Truyền hình Việt Nam và các báo, đài để thông tin về kết quả của ngày phát động "Tháng cao điểm vì người nghèo", đề nghị các cơ quan thông tin đại chúng đồng loạt đưa tin về tháng cao điểm và kéo dài đến Chương trình "Nối vòng tay lớn" vào ngày 31/12/2008.

+ Họp với Tiểu ban vận động phía Nam để phối hợp vận động đối với các Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ở phía Nam.

1.5. Các đồng chí cán bộ và nhân viên các ban chuyên môn của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Ban vận động "Ngày vì người nghèo" Trung ương đăng ký đi vận động các Tập đoàn, Tổng Công ty, các tổ chức Quốc tế... tham gia ủng hộ Quỹ (có mẫu đăng ký  kèm theo).

1.6. Tổ chức buổi lễ phát động "Tháng cao điểm vì người nghèo" (trước ngày 17/10/2008), tiếp nhận ủng hộ "Qũy vì người nghèo” Trung ương tại cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (số 46 Tràng Thi, Hà Nội).

- Tổ chức chương trình "Nối vòng tay lớn" vào ngày 31/12/2008 (sẽ có kế hoạch cụ thể sau khi làm việc với Đài Truyền hình Việt Nam).

2.  Đối với các địa phương

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ và Ban vận động "Ngày vì người nghèo" cấp tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch tổ chức "Tháng cao điểm vì người nghèo" và tham gia vận động để tuyên truyền trong chương trình "Nối vòng tay lớn" 31/12/2008 của Đài Truyền hình Việt Nam;

- Tổ chức tháng vận động cao điểm ủng hộ xây dựng "Quỹ vì người nghèo" và tập trung thực hiện Đề án xoá nhà tạm (đối với các địa phương có Đề án); các địa phương đã hoàn thành mục tiêu xoá nhà dột nát cho người nghèo, Ban vận động các cấp cần xây dựng chương trình, đề án giúp đỡ người nghèo như: hỗ trợ tư liệu sản xuất, tạo vốn làm ăn, tạo việc làm,.v.v... để giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững;

- Tất cả 63 tỉnh, thành phố hưởng ứng và đăng ký với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày ra quân phát động "Tháng cao điểm vì người nghèo" nhằm thu hút toàn dân tham gia cuộc vận động, tạo thêm nhiều nguồn lực giúp đỡ người nghèo (đăng ký chậm nhất vào ngày 05/10/2008).

- Kết quả vận động trong tháng cao điểm phải thông báo về Thường trực Ban vận động "Ngày vì người nghèo" Trung ương hàng tuần để kịp thời đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo không khí thi đua sôi nổi trong Tháng cao điểm.

- Các địa phương đăng ký quyết tâm xoá nhà dột nát cho các hộ nghèo trong năm 2008 và 2009 (trong đó nêu rõ số lượng nhà dột nát sẽ được xoá xong và thời gian hoàn thành).

- Những địa phương được hỗ trợ từ "Quỹ vì người nghèo" Trung ương để xây dựng nhà cho hộ nghèo có người cao tuổi và nguồn kinh phí từ tập đoàn Dầu khí Việt Nam cần khẩn trương phối hợp chặt chẽ để triển khai xây dựng nhà theo đối tượng hộ nghèo đã được phân bổ. Công khai tuyên truyền kết quả tới toàn xã hội.

- 19 địa phương có các huyện nghèo nhất cả nước (60 huyện) tiến hành khảo sát ở các huyện trên (với các nội dung: Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội của huyện? Tỷ lệ hộ nghèo của huyện? Số hộ nghèo hiện đang ở nhà dột nát, tạm bợ cần được hỗ trợ để xây dựng, sửa chữa? Thực trạng các công trình hạ tầng cơ sở tại huyện? Những nội dung thiết thực, phù hợp mà huyện cần được giúp đỡ?) để Trung ương có cơ sở giới thiệu với các tổ chức, cá nhân có tấm lòng hảo tâm giúp đỡ.

Trên đây là kế hoạch hoạt động "Tháng cao điểm vì người nghèo" và Chương trình "Nối vòng tay lớn" năm 2008, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ, Ban vận động “Ngày vì người nghèo” các cấp, các tổ chức thành viên Mặt trận triển khai, thực hiện có hiệu quả và thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam để tổng hợp (qua Ban phong trào Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, số Fax: 04.8264.368 hoặc qua Email: vinguoingheovietnam@yahoo.com)./.

TM.BAN THƯỜNG TRỰC

PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

(Đã ký)

Vũ Trọng Kim

Phó trưởng Ban vận động

"Ngày vì người nghèo" Trung ương

[Về đầu trang]


ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ NGÔ GIA TỰ - BÍ THƯ XỨ UỶ ĐẦU TIÊN CỦA NAM KỲ (3/12/1908 – 3/12/2008)

 

I- Khái lược tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Ngô Gia Tự.

Đồng chí Ngô Gia Tự (bí danh Ngô Sỹ Quyết) sinh ngày 3 tháng 12 năm 1908 tại tổng Tam Sơn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ( nay là thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

Năm 1922, tốt nghiệp Tiểu học trường kiêm bị Kinh Bắc, thị xã Bắc Ninh, đồng chí vào học Trường Bưởi ( Hà Nội). Năm 1925, đồng chí tham gia Cuộc vận động đòi thực dân Pháp ân xá cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1926, đồng chí tham gia cuộc bãi khóa để truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Mùa hè năm 1926, đồng chí và một số bạn cùng chung chí hướng bị giám đốc trường Bưởi đuổi học vì “tội” chống lại chính phủ “bảo hộ”. Đồng chí về quê vừa lao động, vừa tham gia hoạt động cách mạng.

Giữa năm 1926, tại ngôi nhà số 47 phố Trần Nhân Tông (Hà Nội) đồng chí được kết nạp vào tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Trở về quê hoạt động, đồng chí đã vận động và thành lập chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ở làng Tam Sơn. Đầu năm 1927, đồng chí được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp tập huấn của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Sau khóa huấn luyện hai tháng, đồng chí về Bắc Ninh tuyên truyền gây dựng cơ sở cách mạng.

Cuối năm 1927, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Ninh – Bắc Giang thành lập, đồng chí tham gia vào Ban Chấp hành, sau đó làm Bí thư Tỉnh bộ Bắc Ninh – Bắc Giang và được bầu làm Ủy viên Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ. Tháng 9 năm 1928, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ tổ chức Hội nghị tại nhà đồng chí.

Tháng 5 năm 1929, đồng chí và các đại biểu Bắc Kỳ đi dự Đại hội Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ở Hương Cảng ( Trung Quốc). Tháng 6 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Đầu tháng 7 năm 1929, đồng chí về Bắc Ninh thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh. Cuối tháng 7 năm 1929, đồng chí vào Nam Kỳ hoạt động.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Ngày 24 tháng 2 năm 1930, đồng chí được Hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng sản ở Nam Kỳ cử làm Bí thư Chấp ủy lâm thời Đảng bộ Nam Kỳ.

Ngày 31 tháng 5 năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt. Ba năm giam giữ, bốn lần xét xử, thực dân Pháp khép đồng chí một bản án tử hình, ba án khổ sai chung thân và đưa đi đày ở Côn Đảo.

Ở Côn Đảo, đồng chí được cử vào Ban chi ủy Chi bộ nhà tù. Cuối năm 1934, chi bộ nhà tù tổ chức cho đồng chí và bẩy chiến sỹ cộng sản vượt biển về đất liền giúp Đảng khôi phục phong trào cách mạng, nhưng chiếc thuyền mong manh không chịu nổi sóng biển mùa gió chướng, đồng chí cùng các chiến sĩ trong đoàn đã anh dũng hy sinh.

Để ghi nhớ đóng góp to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã giữ gìn và tu sửa ngôi nhà sinh thời đồng chí đã sống, học tập và hoạt động cách mạng, làm Khu lưu niệm để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

II- Những đóng góp quan trọng của đồng chí Ngô Gia Tự với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

1. Đồng chí Ngô Gia Tự, một thanh niên yêu nước, sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, một trong những người tham gia sáng lập Đông Dương Cộng sản Đảng, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng chí Ngô Gia Tự sinh ở phủ Từ Sơn - vùng đất khoa bảng, trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cụ Đồ Du – thân phụ của đồng chí từng tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục của Lương Văn Can. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đồng chí nổi tiếng là học trò thông minh, xuất sắc. Năm 14 tuổi, đồng chí vào học trường Bưởi (Hà Nội), được tiếp xúc với trào lưu tư tưởng tiến bộ và nhiều nhà giáo yêu nước, đồng chí đã hòa mình vào các hoạt động của học sinh, sinh viên, hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp thả nhà yêu nước Phan Bội Châu. Là người tích cực hưởng ứng phong trào đấu tranh đòi truy điệu cụ Phan Chu Trinh, đồng chí bị giám đốc trường Bưởi đuổi học vì “ tội” chống lại chính phủ “ bảo hộ”. Mặc dù chưa được tổ chức cách mạng nào dẫn dắt, đồng chí Ngô Gia Tự vẫn quyết tâm từ bỏ trường “bảo hộ”, về quê lao động, tự học, đọc sách báo yêu nước, tìm bạn cùng chí hướng hoạt động cách mạng. Với những hoạt động yêu nước đầu tiên này, Ngô Gia Tự và các bạn cùng chí hướng của mình đã tự thức tỉnh tinh thần yêu nước, ý chí tìm cách chống lại chế độ thực dân Pháp.

Năm 18 tuổi, đồng chí gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, được tổ chức tín nhiệm cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo chương trình, nội dung. Từ một thanh niên yêu nước, tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tích cực rèn luyện đạo đức cách mạng, ham học hỏi, nắm vững Đường Kách Mệnh giải phóng dân tộc, đồng chí đã trở thành nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp của nước ta, là một trong những chiến sỹ tiên phong trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi kết thúc khóa huấn luyện đồng chí được phân công về Bắc Ninh, Bắc Giang tuyên truyền giác ngộ quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng. Để che mắt bọn mật thám, đồng chí thường đóng vai thầy giáo đi dạy học, rồi bí mật mở lớp huấn luyện cách mạng, viết truyền đơn, treo cờ tuyên truyền ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, vận động thu hút một số binh lính và các tầng lớp nhân dân tham gia vào tổ chức Hội công ích, Hội thanh niên, đấu tranh chống đế quốc và bọn cường hào tay sai của chúng để mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân. Giữa năm 1927, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Ninh – Bắc Giang thành lập, đồng chí được bầu làm Ủy viên Tỉnh bộ. Công tác cách mạng rất bận rộn nhưng đồng chí vẫn tranh thủ thời gian tự học. Kỳ thi năm 1928, với tư cách là thí sinh tự do đồng chí đã thi đỗ tú tài phần thứ nhất. Đến giữa năm 1928 đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh bộ và Ủy viên Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, phong trào cách mạng ở tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang diễn ra rộng khắp, có nhiều hình thức tập hợp quần chúng đấu tranh chống thực dân và phong kiến.

Tháng 9 năm 1928, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ mở hội nghị tại nhà của đồng chí. Hội nghị đã quyết định chủ trương có ý nghĩa lịch sử đối với phong trào và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, đó là Cuộc vận động “ vô sản hóa” đưa các hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để thâm nhập cuộc sống, lao động và tự rèn luyện theo lập trường của giai cấp công nhân, đồng thời tuyên truyền giác ngộ, tổ chức vận động công nhân và nhân dân lao động đi theo con đường cách mạng, giải phóng dân tộc. Đồng chí được phân công về “ vô sản hóa” ở Hà Nội. Trong vai trò Ủy viên Kỳ bộ, đồng chí đã gấp rút cùng các đồng chí khác, dịch và biên soạn nhiều tài liệu về chủ nghĩa Mác – Lênin, mở lớp huấn luyện, bồi dưỡng trang bị lý luận và công tác “ vô sản hóa” cho cán bộ, hội viên. Hội viên Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ hăng hái tỏa đi nhiều nơi, hòa mình với đời sống thợ thuyền và nhân dân lao động, tuyên truyền khơi dậy lòng yêu nước, nhen nhóm lý tưởng cách mạng, xây dựng nhiều cơ sở Cách mạng thanh niên trong nhà máy, hầm mỏ. Là người trực tiếp tham gia vào phong trào “vô sản hóa” đồng chí đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta. Là người nhạy bén với hoạt động cách mạng, đồng chí Ngô Gia Tự vừa cổ vũ tổ chức triển khai vừa kịp thời tổng kết phong trào “ vô sản hóa” góp phần điều chỉnh việc lãnh đạo của Kỳ bộ, nhằm theo sát với bước tiến phong trào cách mạng đang diễn ra sôi động trên khắp cả nước, thúc đẩy nhanh sự phát triển cả về số lượng và chất lượng hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên.

Cuối tháng 3 năm 1929, tại Đại hội Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ, với những luận giải sắc bén, giàu sức thuyết phục được đúc kết từ thực tiễn lãnh đạo phong trào cách mạng theo chủ trương, đường lối của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, đồng chí Ngô Gia Tự đã quy tụ được ý chí chung của Đại hội tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Đầu tháng 5 năm 1929, tại Đại hội toàn quốc Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ở Hương Cảng (Trung Quốc), đồng chí và đoàn đại biểu Bắc Kỳ nêu ý kiến và kiên quyết bảo vệ quan điểm phải thành lập ngay Đảng Cộng sản ở Việt Nam để đáp ứng phong trào cách mạng đang lên cao của công nhân và nông dân, nhưng không được Đại hội chấp thuận. Đồng chí đã cùng hầu hết đại biểu Bắc Kỳ lập tức trở về nước. Ngày 01 tháng 6 năm 1929, thay mặt đoàn đại biểu đi dự Đại hội ở Hương Cảng, đồng chí đã thảo bản Tuyên ngôn giải thích rõ việc đoàn đại biểu Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ rút khỏi Đại hội, đồng thời kêu gọi công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam ủng hộ việc thành lập Đảng Cộng sản. Bản Tuyên ngôn được hội viên Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Kỳ bộ Bắc Kỳ tán thành và phân phát dưới dạng truyền đơn đi các địa phương. Sau khi phát truyền đơn đi khắp cả nước, đồng chí đã cùng với Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Bắc Kỳ bắt tay, xúc tiến việc thành lập Đảng Cộng sản. Giữa lúc đó cuộc bãi công của hơn 200 công nhân và thợ học việc Hãng Avia ở Hà Nội nổ ra, Kỳ bộ đã cử đồng chí trực tiếp đến sát cánh cùng Công hội Đỏ của nhà máy gặp gỡ và nói chuyện với công nhân, kêu gọi mọi người đoàn kết đấu tranh, uốn nắn kịp thời những hành động thái quá của công nhân và thợ học việc. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, cuộc bãi công của công nhân Hãng Avia diễn ra có tổ chức chặt chẽ, có yêu sách rõ ràng, vừa mềm dẻo, vừa quyết liệt buộc bọn chủ phải nhượng bộ, tăng lương và cải thiện một số sinh hoạt cho công nhân. Cuộc bãi công của công nhân Hãng Avia thành công, đúng như nhận định của đồng chí nêu tại cuộc họp với Công hội Đỏ Avia: “ Đây là cuộc đấu tranh có tổ chức chặt chẽ do chi bộ Cộng sản tổ chức và lãnh đạo, là kết quả của phong trào “ vô sản hóa” đưa cán bộ vào đời sống công nhân, vận động quần chúng đấu tranh. Cuộc đấu tranh này sẽ mở màn cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân toàn quốc. Đây là cơn dông đầu mùa báo hiệu cả một bầu trời sấm sét nay mai”. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, cuộc bãi công của công nhân Hãng Avia có ý nghĩa rất lớn, gây được tiếng vang, cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trên khắp cả nước, giúp cho Đảng ta có thêm kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo giai cấp công nhân thực hiện sứ mạng lịch sử giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.

Ngày 17 tháng 6 năm 1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Đầu tháng 7 năm 1929, đồng chí về Tam Sơn, thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh. Ngày 4 tháng 8 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Bắc Ninh – Bắc Giang thành lập. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí, tuyên ngôn, điều lệ của Đông Dương Cộng sản Đảng được tuyên truyền sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Nhờ đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân nên số người ủng hộ và gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng tăng lên nhanh chóng, phong trào cách mạng ở Bắc Ninh – Bắc Giang có bước phát triển mạnh.

2. Đồng chí Ngô Gia Tự - Bí thư đầu tiên của Xứ ủy Nam Kỳ, người chiến sĩ cộng sản dũng cảm, kiên cường, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Tháng 7 năm 1929, đồng chí được Trung ương Đông Dương Cộng sản Đảng cử vào Nam Kỳ vận động các tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Nam Kỳ chuyển thành các Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng. Đồng chí vừa vận động thành lập Đảng vừa tiếp tục tắm mình vào phong trào “ vô sản hóa” ở Sài Gòn, trực tiếp làm phu đẩy xe than, công nhân khuân vác, sống đời thợ thực sự tại nhiều cơ sở công nghiệp có đông thợ thuyền; tranh thủ mọi điều kiện, mọi cơ hội để tuyên truyền giác ngộ cho công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Ngay sau khi thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng Nam Kỳ, đồng chí chỉ đạo chọn nhà máy Ba Son (Sài Gòn), đồn điền Phú Riềng (Biên hòa – Đồng Nai), xã Vĩnh Kim (Tiền Giang) làm điểm để xây dựng chi bộ Đảng Cộng sản; việc lựa chọn 3 cơ sở gồm cả thành thị và nông thôn, đồng bằng và trung du miền núi, công nhân và nông dân để đúc rút kinh nghiệm xây dựng Đảng, phát triển phong trào cách mạng đã thể hiện sự lãnh đạo toàn diện và khoa học của Đông Dương Cộng sản Đảng Nam Kỳ. Đồng chí từng nói: “ Nếu ta cắm được ba cái cọc ở ba nơi, trong sản nghiệp lấy Phú Riềng làm gốc, trong công nghiệp lấy Ba Son làm gốc, trong nông dân lấy Vĩnh Kim làm gốc thì bọn đế quốc và phong kiến không làm sao nhổ được”. Đầu năm 1930, năm ngàn công nhân đồn điền Phú Riềng bãi công, bột phát vũ trang chiếm đồn điền lập khu Đỏ. Thực dân Pháp huy động hàng trăm tên lính có vũ trang đến đàn áp, nhưng đứng trước biển người được giác ngộ giai cấp, siết chặt đội ngũ, chúng đã bất lực, phải nhượng bộ, chấp thuận yêu sách của công nhân. Dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng Nam Kỳ, trong đó có sự đóng góp của đồng chí, phong trào cách mạng ở Nam Kỳ phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Các cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân Nam Kỳ giai đoạn này từng bước có sự biến đổi từ mục tiêu kinh tế sang mục tiêu chính trị, lực lượng công nhân dần dần trở thành lực lượng chính trị to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp giải phóng dân tộc.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sự kiện chính trị trọng đại đó đã tạo ra bước ngoặt lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Ngày 24 tháng 2 năm 1930, đồng chí được Hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng sản ở Nam Kỳ bầu làm Bí thư Chấp ủy lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Nam Kỳ. Chấp hành quyết nghị của Hội nghị thành lập Đảng về việc thống nhất các tổ chức cộng sản ở Nam Bộ, đồng chí đã ký quyết nghị chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở cương vị lãnh đạo chủ chốt – Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ đồng chí thường xuyên đi xuống cơ sở, mở lớp bồi dưỡng ngắn ngày cho cán bộ, đảng viên để nâng cao nhận thức chính trị, cổ vũ tinh thần quyết tâm chiến đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, hướng dẫn cho cán bộ, đảng viên về công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng. Đồng chí nói: “ Đảng viên phải vì Đảng, vì cách mạng mà hy sinh, đừng vì ta để Đảng và cách mạng phải tổn hại”. Trong giai đoạn đầu thành lập Đảng, giữa lúc phong trào đấu tranh của quần chúng ở Nam Kỳ đang cần có sự chỉ đạo sâu sắc hơn nữa, thì tối ngày 31 tháng 5 năm 1930, đồng chí sa vào tay địch trong lúc đang viết truyền đơn tại một cơ sở cách mạng ở Phú Am trên sông Thị Nghè (Sài Gòn). Biết đồng chí là cán bộ cấp cao của Đảng, tên chánh mật thám Đông Dương đã vào ngay Sài Gòn cùng bọn tay sai hết dụ dỗ, mua chuộc lại dùng cực hình tra tấn dã man, tìm mọi cách để khuất phục, bị đánh chết đi sống lại nhiều lần, nhưng cuối cùng kẻ thù đã phải bất lực trước ý chí sắt đá của đồng chí.

Trong lao tù của thực dân Pháp, đồng chí thể hiện rõ ý chí quật cường của người cộng sản, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đồng chí luôn nhắn nhủ mọi người: “ Chúng mình phải chịu đựng, phải hy sinh tất cả cho Đảng, sinh mệnh của Đảng quý hơn sinh mệnh của mình”. Ngày 2 tháng 5 năm 1933, thực dân Pháp đưa đồng chí cùng các đồng chí Phạm Hùng, Lê Văn Lương ra phiên tòa “ đại hình đặc biệt”. Đồng chí và các chiến sĩ cộng sản đã biến phiên tòa thành diễn đàn lên án thực dân Pháp, đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng.

Ba năm giam giữ, bốn lần xét xử, thực dân Pháp bất chấp công lý, nhân quyền đã khép đồng chí Ngô Gia Tự một bản án tử hình, ba bản án khổ sai chung thân và bí mật đưa đi đày ở nhà tù Côn Đảo.

Ở Côn Đảo – địa ngục trần gian, đồng chí bị thực dân Pháp coi là “ tù chính trị hạng đặc biệt nguy hiểm”. Trước mọi cực hình tra tấn, đày ải dã man của kẻ thù, đồng chí vẫn kiên cường chiến đấu, tham gia tuyệt thực chống lại chế độ nhà tù hà khắc. Nhiều lần đồng chí dũng cảm chịu đòn thay cho bạn tù, giành việc nặng nhọc, nguy hiểm thay cho anh em. Đồng chí được tín nhiệm cử vào Ban chi ủy chi bộ nhà tù. Thực hiện chủ trương “ biến nhà tù thành trường học cộng sản”, năm 1933, trong lao tù Côn Đảo đồng chí đã cùng với đồng chí Hà Huy Giáp và một số đồng chí khác dịch nhiều cuốn sách kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Tư bản, Làm gì?... tổ chức viết báo, nghiên cứu những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, rút kinh nghiệm về đường lối lãnh đạo của Đảng. Là một người có trình độ lý luận sâu sắc và hoạt động thực tiễn phong phú, đồng chí luôn tranh thủ mọi thời gian để cống hiến cho Đảng, mọi cơ hội để truyền bá cho các chiến sĩ cộng sản và những người bạn tù học tập văn hóa, học tập lý luận cách mạng, nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin vào thắng lợi tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đồng chí luôn chủ động đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn đen tối của kẻ thù, bảo vệ uy tín của Đảng, phê phán tư tưởng thoát ly thực tế, ngại đổ máu, không dám tiến công kẻ thù trong anh em tù nhân, góp phần xây dựng và củng cố tổ chức Đảng trong nhà tù. Đồng chí thường nói với các bạn tù: “ Chúng nó đẩy mình ra đây để cho mình chết. Mình sống được là đã thắng địch. Mỗi lần đấu tranh là một lần đổ máu. Nhưng mặc! Không chịu bó gối đầu hàng!”; “ Phải biến nhà tù thành trường học, không nên bỏ phí thì giờ. Bất kỳ ở đâu, chúng ta cũng có thể hoạt động cho chủ nghĩa cộng sản được”. Nhờ được trang bị lý luận đấu tranh cách mạng nên các cuộc đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản chống lại chế độ nhà tù tàn bạo của thực dân Pháp diễn ra có tổ chức, có phương pháp, có sự thống nhất cao cả về tư tưởng và hành động. Nhiều chiến sĩ cộng sản được tôi luyện đã chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù, trước đòn roi, máy chém vẫn giữ vững khí phách, giữ vững niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ bí mật của tổ chức, cổ vũ, khích lệ tinh thần đấu tranh của anh em tù nhân, làm cho kẻ thù phải khiếp sợ. Trong lao tù tấm gương dũng cảm, kiên cường, không khuất phục trước kẻ thù của đồng chí Ngô Gia Tự và các chiến sĩ cộng sản đã cảm hóa được một số người ở đảng phái khác nhận ra lý tưởng cộng sản, tự nguyện gia nhập và chiến đấu dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giai đoạn 1930 – 1934, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố, dìm phong trào cách mạng của dân tộc ta vào biển máu. Nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước bị địch bắt và sát hại. Để kịp thời giúp Đảng khôi phục phong trào cách mạng cách mạng, cuối năm 1934, chi bộ nhà tù Côn Đảo quyết định cử đồng chí Ngô Gia Tự cùng bẩy chiến sĩ cộng sản - những cán bộ có năng lực, được tôi luyện trong lao tù, vượt biển về đất liền hoạt động. Nhưng chiếc thuyền mong manh không chịu được sóng biển mùa gió chướng, đồng chí và các chiến sĩ trong đoàn đã anh dũng hy sinh. Năm ấy, đồng chí Ngô Gia Tự mới 26 tuổi, độ tuổi tràn đầy sức lực, đang nở rộ tài năng, trí tuệ cống hiến cho Đảng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong bài Đạo đức cách mạng, trên Tạp chí Cộng sản (tháng 12 năm 1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”. Sự hy sinh cao đẹp của đồng chí Ngô Gia Tự cùng các chiến sĩ cộng sản và của nhiều thế hệ người dân Việt Nam yêu nước đã góp phần làm cho “ cây cách mạng khai hoa, kết quả”, Tổ quốc đã thống nhất, non sông thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội và thách thức vẫn đan xen. Sự nghiệp đổi mới toàn diện của Đảng đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, năng động, sáng tạo, kiên định với con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, nỗ lực vượt qua mọi thử thách để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Ngô Gia Tự, một trong những người tham gia sáng lập Đông Dương Cộng sản Đảng - Bí thư Xứ uỷ đầu tiên của Nam Kỳ giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang triển khai sâu rộng Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của đồng chí Ngô Gia Tự là dịp ôn lại cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của một thanh niên yêu nước, sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, một trong những chiến sĩ cách mạng tiền bối xuất sắc của Đảng ta, dũng cảm, kiên cường, chủ động tiến công không chịu khuất phục trước kẻ thù, giàu tình nhân ái với đồng chí, đồng bào, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng, không ngừng học tập, trau dồi đạo đức cách mạng; thực hiện đồng bộ các giải pháp trong Kết luận 25 của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững; hưởng ứng và thực hiện tốt phong trào “ Thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng” chăm lo đời sống nhân dân, nhất là các gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công, người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nông dân các địa phương nghèo, công nhân các khu công nghiệp; đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

[Về đầu trang]


   UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

   Số:   13   /NQ-MTTW                                                    Hà Nội, ngày 17  tháng 01  năm 2009

 

NGHỊ QUYẾT
Hội nghị lần thứ sáu UBTW MTTQ Việt Nam (khoá VI)

 

Hội nghị lần thứ sáu UBTW MTTQ Việt Nam (khóa VI) đã họp trong hai ngày 16, 17 tháng 01 năm 2009, tại thủ đô Hà Nội. Chủ tịch Huỳnh Đảm, các Phó Chủ tịch, các Uỷ viên Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị. Ông Nguyễn Tấn Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; ông Trần Thế Vượng, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã đến dự. Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo Văn phòng TW Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ và một số bộ, ban, ngành của TW. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thông báo về tình hình kinh tế-xã hội năm 2008, những giải pháp thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của đất nước năm 2009.

Hội nghị đã nghe, thảo luận các dự thảo Báo cáo của Đoàn Chủ tịch, của Ban Thường trực về: Tình hình công tác Mặt trận năm 2008 và chương trình phối hợp, thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam năm 2009; Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội VII MTTQ Việt Nam; Tờ trình về sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ MTTQ Việt Nam; Tờ trình về tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu thành phần đại biểu dự Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ VII; Dự thảo Nghị quyết về phát động đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ VII; Báo cáo về việc thay đổi, bổ sung Uỷ viên Uỷ ban, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Uỷ viên Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam (khoá VI). Hội nghị cũng đã tiến hành công tác khen thưởng của MTTQ Việt Nam năm 2008.

Hội nghị thống nhất quyết nghị:

1. Thông qua dự thảo Báo cáo tình hình công tác Mặt trận năm 2008 và chương trình phối hợp, thống nhất hành  động của MTTQ Việt Nam năm 2009.

Hội nghị giao cho Ban Thường trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam tiếp thu các ý kiến thảo luận tại Hội nghị, hoàn thiện dự thảo Báo cáo để sớm ban hành và tổ chức thực hiện; đồng thời tập hợp những ý kiến, kiến nghị để phản ảnh với Đảng và Nhà nước xem xét giải quyết.

2. Giao cho Ban Thường trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam tiếp thu các ý kiến thảo luận về dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII và Điều lệ MTTQ Việt Nam (sửa đổi); Tờ trình về tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu thành phần đại biểu dự Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII để hoàn chỉnh các dự thảo báo cáo trên, tổ chức lấy ý kiến của Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân; sớm bổ sung, hoàn thiện trình ra Đoàn Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam (khoá VI) sẽ họp phiên vào giữa năm 2009.

3. Thông qua Nghị quyết về phát động đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ VII; giao cho Ban Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam tổ chức thực hiện.

4. Hội nghị quyết định bổ sung 13 vị vào Uỷ ban, 05 vị vào Đoàn Chủ tịch và 01 vị vào Ban Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam.

Hội nghị đề nghị Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả chương trình phối hợp, thống nhất hành động của MTTQ Việt Nam năm 2009.

 Hội nghị lần thứ sáu UBTW MTTQ Việt Nam (khoá VI) kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc, ý chí tự lực tự cường, nỗ lực cùng Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, đảm bảo an sinh xã hội để thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ VII, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế-xã hội của đất nước năm 2009.  
Nghị quyết này đã được Hội nghị lần thứ sáu UBTW MTTQ Việt Nam (khóa VI) nhất trí thông qua.

TM. UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
 MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

CHỦ TỊCH

(Đã Ký)

   Huỳnh Đảm

[Về đầu trang]


    UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                                            CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                        Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

   Số:   12   /NQ-MTTW                                                        Hà Nội, ngày 17  tháng 01  năm 2009

 

NGHỊ QUYẾT
Hội nghị lần thứ 6 Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam khóa VI
về phát động đợt thi đua lập thành tích chào mừng  Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI,  Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ được tổ chức vào quý III năm 2009. Đại hội là sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trong bối cảnh nước ta đang tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, công cuộc đổi mới ngày càng đạt được những thành tựu toàn diện; hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng cao; khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được tăng cường. Bên cạnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới có không ít khó khăn và thách thức. Để thiết thực chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận quốc Việt Nam khóa VI họp trong hai ngày 16 và 17 tháng 01 năm 2009, tại thủ đô Hà Nội thống nhất quyết nghị:

I. Phát động đợt thi đua chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước với nội dung như sau:

1. Thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước năm 2009:

Trên cơ sở đẩy mạnh việc thực hiện 6 nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân ra sức thi đua yêu nước, chung sức, chung lòng  phát huy mọi tiềm năng và nội lực của đất nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thi đua lao động, sản xuất và kinh doanh, công tác, học tập, phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, người Việt Nam dùng hàng Việt Nam... góp phần tích cực vào việc ngăn chặn sự suy giảm kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng, bảo đảm an sinh xã hội vì sự phát triển của cộng đồng, của mỗi địa phương và đơn vị.

 Nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, vận động mọi nguồn lực trong xã hội để giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền vững. Phối hợp với các cấp, các ngành thực hiện thư kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ và của Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc hỗ trợ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo, góp phần cùng Đảng, Nhà nước hỗ trợ xoá nhà ở dột nát cho hộ nghèo của 61 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong nước và cơ bản xóa xong 500.000 căn nhà dột nát cho  hộ nghèo trong cả nước.

2. Thi đua thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2009 với trọng tâm là:

Tiếp tục tổ chức tốt đợt sinh hoạt chính trị về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chuẩn bị và tổ chức tốt Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI và Chỉ thị số 18 - CT/TW ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Đa dạng hoá các hình thức tập hợp, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân.

Củng cố kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên.

II. Giao cho Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện Nghị quyết  này trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. 

                                                   TM. ĐOÀN CHỦ TỊCH
                                  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM  KHÓA VI

                                                            CHỦ TỊCH

                                               (Đã Ký)

                                            Huỳnh Đảm

[Về đầu trang]


CHƯƠNG TRÌNH PHỐI HỢP VÀ THỐNG NHẤT

HÀNH ĐỘNG CỦA MTTQ VIỆT NAM NĂM 2009

Năm 2009, tình hình thế giới và khu vực dự báo tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, tác động sâu sắc đến nước ta. Ở trong nước, đang có dấu hiệu suy giảm kinh tế, tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh và đời sống của các tầng lớp nhân dân. Trong bối cảnh đó, năm 2009 nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên là không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp, nỗ lực phấn đấu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội thông qua đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước của nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2009; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, trong sạch, vững mạnh; tăng cường đoàn kết quốc tế và tổ chức thành công Đại hội MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII dự kiến tổ chức quý III năm 2009..., với các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

 1. Tăng cường củng cố, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc

Năm 2009, trước những thời cơ, thuận lợi, đất nước còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động của sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên phối hợp Chính phủ và chính quyền các cấp tiếp tục đẩy mạnh phối hợp xây dựng, củng cố và tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua việc vận động toàn dân tham gia phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội gắn với các phong trào, các cuộc vận động của MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên nhằm thiết thực chăm lo đời sống các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào có đạo, các gia đình chính sách... 

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thực hiện các chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội X, các Nghị quyết Trung ương Đảng khoá X và Nghị quyết Quốc hội đã đề ra. Trước mắt, quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị 18/CT-TW của Ban Bí thư về Đại hội MTTQ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ VII; gắn với các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6, Trung ương 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) và đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các cuộc vận động.

- Tăng cường phối hợp thực hiện các chính sách liên quan đến công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để củng cố và tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức tập hợp, phát huy vai trò của người tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân, các các dân tộc thiểu số, các chức sắc tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là đội ngũ trí thức và doanh nhân để góp phần vào việc xây dựng đất nước.

- Tổ chức có hiệu quả Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư nhân kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam 18-11.

 2. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, tiếp tục thực hiện 2 cuộc vận động lớn do MTTQ Việt Nam phát động, góp phần tham gia giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, dân tộc; ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội

- Tăng cường phối hợp đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, góp phần tham gia giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, dân tộc. Trước mắt vận động toàn dân tham gia thực hiện các nhóm giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo.

- Tăng cường phối hợp, đẩy mạnh thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh các phong trào, các cuộc vận động thi đua lập thành tích thiết thực chào mừng đại hội Mặt trận các cấp, phấn đấu cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, tạo tiền đề để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.

- Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", trong đó chú trọng bổ sung thêm tiêu chí mới phù hợp với năm 2009. Thông qua cuộc vận động, các chương trình đã được ký kết, các cuộc vận động của các tổ chức thành viên cần lồng ghép vào cuộc vận động này để đạt hiệu quả thiết thực.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động "Ngày vì người nghèo". Tích cực vận động các doanh nghiệp và toàn xã hội thực hiện Thư của Thủ tướng Chính phủ về việc ủng hộ xây dựng Nhà đại đoàn kết. Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam, Uỷ ban MTTQ các cấp góp phần cùng với Chính phủ, chính quyền các cấp phấn đấu đạt mục tiêu sớm nhất, cả nước cơ bản xoá xong hơn 500.000 nhà dột nát cho người nghèo; trong đó có tập trung giúp đỡ 61 huyện nghèo nhất trong cả nước.

- Thực hiện tốt nhiệm vụ Ban cứu trợ thiên tai, bão lũ TW do Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam chủ trì ở TW và Uỷ ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố chủ trì ở các địa phương theo Nghị định 64 của Chính phủ.

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Trong đó, chú trọng công tác tuyên truyền vận động các đoàn viên, hội viên và các tầng lớp quần chúng nhân dân trong cả nước tham gia các hoạt động kỷ niệm gắn với việc đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và các phong trào, các cuộc vận động của các tổ chức thành viên và của địa phương, lập thành tích kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

3. Phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền

- Chuẩn bị mọi điều kiện để tổ triển khai và tổ chức thực hiện 3 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân. Tổng kết 10 năm thực hiện Luật MTTQ Việt Nam và 10 năm Mặt trận tham gia thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và

- Tăng cường các hoạt động tiếp xúc các tầng lớp nhân dân để lắng nghe và kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân đến các cấp uỷ Đảng và Chính quyền.

- Phối hợp triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường, nhất là nội dung liên quan đến quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam. Tiếp tục phối hợp triển khai Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Tiếp tục thực hiện tốt: việc lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, các Phó Chủ tịch HĐND, UBND xã, phường, thị trấn; Quy chế MTTQ Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư; Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng.

- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 03 của Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam và Thông tri số 17 của Ban Thường trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam hướng dẫn thực hiện Nghị quyết về việc MTTQ Việt Nam tham gia thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

4. Đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài

 - Tăng cường phối hợp giữa Uỷ ban MTTQ với các tổ chức thành viên để mở rộng công tác đối ngoại nhân dân, nhất là nâng cao chất lượng các hoạt động đoàn kết hữu nghị và hợp tác với các đối tác truyền thống.

- Mặt trận và các tổ chức thành viên tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị và đề án đối ngoại nhân dân của MTTQ Việt Nam, góp phần động viên kiều bào hướng về quê hương, đất nước.

 - Hướng dẫn, chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các địa phương vận động nhân dân xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng.

5.  Tổ chức Đại hội nhiệm kỳ MTTQ cấp tỉnh tiến tới Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII; Tiếp tục kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và nâng cao hiệu quả các chương trình phối hợp với các tổ chức thành viên

Quá trình chuẩn bị và tổ chức Đại hội cấp tỉnh và Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII chú trọng quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị 18/CT-TW ngày 22-11-2007 của Ban Bí thư gắn với việc triển khai thực hiện các văn bản hướng dẫn của Ban Thường trực Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam.

- Bám sát chủ đề: "Nâng cao vai trò MTTQ Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", Đại hội MTTQ Việt Nam cấp tỉnh cần tiến hành đánh giá kết quả hoạt động nhiệm kỳ qua, xây dựng chương trình thống nhất hành động cho nhiệm kỳ mới và tham gia góp ý kiến vào các văn kiện dự thảo của Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII.

- Chú trọng các tiêu chuẩn và phương pháp chuẩn bị nhân sự nhằm nâng cao chất lượng cán bộ và đảm bảo cơ cấu phù hợp của Uỷ ban Mặt trận.

   - Nhân Đại hội MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cần chú trọng tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách của Mặt trận và các tổ chức thành viên.

- Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên, tập trung hướng về cơ sở, đổi mới công tác Mặt trận cơ sở, làm cho phạm vi, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận ngày càng được mở rộng và nâng cao.

- Phát huy vai trò của các vị Uỷ viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hội đồng tư vấn và đội ngũ tư vấn, cộng tác viên của Mặt trận.

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả phối hợp công tác với các cơ quan Nhà nước, thực hiện tốt các quy chế phối hợp công tác; phối hợp hành động của các tổ chức thành viên nhằm thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam.

                                                                   UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
                                                             MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

[Về đầu trang]


    UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                                        CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 
                                        Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    BAN THƯỜNG TRỰC
              
                                                        
   Số:  356/KH - MTTW - BTT                                        Hà Nội, ngày 19  tháng 02  năm 2009

 

KẾ HOẠCH

Triển khai thực hiện Nghị quyết phát động đợt thi đua lập
thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận quốc Việt Nam khóa VI họp tại Hà Nội trong hai ngày 16 và 17 tháng 01 năm 2009, đã ra Nghị quyết số 14  về phát động đợt thi đua lập thành tích chào mừng  Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc triển khai đợt phát động thi đua trong hệ thống Mặt trận, các tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân như sau:

     I. VỀ NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỢT THI ĐUA.

1. Thi đua hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước năm 2009:

Trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện 6 nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân ra sức thi đua yêu nước. Cả nước chung sức, chung lòng,  phát huy mọi tiềm năng và nội lực của đất nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thi đua lao động, sản xuất và kinh doanh, công tác, học tập và phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm; hưởng ứng phong trào người Việt Nam dùng hàng Việt Nam... góp phần tích cực vào việc ngăn chặn suy giảm kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng, bảo đảm an sinh xã hội vì sự phát triển của cộng đồng, của mỗi địa phương và đơn vị.

 Nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, vận động xây dựng Quỹ vì người nghèo để xây dựng nhà Đại đoàn kết cho người nghèo và giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo bền vững. Phối hợp với các cấp, các ngành thực hiện thư kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ và của Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc giúp đỡ xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo, phấn đấu góp phần cùng Đảng, Nhà nước chăm lo, hỗ trợ, xoá nhà ở dột nát cho hộ nghèo của 61 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong nước và cơ bản đến năm 2010 xây dựng xong 500.000 căn nhà thay thế nhà dột nát cho  hộ nghèo trong cả nước, phấn đấu thời gian hoàn thành sớm hơn.

2. Thi đua thực hiện Chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2009 với trọng tâm là:

Tiếp tục tổ chức tốt đợt sinh hoạt chính trị về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gắn liền với việc thực hiện giai đoạn 2 cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chuẩn bị và tổ chức tốt Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI, Chỉ thị số 18 - CT/TW ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và các văn bản hướng dẫn của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đa dạng hoá các hình thức tập hợp, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện có hiệu quả luật Phòng chống tham nhũng, luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân.
Củng cố kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên.

3. Kết quả của đợt thi đua chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thể hiện bằng các sản phẩm, công trình cụ thể, bảo đảm ý nghĩa chính trị, xã hội và tính thiết thực của mỗi công việc. Trong tổ chức, thực hiện phải có kế hoạch cụ thể, tiến hành sơ, tổng kết để bảo đảm tính kế thừa và liên tục, không làm qua loa, đại khái hoặc chỉ phát động chung chung.

II. VỀ TIẾN ĐỘ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

1.  Từ  Quý I năm 2009 đến hết Quý II năm 2009, ứng với thời gian tổ chức Đại hội Mặt trận cấp tỉnh:

 Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tổ chức sơ  kết đợt sinh hoạt chính trị, phát động các phong trào thi đua yêu nước theo tinh thần Thông tri số 29/TTR-MTTƯ, ngày 18/02/2008 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Về việc tổ chức phong trào thi đua kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, lập thành tích chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các cấp và Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;  tiếp tục triển khai đợt sinh hoạt chính trị và phát động đợt thi đua cao điểm lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2. Từ Quý II năm 2009 đến Quý IV năm 2009: Ứng với thời gian kết thúc Đại hội Mặt trận cấp tỉnh và triển khai  Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII:

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tổng kết đợt sinh hoạt chính trị, công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ cơ sở đến tỉnh và đợt thi đua cao điểm  chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gắn với  sơ kết 3 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong hệ thống Mặt trận. 

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên tổ chức mít  tinh và các hoạt động chào mừng thành công của Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuyên truyền về kết quả của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức tổng kết đợt sinh hoạt chính trị, công tác tuyên truyền và đợt thi đua cao điểm chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 – 18/11/2009).

3. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức thành viên báo cáo kết quả việc triển khai đợt thi đua cao điểm theo từng thời gian trên đây về Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Văn phòng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 46 Tràng Thi, Hà Nội) để kịp tổng hợp vào kết quả chung.

Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên triển phối hợp khai thực hiện Thông tri này để góp phần thiết thực vào kết quả thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI.

                                              TM. BAN THƯỜNG TRỰC
                                             PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

                                              Vũ Trọng Kim

[Về đầu trang]


       UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                                                   CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
     MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM    
                                            Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
       BAN THƯỜNG TRỰC
              
                                                        
    Số:  82/HD - MTTW - BTT                                            Hà Nội, ngày 16  tháng 02  năm 2009

 

HƯỚNG DẪN
NHIỆM VỤ CÔNG TÁC TUYÊN HUẤN
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NĂM 2009

 

Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa VI) về Chương trình phối hợp thống nhất hành động năm 2009;

Căn cứ tình hình thực tiễn của đất nước và nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009: Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng và kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010; Kết quả Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn nhiệm vụ công tác tuyên huấn năm 2009 như sau:

I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU.

Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công việc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Phản ánh đầy đủ, kịp thời các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân, chung sức, chung lòng thực hiện các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và  đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng, toàn dân về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.  

 Tập trung nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau đại hội nhiệm kỳ mới.

II- NHỮNG NỘI DUNG TRỌNG TÂM CỦA CÔNG TÁC  TUYÊN TRUYỀN

1- Đẩy mạnh tuyên truyền về đa dạng hoá các hình thức tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Tiếp tục tuyên truyền việc thực hiện các chủ trưởng, chính sách của Đảng và Nhà nước, công việc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết 07 BCH Trung ương Đảng khoá IX về  "Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

- Tuyên truyền những tập thể, cá nhân thực hiện tốt cuộc vận động  “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và việc triển khai giai đoạn 2 của Cuộc vận động gắn với kết quả 40 năm thực hiện Di chúc của Người trong MTTQVN và các tổ chức thành viên ở các cấp.

- Tuyên truyền kết quả đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng, toàn dân về Đại hội MTTQVN cấp xã, phường, thị trấn; quận, huyện, tỉnh và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

2. Tuyên truyền việc thực hiện các phong trào thi đua yêu nước góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội lần thức VII MTTQVN:

- Tuyên truyền việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 UBTWMTTQVN về phát động đợt thi đua chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động “ Ngày vì người nghèo” ở các cấp, thực hiện “Tháng cao điểm vì người nghèo” (17/10-18/11/2009) và chương trình “Nối vòng tay lớn” (31/12/2009) của các địa phương, cơ sở. Kịp thời phản ánh những gương điển hình về giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng; những địa phương, đơn vị có những giải pháp hay, có hiệu quả trong việc phối hợp thực hiện chủ trương hỗ trợ làm nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo của 61 huyện nghèo nhất nước, phấn đấu sớm xóa xong nhà dột nát cho 500.000 hộ nghèo trong cả nước.

- Tuyên truyền và tổ chức tốt Giải báo chí Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2009 ở Trung ương và địa phương.  

- Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 79 năm ngày thành lập MTDTTNVN (18/11/1930 - 18/11/2009), Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư năm 2009 và các ngày lễ, kỷ niệm, những sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước năm 2009.

- Tuyên truyền về hiệu quả lồng ghép các chương trình, kế hoạch kinh tế - xã hội vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” như: công tác dân số, gia đình, trẻ em, phòng chống tội phạm, ma tuý, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường...

3. Tuyên truyền về kết quả Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên nâng cao chất lượng công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

- Tuyên truyền việc thực hiện quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  giám sát cán bộ công chức, đảng viên ở khu dân cư và Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; các kết quả thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam các cấp.

- Tuyên truyền công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính sách, pháp luật: Góp ý kiến vào các dự án luật, pháp lệnh, đồng thời tuyên truyền kết quả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp tham gia xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật.

- Tuyên truyền việc nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân xã, phường, thị trấn; hoạt động giám sát đầu tư cộng đồng.

- Tuyên truyền về công tác mặt trận tham gia thực hiện Luật phòng chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư theo Quyết định số 212/2004 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kết quả cải tiến công tác tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp.

4. Tuyên truyền về công tác đối ngoại nhân dân, công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào là tín đồ các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài:

- Tuyên truyền kết quả thực hiện Đề án Đối ngoại nhân dân của UBTWMTTQVN, những mô hình, điển hình và kinh nghiệm tốt trong việc tổ chức các hoạt động tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, hoà bình, hợp tác cùng có lợi với các nước láng giềng và trên thế giới.

-  Tuyên truyền kết quả thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về tăng cường vận động người Việt Nam ở nước ngoài.

- Tuyên truyền về công tác vận động tôn giáo, nhân sĩ, trí thức, người tiêu biểu trong các dân tộc, người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện tốt những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, về sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

5. Tuyên truyền về kết quả đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, về tăng cường công tác tổ chức cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 - Tuyên truyền về kết quả và triển khai nghị quyết, chương trình hành động của Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, trong đó tập trung vào các nội dung: Đợt sinh hoạt chính trị ở các cấp; kiện toàn bộ máy, tổ chức, cán bộ; đổi mới phương thức hoạt động cho phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.

   - Tuyên truyền về quá trình chuẩn bị, tổ chức và kết quả Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

III. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CỦA CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN

1. Ở Trung ương:

- Tham mưu cho Ban Thường trực UBTWMTTQVN chuẩn bị đề án xây dựng cơ sở đào tạo cán bộ Mặt trận ở Trung ương và địa phương.

 -  Tiếp tục biên soạn, hoàn thiện và phát hành tập Tài liệu tập huấn cán bộ chủ chốt của Mặt trận cấp cơ sở và bộ Giáo trình bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ Mặt trận các cấp.

 -  Tổ chức các hội nghị tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ chủ chốt của Mặt trận mới tham gia Ban Thường trực UBMTTQVN các cấp sau đại hội.

- Phối hợp với văn phòng, các ban chuyên môn của cơ quan UBTWMTTQVN tổ chức các hội nghị tập huấn theo các chuyên đề:

+ Giáo dục pháp luật ở cộng đồng dân cư.

+ Giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư.

+ Công tác truyền thông Dân số, gia đình và trẻ em, bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS, tệ nạn xã hội…

 + Bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao chất lượng công tác của cán bộ cơ quan UBTWMTTQVN.

- Giúp Mặt trận Lào xây dựng đất nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

2- Ở địa phương:

- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương phối hợp chặt chẽ với các trường Chính trị của tỉnh; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các quận, huyện, thị phối hợp chặt chẽ với các Trung tâm Giáo dục chính trị có kế hoạch tổ chức các lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Mặt trận mới tham gia vào UBMTTQVN cùng cấp sau đại hội.

 Căn cứ Hướng dẫn này, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố có kế hoạch cụ thể triển khai công tác tuyên huấn của Mặt trận các cấp phù hợp với nhiệm vụ chung và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương. Trong quá trình tổ chức thực hiện, thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Tuyên huấn, Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 46 Tràng Thi-Hà Nội; Điện thoại: 04.38257447; 04.39289210; 04.39287401; 04.39287447).

                                     TM. BAN THƯỜNG TRỰC
                                  UỶ VIÊN

                                      Lê Bá Trình 

[Về đầu trang]


      UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                                           CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM   
                                     Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
       BAN THƯỜNG TRỰC
              
                                                        
    Số:  83/HD - MTTW - BTT                                              Hà Nội, ngày    tháng 02  năm 2009

 

HƯỚNG DẪN CÔNG TÁC TÔN GIÁO, DÂN TỘC
CỦA UỶ BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ NĂM 2009

 

Năm 2009 là năm tiến hành Đại hội Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Để thiết thực đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo chào mừng Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tăng cường công tác vận động, tập hợp đồng bào các dân tộc, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn một số trọng tâm công tác tôn giáo, công tác dân tộc của Uỷ ban Mặt trận các tỉnh, thành phố trong năm 2009 như sau: 

1. Phối hợp thống nhất hành động với các tổ chức thành viên và vận động những người tiêu biểu có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số, các tổ chức tôn giáo (Ban Trị sự Phật giáo; Uỷ ban Đoàn kết Công giáo, Toà Giám mục giáo phận; các Hội thánh Cao Đài, Hội thánh Tin Lành; Ban Trị sự Phật giáo Hoà Hoả, Tịnh độ Cư sĩ Việt Nam Phật hội; Ban Đại diện Hồi giáo...) ở địa phương đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo; đồng thời có kế hoạch tổ chức các Hội nghị biểu dương những điển hình tiên tiến, xuất sắc trong chức sắc, nhà tu hành tôn giáo và người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số ở địa phương, nhằm hưởng ứng và chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong năm 2009.

Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng 2 cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và "Ngày vì người nghèo" do Mặt trận phát động. Chú ý phối hợp, hướng dẫn các tổ chức tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số mở rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước mang đặc trưng của từng dân tộc, tôn giáo như: Xây dựng gia đình văn hoá, thôn bản văn hoá, khu dân cư tiên tiến, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phong trào "Xây dựng chùa cảnh tinh tiến", "Chùa cảnh văn hoá" trong tăng ni, tín đồ Phật giáo; phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo", "Xây dựng xứ họ tiên tiến, gia đình Công giáo gương mẫu"... trong vùng đồng bào Công giáo; các phong trào "Nồi cháo tình thương" các hoạt động Công quả… trong đồng bào Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; phong trào trồng, chế biến, khám chữa bệnh bằng thuốc Nam miễn phí cho người nghèo của đạo Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam...

Tiếp tục phối hợp, giúp đỡ và tạo điều kiện để chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo và người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số tích cực tham gia các hoạt động từ thiện nhân đạo, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, cứu trợ đồng bào vùng bị thiên tai, bão lũ; đền ơn đáp nghĩa; chăm sóc trẻ mồ côi, khuyết tật; phòng chống ma tuý, tệ nạn xã hội; thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm; mở các phòng khám chữa bệnh từ thiện, các lớp mẫu giáo, nhà trẻ phục vụ người nghèo... theo quy định của pháp luật.

2. Phối hợp thống nhất với các cơ quan hữu quan và các tổ chức tôn giáo vận động các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu các dân tộc ở địa phương có uy tín, năng lực, sức khoẻ tham gia Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố; đồng thời đề xuất, giới thiệu đại biểu các dân tộc thiểu số, chức sắc các tôn giáo tiêu biểu tham gia Ủy ban Trung ương, tham gia Đoàn Chủ tịch và tham gia Hội đồng tưu vấn về Dân tộc, Hội đồng tư vấn về tôn giáo trong dịp Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

Có kế hoạch để tuyên truyền và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Mặt trận của tỉnh, thành phố và Nghị quyết Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau đại hội cho đồng bào các dân tộc, tôn giáo.

3. Chủ động phối hợp, hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số tổ chức những ngày lễ trọng của các tôn giáo, lễ hội các dân tộc thiểu số và Ngày văn hoá các dân tộc (19 tháng 4) trang trọng, an toàn, tiết kiệm và theo đúng quy định của pháp luật (Đại lễ Phật đản, Lễ Vu lan... của đạo Phật; Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh... của đồng bào Công giáo và đồng bào theo đạo Tin Lành; Lễ Trung nguyên, Lễ Khai đạo... của đạo Cao Đài; Lễ Khai đạo, Lễ sinh nhật Giáo chủ... của Phật giáo Hoà Hảo; Tết Raya Eidil và Lễ sinh nhật nhà Tiên tri Muhamet của Hồi giáo; các ngày lễ trọng của đạo Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Baha'i... và các ngày Tết, lễ hội lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số...).

Tổ chức thăm hỏi, động viên, tặng quà, thăm viếng các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành tôn giáo và những người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số nhân các ngày lễ, tết và khi họ ốm đau, qua đời...

Mức thăm hỏi, hỗ trợ để động viên các tổ chức, cá nhân tôn giáo nhân các dịp lễ trọng, Ban Thường trực Mặt trận các tỉnh, thành cần vận dụng Quyết định số: 16/2005/QĐ-TTg ngày 21 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ Về việc hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước cho tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo hoạt động tại Việt Nam.

4. Có hình thức và biện pháp phù hợp để nắm chắc tình hình tôn giáo, dân tộc ở địa phương; nắm bắt, tập hợp đầy đủ tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, tôn giáo; kiến nghị kịp thời với các cấp uỷ đảng, chính quyền giải quyết theo pháp luật những tâm tư nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của đồng bào các tôn giáo, các dân tộc.

Chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa phương tuyên truyền và xem xét giải quyết các nhu cầu chính đáng về nhà, đất có liên quan đến tôn giáo theo tinh thần Chỉ thị số: 1940/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo (có bản photo gửi kèm) và các quy định khác của pháp luật.

Vận động các tổ chức, chức sắc và đồng bào có đạo thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về đất đai; giám sát tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tôn giáo đối với các cơ sở nhà, đất có nguồn gốc rõ ràng và có đủ giấy tờ hợp pháp. Qua việc hướng dẫn các tôn giáo làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là dịp để tuyên truyền, giải thích chính sách pháp luật về đất đai của Nhà nước cho các tổ chức và chức sắc tôn giáo hiểu rõ để thực hiện; tăng cường việc quản lý đất đai tôn giáo của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật; đồng thời kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm túc những tập thể, cá nhân sử dụng đất có liên quan đến tôn giáo sai mục đích.

5. Tiếp tục phối hợp với các Ban Trị sự Phật giáo ở địa phương triển khai "Sáng kiến lãnh đạo Phật giáo" tham gia phòng chống HIV/AIDS theo tinh thần Hướng dẫn số: 70/2008/HD-MTTW ngày 4 tháng 7 năm 2008 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phù hợp với đặc điểm, tình hình Phật giáo ở địa phương.

Hướng dẫn các tổ chức tôn giáo đã được công nhận ở địa phương tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS như tinh thần bản Cam kết chung của các tôn giáo ở Việt Nam tham gia phòng chống HIV/AIDS.

6. Phối hợp và giúp đỡ Uỷ ban Đoàn kết Công giáo của tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch và tổ chức tốt các hoạt động thường xuyên nhằm thực hiện tốt Nghị quyết và Điều lệ Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam nhiệm kỳ V. Qua đó đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, sống "Tốt đời đẹp đạo" trong đồng bào Công giáo và nâng cao được vị thế, vai trò, uy tín xã hội của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.

Ở các tỉnh, thành phố có đông đồng bào Công giáo nhưng chưa có tổ chức Uỷ ban Đoàn kết Công giáo (Thái Bình, Phú Thọ, Thừa Thiên - Huế...), Ban Thường trực Mặt trận các tỉnh cần chủ động đề xuất với cấp uỷ và phối hợp với các cơ quan chức năng của chính quyền hướng dẫn, giúp đỡ việc thành lập Uỷ ban Đoàn kết Công giáo của địa phương theo Điều lệ Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.

7. Xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Chỉ thị số: 06/2008/CT-TTg ngày 01 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (có bản photo Chỉ thị gửi kèm);

Phối hợp và thống nhất hành động với các tổ chức thành viên giám sát việc triển khai thực hiện các Chương trình, dự án của Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (nhất là các công trình đầu tư ở cộng đồng vùng đồng bào, Chương trình 135 giai đoạn 2, Chương trình 134, chính sách cử tuyển, chính sách hỗ trợ di dân giải phóng mặt bằng ở các dự án, công trình trọng điểm; chương trình hỗ trợ 61 huyện nghèo của Chính phủ...).

8. Báo cáo với cấp uỷ và phối hợp với chính quyền tiến hành tổng kết 5 năm Nghị quyết Trung ương bảy khoá IX Về đại đoàn kết toàn dân tộc, Về công tác dân tộc, Về công tác tôn giáo và việc thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh; Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về một số công tác đối với đạo Tin Lành trong các cấp Mặt trận. Quá trình tổng kết cần chú ý đi sâu đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận trong công tác tôn giáo theo tinh thần Điều 7 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định.

9. Tổ chức tập huấn về công tác tôn giáo, công tác dân tộc của Mặt trận cho đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp, trong nội dung tập huấn cần có bài giới thiệu về công tác tôn giáo, dân tộc của Mặt trận; về Chỉ thị số: 06/2008/CT-TTg ngày 01 tháng 02 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và Chỉ thị số: 1940/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo.

Trên cơ sở các nội dung của Hướng dẫn này, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố cần xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện phù hợp với đặc điểm, tình hình địa phương.

Hàng quý, 6 tháng và cuối năm, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố có báo cáo tổng hợp tình hình tôn giáo, dân tộc và công tác tôn giáo - dân tộc của Uỷ ban Mặt trận địa phương; khi có vấn đề tôn giáo, dân tộc phức tạp nảy sinh cần có báo cáo nhanh kịp thời gửi về Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua Ban Tôn giáo - Dân tộc (Điện thoại: 04. 39.287.745 - 04. 39.8248.452 - 04.39.287.400; Fax: 04. 39.287.400). Báo cáo nhanh, báo cáo hàng quý, báo cáo sáu tháng và báo cáo tổng kết năm sẽ là cơ sở để đánh giá, xếp loại thi đua hàng năm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố trong toàn quốc.

Đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có kế hoạch phối hợp triển khai, hướng dẫn các nội dung công tác dân tộc, tôn giáo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong vùng đồng bào các dân tộc, tôn giáo, thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Định kỳ (hàng quý, 6 tháng, hàng năm) thông tin kết quả về Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua Ban Tôn giáo - Dân tộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 46 Tràng Thi, Hà Nội./.

 

TM. BAN THƯỜNG TRỰC
 UỶ VIÊN

       Trần Đình Phùng

[Về đầu trang]


             ỦY BAN TRUNG ƯƠNG                                                     CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
        MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                      Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
           BAN THƯỜNG TRỰC
      Số: 84 /HD-MTTW-BTT                                                 Hà Nội, ngày 15  tháng 03  năm 2009

 

HƯỚNG DẪN
Góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị và sửa đổi, bổ sung Điều lệ trình Đại hội toàn quốc lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

(Hướng dẫn dùng cho Đại hội MTTQ các tỉnh, thành phố)

 

Thực hiện các bước của quy trình tổ chức đại hội Mặt trận các cấp tiến tới Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc đóng góp ý kiến vào dự thảo Báo cáo chính trị và sửa đổi, bổ sung, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình Đại hội lần thứ VII của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau:
     
       
A. VỀ CÁC NỘI DUNG GÓP Ý KIẾN

 

Phần thứ nhất

Về dự thảo Báo cáo chính trị trình

Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

        I. Về chủ đề của Báo cáo:
    Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới vì dân giàu,  nước  mạnh,  xã  hội  công  bằng, dân  chủ,  văn  minh.

       Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước và vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, dự thảo Báo cáo đưa ra chủ đề như trên đã phù hợp  chưa? nếu chưa phù hợp thì đề nghị nên nêu chủ đề của Báo cáo là gì?
       
       
II. Về kết cấu của dự thảo Báo cáo:

      Báo cáo được xây dựng với các phần, mục và tiểu mục như văn bản dự thảo, trong đó:  Phần kiểm điểm thực hiện Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ  2004 – 2009 (Mục II Phần thứ nhất), gộp mục thứ 2 của Chương trình hành động: Động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động, huy động mọi nguồn lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội.” với mục thứ 3 của Chương trình hành động: Tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thành một mục với tên gọi là: “2.  Động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh,, phát huy mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”  vì hai mục này có nội dung cùng phục vụ cho một nhiệm vụ chung. Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa VI) đã thống nhất gộp lại như vậy để phù hợp với đánh giá việc thực hiện Chương trình hành động của nhiệm kỳ VI qua thực tiễn và đồng bộ với 5 nội dung của Chương trình hành động của nhiệm kỳ mới.
         Ngoài chi tiết này, đề nghị cho ý kiến về kết cấu của văn bản: Nội dung và số trang của phần thứ nhất và phần thứ hai đã hợp lý chưa? cần sửa đổi, bổ sung, sắp xếp lại như thế nào?

            III. Về các nội dung trọng tâm cần đóng góp ý kiến:

1. Đánh giá tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc: Trong phần này, ngoài đánh giá chung về khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dự thảo báo cáo nêu ưu điểm của mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Trong phần hạn chế, khuyết điểm có nêu: Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu nhân dân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, nhất là trong các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính. Dân chủ và kỷ cương xã hội chưa được thực hiện nghiêm. Có ý kiến cho rằng, trong phần ưu điểm cần nêu thêm kết quả hoạt động của lực lượng cán bộ, đảng viên, công chức làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị các cấp vì đây cũng là một lực lượng rất lớn và góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đánh giá như trong dự thảo đã phù hợp chưa? cần sửa đổi, bổ sung nội dung gì?

2. Kiểm điểm 5 năm thực hiện Chương trình hành động của nhiệm kỳ 2004 – 2009:

2.1 - Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiệm kỳ qua, dự thảo báo cáo tập trung vào các nội dung:

      Thực hiện đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp các tầng lớp nhân.
     Hướng mạnh về cơ sở và khu dân cư bằng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động xã hội rộng lớn do Mặt trận chủ trì.
     Phát huy dân chủ, tích cực tham gia xây dựng chính sách và pháp luật, đặc biệt các chính sách cụ thể đối với các giai tầng, đồng bào các dân tộc thiểu số, người Việt Nam ở nước ngoài ... góp phần quan trọng vào quá trình cụ thể hóa chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta.
      Bồi dưỡng và phát huy vai trò của các cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân...
      Nội dung này đánh giá như vậy đã đủ chưa, cần sửa đổi, bổ sung nội dung gì?

   - Đánh giá kết quả nhiệm vụ động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, phát huy mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dự thảo báo cáo tập trung vào kết quả của Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" và Cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; tiếp tục vận động nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân để góp phần thực hiện sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
   Dự thảo cũng nêu lên các phong trào, các cuộc vận động của các tổ chức thành viên của Mặt trận góp phần rất quan trọng vào nhiệm vụ vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện phong trào thi đua yêu nước.
    Nhiệm vụ này đánh giá như trong dự thảo báo cáo đã hợp lý chưa, cần nhấn mạnh thêm điều gì?
   - Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh, dự thảo báo cáo nêu lên những kết quả cụ thể trong công tác Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền các cấp và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
    Trong phần này đánh giá như vậy đã phù hợp chưa?
 

 - Đánh giá về nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động,

trước khi nêu lên những kết quả cụ thể, dự thảo báo cáo đánh giá: Thực hiện chủ trương của Đại hội VI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, công tác kiện toàn tổ chức, xây dựng bộ máy của Mặt trận các cấp đã được coi trọng. Tùy theo tính đặc thù của mỗi vùng, miền, mỗi địa phương, trong cơ cấu của Uỷ ban Mặt trận các cấp quy tụ đầy đủ đại diện các nhân sĩ, trí thức, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài...; đại diện cá nhân tiêu biểu, chuyên gia, nhà khoa học, hoạt động xã hội được tăng cường về số lượng và chất lượng, vừa thể hiện hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vừa thể hiện tính đại diện, tính tiêu biểu và tính thiết thực trong Ủy ban Mặt trận các cấp.
  
Đánh giá và sắp xếp nội dung của nhiệm vụ này đã sát với thực tế chưa? Cần bổ sung thêm nội dung gì?

Đánh giá và sắp xếp nội dung của nhiệm vụ này đã sát với thực tế chưa? Cần bổ sung thêm nội dung gì?

- Phần đánh giá chung:

       Dự thảo báo cáo nêu những thành tích, ưu điểm chung là tiếp tục phát động và tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, nhất là 2 cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; tham gia cùng Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng chủ trương, chính sách, đưa các Nghị quyết, pháp luật vào cuộc sống; chăm lo phát triển kinh tế, đảm bảo cải thiện dân sinh... Không khí dân chủ và đồng thuận, ủng hộ sự nghiệp đổi mới của nhân dân ngày càng nâng cao.

Nguyên nhân của thành tích, ưu điểm này là sự tự đổi mới của Mặt trận, sức sáng tạo đóng góp của toàn dân tộc; các cấp uỷ Đảng quan tâm đúng mức; sự phối hợp của chính quyền và nhiều tổ chức nhân dân ngày càng chặt chẽ, gắn bó hơn. Đặc biệt, tư duy lý luận, chỉ đạo thực tiễn trong các văn kiện của Đảng tiếp tục xác lập và bổ sung mới nhiều chức năng, nhiệm vụ và chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Dự thảo cũng nêu lên những hạn chế, khuyết điểm tiếng nói đại diện cho các tầng lớp nhân dân chưa thật sự đầy đủ; chưa thực hiện tốt vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Trong một số công việc, Uỷ ban Mặt trận các cấp chưa tư duy và hoạt động ngang tầm nhiệm vụ, còn nhiều hạn chế và khuyết điểm trong việc đổi mới phương thức hoạt động, có lúc, có nơi chưa phối hợp có hiệu quả với các bên liên quan trong việc tổ chức thực hiện các chương trình công tác và chương trình hành động cách mạng.

 Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là: tổ chức bộ máy cán bộ chưa đủ mạnh, thiếu và yếu về năng lực, chưa quy hoạch, còn thụ động bố trí cán bộ. Nhiều hoạt động còn mang tính hành chính, đơn điệu, chưa phù hợp công tác dân vận. Mặt khác, còn nhiều chủ trương, chính sách về đại đoàn kết, về tổ chức cán bộ, về hoạt động của Mặt trận chưa được cụ thể hoá, tổ chức thực hiện chưa có hiệu quả. Nhận thức của một số cán bộ, đảng viên không đầy đủ, thiếu đúng đắn về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện mới.

Nêu như vậy đã sát với thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Mặt trận các cấp trong nhiệm kỳ qua chưa?

2.2 Dự thảo báo cáo nêu lên 5 bài học kinh nghiệm về:

- Việc quán triệt, thực hiện đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về vai trò, vị trí của Mặt Tổ quốc Việt Nam có ý nghĩa quyết định sự thành công các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới.
- Đoàn kết luôn gắn liền với dân chủ, kỷ cương và công bằng xã hội. Muốn đoàn kết thực sự phải có dân chủ thực sự, bảo đảm hài hòa các lợi ích và công bằng xã hội.

- Luôn luôn đảm bảo cơ chế vận hành thông suốt và có hiệu quả trong hệ thống chính trị, trong đó Mặt trận phải chứng tỏ tính tự chủ, tính sáng tạo, tính nhân dân rộng rãi thông qua việc đại diện đầy đủ ý chí, nguyện vọng, trí tuệ và hiến kế của quảng đại công chúng.
- Xây dựng tổ chức, bộ máy cán bộ của Mặt trận các cấp ngang tầm với vai trò, vị trí, nhiệm vụ của mình trong hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng quyết định việc hoàn thành sứ mệnh của Mặt trận mà nhân dân giao phó.
- Bệnh hình thức và tình trạng hành chính hóa trong hoạt động của Mặt trận phải được chú trọng khắc phục ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoạt động. Mặt trận các cấp phải đổi mới mạnh mẽ về phương thức hoạt động, phải có tư duy độc lập, phản ứng nhanh với tình hình và nhiệm vụ, nhất là đáp ứng kịp thời đòi hỏi của nhân dân về dân sinh và dân chủ.

Nội dung và cách sắp xếp các bài học kinh nghiệm như trong dự thảo báo cáo đã hợp lý chưa? cần thay đổi như thế nào?

3. Về Phương hướng, nhiệm vụ và chương trình hành động của nhiệm kỳ 2009 – 2014:
 
3.1 Về bối cảnh, tình hình
, dự thảo báo cáo nêu lên 2 phần:
- Tình hình chính trị, kinh tế và các phong trào nhân dân trên thế giới;
- Những thắng lợi và thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế - xã hội và ngoại giao của đất nước ta trong hơn 20 năm qua; những thành tựu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; quá trình hội nhập kinh tế thế giới vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ... tác động đến sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nước ta thời gian tới.

Đánh giá bối cảnh tình hình trong nhiệm kỳ mới như vậy đã phù hợp chưa?

3.2 Về phương hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ mới, dự thảo nêu như sau: Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tạo thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia phong trào thi đua yêu nước phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh. Nâng cao chất lượng hoạt động vì dân sinh, vì dân chủ; mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân và tăng cường đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận các cấp.
Xác định phương hướng, nhiệm vụ như trên đã phù hợp chưa? cần thay đổi, bổ sung những gì?

3.3 Dự thảo báo cáo xây dựng 5 nội dung, nhiệm vụ của chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2009-2014 như sau:

- Tăng cường tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
- Động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, các hoạt động xã hội thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh,  giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết, hữu nghị, hợp tác quốc tế và tích cực hội nhập quốc tế vì hoà bình và phát triển.
- Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ; đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Nội dung và cách sắp xếp của Chương trình hành động như trong dự thảo báo cáo đã hợp lý chưa, cần bổ sung, sửa đổi điều gì?

 

   Phần thứ hai
     Về dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều lệ
         Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 I. Về lời nói đầu:

- Bổ sung nội dung “đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân” vào đoạn nói về vị trí, vai trò của Mặt trận, đồng thời bổ sung nội dung "giám sát và phản biện xã hội" vào đoạn nói về nhiệm vụ của Mặt trận cho phù hợp với Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng.
- Bổ sung nội dung "Lấy ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam (ngày 18 tháng 11 năm 1930) làm ngày Hội Đại đoàn kết toàn dân tộc hàng năm" vào cuối của Lời nói đầu.

 II. Về Chương II. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ cấu tổ chức của MTTQ Việt Nam:

Điều 8. Uỷ ban MTTQ Việt Nam

Bổ sung vào điểm c khoản 3 trường hợp cán bộ Mặt trận chuyên trách nghỉ hưu đương nhiên không còn là Ủy viên Ủy ban MTTQ như sau:
c) Cán bộ Mặt trận chuyên trách chuyển công tác khác hoặc nghỉ hưu.

III.Về Chương III. Cơ quan lãnh đạo của MTTQ Việt Nam ở cấp Trung ương:

- Điều 14. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

Bổ sung thêm nội dung "Phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước” vào khoản 4 như sau:
         4. Góp ý kiến, kiến nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với Nhà nước về chính sách, pháp luật và những vấn đề về quốc kế dân sinh; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;

- Điều 17. Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn Chủ tịch

        
Bổ sung thêm nội dung "Phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước” vào khoản 2 và được viết lại  như sau:
     2. Góp ý kiến, kiến nghị với Đảng về chủ trương, đường lối; với Nhà nước về chính sách pháp luật; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về những vấn đề quan trọng của đất nước;

- Điều 19. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

+ Về khoản 2 (các chức danh trong Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam), có một số phương án sau đây:
 Phương án 1: Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (gọi chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký, các Phó Chủ tịch chuyên trách và các Ủy viên Thường trực Đoàn Chủ tịch là những người hoạt động chuyên trách.
Phương án 2: Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (gọi chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và các Phó Chủ tịch chuyên trách là những người hoạt động chuyên trách (để giảm bớt chức danh trong Ban Thường trực và để thuận lợi trong quan hệ công tác với các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị).
Phương án 3: Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam (gọi chung là Ban Thường trực) gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và các Ủy viên Thường trực Đoàn Chủ tịch là những người hoạt động chuyên trách.

- Điều 20. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Thường trực

       Bổ sung thêm nội dung “Tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, chính sách, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân; đến tổ chức bộ máy và cán bộ; đến quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước" vào khoản 3 như sau:
  
     3. Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; thay mặt Ủy ban Trung ương và Đoàn Chủ tịch để kiến nghị với Đảng, Nhà nước về các chủ trương, chính sách pháp luật cần ban hành, sửa đổi; tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, chính sách, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân; đến tổ chức bộ máy và cán bộ; đến quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước".

IV. Về Chương IV. Cơ quan lãnh đạo của MTTQ các cấp ở địa phương:

- Điều 23. Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện

Bổ sung thêm nội dung "Phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền cùng cấp và cấp trên” vào khoản 3 như sau:
3. Góp ý kiến, kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp và cấp trên về những chủ trương, chính sách, pháp luật; phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền cùng cấp và cấp trên; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;

- Điều 24. Uỷ ban MTTQ VN cấp xã

Khoản 2: Bổ sung về nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban MTTQ cấp xã: Uỷ ban MTTQ cấp xã ra văn bản công nhận Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng” cho phù hợp với pháp luật quy định về thanh tra nhân dân và giám sát đầu tư của cộng đồng.

- Điều 25. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện

Bổ sung thêm nội dung "Tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền cùng cấp và cấp trên; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước" vào điểm c, khoản 3 như sau:

c) Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền, Ban Thường trực cấp trên trực tiếp; thay mặt Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp ý kiến, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về việc thực hiện các chính sách, pháp luật tại địa phương; tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của cấp ủy đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền cùng cấp và cấp trên; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;             

- Điều 26. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp xã

Bổ sung thêm nội dung “Tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước” vào điểm c, khoản 3 như sau:

c) Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền, Ban Thường trực cấp trên trực tiếp; góp ý kiến, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền về việc thực hiện chính sách, pháp luật tại địa phương; tổ chức các hoạt động phản biện xã hội đối với dự thảo chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ đảng, chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương; tổ chức các hoạt động giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước;       

- Khoản 3, điểm đ: Bổ sung nhiệm vụ của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ cấp xã trong việc chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng cho phù hợp với pháp luật quy định về giám sát đầu tư của cộng đồng.

Điều 27 Ban Công tác Mặt trận

- Khoản 5, điểm a: Bổ sung thêm các nhiệm vụ “tuyên truyền” và “động viên nhân dân tham gia hoạt động giám sát và phản biện xã hội” để tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của Ban Công tác Mặt trận phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

* Lưu ý: - Những chữ in nghiêng là của Điều lệ hiện hành.

 - Những chữ in nghiêng, đậm là nội dung đề nghị bổ sung, sửa đổi.

Ngoài các nội dung nêu trên, các địa phương có thể đề nghị sửa đổi, bổ sung các nội dung khác của Điều lệ MTTQ Việt Nam.

B. VỀ PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC GÓP Ý KIẾN

Việc đóng góp ý kiến vào các văn bản dự thảo trên đây được thực hiện tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các ý kiến đóng góp được tổng hợp thành 2 báo cáo ngay sau khi tổ chức xong đại hội của cấp mình:

- Một báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, gửi về: Tiểu ban Văn kiện của Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Số 46 Tràng Thi, Hà Nội).

- Một báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo sửa đổi Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, gửi về: Tiểu ban Điều lệ của Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Số 46 Tràng Thi, Hà Nội).

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố thực hiện đúng với nội dung và thời gian quy định để bảo đảm kế hoạch chung.

                                                TM. BAN THƯỜNG TRỰC
                                       PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

                                                      Vũ Trọng Kim 

[Về đầu trang]


 VĂNPHÒNG CHÍNH PHỦ                                    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  Số:  349/TB - VPCP                                                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
         
          
                                                                                        Hà Nội, ngày 30  tháng 12  năm 2008

 

THÔNG BÁO
Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc
với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

Ngày 12 tháng 12 năm 2008 tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã làm việc với Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cùng tham dự có  lãnh  đạo các Bộ: Nội vụ, Văn hoá Thể thao và Du lịch, Tài chính,  Kế hoạch đầu tư, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Chính phủ.

Sau khi nghe đồng chí Vũ Trọng Kim, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo kết quả phối hợp công tác giữa Chính phủ với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2008, nội dung phối hợp công tác năm 2009 và những đề xuất, kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ; ý kiến của các vị trong Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các bộ và ý kiến của đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ kết luận như sau:

 I. ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN ĐỊNH CHUNG

1. Năm 2008, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn thách thức nhưng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã nỗ lực vượt qua khó khăn, đạt được những kết quả toàn diện và tích cực về kinh tế - xã hội. Lạm phát về cơ bản đã được kiềm chế, chỉ số giá tiêu dung giảm dần qua các tháng, kinh tế vĩ mô tiếp tục giữ ổn định. Nền kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá trong điều kiện lạm phát cao: ước cả năm tăng trưởng GDP đạt khoảng 6.23%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14.6%, trị giá sản xuất công nghiệp 14.6%, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5.4%, GDP bình quân đầu người đạt trên 1000 USD. An sinh xã hội tiếp tục được quan tâm và triển khai thực hiện có hiệu quả. Các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế văn hoá thông tin và bảo vệ môi trường được chú trọng. Công tác cải cách hành chính phòng, chống tham nhũng thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có chuyển biến tích cực. Hoạt động đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế đạt nhiều kết quả. Chính trị xã hội ổn định. Quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo. Công tác phối hợp giữa Chính phủ và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong năm qua thiết thực hơn, hiệu quả hơn những năm trước và đạt kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Thông qua công tác phối hợp, Chính phủ đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong chỉ đạo, điều hành kinh tế - xã hội; đồng thời, Mặt trận tổ quốc Việt Nam cũng làm tốt hơn vai trò và chức năng của mình trong việc xây dựng khối liên minh chinh trị, khối đại đoàn kết toàn dân, vận động nhân dân thi đua yêu nước, tham gia thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đề ra.

Chính phủ đánh giá cao và ghi nhận sự phối hợp công tác có hiệu quả của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong thời gian qua. Thông qua sự phối hợp công tác đã đạt được kết quả cao, tạo ra sự đồng thuận, được nhân dân hưởng ứng, cần phát huy trong thời gian tới.

2. Dự báo trong năm 2009, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới suy thoái, tác động sâu sắc đến nước ta, tạo ra cả cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức. Nền kinh tế nước ta đã có dấu hiệu suy giảm, tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, đầu tư, đời sống và việc làm của người lao động. Trước tình hình đó, Chính phủ đã xác định phải tập trung điều hành thực hiện mục tiêu tổng quát của kế hoạch năm 2009 mà quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua. Trước mắt, cần tổ chức triển khai thực hiện ngay các giải pháp cấp bách sau: thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; thực  hiện các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng; chính sách tài chính tiền tệ; ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; tổ chức điều hành linh hoạt, hiệu quả và quyết liệt các giải pháp trên.

II. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

1.   Về đề nghị phối hợp tổng kết 10 năm thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nghị định số 50/2001/NĐ-CP ngày 16 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Mặt trận Tổ quốc Việt nam và tổ chức Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt nam: Thủ tướng Chính phủ đồng ý, đề nghị Ban Thường trực UBMTTQ VIệt Nam phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan của Chính phủ thực hiện.

2.    Đề nghị Thủ tướng Chính phủ có ý kiến để Bộ Chính trị sớm ban hành ba Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức Chính trị - xã hội và nhân đạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: Thủ tướng Chính phủ ghi nhận để báo cáo bộ chính trị.

3.   Về đề nghị thống nhất, cụ thể hoá các phong trào, cuộc vận động, các chương trình, mục tiêu quốc gia thành các tiêu chí trong cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư": Thủ tướng Chính phủ đồng ý, giao Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch làm việc cụ thể với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để triển khai thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII. Về Nghị định tập trung các nguồn lực tài chính cho Ban Công tác Mặt trận và nâng mức hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư theo Thông tư liên tịch số 02/2002/TTLT - BTC - MTTW ngày 10 tháng 01 năm 2002 của Bộ Tài chính và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thủ tướng Chính phủ đồng ý, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm việc cụ thể với Bộ Tài chính.

4.    Về đề nghị quan tâm đến chế độ nhà ở cho các Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Chính phủ đã giao cho Bộ xây dựng triển khai thực hiện Chương trình nhà ở cho cán bộ, công nhân viên trong đó có cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Về đề nghị cấp đất, kinh phí cho cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng nhà công vụ cho cán bộ, công chức: Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm việc cụ thể với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đề giải quyết chế độ nhà công vụ theo quy định hiện hành. Về đề nghị khoán kinh phí hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội: ngày 17 tháng 10 năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2005/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước, trong đó quy định: các cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội được cơ quan có thẩm quyền giao biên chế và kinh phí hành chính xem xét, tự quyết định việc áp dụng các quy định tại Nghị định này; vì vậy, đề nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm việc cụ thể với Bộ Tài chính để triển khai thực hiện theo quy định  hiện hành.

5.   Về cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", đề nghị Chính phủ sớm quyết định việc đầu tư hỗ trợ làm nhà cho người nghèo: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 về chính sách hỗ trợ  cho người nghèo về nhà ở.

6.   Về đề nghị sớm kiến nghị Quốc hội sửa đổi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân. Luật Tổ chức Quốc hôi, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Trong quá trình chuẩn bị đề nghị có sự phối hợp, tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thủ tướng Chính phủ đống ý, giao Bộ Tư pháp phôí hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị trình Quốc hội bổ sung các dự án luật trên vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009. Trong quá trình chuẩn bị dự án Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, yêu cầu Bộ nội vụ phối hợp với các cơ quan liên quan chủ động phối hợp chặt chẽ với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để triển khai thực hiện.

7. Về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng Đề án cải cách giáo dục theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng: Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chiến lược giáo dục 2009 - 2020; vì vậy, không phải thành lập Uỷ ban cải cách giáo dục. Đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tích cực tham gia trong quá trình tổng kết, đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng; giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình xây dựng Chiến lược giáo dục 2009 - 2020.

8. Về một số đề nghị liên quan đến vấn đề tôn giáo

a) Về đề nghị rà soát việc quản lý, sử dụng đất đai có liên quan đến tốn giáo; kịp thời chấn chỉnh những sai phạm, sơ hở, tránh gây bức xúc để kẻ xấu lợi dụng, kích động phát sinh điểm nóng; đồng thời, xem xét, giải quyết nhu cầu chính đáng của tôn giáo về đất đai: Thủ tướng Chính phủ đồng ý, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với cơ quan liên quan của Chính phủ xem xét giải quyết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ;

b) Về đề nghị cân nhắc việc cho phép thành lập hoặc công nhận pháp nhân dối với các tổ chức tôn giáo, tránh việc mở rộng cấp phép như thời gian vừa qua để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý hoạt động của các tôn giáo và tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc: Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ xem xét, đề xuất cụ thể, báo cáo Thủ tướng Chính phủ;

c) Về đề nghị quan tâm tạo điều kiện về trụ sở, kinh phí, điều kiện hoạt động của hệ thống Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam các cấp: vấn đề này thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

9.Về đề nghị khi quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước nên tham khảo ý kiến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Thủ tướng Chính phủ ghi nhận và chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ thực hiện.

10. Về đề nghị quan tâm chỉ đạo giải quyết những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân đã kiến nghị tại Kỳ họp thứ 3 và thứ 4, Quốc hội khoá XII vừa qua: Thủ tướng Chính phủ đã và đang chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ xem xét, giải quyết.

Văn phòng Chính phủ xin thông báo để Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Bộ, cơ quan, địa phương thực hiện kết luận này./.

                                                             BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM

                                                                  Nguyễn Xuân Phúc

[Về đầu trang]


Đề cương tuyên truyền kỷ nệm 105 năm ngày sinh đồng chí Trần Phú-Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng

I. Khái lược về thân thế và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Trần Phú

Đồng chí Trần Phú (bí danh Lý Quý), sinh ngày 1 tháng 5 năm 1904 tại thôn An Thổ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; nguyên quán xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ và thân mẫu của đồng chí Trần Phú là ông Trần Văn Phổ và bà Hoàng Thị Cát.

Năm 1922, đỗ đầu kỳ thi Thành chung ở Trường Quốc học Huế, đồng chí được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An).

Giữa năm 1925, đồng chí gia nhập Hội Phục Việt (sau đổi tên thành Hội Hưng Nam và Tân Việt Cách mạng Đảng), tổ chức của những trí thức yêu nước.

Năm 1926, đồng chí tham gia: phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp trả lại tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh, mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho công nhân và nông dân.

Tháng 7/1926, Hội Phục Việt cử đồng chí và một số hội viên sang Quảng Châu (Trung Quốc) để đề nghị với Nguyễn Ái Quốc cho Hội hợp nhất với Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng. Đồng chí gặp Nguyễn Ái Quốc, được tham gia lớp huấn luyện chính trị khóa 2 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy.

Tháng 10/1926, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kết nạp vào Cộng sản Đoàn. Kết thúc khóa học, đồng chí về nước hoạt động, nhưng bị địch truy lùng ráo riết. Đồng chí trở lại Quảng Châu, làm việc tại Tổng bộ Thanh niên.

Cuối tháng 1/1927, đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Liên Xô học Trường đại học Phương Đông.

Đầu tháng 11/1929, sau khi tốt nghiệp Đại học Phương Đông, đồng chí nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, bí mật lên tàu đi Lêningrát (nay là thành phố Xanh Pêtécbua thuộc Liên bang Nga) bắt đầu hành trình về nước hoạt động.

Ngày 8/2/1930, đồng chí về đến Sài Gòn. Ít ngày sau đồng chí sang Hồng Kông (Trung Quốc) gặp Nguyễn Ái Quốc. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu đồng chí Trần Phú về tham gia hoạt động trong Ban Chấp uỷ lâm thời.

Tháng 4/1930, đồng chí về đến Hải Phòng. Tháng 7/1930 đồng chí được bổ sung vào Ban Chấp uỷ lâm thời và được giao nhiệm vụ dự thảo Luận cương chính trị của Đảng.

Tháng 10/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và nhất trí thông qua Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú dự thảo. Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Hội nghị này, đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã trực tiếp chủ trì: Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng tháng 12/1930, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng tháng 1/1931 và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai tại Sài Gòn tháng 3/1931. Dưới sự chủ trì của đồng chí, các quyết nghị của Trung ương giai đoạn này đã góp phần đưa phong trào cách mạng Đông Dương phát triển lên một tầm cao mới.

Do có kẻ phản bội khai báo, ngày 18/ 4/1931, đồng chí đã bị địch bắt tại số nhà 66, đường Sămpanhơ (nay là đường Lý Chính Thắng, thành phố Hồ Chí Minh). Biết đồng chí là lãnh đạo cao cấp của Đảng, thực dân Pháp và bọn tay sai đã đưa đồng chí về giam giữ ở Khám lớn Sài Gòn. Trước những đòn tra tấn dã man và chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, sức khỏe của đồng chí giảm sút nhanh chóng, bệnh tình của đồng chí ngày một trầm trọng. Ngày 6/9/1931, đồng chí đã trút hơi thở cuối cùng tại Nhà thương Chợ Quán, Sài Gòn.

Để tỏ lòng biết ơn công lao to lớn của đồng chí Trần Phú đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, ngày 12/1/1999 Đảng và Nhà nước quyết định tổ chức trọng thể Lễ truy điệu đồng chí Trần Phú tại thành phố Hồ Chí Minh. Thể theo nguyện vọng của gia quyến và gia tộc của đồng chí Trần Phú, Đảng và Nhà nước tổ chức di dời hài cốt của đồng chí về an táng tại núi Quần Hội, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

II. Những cống hiến to lớn của đồng chí Trần Phú với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

1. Đồng chí Trần Phú, người học trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; học viên xuất sắc của Trường đại học Phương Đông.

Xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh quê hương của đồng chí Trần Phú là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Ông Trần Văn Phổ, thân phụ của đồng chí là người học rộng, đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An, làm quan Tri huyện tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Ông sống thanh liêm, thương dân, không cam chịu làm tay sai cho bọn cướp nước đàn áp người dân vô tội, đã tuẫn tiết ngay trên công đường để phản kháng chế độ thực dân và Triều đình. Thân mẫu của đồng chí Trần Phú là bà Hoàng Thị Cát, tính tình hiền dịu. Sau cái chết của ông Phổ, gia đình đồng chí Trần Phú lâm vào cảnh khó khăn. Vì quá vất vả và nhớ thương chồng, bà Cát bị bệnh nặng đã qua đời năm 1910.

Năm 4 tuổi, đồng chí Trần Phú mồ côi cha. Sáu tuổi, đồng chí mồ côi cả cha và mẹ. Tuổi thơ của đồng chí trĩu nặng thương đau. Là người có trí thông minh, có ý thức tự lập, vượt khó để vươn lên trong học tập, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đồng chí luôn luôn là học sinh giỏi. Nhờ anh, chị và họ hàng ruột thịt chu cấp, đồng chí Trần Phú tiếp tục vào học ở Trường Quốc học Huế, một ngôi trường danh tiếng. Được tiếp xúc với nhiều thầy giáo và bạn bè có tư tưởng yêu nước, đồng chí đã sớm hoà mình vào các phong trào của học sinh, sinh viên tham gia “Hội Thanh niên tu tiến” để giúp đỡ bạn bè cùng chí hướng và nuôi dưỡng tinh thần yêu nước. Năm 1918, đồng chí Trần Phú đỗ đầu kỳ thi Thành chung ở Trường Quốc học Huế. Với tấm bằng này đồng chí có đủ điều kiện làm quan. Nhưng truyền thống gia đình và quê hương đã sớm hình thành chí hướng cách mạng, đồng chí Trần Phú từ chối con đường làm quan, chọn nghề dạy học. Tháng 9/1922, đồng chí được bổ nhiệm làm giáo viên Trường tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An). Sống gần gũi với học sinh và nhân dân lao động, đồng chí sớm thấu hiểu nỗi cơ cực của công nhân và nông dân. Năm 1924 vì lý do sức khoẻ, đồng chí Trần Phú xin thôi dạy học, về làm việc ở Văn phòng Đốc học của tỉnh. Giữa năm 1924, đồng chí Trần Phú gặp Hồ Tùng Mậu thành viên của tổ chức Tâm Tâm Xã, được đọc những tài liệu sách báo tiến bộ của Nguyễn Ái Quốc. Say mê với sách báo yêu nước, đồng chí Trần Phú đã lập tổ đọc sách nhằm tập hợp các bạn trẻ cùng chí hướng. Ngày 19/6/1924, tiếng bom Sa Điện của Phạm Hồng Thái như “chim én báo hiệu mùa xuân” đã thức tỉnh tinh thần yêu nước của đồng chí và nhiều thanh niên trong cả nước. Tháng 7/1925, Hội Phục Việt tập hợp những trí thức yêu nước ra đời. Đồng chí Trần Phú gia nhập Hội Phục Việt, hăng hái tham gia mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho người nghèo khổ, mượn bục giảng để truyền bá tinh thần yêu nước cho học trò. Những hoạt động yêu nước của Hội Phục Việt và các phong trào đấu tranh sôi động chống giới chủ, chống chế độ áp bức của thực dân Pháp đòi tăng lương, cải thiện đời sống của công nhân ở thành phố Vinh có ảnh hưởng sâu sắc đến sự lựa chọn con đường cách mạng của đồng chí Trần Phú. Giữa năm 1925, đồng chí đã thôi nghề dạy học để bước vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

Bước ngoặt trong cuộc đời cách mạng của đồng chí Trần Phú là được Hội Phục Việt cử sang Quảng Châu bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Là thành viên của Hội Phục Việt, giữa lúc đang lúng túng về đường lối, đồng chí Trần Phú được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp huấn luyện, đào tạo. Tại lớp huấn luyện chính trị, đồng chí miệt mài học tập, tỏ rõ năng khiếu tư duy lý luận cách mạng, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin tưởng kết nạp vào Cộng sản Đoàn, nhóm nòng cốt của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Kết thúc khóa huấn luyện, đồng chí trở về nước hoạt động. Bị mật thám Pháp truy lùng ráo riết, theo yêu cầu của Hội Phục Việt, đồng chí tạm lánh ra nước ngoài hoạt động. Đồng chí đã trở lại Quảng Châu, làm việc tại Tổng bộ Thanh niên. Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin cậy, cử sang Liên Xô học ở Trường đại học Phương Đông.

Tại Trường đại học Phương Đông, đồng chí đã bộc lộ phẩm chất của một nhà hoạt động cách mạng tài năng. Đồng chí theo học muộn 3 tháng so với các đồng chí khác, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, nhờ thông minh và chăm chỉ học tập đồng chí Trần Phú đã nhanh chóng theo kịp chương trình chung. Do kết quả học tập tốt, sau mấy tháng học đầu năm 1927, đồng chí Trần Phú được giới thiệu vào Đảng Cộng sản Liên xô. Qua sự giới thiệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản quyết định cử Trần Phú làm Bí thư nhóm cộng sản Việt Nam tại Trường. Nhờ thông thạo nhiều ngoại ngữ, đồng chí đã tiếp thu tốt bài giảng; có điều kiện để nghiên cứu lý luận và trao đổi với các đồng nghiệp. Chính trong những năm tháng học tập, nghiên cứu lý luận, tích cực tham gia hoạt động thực tiễn, đồng chí Trần Phú đã tiếp thu một cách có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin và phương pháp tổ chức theo đường lối cách mạng vô sản. Từ một người Việt Nam yêu nước, đến với Liên Xô, đến với lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng chí Trần Phú đã trở thành chiến sĩ cộng sản đủ sức gánh vác những nhiệm vụ quan trọng do Quốc tế Cộng sản và Đảng ta phân công.

2. Đồng chí Trần Phú, người dự thảo bản Luận cương chính trị tháng10 năm 1930 của Đảng, xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam.

Tình hình cách mạng thế giới và tình hình cách mạng ở Đông Dương diễn biến nhanh chóng. Sau khi tốt nghiệp Trường đại học Phương Đông, tháng 11/1929 đồng chí được Quốc tế Cộng sản cử về nước hoạt động với cương vị là cán bộ chủ chốt của Đảng. Đồng chí được Đảng giao nhiệm vụ chuẩn bị dự thảo Luận cương chính trị. Để nắm vững tình hình thực tiễn cách mạng, đồng chí luôn tranh thủ ý kiến của các đồng chí trong Ban Chấp uỷ; trực tiếp đóng vai “thầy đồ”, “nhà buôn”, sống cuộc đời thợ mỏ, thợ nề, thợ nhà máy xi măng… để thâm nhập, nghiên cứu, khảo sát thực tế tình hình phong trào cách mạng của công nhân, nông dân và hoạt động của các chi bộ cộng sản ở nhà máy, hầm mỏ… tại Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Hòn Gai, Thái Bình. Sau khi khảo sát tình hình thực tế và trao đổi với các đồng chí trong Ban Chấp uỷ, đồng chí đã khởi thảo văn kiện Luận cương chính trị của Đảng ngay trong tầng hầm ngôi nhà của một quan chức thực dân Pháp ở phố Giăng Xôle (nay là số nhà 90, phố Thợ Nhuộm, Hà Nội). Tháng 10/1930, tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) đồng chí Trần Phú đã trình bầy bản dự thảo Luận cương chính trị của Đảng và đã được Hội nghị nhất trí thông qua.

Bản Luận cương chính trị đã phân tích sâu sắc đặc điểm tình hình thế giới và Đông Dương; luận giải một cách sắc bén về tính chất của cuộc cách mạng ở Đông Dương. Đó là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, do giai cấp công nhân lãnh đạo; chỉ ra nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và phong kiến. Đường lối cơ bản của cách mạng Đông Dương và cách mạng Việt Nam nêu trong Luận cương chính trị tháng 10/1930, là sự khẳng định về mục tiêu và đường lối cách mạng mà Chính cương vắn tắt của Nguyễn Ái Quốc nêu ra tháng 2/1930.

Luận cương chính trị còn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình cách mạng: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản có đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”. (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. t.2, tr.100). Muốn làm tròn nhiệm vụ, Đảng phải tổ chức ra những đoàn thể độc lập như Công hội, Nông hội...

Về lực lượng cách mạng Luận cương chính trị nêu rõ: lực lượng chủ yếu của cách mạng là đoàn kết và động viên, tổ chức các tầng lớp nhân dân đứng lên đập tan bộ máy chính quyền cũ, thành lập chính quyền mới; lấy giai cấp công nhân, giai cấp nông dân làm nòng cốt do tổ chức Đảng, đảng viên trực tiếp chỉ đạo.

Về phương pháp lãnh đạo đấu tranh cách mạng của Đảng Luận cương chính trị chỉ rõ Đảng phải biết xác định chiến lược, sách lược trên cơ sở xem xét kỹ tình hình trong nước và ngoài thế giới, sức mạnh của địch, sức tranh đấu của quần chúng, thái độ của các hạng người đối với cách mạng. Đảng phải tổ chức và khuếch trương phong trào quần chúng. Khi phong trào cách mạng lên cao, quần chúng công - nông sôi nổi cách mạng, thì lúc đó Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng đánh đổ chính phủ thực dân, giành chính quyền về tay nhân dân.

Luận cương chính trị đã đặt mối quan hệ của cách mạng Đông Dương trong mối quan hệ mật thiết với phong trào cách mạng thế giới; phải liên lạc với cách mạng ở các nước thuộc địa và bán thuộc địa.

Cống hiến lý luận của bản Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú khởi thảo là đã làm rõ mục đích, nhiệm vụ, bước đi, động lực cách mạng, vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản và Đảng của giai cấp vô sản, tầm quan trọng của sức mạnh đoàn kết quốc tế đối với cách mạng Việt Nam. Những nội dung này về cơ bản thống nhất với Chính cương vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo tại Hội nghị hợp nhất tháng 2/1930. Luận cương chính trị tháng 10/1930 của Đảng là một văn kiện lịch sử, góp phần cụ thể hoá một số vấn đề về đường lối cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta, có phần đóng góp quan trọng của đồng chí Trần Phú.

3. Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng - người có nhiều đóng góp to lớn về công tác xây dựng Đảng và tổ chức cách mạng của quần chúng.

Chỉ trong một thời gian ngắn, từ tháng 7/1930 đến đầu tháng 10/1930 sống trong điều kiện bị địch truy lùng gắt gao; ban ngày đồng chí cải trang đi khảo sát thực tế ở địa phương, khuya về dự thảo văn kiện; điều kiện làm việc khó khăn, di chuyển địa điểm nhiều lần, nhưng đồng chí Trần Phú đã trực tiếp biên soạn dự thảo nhiều văn kiện, chỉ đạo biên soạn hàng loạt văn kiện quan trọng của Đảng mở đường cho phong trào cách mạng và bước phát triển đi lên của cả dân tộc. Điều đó thể hiện rõ năng lực và sự làm việc phi thường của đồng chí Trần Phú.

Dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất họp tháng 10/1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc), cùng với việc thông qua Luận cương chính trị, Hội nghị đã thảo luận và thông qua nhiều văn kiện quan trọng, liên quan trực tiếp đến công tác tổ chức của Đảng, công tác dân vận, công tác mặt trận đặt nền móng cho việc hình thành một số tổ chức quần chúng quan trọng của Đảng như: Hội Nông dân, Hội liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản…

Hội nghị Trung ương tháng 10/1930 đã chính thức bầu đồng chí là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng. Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, Trưởng Ban Công vận Trung ương đồng chí Trần Phú đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tranh thủ mọi điều kiện để trang bị lý luận Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên. Đồng chí cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định ra tờ báo Cờ Vô sản, cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng; Tạp chí Cộng sản, cơ quan lý luận của Đảng; chỉ đạo lập Hội Phản đế đồng minh, chỉnh đốn Nông hội đỏ, chống chính sách khủng bố trắng, chống âm mưu thâm độc của kẻ thù buộc nông dân ra đầu thú. Được sự quan tâm theo dõi chặt chẽ và chỉ đạo sát sao của đồng chí Trần Phú và Ban Thường vụ Trung ương Đảng trong thời kỳ 1930 - 1931, khí thế phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân trong cả nước đã bùng lên mạnh mẽ. Tổ chức Nông hội đỏ phát triển nhanh chóng, đội ngũ hội viên năm 1931 lên tới 64.000 người. Tại một số tỉnh và thành phố lớn như Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Mỹ Tho, Bến Tre, Quảng Ngãi, vùng mỏ Quảng Ninh…những cuộc biểu tình và bãi công của công nhân diễn ra liên tiếp. Bộ Tham mưu tối cao của Đảng đặt tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, do Tổng Bí thư Trần Phú đứng đầu đã thực hiện sứ mệnh lịch sử, tạo ra cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ hai diễn ra tại Sài Gòn vào tháng 3/1931, dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Hội nghị đã phân tích, đánh giá phong trào cách mạng sôi nổi diễn ra khắp cả nước, cả ưu điểm và thiếu sót của các phong trào công nhân, nông dân ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Mỹ Tho, Bến Tre… giúp cho Đảng ta rút ra những kinh nghiệm quý báu để chỉ đạo quần chúng đấu tranh chống cuộc khủng bố trắng của kẻ thù.

Một cống hiến nổi bật của đồng chí trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng là đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương xây dựng và củng cố tổ chức Đảng các cấp từ Trung ương tới các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ và các chi bộ cơ sở của Đảng. Đồng chí đã chỉ đạo tổ chức tốt công tác giao thông liên lạc từ Trung ương đến Xứ ủy, Tỉnh ủy, từ Trung ương đến Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản đánh giá cao hoạt động của Đảng ta, trong đó có công lao của Tổng Bí thư Trần Phú. Ngày 11/4/1931, tại phiên họp thứ 25 Hội nghị toàn thể lần thứ XI của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đã đưa ra Nghị quyết: Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây là một chi bộ của Đảng Cộng sản Pháp, từ nay được công nhận là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản. Quyết nghị này sẽ được đưa ra thông qua trong Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản.

4. Đồng chí Trần Phú, tấm gương sáng ngời về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, bất khuất trước kẻ thù, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Đồng chí Trần Phú giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng được hơn 5 tháng, một thời gian không dài, nhưng sự cống hiến cho Đảng, cho đất nước và nhân dân thật lớn lao. Đồng chí sống giản dị, đạm bạc. Tuy trong người mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo, nhưng bất chấp ốm đau, đồng chí luôn tranh thủ mọi thời gian, sức lực cống hiến cho Đảng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Giữa lúc phong trào cách mạng nước ta đang có những bước phát triển mới, Trung ương Đảng đang triển khai nhiều chủ trương quan trọng, do có kẻ phản bội khai báo, đồng chí Trần Phú đã bị địch bắt 8 giờ sáng ngày 18/4/1931. Bọn giặc đưa đồng chí về giam tại Khám lớn - Sài Gòn. Biết đồng chí là lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, kẻ thù đã dùng mọi cực hình để tra tấn, song chúng đã phải lùi bước trước tinh thần gang thép của đồng chí. Trước những hành động tra tấn dã man hoặc thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, đồng chí luôn chủ động tiến công: “Tôi biết nhiều người là để làm việc cho Đảng tôi, nước tôi, chứ không phải khai cho các ông bắt bớ”. Tại bốt Catina, kẻ thù hèn hạ cắt gan bàn chân của đồng chí, rồi nhét bông vào tẩm xăng đốt, đồng chí vẫn kiên quyết, nửa lời không nói. Trong lao tù, đồng chí Trần Phú đã cùng với các đồng chí khác tổ chức nhiều cuộc đấu tranh tuyệt thực để lên án chế độ nhà tù dã man, vô nhân đạo. Đồng chí luôn luôn bình tĩnh, sáng suốt truyền niềm tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng đến các đồng chí cùng bị giam; tranh thủ mọi cơ hội để liên hệ, dặn dò mọi người phải giữ gìn bí mật của Đảng và không ngừng học tập, để sau này tiếp tục làm cách mạng.

Ba tháng bị địch giam cầm, tra tấn dã man, sức khỏe của đồng chí bị giảm sút rất nhanh, căn bệnh cũ tái phát, phút lâm chung đồng chí nắm tay một đồng chí bạn tù cùng nằm ở nhà thương dặn lại: “Trước sau tôi chỉ mong anh chị em hãy giữ vững chí khí chiến đấu”. Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6/9/1931 ở nhà thương Chợ Quán, Sài Gòn trên tay bạn bè đồng chí của mình. Năm ấy đồng chí mới bước vào tuổi 27, độ tuổi tài năng đang phát triển để cống hiến cho cách mạng. Cuộc đời của Tổng Bí thư Trần Phú tuy ngắn ngủi, nhưng đã kịp hoàn thành nhiều việc lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Tổng Bí thư Trần Phú mất đi là một tổn thất to lớn đối với Đảng ta và phong trào cách mạng của nhân dân ta, đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn đó. Trong bài tưởng nhớ đồng chí Trần Phú năm 1932 lưu trữ tại Hồ sơ Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng, niềm tin và phẩm chất cao đẹp của Tổng Bí thư Trần Phú trong nhà tù đế quốc sẽ mãi mãi là tấm gương bất diệt cho những người cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là những người cộng sản ở Đông Dương”.Hồ Chủ tịch trong bài Đạo đức cách mạng, đăng trên Tạp chí Cộng sản tháng 12/1958 đã viết: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”.

III. Phát huy tinh thần “giữ vững ý chí chiến đấu” của đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới

Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp: cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế ở nhiều nước còn diễn biến khó lường; các nước lớn điều chỉnh chính sách để tranh giành ảnh hưởng; các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt; khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á vẫn tiềm ẩn nhân tố mất ổn định.

Bước sang giai đoạn đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn nhiều so với trước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cơ hội và thách thức vẫn đan xen. Nền kinh tế toàn cầu suy giảm, đã ảnh hưởng đến nước ta. Các thế lực thù địch đang gia tăng thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đang phải đối mặt với cuộc chiến đấu mới không kém phần cam go, quyết liệt: cuộc đấu tranh chống các thế lực thù địch chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; chống lại đói nghèo, tụt hậu để tiến cùng thời đại; cuộc chiến đấu chống xâm lăng văn hóa để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…trong quá trình đổi mới và trong cuộc chiến đấu ấy lời dặn “hãy giữ vững chí khí chiến đấu” của đồng chí Trần Phú luôn là lời nhắc nhở thôi thúc chúng ta kiên trì mục tiêu có tính nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm vững bước đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng để làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ lãnh đạo của thời kỳ mới; nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách; năng lực tổ chức thực hiện; năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân. Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ tư duy, nhận thức đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; từ hoạt động của cấp Trung ương đến hoạt động của địa phương, cơ sở. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân; đẩy mạnh cải cách hành chính xây dựng nền hành chính trong sạch, lành mạnh, hiệu quả; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần đạo đức cách mạng, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và tấm gương các chiến sĩ cộng sản tiền bối.

Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, là dịp để tôn vinh một tấm gương tiêu biểu cho lớp thanh niên yêu nước, khát khao lý tưởng và tràn đầy nhiệt huyết cách mạng; một trong những nhà lý luận cách mạng tiên phong có đóng góp quan trọng vào việc xây dựng Đảng ta về chính trị, tư tưởng và tổ chức; một tấm gương ngời sáng về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, bất khuất trước kẻ thù; một chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực hiến dâng trọn đời cho lý tưởng giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản. Giúp thế hệ trẻ trau dồi đạo đức cách mạng, noi gương Tổng Bí thư Trần Phú và các nhà cách mạng tiền bối, không ngừng phấn đấu đi theo lý tưởng của Đảng, đi đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống; thi đua lập nghiệp, lao động sáng tạo, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng. Động viên cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế; phát huy sức mạnh của truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và ý chí kiên cường của người Việt Nam chủ động, sáng tạo thực hiện đồng bộ các giải pháp để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững; thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ./.

(Nguồn:Ban Tuyên giáo Trung ương)

[Về đầu trang]


Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2009)

I. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, mốc vàng trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc thời đại to lớn.

1. Bối cảnh lịch sử

Thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các thế lực đế quốc đã quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 19/12/1946 với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nhất tề đáp lời Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ thù xâm lược.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Quân ta càng đánh, càng mạnh, càng thắng, quân viễn chinh Pháp càng ngày càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Vùng giải phóng mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố. Đến năm 1953, nhân dân và quân đội ta đã làm chủ trên chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu – Đông năm 1953, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Nava tăng viện lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương. Kế hoạch Nava là kế hoạch chung, là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính quyết định về quân sự trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Để đạt được mục tiêu đó, Pháp và Mỹ đã lập kế hoạch đến năm 1954 quân chủ lực Pháp có 7 sư đoàn cơ động chiến lược với 27 binh đoàn làm nắm đấm thép.

Về phía ta, tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ hở và nơi tương đối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào, Đông Campuchia, Tây Nguyên và Thượng Lào, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng của địch, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp chiến trường Đông Dương, đẩy chúng vào tình thế bị động chiến lược. Khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ.

Điện Biên Phủ là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Tuy là kế hoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava của Pháp và Mỹ, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã liên tiếp cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Địch đã cho tập trung ở đây 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hệ thống hoả lực mặt đất khá mạnh với 2 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 đại đội pháo 155mm, 1 đại đội súng cối 120mm được bố trí ở Mường Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với gần 100 lần chiếc lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 tên địch, đảm bảo nguồn tiếp viện cho quân Pháp trong quá trình tác chiến. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ. Nava coi Điện Biên Phủ như “ một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế hoạch Nava.

Trước tình hình đó, ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp và nhận định Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm mạnh nhưng chỗ yếu cơ bản của địch là bị cô lập. Về phía ta, Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay; diễn ra trên địa bàn rừng núi hiểm trở, đường cơ động cho pháo khó khăn, thời gian chuẩn bị cho chiến dịch gấp. Nhưng chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng; khó khăn lớn nhất của ta là vấn đề cung cấp hậu cần nhưng chúng ta có thể khắc phục được. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng của chiến dịch Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ đã quyết định tập trung 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40.000. Chấp hành quyết định của Bộ Chính trị, mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương; cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; 261.451 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.

2. Diễn biến của chiến dịch

Ngày 25/1/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đắn: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định đúng đắn nhưng ta cũng gặp không ít khó khăn. Đó là, thời gian tác chiến dài hơn, cách đánh cũng khác nên có những việc ta phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hoả lực chiến dịch. Với địa hình hiểm trở, pháo của ta kéo vào tập trung tại trận địa đã khó khăn, nay thay đổi phương châm tác chiến lại phải kéo pháo phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao tạo thành vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, để bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo càng khó khăn hơn. Với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ, hy sinh, quân và dân ta đã tìm mọi cách vượt qua thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trận quyết chiến lược Điện Biên Phủ đã diễn ra 3 đợt.

Đợt 1: Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã mưu trí dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh; Pi rốt, Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ bất lực trước pháo binh của ta đã dùng lựu đạn tự sát.

Đợt 2: Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian. Na va hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2 khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Đợt 3: Từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày 6/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm. Tên quan Tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch.

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, một trận tiêu diệt điển hình nhất, là trận đầu đánh thắng Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương. Tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

II. Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ

1. Nguyên nhân thắng lợi

- Đảng ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch đã đề ra đường lối kháng chiến, đường lối quân sự độc lập, đúng đắn, sáng tạo. Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc và phong kiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc xây dựng chế độ mới. Ngay từ ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; tiến công quân sự, địch vận và nổi dậy của quần chúng; đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao. Trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, lòng yêu nước và tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã tạo nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

- Nhân dân ta rất anh hùng, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, từ trẻ đến già nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, thi đua giết giặc lập công, đóng góp sức người, sức của bảo đảm đầy đủ mọi điều kiện cho chiến trường, tiếp thêm ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các lực lượng vũ trang ngoài mặt trận.

- Các lực lượng vũ trang nhân dân ta trưởng thành vượt bậc về tư tưởng chính trị, lực lượng, tổ chức chỉ huy, trình độ tác chiến, trang thiết bị quân sự và bảo đảm hậu cần cho chiến dịch quân sự quy mô lớn chưa từng có; chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến trường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm hy sinh lập nhiều chiến công trên khắp chiến trường Đông Dương, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở chiến trường Điện Biên Phủ.

- Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ còn có sự chi viện, cổ vũ và ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh vì hoà bình của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có cả nhân dân Pháp, đặc biệt là của các nước trên bán đảo Đông Dương cùng chung chiến hào, đã tạo nên sức mạnh thời đại của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

2. Ý nghĩa lịch sử

2.1- Đối với nhân dân ta

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang của thời đại Hồ Chí Minh.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định tạo bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám; một nửa nước được giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

2.1 - Đối với thế giới

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành luỹ của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định thắng lợi; đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

III. Phát huy tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” của Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chủ động nắm bắt thời cơ, vượt mọi khó khăn, thử thách xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, đập tan nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương. Một nửa nước được giải phóng, mở ra thời kỳ cách mạng mới đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành di sản tinh thần quý báu. Tiếp nối chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí Minh lập chiến công hiển hách Điện Biên Phủ trên không năm 1972; Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới hơm 20 năm qua đưa đất nước ta lên một tầm cao mới, thế và lực mới, chủ động hội nhập quốc tế.

Kỷ niệm 55 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chúng ta tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, một Đảng Mác – Lênin chân chính; tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất - anh hùng giải phóng dân tộc, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta; tự hào về dân tộc anh hùng, về các lực lượng vũ trang nhân dân, về Quân đội nhân dân Việt Nam bách chiến, bách thắng.

Hiện nay tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động: Các nước lớn tranh giành ảnh hưởng, xu thế hình thành thế giới đa cực ngày càng rõ sẽ tác động đến tình hình chính trị và kinh tế thế giới; cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế ở nhiều nước còn diễn biến phức tạp; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố vẫn diễn ra có thể gây mất ổn định ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới.

Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của đất nước ta đã lớn mạnh, nhưng bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cơ hội và thách thức vẫn đan xen các thế lực thù địch gia tăng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền…để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải mài sắc cảnh giác, phát huy cao độ nội lực; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững và không ngừng tăng cường đoàn kết quân dân, đoàn kết hữu nghị với nhân dân và Quân đội các nước theo truyền thống của Đảng, của dân tộc và của Quân đội ta; kết hợp sức mạnh thời đại, tạo dựng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Các thế hệ đi trước không cam chịu làm nô lệ đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dũng cảm, sáng tạo đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc. Các thế hệ ngày nay quyết tâm phát huy tinh thần Điện Biên Phủ, dám nghĩ, dám làm, năng động sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới, lập nên kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh vững chắc, nâng cao tiềm lực quốc phòng. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về quốc phòng, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, chất lượng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng - an ninh - kinh tế - đối ngoại. Chú trọng xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa, tạo thế trận quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở các địa bàn chiến lược. Tổ chức các lực lượng vũ trang hợp lý, đồng bộ, cân đối giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, các quân binh chủng phù hợp với yêu cầu tác chiến mới. Tiếp tục nâng cao chất lượng tổng hợp, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong tình hình mới. Tinh thần bất diệt của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh tiếp sức cho dân tộc ta giành những thắng lợi mới trên chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

IV. Điện Biên trên đường đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4, tháng 11/2003 quyết định tách tỉnh Lai Châu thành hai tỉnh Lai châu và Điện Biên. Đây là sự kiện quan trọng tạo thế và lực mới để vùng đất chứa trong mình sự kiện chấn động địa cầu phát triển mạnh hơn trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, giữ vững và phát huy truyền thống Điện Biên Phủ anh hùng.

Điện Biên là tỉnh vùng cao, nằm ở phía tây Bắc của Tổ quốc là địa bàn chiến lược trong thế trận quốc phòng toàn dân, có đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Diện tích tự nhiên 9.954,12 km2, dân số 46 vạn người, thuộc 21 dân tộc anh em. Điện Biên có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng và kho tàng văn hóa phong phú đậm đà bản sắc dân tộc, có tiềm năng du lịch, có cảng hàng không thuận tiện.

55 năm sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên đã đoàn kết một lòng phát huy truyền thống Điện Biên Phủ anh hùng vượt qua mọi khó khăn, thử thách đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi tái lập tỉnh cùng với sự phát triển chung của cả nước, tỉnh Điện Biên đã có bước phát triển mới và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng.

Kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá cao (GDP bình quân năm 2006 - 2007 đạt 10,86%); giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,14%/năm; công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 13,6%/năm; dịch vụ tăng bình quân 14,35%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ; quy hoạch đầu tư phát triển vùng cây công nghiệp cà phê, chè, cao su; tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư phát triển thủy điện, nhà máy xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng, khai khoáng. Nguồn vốn đầu tư phát triển không ngừng tăng, năm 2007 đạt trên 2.000 tỉ đồng, tăng 54% so với năm 2006; kết cấu hạ tầng ngày càng cải thiện, 104/106 xã, phường, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm.

Văn hóa – xã hội có bước chuyển biến tích cực, quy mô chất lượng giáo dục được nâng lên (năm 2008, 100% xã phường được công nhận phổ cập Trung học cơ sở, 45,2% học sinh vào học Trung học phổ thông); hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân có những tiến bộ mới (năm 2008 đã có 28% số trạm Y tế xã đạt Chuẩn Quốc gia, 100% xã phường và 95% trẻ em được tiêm chủng mở rộng); tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 44,6% năm 2005 xuống còn 29,92% năm 2008; thực hiện tốt chính xã hội và bảo trợ xã hội, thường xuyên quan tâm đối với các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng, người già cô đơn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện. Phong trào xây dựng gia đình, thôn, bản văn hóa được triển khai sâu rộng, đến hết năm 2008 đã có 53.750 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa (tăng 2,6 lần so với năm 2005); 570 thôn, bản đạt tiêu chuẩn thôn, bản văn hóa (tăng 2,68 lần so với năm 2005).

Tình hình chính trị - xã hội cơ bản được bảo đảm ổn định, biên giới quốc gia được giữ vững, các tệ nạn xã hội giảm. Quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tỉnh có chung đường biên giới ngày càng được củng cố.

Thực hiện có kết quả bước đầu công tác cải cách hành chính. Chú trọng công tác xây dựng Đảng, nội bộ đoàn kết, tích cực triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước dịp kỷ niệm 50 năm, 55 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ nhiều di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ đã được đầu tư xây dựng, tôn tạo như: Chỉ huy sở Mường Phăng; hầm Đờ Cát; Công viên Chiến thắng; tượng đài Chiến thắng; tượng đài Kéo pháo; đồi A1…

Các tỉnh, thành phố, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong cả nước đã dấy lên phong trào thi đua hướng về Điện Biên Phủ với hành động thiết thực góp phần cùng Điện Biên xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy đã đạt được những thành tựu khá toàn diện về kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc không ngừng được cải thiện, nhưng Điện Biên vẫn thuộc diện tỉnh nghèo, quy mô kinh tế còn nhỏ bé. Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Phát huy những thành tựu, những tiềm năng, lợi thế của tỉnh; phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” của Điện Biên Phủ, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên đã và đang ra sức thi đua lao động, sản xuất với tinh thần chủ động, sáng tạo, xây dựng Điện Biên phát triển bền vững, giàu đẹp xứng đáng với tầm vóc lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ anh hùng./.

(Nguồn:Ban Tuyên giáo Trung ương) 

[Về đầu trang]


Đề cương tuyên truyền 40 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh ( 2/9/1969 – 2/9/2009)

I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, Ý NGHĨA, GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA DI CHÚC.

1. Hoàn cảnh lịch sử:

Tháng 5/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu khởi thảo viết Di chúc. Lúc bấy giờ, đất nước ta đang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy cam go, khốc liệt và sức khoẻ của Người đã yếu. Năm 1968, Bác viết thêm 6 trang. Tháng 5/1969, Bác viết lại đoạn mở đầu Di chúc.

Di chúc được công bố một phần trong lễ tang Bác. Thông báo số 151-TB/TW ngày 19/8/1989 của Bộ Chính trị về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định bản Di chúc công bố tháng 9/1969 là “bảo đảm trung thành với bản gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Một số vấn đề như những việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, miễn giảm thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, cho bà con nông dân cũng như đề nghị của Người về hoả táng thi hài chưa được công bố. Thông báo của Trung ương đã giải thích rõ lý do việc này. Vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã quyết định công bố toàn bộ các bản Di chúc của Người viết.

2. Ý nghĩa:

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử vô giá kết tinh những tinh hoa đạo đức và tâm hồn cao đẹp, những nội dung cơ bản, những quan điểm cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và trong tương lai.

3. Những giá trị cơ bản của Di chúc:

a. Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng.

Di chúc thể hiện sự tự nhận thức sâu sắc về bản thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đón nhận quy luật cuộc sống bằng phong thái ung dung, tự tại, chuẩn bị việc ra đi của mình bằng những lời tâm huyết dặn lại. Tâm nguyện của Người: “Suốt đời tôi hết lòng phụng vụ Tổ quốc, phụng vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phụng vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Ý chí, niềm tin, tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm với nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về công việc của sự nghiệp cách mạng còn dang dở. Di chúc là tâm sự của một người đã hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân; là tấm lòng chung thuỷ với “các nước anh em” và “bầu bạn khắp năm châu”.

b. Di chúc là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền.

- Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng, đó là: giữ gìn mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền.

- Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp bền bỉ, dài lâu, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đảng cầm quyền phải chăm lo phát triển lực lượng cho hiện tại và chuẩn bị cho tương lai một thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có như vậy mới thực hiện thành công lý tưởng xây dựng một xã hội mới, tiến bộ, văn minh. Bác dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, đó là công việc: bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa.

- Cách mạng Việt Nam không thể tách rời cách mạng thế giới. Sự vững mạnh của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “về phong trào cộng sản thế giới” là định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

c. Di chúc là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam.

- Di chúc là điểm kết tinh tư tưởng của Bác về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, mối quan hệ giữa công bằng và tiến bộ xã hội, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá trong xây dựng xã hội mới, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh thời đại, động lực lợi ích và chăm lo chu đáo tới cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

- Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; phát triển kinh tế và văn hoá, nâng cao đời sống nhân dân.

- Di chúc có giá trị văn hoá rất lớn. Đó là tinh thần nhân văn sâu sắc thể hiện trong ứng xử với nhân dân, đồng chí, bè bạn. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời sống văn hoá mới; một lối sống tiết kiệm, không lãng phí.

II. NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM QUA 40 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC:

1. Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chuẩn bị điều kiện đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975 là điểm mốc quan trọng, là bước ngoặt lịch sử đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kết thúc 21 năm chiến đấu chống Mỹ và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, hoàn thành cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, bảo vệ và phát triển những thành tựu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện điều mong mỏi trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Từng bước thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân.

Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện Di chúc của Bác, Đảng đã tập trung sức lực và trí tuệ lãnh đạo nhân dân ta tiến hành sự nghiệp cách mạng đưa cả nước đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn. Mặc dù tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, vừa phải thường xuyên đối phó với những âm mưu chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, vừa phải xây dựng cuộc sống mới từ một nền kinh tế lạc hậu, bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, vừa phải làm nghĩa vụ quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã kiên trì phấn đấu và đã thu được những kết quả đáng khích lệ: khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh; xây dựng một số cơ sở vật chất; phát triển được một số ngành kinh tế quan trọng; thiết lập và củng cố chính quyền nhân dân trên phạm vi cả nước; phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế; tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới.

Tuy vậy, trong xây dựng kinh tế, chúng ta cũng đã từng phạm những sai lầm, khuyết điểm trong chủ trương, chính sách cũng như trong quá trình chỉ đạo thực tiễn. Nhưng Đảng sớm nhận thức tình hình đất nước, bối cảnh quốc tế, trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, kiên định mục tiêu, con đường Bác đã chọn, thẳng thắn phân tích những nguyên nhân của sự vấp váp, sai lầm, tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân dân và dân tộc, Đảng ta đã khởi xướng đường lối Đổi mới và quyết tâm tiến hành sự nghiệp “Đổi mới” vì hạnh phúc của nhân dân.

Công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng và có ý nghĩa lịch sử: về kinh tế, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện; thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành; cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, giữa tiến bộ và công bằng xã hội; công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt; sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hoá về loại hình trường lớp; khoa học công nghệ và tiềm lực khoa học - công nghệ có bước phát triển nhất định; công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có tiến bộ; những giá trị văn hoá đặc sắc của các dân tộc được kế thừa và phát triển, giao lưu hợp tác văn hoá với nước ngoài được mở rộng, các tài năng văn hoá - nghệ thuật được khuyến khích; chính sách phát triển nguồn nhân lực được chú trọng; quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao...

3. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; thực hiện công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chiến lược và sách lược tài tình, nhà tổ chức thiên tài, nhà cổ động chính trị vĩ đại, người có công rèn luyện, giáo dục bao lớp cán bộ ưu tú của Đảng. Người đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ VII của Đảng, Đảng ta đã khẳng định cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Thực hiện Di chúc của Người, trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới rất nặng nề, các thế lực tấn công toàn diện vào Đảng, vào chế độ, Đảng ta vẫn vững vàng, thể hiện rõ bản chất cách mạng và khoa học, kiên định về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.

Công tác xây dựng Đảng đã được đặt ra trong nhiều nghị quyết của Đảng. Tiếp theo Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII, Đảng ta đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cuộc vận động đã góp phần tạo nên sự chuyển biến trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở; góp phần khắc phục một bước tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; các cấp uỷ đã quan tâm nhiều hơn đến việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm; tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo tấm gương của Bác Hồ đã có chuyển biến rõ nét; tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, ý thức trách nhiệm với công việc được giao của cán bộ được nâng lên.

Công tác xây dựng Nhà nước đã quán triệt nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thực hành dân chủ, phát huy tính sáng tạo của nhân dân; tham khảo và vận dụng có chọn lọc lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân loại vào điều kiện cụ thể Việt Nam, đảm bảo phù hợp với dân tộc, thời đại và hoàn cảnh thực tiễn của đất nước.

Kết quả của công tác xây dựng Đảng nói riêng, xây dựng hệ thống chính trị nói chung là nhân tố góp phần làm nên thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam và của sự nghiệp đổi mới đất nước hơn 20 năm qua.

4. Phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất nước trong hội nhập quốc tế.

Đảng ta do Hồ Chủ tịch sáng lập và rèn luyện, ngay từ khi ra đời đã gương cao ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế vô sản, đề ra nhiệm vụ đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, với các dân tộc bị áp bức, coi đó là một nguyên tắc, một trong những nhân tố quyết định thành công của cách mạng nước ta. Bằng những việc làm vô tư trong sáng trong việc giúp đỡ bạn bè, cùng với việc không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với tất cả các nước, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, vai trò, uy tín của nước ta ngày càng được nâng cao trong cộng đồng quốc tế.

Từ sau khi phá bỏ chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ và các lực lượng thù địch nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hợp tác ngày càng sâu, toàn diện vào nền kinh tế thế giới. Trong các lĩnh vực kinh tế then chốt, như: thương mại, dịch vụ, lao động, đầu tư, khoa học và công nghệ, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đã không ngừng mở rộng các quan hệ kinh tế song phương, tiểu vùng, vùng, liên vùng và toàn cầu. Đến năm 2005, nước ta đã có quan hệ thương mại với 221 nước và vùng lãnh thổ, ký 90 hiệp định thương mại song phương, trong đó nổi bật là Hiệp định Thương mại với Mỹ, tạo điều kiện mở rộng giao lưu hàng hoá với nước ngoài, gia nhập AFTA, APEC, WTO, thiết lập được quan hệ tài chính với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, như: WB, IMF, ADB. Tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; trở thành Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an LHQ; tham gia giải quyết những vấn đề của khu vực và thế giới; xác định quan hệ ổn định với các nước láng giềng, nước lớn; giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan, góp phần giữ vững môi trường hoà bình khu vực.

III. TIẾP TỤC THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI.

1. Công tác xây dựng Đảng:

1.1. Học tập phẩm chất, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phẩm chất cao quý của Bác là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, “hết lòng phục vụ nhân dân”; kiên định lập trường cách mạng; sáng suốt trong đường lối chiến lược, sách lược; dũng cảm trong hành động; khôn khéo trong xử lý tình huống; khiêm tốn, giản dị trong cuộc sống hàng ngày; cần, kiệm, liêm chính, chí, công, vô tư; thương yêu đồng chí, đồng bào hết mực.

Đạo đức cao quý của Bác là “hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Cả cuộc đời Bác “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Bác là tấm gương sáng về phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, học đi đôi với hành, gắn lý luận với thực tiễn; là gương sáng về tinh thần cách mạng và khoa học; gương sáng về tinh thần học tập suốt đời; một phong cách nói đi đôi với với làm; một thái độ kiên quyết không khoan nhượng chống chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí; một cách ứng xử hài hoà, thấu tình đạt lý giữa việc chung - việc riêng, lý trí - tình cảm, lý luận - thực tiễn, quá khứ - hiện tại - tương lai, dân tộc - giai cấp, trong nước - quốc tế, ...

1.2. Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”:

Với mục tiêu tạo sự chuyển biến rõ nét hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, phương thức lãnh đạo khoa học, đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, hai năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội và đã tạo được những chuyển biến quan trọng.

Chủ đề học tập năm 2009 của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Để tiếp tục thực hiện tốt Cuộc vận động này, mỗi cấp uỷ, đảng viên, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước cần đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng và nâng cao ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân bằng những việc làm thiết thực, hàng ngày, tập trung giải quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo chính đáng của nhân dân; chống lãnh đạm, vô cảm, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, hành dân. Xây dựng tinh thần thương yêu, đoàn kết, hợp tác với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp; đoàn kết, hợp tác; chống chia rẽ, bè phái, cục bộ, địa phương, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Xây dựng tinh thần cần kiệm, coi trọng chất lượng, hiệu quả công việc; chống thói lười biếng, lãng phí, phô trương, hình thức. Xây dựng tinh thần liêm, chính, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm; chống tham nhũng, dối trá, hối lộ, bê tha, trụy lạc; khắc phục tình trạng nói không đi đôi với làm, chạy theo danh vọng, địa vị, chức quyền, sa vào chủ nghĩa cá nhân vị kỷ mà không chú trọng rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng.

2. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau:

Thực hiện lời Bác dặn về việc chuẩn bị một lực lượng cho sự nghiệp cách mạng, Đảng, Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết, chỉ thị, chính sách về công tác giáo dục, bồi dưỡng thanh niên. Nghị quyết Trung ương 7(khoá X) Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đã nêu rõ mục tiêu: “Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hoá, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, có tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể, trở thành những người công dân tốt của đất nước”.

Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ đảng, đoàn thể và cả xã hội có trách nhiệm chăm lo, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để thanh niên đựoc rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; được học tập, có việc làm, nâng cao thu nhập, có đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh.

3. Nâng cao đời sống của nhân dân:

Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong chỉ đạo, điều hành đất nước, đưa nền kinh tế vượt qua những thời điểm khó khăn, quan tâm toàn diện các mặt đời sống của nhân dân, có những chính sách hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng. Các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về chiến lược phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đang được triển khai mạnh mẽ đòi hỏi sự đồng thuận, tích cực tham gia của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trước tình hình mới để phấn đấu mục tiêu Bác dặn trong Di chúc:“xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

4. Đoàn kết quốc tế:

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển”, chính sách “đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế”, “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng và phát triển các quan hệ quốc tế trong giai đoạn mới, coi đó là những điều kiện hết sức quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nước ta đang chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường, các quan hệ chính trị - kinh tế đan xen, mỗi cấp uỷ, đảng viên và mỗi người dân cần nắm chắc quan điểm của Đảng để tỉnh táo, khôn khéo, nắm được cơ hội tốt trong quan hệ đối ngoại, trong hợp tác để phát triển đất nước, nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, đảm bảo nguyên tắc về an ninh quốc phòng, chủ quyền biên giới quốc gia./.

Ban Tuyên giáo Trung ương

[Về đầu trang]


      UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

       BAN THƯỜNG TRỰC                                      Hà Nội, ngày 27  tháng 7  năm 2009  

         Số: 90 /HD-MTTW-BTT                      

                                                                                                                    
HƯỚNG DẪN
Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của  Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 - 2/9/2009) trong hệ thống Mặt trận các cấp

 

Căn cứ Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 02/7/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 - 2/9/2009);

Căn cứ Hướng dẫn số 78  - HD/BTGTW ngày 13/7/2009  của Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 36 - CT/TW của Ban Bí thư về kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 - 2/9/2009);

Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn  công tác tuyên truyền và tổ chức kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh  như sau:

I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU.

1. Thông qua các hoạt động kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nâng cao nhận thức trong các tầng lớp nhân dân về những giá trị  vĩ đại trong tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh kết tinh trong Di chúc của Người. Khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh, Di chúc thiêng liêng và tấm gương sáng ngời của Người đã dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vượt qua khó khăn thử thách tiến lên giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước.

2. Ca ngợi cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hoá kiệt xuất, anh hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

3. Tạo không khí phấn khởi trong xã hội, cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, chung sức, chung lòng thực hiện các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII .  

4. Các hoạt động kỷ niệm cần được tổ chức trang trọng, phong phú, thiết thực, hiệu quả, tránh lãng phí và gắn với kỷ niệm các ngày lễ lớn trong 2 năm 2009 - 2010.

II - NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC:

1. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (bản công bố năm 1969) theo tinh thần Thông báo 151 - TB/TW, ngày 19-8-1989 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 36 CT/TW, ngày 02 tháng 7 năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị tư tưởng chính trị, lịch sử, văn hoá kết tinh trong Di chúc và kết quả thực hiện Di chúc gắn với việc thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Biểu dương những tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trong Cuộc vận động và thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

3. Tuyên truyền tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam. Tuyên truyền về những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc và thế giới.

4. Tuyên truyền, giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công việc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

5. Tuyên truyền về kết quả Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Trên cơ sở hướng dẫn này, đề  nghị Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu, phối hợp với Ban Chỉ đạo kỷ niệm các ngày lễ lớn của địa phương, Ban Tuyên giáo các tỉnh uỷ, thành uỷ, các tổ chức thành viên xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động kỷ niệm tại địa phương mình theo đúng tinh thần Chỉ thị 36 - CT/TW, ngày 02/7/2009 của Ban Bí thư. Đồng thời có kế hoạch cụ thể triển khai Kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hệ thống Mặt trận các cấp phù hợp với nhiệm vụ chung và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương.

2. Các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trang trọng với nhiều hình thức đa dạng, có trọng tâm, trọng điểm tạo dấu ấn lịch sử và có tính giáo dục trong các tầng lớp nhân dân, phù hợp với địa phương mình như tổ chức mít tinh kỷ niệm, tổ chức hội thảo, toạ đàm, giao lưu, gặp mặt, văn hoá, văn nghệ, thể thao, du lịch...

3. Gắn tuyên truyền với những việc làm thiết thực, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân như tổ chức thăm hỏi, tặng quà, trao nhà đại đoàn kết...

4. Phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, đậm nét về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về Di chúc và  40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

5. Trong quá trình tổ chức thực hiện, thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Tuyên giáo, Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 46 Tràng Thi-Hà Nội; Điện thoại: 04.38257447; 04.39289210; 04.39287401, để tổng hợp báo cáo Ban Thường trực).

IV - MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN:

1. Ra sức thi đua lập thành tích kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/9/1969 - 2/9/2009)!

2. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng một nước Việt Nam, hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh!

3. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện thắng lợi Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"!

4. Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

5. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

6. Chủ tich Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

7. Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hoá kiệt xuất, anh hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam !

8. Nhiệt liệt chào mừng 64 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam !

9. Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tiến tới Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII !

Nơi nhận:                                                                  TM. BAN THƯỜNG TRỰC

- Chủ tịch, PCT kiêm TTK (để b/c);                                                   UỶ VIÊN                                          

- Các Uỷ viên Thường trực UBTƯMTTQVN;

- Ban Tuyên Giáo TW, Ban Dân vận TW;                                       Lê Bá Trình

- Uỷ ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố;

- Các tổ chức thành viên của Mặt trận ở TW;

- Các Ban, đơn vị trực thuộc;

- Lưu VT, BTG.

 

                                                                                        

[Về đầu trang]


  UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                      Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

     BAN THƯỜNG TRỰC                                                        

                                                                            Hà nội, ngày 8 tháng 9 năm 2009

   Số:  4287 /CV-MTTW-BTT

 

    Về việc phối hợp, tạo điều kiện trong

  việc tổ chức Đại hội lần thứ VII MTTQVN 

                                   

                     Kính gửi: - Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy;

                                   - Thường trực Hội đồng nhân dân;

                                   - Ủy ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương.          

                           

Ngày 28/8/2009, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có Công văn số 183 - CV/MTTQ-ĐĐ về việc lãnh đạo, giúp đỡ đoàn đại biểu của các địa phương đi dự Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII được tổ chức tại thủ đô Hà Nội trong các ngày 28, 29 và 30/9/2009.

Cụ thể hóa Công văn nói trên, đồng thời để góp phần làm cho Đại hội thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân theo Chỉ thị 18-CT/TƯ, ngày 22/11/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy; Thường trực Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân  các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp, tạo điều kiện triển khai một số công việc quan trọng như sau:

          - Chỉ đạo đẩy mạnh đợt sinh hoạt chính trị về kết quả của đại hội Mặt trận các cấp ở địa phương và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo Đề cương của Ban Tuyên giáo Trung ương đã gửi về trong tài liệu sinh hoạt chi bộ và sinh hoạt báo cáo viên tháng 9/2009;

- Chỉ đạo việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức treo cờ Tổ quốc, khẩu hiệu chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII tại trụ sở các cơ quan, đơn vị, các trục đường chính, nơi sinh hoạt công cộng và ở các địa bàn dân cư của địa phương trong thời gian trước, trong và sau Đại hội (từ ngày 25/9 đến 05/10/2009). Nội dung các khẩu hiệu như sau:

+ Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII !

+  Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.

   Thành công, thành công, đại thành công !

+ Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh !

+  Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !

+  Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !

          - Tổ chức gặp mặt động viên, giao nhiệm vụ và hỗ trợ về kinh phí, phương tiện cho đoàn đại biểu của địa phương đi dự Đại hội (theo đề xuất của Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh, thành phố).

          Kính mong các đồng chí lãnh đạo các tỉnh, thành phố quan tâm phối hợp, giúp đỡ góp phần quan trọng cho Đại hội thành công tốt đẹp.

          Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.

 

TM.BAN THƯỜNG TRỰC

PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

(Đã ký)

  Vũ Trọng Kim

Nơi nhận:

    - CT Huỳnh Đảm (để báo cáo);

    - Như trên;

    - Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận các tỉnh, thành ủy trực thuộc TƯ;

    - BTT UBMTTQVN các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;

    - Các đồng chí trong BTT UBTƯMTTQVN;

    - Lưu VT, Ban TG.

 

[Về đầu trang]


    UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

     BAN THƯỜNG TRỰC                                                        

    Số 36/TTr-MTTW-BTT                                                         Hà nội, ngày 16 tháng 9 năm 2009

 

THÔNG TRI

Hướng dẫn triển khai cuộc vận động

“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”

 

Thực hiện Thông báo số 264-TB/TƯ, ngày 31/7/2009, kết luận của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàngViệt Nam”, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" như sau:

1. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho Thường vụ cấp ủy cùng cấp ban hành quyết định thành lập Ban chỉ đạo cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" ở tỉnh, thành phố do đồng chí Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  tỉnh, thành phố làm trưởng ban, các thành viên gồm có:

- Đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh, thành phố, Phó trưởng ban thường trực;

- Đồng chí Phó trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh, thành ủy, Phó trưởng ban;

- Đồng chí Phó trưởng Ban Ban Dân vận tỉnh, thành ủy, Phó trưởng ban;

- Đồng chí Chủ tịch: Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh, thành phố, thành viên;

- Đồng chí Giám đốc đài Phánh thanh, truyền hình; Tổng Biên tập Báo của tỉnh, thành phố, thành viên.

- Đại diện lãnh đạo các sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công Thương; Kế hoạch và Đầu tư; Thông tin và Truyền thông; Nội vụ; Tài chính; Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thành viên.

2. Ban Chỉ đạo Cuộc vận động tỉnh, thành phố thành lập Bộ phận Thường trực gồm đại diện Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh, thành phố làm Trưởng Bộ phận, thành viên gồm một số cán bộ lãnh đạo cấp Phòng của các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan để giúp cho Ban Chỉ đạo tổ chức thực hiện, theo dõi và tổng hợp kết quả thực hiện Cuộc vận động ở địa phương mình.

3. Phát động cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" để vận động tất cả cán bộ, nhân dân ở địa phương thay đổi nhận thức và hành vi trong tiêu dùng theo hướng ưu tiên sử dụng các loại hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ do các doanh nghiệp, nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của Việt Nam làm ra, cụ thể:

Mỗi cán bộ và nhân dân ưu tiên dùng hàng Việt Nam khi tiêu dùng cá nhân như một hành động thiết thực thể hiện lòng yêu nước, nét đẹp trong văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, tập thể ... sử dụng hàng hóa nội địa khi mua sắm công. Các doanh nghiệp, người sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ … khi triển khai thực hiện các dự án, công trình … sử dụng các trang thiết bị, nguyên vật liệu và dịch vụ nội địa có chất lượng tương đương hàng ngoại nhập để sản xuất, kinh doanh.

Các doanh nghiệp, nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ ... của Việt Nam ở trên địa bàn cam kết và thực hiện trách nhiệm nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ; thực hiện bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; xây dựng được thương hiệu của địa phương và Quốc gia cho nhiều sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.

Các cơ quan chức năng của chính quyền rà soát việc thực hiện các cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ thị trường người tiêu dùng và sản xuất trong nước không trái với quy định của WTO; khuyến khích và định hướng tiêu dùng hàng Việt Nam trong cán bộ và nhân dân; kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân sử dụng nguồn ngân sách quốc gia; xử lý nghiêm những đơn vị, cá nhân không gương mẫu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu.

Tổ chức điều tra, khảo sát thị trường, điều tra nhu cầu của người tiêu dùng và các hoạt động sản xuất, kinh doanh, phân phối .... để đưa hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam đến tận tay và đáp ứng thị hiếu lành mạnh người tiêu dùng, đặc biệt đối với vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Đổi mới công tác quản lý, chấn chỉnh các hoạt động quản lý thị trường, hải quan, thuế, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩm, chất lượng hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

4. Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện Cuộc vận động trong phạm vi của tỉnh, thành phố; tổ chức sơ kết hằng năm để bổ sung, điều chỉnh nội dung, phương thức thực hiện cho phù hợp với quy định chung và tình hình thực tế ở mỗi địa phương; tiến hành tổng kết Cuộc vận động sau thời gian triển khai từ 3 đến 5 năm một lần.

Việc triển khai thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là hành động thiết thực, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức, chung lòng cùng với Đảng và Nhà nước thực hiện các giải pháp để giữ vững ổn định sản xuất, kinh doanh trong nước, phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện có nhiều khó khăn do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới mang lại. Đề nghị Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố chủ động tham mưu với Thường vụ cấp ủy triển khai các bước của Cuộc vận động để bảo đảm với tiến độ chung. Trong quá trình triển khai nhiệm vụ, thường xuyên thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo kết quả về Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Tuyên giáo của UBTƯMTTQVN, số 46 Tràng Thi, Hà Nội; Điện thọai và Fax: 04.39289210) để kịp thời theo dõi, tổng hợp kết quả chung của Cuộc vận động.

 

 * Nơi nhận :                                                                   TM. BAN THƯỜNG TRỰC

- Ban Bí thư TƯ Đảng (để báo cáo);                           PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

- CT Huỳnh Đảm (để báo cáo);                                                         (Đã ký)    

- Các đ/c UVTT UBTƯMTTQVN;                                                Vũ Trọng Kim

-  Các tổ chức thành viên của MT ở TƯ;                                      

- Ban Thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc TƯ;

- UBMTTQVN các tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;

- Văn phòng, các ban, đơn vị trực thuộc;

- Lưu VT, Ban TG.                        

[Về đầu trang]


    UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                        Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

     BAN THƯỜNG TRỰC                                                        

      Số 01/HD-MTTW-BTT                                                         Hà nội, ngày 01 tháng 10 năm 2009

 

HƯỚNG DẪN

Tổ chức thực hiện Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vận động toàn dân ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra.

        

Nhằm góp phần chia sẻ khó khăn với nhân dân các tỉnh, thành phố bị ảnh hưởng do bão số 9 gây ra, ngày 30/9/2009, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đã ra “Lời kêu gọi toàn dân ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra”.Để thực hiện tốt cuộc vận động này, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trậnTổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên thực hiện các nội dung sau:

I. TỔ CHỨC TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG ỦNG HỘ

1. Tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vận động toàn dân ủng hộ đồng bào các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên bị thiệt hại do bão số 9 gây ra. Tuỳ theo tình hình từng nơi để tổ chức các hình thức phù hợp: Tổ chức phát động hưởng ứng Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các hội nghị...một cách thiết thực và
hiệu quả.

2. Tổ chức vận động các cơ quan, đơn vị, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong và ngoài nước phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần “nhường cơm sẻ áo”,
“tương thân tương ái” bằng nhiều hình thức tự nguyện ủng hộ tiền, hàng giúp đỡ đồng bào bị bão lũ sớm ổn định cuộc sống.

3. Thời gian tiến hành cuộc vận động: Từ ngày 01/10/2009 đến ngày 15/11/2009.

II. CÁCH TIẾN HÀNH

1. Đối với các tỉnh bị ảnh hưởng trực tiếp bão, lũ:

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, thành phố tiến hành một số nội dung sau:

- Phối hợp với chính quyền rà soát, nắm chắc tình hình thiệt hại về người, tài sản và đời sống nhân dân ở từng khu dân cư để chủ động đề xuất với cấp uỷ Đảng có biện pháp khắc phục thiệt hại.

- Tổ chức vận động nhân dân vùng bị bão, lũ chủ động giúp nhau ổn định cuộc sống, trước mắt hỗ trợ về lương thực, thực phẩm, bố trí các gia đình có nhà bị sập, đổ, trôi có chỗ ở, dọn dẹp và làm vệ sinh môi trường...

- Phối hợp với chính quyền tổ chức tiếp nhận và phân bổ kịp thời tiền, hàng ủng hộ của Trung ương, các địa phương và các đơn vị, cá nhân...cho vùng bị bão, lũ
đảm bảo đúng mục đích, đúng đối tượng. Thường xuyên công khai kết quả tiếp nhận, phân bổ tiền, hàng cứu trợ trên các thông tin đại chúng để nhân dân giám sát; hướng dẫn các xã, phường, thị trấn công khai danh sách cá nhân, hộ gia đình nhận tiền, hàng hỗ trợ để nhân dân biết.

2. Đối với các tỉnh không bị bão, lũ:

Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, thành phố chủ động báo cáo cấp uỷ Đảng, phối hợp với chính quyền cùng cấp:

- Chủ trì triển khai, hướng dẫn Mặt trận Tổ quốc cấp dưới thực hiện Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vận động toàn dân ủng hộ đồng bào miền Trung và Tây Nguyên thiệt hại do bị bão, lũ đến từng cơ quan, đơn vị, khu dân cư ở địa phương.

- Tiếp nhận tiền ủng hộ của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trên địa bàn và chuyển về Quỹ Cứu trợ Trung ương do Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam quản lý để kịp thời hỗ trợ các tỉnh, thành phố bị thiệt hại.

3. Các cơ quan, đơn vị Trung ương và các tổ chức thành viên vận động cán bộ, nhân viên ủng hộ tiền và chuyển về Quỹ Cứu trợ Trung ương do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quản lý.

Mọi sự ủng hộ bằng tiền chuyển về:

- Tài khoản tiền Việt Nam:

* Tại Kho Bạc:

Tên tài khoản: Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Số Tài khoản: 934.01.05.00000 Tại Sở giao dịch Kho bạc Nhà nước

* Tại Ngân hàng:

Tên tài khoản: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ban cứu trợ Trung ương

Số tài khoản: 001.1.00.193241.8

Tại Sở giao dịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

- Tài khoản Ngoại tệ:

Tên tài khoản:  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ban cứu trợ Trung ương

Số Tài khoản: 001.1.37.193253.8

Tại Sở giao dịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Mã Ngân hàng: BFTVVNVX 001 (dùng cho các đơn vị chuyển tiền từ
nước ngoài về)

- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có hàng hoá ủng hộ: phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chuyển đến các địa phương bị thiệt hại do bão, lũ.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Cuộc vận động ủng hộ đồng bào các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên bị bão, lũ là nhiệm vụ trọng tâm đột xuất diễn ra từ ngày 01/10/2009 đến ngày 15/11/2009, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên khẩn trương triển khai thực hiện đạt kết quả.

2. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận, triển khai thực hiện cuộc vận động ủng hộ đồng bào bị bão số 9; giao cho Ban Phong trào, Văn phòng, Ban Tuyên giáo và các Ban, đơn vị thuộc cơ quan Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp nhận, tổng hợp, báo cáo, phối hợp tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.

3. Đề nghị các thành viên Ban cứu trợ Trung ương: Bộ Tài chính, Bộ Y tế,
Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam,
Uỷ ban Phòng chống lụt bão Trung ương, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các bộ, ngành liên quan quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai thực hiện tốt cuộc vận động.

4. Đề nghị các cơ quan Thông tin và Truyền thông: Đài Truyền hình Việt  Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam và các báo, đài Trung ương và địa phương phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tuyên truyền thực hiện tốt cuộc vận động.

5. Chế độ báo cáo và tổng kết cuộc vận động:

- Trong thời gian tiến hành cuộc vận động từ 01/10/2009 đến hết ngày 15/11/2009, định kỳ ngày thứ 5 hàng tuần, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố tổng hợp tình hình thiệt hại, kết quả tiếp nhận và phân bổ tiền, hàng cứu trợ ở địa phương về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Kết thúc cuộc vận động, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đánh giá tổng kết cuộc vận động, tuyên truyền, biểu dương những tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực trong cuộc vận động.

- Các tổ chức thành viên: Báo cáo kết quả triển khai và phối hợp vận động đoàn viên, hội viên của tổ chức mình thực hiện Lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thông tin, báo cáo gửi về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam (qua Ban Phong trào), địa chỉ 46 Tràng Thi - Hà Nội.

ĐT: 04.39287.402; 04.38264.368; Fax: 04.39287402;

Email: hongthuong_tc@yahoo.com.

 

TM. BAN THƯỜNG TRỰC

PHÓ CHỦ TỊCH

(đã ký)

Hà Thị Liên

(Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Cứu trợ TW)

[Về đầu trang]


   UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                        Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

     BAN THƯỜNG TRỰC                                                        

      Số 05/KH-MTTW-BTT                                                   Hà nội, ngày 21 tháng 10 năm 2009

 

                                         KẾ HOẠCH

            Triển khai thực hiện đợt thi đua đặc biệt do Đại hội

đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII phát động

 

Ngày 30/9/2009, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII đã phát động đợt thi đua đặc biệt lập thành tích chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam và các ngày lễ lớn của đất nước năm 2010 (gọi tắt là Đợt thi đua đặc biệt), Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng kế hoạch thực hiện đợt thi đua đặc biệt này trong hệ thống Mặt trận, các tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU.

1. Nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về lịch sử hào hùng của dân tộc; về truyền thống 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của Mặt trận và của toàn dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên các tầng lớp nhân dân nêu cao ý chí quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong tình hình và nhiệm vụ mới.

2.  Đợt thi đua đặc biệt được triển khai thực hiện đồng bộ trong hệ thống Mặt trận, các tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân từ Trung ương đến địa bàn dân cư, gắn với kế hoạch tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, là hành động thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào cuộc sống.

Kết quả của đợt thi đua đặc biệt phải được thể hiện bằng các nhiệm vụ, công trình, sản phẩm, phần việc cụ thể, bảo đảm ý nghĩa chính trị, xã hội  và tính thiết thực; trong tổ chức, thực hiện cần có kế hoạch cụ thể, tiến hành sơ, tổng kết để bảo đảm tính kế thừa và liên tục, không làm qua loa, đại khái hoặc chỉ phát động chung chung.

II. NỘI DUNG CỦA ĐỢT THI ĐUA ĐẶC BIỆT.

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến cán bộ và nhân dân về lịch sử hào hùng của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đặc biệt là truyền thống 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; truyền thống vẻ vang của Đảng ta và của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; về kết quả của Đại hội Mặt trận các cấp và Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó, nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ mới của Mặt trận các cấp là Nâng cao vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

2. Học tập, triển khai Nghị quyết của Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc
 Việt Nam gắn với nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là huy động trí tuệ và tâm huyết của các tầng lớp nhân dân vào việc đóng góp, chuẩn bị, tổ chức  Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng.

3. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả việc thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; hưởng ứng cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"... bằng những công trình, những sản phẩm, tác phẩm, những phần việc cụ thể thiết thực, hướng vào thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, của Thủ đô Hà Nội và mỗi địa phương, cơ sở năm 2009 và năm 2010, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, cùng Đảng và Nhà nước vượt qua khó khăn thách thức, ngăn chặn suy giảm kinh tế, phòng ngừa lạm phát; ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo anh sinh xã hội và duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý; đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; huy động các nguồn lực trong xã hội để cùng với chính sách hỗ trợ hộ nghèo của Chính phủ giúp đỡ, xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo, góp phần phấn đấu xây dựng xong 500.000 căn nhà đại đoàn kết thay thế nhà dột nát cho hộ nghèo trong cả nước sớm hơn thời gian dự kiến; thực hiện có hiệu quả việc giúp 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ; hỗ trợ đồng bào bị thiên tai vượt qua khó khăn, ổn định đời sống và sản xuất.

4. Tổ chức các hoạt động “về nguồn” hướng về các ngày lễ lớn của dân tộc như các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống, hội thảo, tọa đàm, thi tìm hiểu các di tích lịch sử của Thăng Long – Hà Nội, của đất nước; lịch sử và truyền thống của Đảng ta, của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; thi đua giữ gìn, tôn tạo, bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa tại Hà Nội và trên các địa bàn dân cư.

Tổ chức lễ kỷ niệm, lễ mít tinh chào mừng Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam và Ngày hội đoàn kết ở khu dân cư (18/11/2009 và 18/11/2010), 50 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 – 20/12/2010) với tinh thần phát huy truyền thống vẻ vang, lịch sử 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm truyền thống vẻ vang của Đảng và của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; triển khai các giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị ở các địa bàn dân cư.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

Đợt thi đua đặc biệt được tiến hành từ quý IV năm 2009 đến 31/12/2010.  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên cùng cấp triển khai thực hiện với kế hoạch thời gian như sau:

1. Từ 01/10/2009 đến 31/12/2010 với chủ điểm: “Đưa Nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII vào cuộc sống”, triển khai những công việc như sau: 

 Tổ chức tổng kết đợt sinh hoạt chính trị, công tác tuyên truyền về Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và đợt thi đua cao điểm chào mừng Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống Mặt trận theo Kế hoạch số 356/KH-MTTW-BTT, ngày 19/02/2009 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tổ chức thực hiện tháng cao điểm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất
Việt Nam và tổ chức tốt Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư năm 2009; xây dựng kế hoạch thực hiện đợt thi đua đặc biệt, trong đó xác định các nhiệm vụ, phần việc, công trình, sản phẩm .... dự kiến thực hiện làm kết quả của đợt thi đua đặc biệt.

* Tài liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền và tổ chức đợt thi đua đặc biệt được in trong Thông tin Công tác Mặt trận số 76, tháng 10/2009 và trang Thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (mattran.org.vn) .

2. Từ quý I/ 2010 đến quý II/2010 với chủ điểm: “Các tầng lớp nhân dân hướng về đại hội Đảng các cấp”:

Tổ chức nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" sau 15 năm thực hiện và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"  sau 10 năm thực hiện gắn với tổ chức, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia quá trình chuẩn bị và tổ chức đại hội Đảng các cấp.

Sơ kết đợt thi đua đặc biệt vào cuối quý II/2010 để rút kinh nghiệm và  đẩy mạnh việc hoàn thành các nhiệm vụ, công trình, sản phẩm, phần việc… với thời gian nhanh nhất và chất lượng cao nhất.

3. Từ quý III/2010 đến 31/12/2010 với chủ điểm: “80 năm Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam với Đảng quang vinh”:

Tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp; thảo luận, đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng.

Tổ chức tổng kết đợt thi đua đặc biệt trong hệ thống Mặt trận và các tổ chức thành viên từ khu dân cư đến Trung ương, trong đó tổng hợp kết quả các công trình, sản phẩm, phần việc, nhiệm vụ … đã đạt được của đợt thi đua đặc biệt ở mỗi cấp, mỗi tổ chức thành viên và cả hệ thống của tổ chức mình, thiết thực chào mừng đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội,  80 năm  ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam và 50 năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 30/11/2010, Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên báo cáo tổng hợp kết quả đợt thi đặc biệt của cấp mình về Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để phục vụ cho nhiệm vụ tổng kết của Trung ương.

Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai thực hiện trong hệ thống tổ chức, địa phương của mình, trong quá trình triển khai công việc, thường xuyên báo cáo về Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua Thường trực Hội đồng thi đua của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Văn phòng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 46 Tràng Thi, Hà Nội) để kịp tổng hợp vào kết quả chung.

 

TM. BAN THƯỜNG TRỰC

PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

(Đã ký)

Vũ Trọng Kim

[Về đầu trang]


     UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                                        Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

       BAN VẬN ĐỘNG                                                        Hà nội, ngày 21 tháng 10 năm 2009

 NGÀY VÌ NGƯỜI NGHÈO TW

      Số 08/KH-MTTW-BTT                                                

 

KẾ HOẠCH

Tổ chức vận động "Tháng cao điểm vì người nghèo" từ 17/10 đến 18/11/2009

hướng tới thực hiện chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2009

 

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2009 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, phát huy kết quả đã đạt được của cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, tiếp tục đẩy mạnh phong trào giúp đỡ người nghèo nhằm tạo thêm nguồn lực để giảm nghèo; thiết thực lập thành tích chào mừng 79 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam và Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, Ban vận động “Ngày vì người nghèo” Trung ương xây dựng kế hoạch tổ chức "Tháng cao điểm vì người nghèo” từ ngày 17/10 đến ngày 18/11/2009 hướng tới thực hiện chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2009 như sau:

I- Mục đích - yêu cầu:

1. Tổ chức "Tháng cao điểm vì người nghèo" và chương trình "Nối vòng tay lớn" năm 2009 nhằm tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết “Tương thân, tương ái” của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, các doanh nghiệp, người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế tham gia hưởng ứng cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; tiếp tục đóng góp ủng hộ "Quỹ vì người nghèo" các cấp để chăm lo cho người nghèo, góp phần xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc.

2. Tạo ra nguồn lực quan trọng góp phần thực hiện thành công Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Quyết định 167/2008/QĐ-TTg  của Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, góp phần vào việc giảm nghèo nhanh và bền vững trong cả nước.  

 II- Nội dung- Biện pháp tổ chức thực hiện:

 1. Ở Trung ương:

1.1. Công tác tuyên truyền:

- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền kết quả cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” trong thời gian qua, chủ trương tổ chức “Tháng cao điểm vì người nghèo" (từ 17/10 đến 18/11/2009) và Chương trình "Nối vòng tay lớn" (31/12/2009). Chỉ đạo các báo, Tạp chí trực thuộc Mặt trận như: Báo Đại đoàn kết, Thông tin công tác Mặt trận, Tạp chí Mặt trận, Website Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng cường tuyên truyền về cuộc vận động, tập trung nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình góp "Quỹ vì người nghèo" các cấp; động viên, biểu dương các địa phương có nhiều thành tích trong việc phấn đấu hoàn thành chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo.

1.2. Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam triển khai kế hoạch tuyên truyền “Tháng cao điểm vì người nghèo và triển khai kế hoạch tổ chức chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2009.

1.3. Phối hợp với Báo Nhân dân, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Quân chủng Hải quân vận động cho chương trình “Đồng hành cùng doanh nghiệp dệt may Việt Nam vì đồng bào biển đảo Tổ quốc” để góp phần hỗ trợ cải thiện đời sống của đồng bào vùng biển đảo và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển đảo.

1.4 Phối hợp vận động các Tập đoàn, các Tổng công ty tham gia giúp đỡ các địa phương nghèo:

- Trên cơ sở các Tập đoàn, Tổng Công ty đã đăng ký và được Chính phủ phân công giúp đỡ các huyện nghèo, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Ban vận động “Ngày vì người nghèo” Trung ương gặp gỡ để đánh giá kết quả hỗ trợ năm 2009, thống nhất kế hoạch giúp đỡ năm 2010 để hạ quyết tâm tại chương trình “Nối vòng tay lớn” 31/12/2009.

- Phối hợp với các Tổng Công ty, các doanh nghiệp còn lại để vận động ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” các cấp, có thể ủng hộ trực tiếp hoặc ủng hộ có địa chỉ cụ thể theo yêu cầu của doanh nghiệp.

1.5. Phối hợp với Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài kêu gọi sự tham gia ủng hộ của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài. Tổng hợp kết quả đăng ký ủng hộ của các tổ chức, cá nhân quốc tế tại chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2008 cho 28 tỉnh, thành phố.

 1.6. Các tổ chức Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

- Từng tổ chức thành viên có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn trong hệ thống tổ chức mình để phối hợp thực hiện “Tháng cao điểm vì người nghèo và vận động cán bộ, đoàn viên, hội viên ủng hộ "Quỹ vì người nghèo” các cấp. Phối hợp với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các cấp và chính quyền để thực hiện chương trình xây dựng nhà Đại đoàn kết, xoá nhà dột nát cho các hộ nghèo là đoàn viên, hội viên của tổ chức mình.

1.7. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Ban vận động “Ngày vì người nghèo” Trung ương, các Ban, đơn vị trực thuộc Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tiến hành vận động “Quỹ vì người nghèo”. Những tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có thể đăng ký ủng hộ trong “Tháng cao điểm vì người nghèo” hoặc đăng ký và ủng hộ trong chương trình “Nối vòng tay lớn” (31/12/2009) (sẽ có kế hoạch riêng).

1.8. Tổ chức buổi lễ phát động “Tháng cao điểm vì người nghèo” (trong khoảng từ ngày 13 đến ngày 17/10/2009), tiếp nhận ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” Trung ương tại cơ quan Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam (số 46, Tràng Thi, Hà Nội).

1.9. Phối hợp tổng kết chương trình xây dựng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam năm 2009, bàn chương trình tham gia giúp đỡ người nghèo của Tập đoàn năm 2010 và mời lãnh đạo Tập đoàn trao Quỹ trong chương trình “Nối vòng tay lớn” năm 2009.

2.  Đối với các địa phương

Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ và Ban vận động "Ngày vì người nghèo" cấp tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch tổ chức "Tháng cao điểm vì người nghèo" và tham gia vận động để góp phần vào thành công của chương trình "Nối vòng tay lớn" 31/12/2009 do Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức;

- Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện công văn số 4146/MTTW-BTT ngày 13/7/2009 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc vận động “Quỹ vì người nghèo” phối hợp thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Quyết định  167/2008/QĐ-TTg của Chính phủ.

- MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đồng loạt triển khai phát động "Tháng cao điểm vì người nghèo" (17/10 đến 18/11/2009) nhằm dấy lên phong trào thi đua rộng rãi thu hút toàn dân tham gia cuộc vận động, tạo thêm Quỹ và nhiều nguồn lực giúp đỡ người nghèo.

- Trong “Tháng cao điểm vì người nghèo”, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ và Ban vận động “Ngày vì người nghèo” các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên báo cáo hàng tuần về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Thường trực Ban vận động "Ngày vì người nghèo" Trung ương để kịp thời tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Những địa phương được hỗ trợ từ "Quỹ vì người nghèo" Trung ương từ nguồn đóng góp của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và các đợt phân bổ Quỹ Trung ương từ đầu năm 2009 cần khẩn trương triển khai xây dựng nhà theo kế hoạch và báo cáo tiến độ về Thường trực Ban vận động “Ngày vì người nghèo” Trung ương để chuẩn bị cho công tác tổng kết năm 2009, triển khai kế hoạch năm 2010.

Trên đây là kế hoạch hoạt động "Tháng cao điểm vì người nghèo" (17/10 đến 18/11/2009) hướng tới thực hiện chương trình "Nối vòng tay lớn" năm 2009, đề nghị Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ, Ban vận động “Ngày vì người nghèo” các tỉnh, thành phố, các tổ chức thành viên Mặt trận triển khai, thực hiện có hiệu quả. Đề nghị các tỉnh, thành phố thường xuyên tự kiểm tra việc thực hiện Quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng “Quỹ vì người nghèo” các cấp, thực hiện tốt Thông tư 77/2007/TT-BTC ngày 05/7/2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công tác kế toán áp dụng cho“Quỹ vì người nghèo” và thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam để tổng hợp (qua Ban phong trào Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, số Fax: 04.38264.368)./.

TM.BAN VẬN ĐỘNG

PHÓ TRƯỞNG BAN VẬN ĐỘNG

Vũ Trọng Kim

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký

Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

[Về đầu trang]


 
 
 
 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !
 

 Đ/c Huỳnh Đảm
 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương 
MTTQ Việt Nam
 

Đ/c Vũ Trọng Kim
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh 

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Mặt trận Dân tộc thống nhất luôn phát huy tốt vai trò tập hợp và đoàn kết sức mạnh toàn dân

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác Mặt trận

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   bến nhà Rồng ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Văn miếu
TP Hà Nội

 

    Dinh Thống nhất

              Mai Châu Hoà Bình


    Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn