Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc phản biện chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng

(Mặt trận) - Trong quá trình hoàn thiện chủ trương, đường lối của cách mạng Việt Nam và thể chế hóa vào các quy định của pháp luật, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị ở nước ta ngày càng được bổ sung, hoàn thiện vai trò, vị trí, nhiệm vụ của mình. Trên lĩnh vực xây dựng chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng, việc thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần làm cho chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân và bảo đảm tính công bằng, nghiêm minh và thiết thực của pháp luật.

Sáng tạo trong xây dựng nông thôn mới

'5 có, 5 không' ở Mộc Châu

Phát huy vai trò cầu nối của nhân dân

Đồng chí Lê Bá Trình phát biểu tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận trong chương trình khảo sát về thực hiện công tác tôn giáo, tháng 3/2017. Ảnh: PV

1. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt từ năm 1990 đến nay, vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng được bổ sung, hoàn thiện cùng với quá trình hoàn thiện về chính sách, pháp luật trong đời sống xã hội.

- Nghị quyết số 24-NQ/TƯ, ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác tôn giáo trong tình hình mới đánh dấu bước tiến quan trọng về đổi mới công tác tôn giáo của Đảng ta. Nghị quyết 24 đã nhận định lại một cách đúng mức và khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, ảnh hưởng tích cực - tiêu cực của đạo đức tôn giáo đối với việc phát triển xã hội Việt Nam... và khẳng định, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài cùng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với xã hội. Từ đó, đặt ra những vấn đề cần bổ sung vào nhận thức và phương pháp luận về công tác tôn giáo trong tình hình mới: Cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Công tác tôn giáo là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị. Phương thức ứng xử với tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng quyền tự do, tình cảm riêng tư của mỗi cá nhân, Nhà nước không can thiệp sâu vào nội bộ các tổ chức tôn giáo nếu tổ chức và hoạt động không gây hậu quả phương hại đến xã hội. Đảng có vai trò trung tâm lãnh đạo công tác tôn giáo. Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nghị quyết 24 nêu rõ: Thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tập hợp, vận động các chức sắc tôn giáo và đồng bào tín đồ đoàn kết thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật, đồng thòi tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận phát động.

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 24, trên cơ sở tổng kết, đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37-CT/TƯ, ngày 2/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Chỉ thị này là bước cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương về tôn giáo và công tác tôn giáo trong Nghị quyết 24, đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với công tác tôn giáo: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội tăng cường công tác vận động tín đồ, chức sắc các tôn giáo hòa nhập cùng cộng đồng trong cuộc sống mới; thực hiện Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; xây dựng củng cố tổ chức của Mặt trận và các đoàn thể; ủng hộ các nhân tố tích cực và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các tôn giáo, thực hiện "Tốt đời, đẹp đạo", góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh ở từng cơ sở, địa phương và cả nước".

Ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ban hành Nghị quyết số 25/NQ-TƯ về công tác tôn giáo, nêu rõ nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: "Tăng cường hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo".

Đến thời điểm này, nhiệm vụ công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vẫn là tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật đến các tôn giáo; tạo điều kiện để các tôn giáo hoạt động; tập hợp, đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc. Vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật nói chung và đối với tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng mới dừng lại ở mức độ "góp ý kiến" hoặc "kiến nghị", chưa rõ vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội.

Đến Đại hội X (nhiệm kỳ 2006 - 2011) của Đảng, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần đầu tiên được nêu rõ trong Nghị quyết của Đại hội: "Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và Nhà nước, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ"1. Tuy nhiên, trong suốt nhiệm kỳ 2006 - 2011 chưa có một văn bản mang tính pháp quy nào quy định rõ cơ chế phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng (nhiệm kỳ 2011 - 2016) tiếp tục nêu rõ nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: "Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động...; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội"2.

Trên cơ sở đó, ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Đại hội XII của Đảng (nhiệm kỳ 2016 - 2021) tiếp tục khẳng định vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: "Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"3.

Như vậy, trong suốt 10 năm (từ 2006 đến 2016) vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày càng được cụ thể hóa trong chủ trương, đường lối của Đảng.

- Đối với chính sách, pháp luật của Nhà nước:

Về mặt chính sách, pháp luật, vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với công tác vận động tôn giáo được xác định tại Điều 7 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo (2004) là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi quyền hạn của mình có trách nhiệm:

a) Tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

b) Phản ánh kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, người có tín ngưỡng, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;

d) Tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Như vậy, cho đến năm 2012 (trước khi Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 2013), pháp luật mới quy định nhiệm vụ giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đồng thời, Mặt trận chỉ "Phản ánh kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền", chưa có quy định cụ thể về nhiệm vụ phản biện xã hội.

Nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới được hiến định tại Điều 9, Hiến pháp 2013: "... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"4.

Để cụ thể hóa nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được nêu trong Hiến pháp năm 2013, tại Khoản 5, Điều 3: Quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 ghi rõ: Thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Đặc biệt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (năm 2015) dành riêng 1 chương (Chương VI), gồm 4 điều (từ Điều 32 đến Điều 36) quy định cụ thể nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam5.

Về một văn bản pháp luật chuyên ngành - Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 nêu rõ tại "Điều 4. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:

1. Tập hợp đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Phản ánh kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.

4. Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ, người theo tín ngưỡng, tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

5. Giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo"6.

Như vậy, về mặt quy định của pháp luật, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới được hiến định từ năm 2013 và được luật hóa thành một nhiệm vụ cụ thể của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 2015. Đặc biệt "phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật" được quy định thành trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 2016.

- Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Trong Chương trình 12 điểm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thông qua tại Đại hội IV (1994), phần liên quan đến tôn giáo nói rõ: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trịnh trọng công bố trước đồng bào cả nước và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài Chương trình Đại đoàn kết Dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước như sau:

"Tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống là nhu cầu thuộc đời sống tinh thần của con người. Tôn trọng và thực hiện đúng quyền tự do tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng tôn giáo; giữ gìn bảo vệ những nơi thờ tự của các tôn giáo, tín ngưỡng theo pháp luật. Chống mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để gây chia rẽ dân tộc, phương hại đến lợi ích của đất nưóc”7.

Từ Đại hội V (1999) đến Đại hội VII (2009), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn khẳng định tôn giáo là một trong những bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chủ trương tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của các tầng lớp nhân dân, ngày càng tập hợp nhiều tổ chức tôn giáo và cá nhân tiêu biểu trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo vào làm thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; kiến nghị với Đảng và Nhà nước thực hiện các chủ trương, chính sách để phát huy vai trò của các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa được thực hiện một cách cụ thể để góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Đến Đại hội lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2014 - 2019), nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (trong đó có giám sát và phản biện xã hội chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo) được xác định rõ là một trong những nhiệm vụ cốt lõi của công tác Mặt trận trong hệ thống chính trị.

Kỳ họp lần thứ 3 Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VIII) đã ban hành Nghị quyết chuyên đề Đổi mới nội dung công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó nêu rõ giải pháp: "Xây dựng chương trình, kế hoạch tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tìm hiểu để nắm chắc tình hình, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các tôn giáo, đồng thời kịp thời thông tin, chuyển tải những chủ trương, chính sách mới về tôn giáo đến chức sắc, tín đồ các tôn giáo, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và tăng cường nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tôn giáo"8.

2. Về mặt thực tiễn: Mặc dù chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn từ 1990 đến năm 2013 về vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội nói chung và phản biện xã hội về chính sách, pháp luật đối với tín ngưỡng, tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói riêng chưa được nêu rõ trong các văn bản chính trị và văn bản pháp luật, nhưng về mặt thực tiễn, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tích cực tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng bằng việc đóng góp ý kiến, kiến nghị.

Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiến hành tổng kết các mối quan hệ tôn giáo ở nước ta trong tình hình mới và đề xuất chủ trương, chính sách về tôn giáo cần sửa đổi, bổ sung trong Cương lĩnh của Đảng năm 2011; đóng góp và đề xuất chính sách về tôn giáo trong Hiến pháp năm 2013. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cử đại diện tham gia Ban soạn thảo và Tổ biên tập xây dựng nhiều chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, như: Sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo; Nghị định số 92/NĐ-CP quy định chi tiết về biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo; Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ; chủ trì, phối hợp xây dựng Đề án Phát huy vai trò của những ngưòi tiêu biểu trong các tôn giáo; phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách với các đối tượng do Mặt trận phụ trách, trong đó có chức sắc, người tiêu biểu trong các tôn giáo...

Tuy nhiên, do mới chỉ dừng lại ở mức độ góp ý kiến hoặc kiến nghị, chưa có cơ chế, quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về tổ chức thực hiện phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nên hiệu quả của việc đóng góp ý kiến, kiến nghị rất thấp. Có tình trạng việc lấy ý kiến, kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ các cơ quan tham mưu, chuẩn bị xây dựng, ban hành chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mang tính hình thức, đối phó theo kiểu đã có tiếng nói đầy đủ của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị (trong đó có Mặt trận) rồi trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, còn việc tiếp thu thế nào không được quan tâm.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, trong năm 2016, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức phản biện xã hội dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo với kế hoạch chi tiết, quy trình chặt chẽ, huy động được trí tuệ và trách nhiệm, tâm huyết của nhiều thành phần xã hội: từ các chuyên gia, nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn về tôn giáo đến các vị chức sắc, tín đồ các tôn giáo. Nội dung phản biện xã hội về dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo được cơ quan soạn thảo tiếp thu tối đa, góp phần quan trọng để Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vào tháng 11/2016.

3. Để thực sự phát huy vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phản biện xã hội về chính sách, pháp luật đối với tôn giáo, tín ngưỡng cần thực hiện tốt các giải pháp sau đây:

- Về mặt nhận thức: Thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là một yêu cầu khách quan, nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của hệ thống chính trị nước ta hiện nay, đặc biệt là trên lĩnh vực xây dựng, ban hành chính sách, luật pháp. Là một quốc gia thực hiện duy nhất chế độ một đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam (đã được hiến định trong Điều 4 Hiến pháp năm 2013), cùng với sự thống nhất về lãnh đạo, tạo nền tảng cho sự ổn định về chính trị thì căn bệnh quan liêu, cửa quyền, duy ý chí của một đảng lãnh đạo duy nhất, không có đảng chính trị đối lập sẽ không tránh khỏi nếu không có cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực chặt chẽ của nhân dân. Vì vậy, trong hệ thống chính trị của nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với chức năng "đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân"9 thực hiện vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội nói chung và phản biện xã hội trong việc xây dựng, thực hiện chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng là yêu cầu tất yếu, khách quan của đời sống chính trị, xã hội; là cơ chế để Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị không bị rơi vào duy ý chí, độc đoán, chuyên quyền, tha hoá, xa dân; bảo đảm quyền dân chủ và lợi ích của nhân dân luôn được thực hiện. Nhận thức này cần phải được thống nhất, đồng bộ trong hệ thống chính trị, trước hết là tổ chức đảng, chính quyền, là điều kiện cơ bản để thực hiện các giải pháp tiếp theo.

- Cụ thể hoá hơn nữa và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói chung cũng như trên lĩnh vực công tác tôn giáo nói riêng.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định về vai trò, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng đến nay vẫn chưa có một văn bản dưới luật nào như nghị định của Chính phủ hoặc nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Quyết định số 217- QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội cũng mới dừng lại ở một văn bản mang tính chủ trương chính trị của Đảng cầm quyền, chưa được cụ thể hoá thành một văn bản pháp luật, vì vậy, trong thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng do chưa có chế tài cụ thể khi ý kiến phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nêu lên không được trả lời, tiếp thu cụ thể của các tổ chức, cơ quan được phản biện. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế pháp lý bằng một Luật Giám sát và Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một giải pháp cụ thể, quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phản biện xã hội của mình về chính sách, pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo.

- Nâng cao năng lực hoạt động giám sát và phản biện xã hội chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp:

Về tổ chức và bộ máy: Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác tôn giáo hiện nay của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chưa được đầu tư tương xứng với nhiệm vụ. Ở cơ quan của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có Ban Tôn giáo làm nhiệm vụ tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra công tác tôn giáo nhưng mới bố trí được 5 biên chế. Ở Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi tỉnh, thành phố có Ban Dân tộc và Tôn giáo, nhưng biên chế không quá 3 người. Công tác tôn giáo của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện và cấp xã được lồng ghép chung vào công tác khác. Do không đủ cán bộ, nên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp không thực hiện việc sắp xếp, bố trí cán bộ làm công tác tôn giáo tương xứng với vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Mặt trận trong công tác tôn giáo; phải chăm lo, đầu tư đúng mức để xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của Mặt trận và các đoàn thể (bao gồm các khâu quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng).

Về con người: Yêu cầu đối với cán bộ Mặt trận làm công tác tôn giáo là phải vừa nắm vững nghiệp vụ của công tác phản biện xã hội, vừa nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về tôn giáo đã ban hành và hiểu biết sâu sắc về giáo luật, giáo lý, năm được tâm tư, tình cảm của chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo mới thực hiện tốt việc tham mưu, tổ chức phản biện xã hội trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về tôn giáo được. Trên thực tế, cán bộ Mặt trận làm công tác tôn giáo hiện nay vừa chưa được đào tạo đúng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng thường xuyên, vừa còn bất cập, bất bình đẳng trong công tác bố trí, thực hiện chính sách so với cán bộ thuộc các cơ quan Đảng, Nhà nước nên chưa động viên, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cán bộ Mặt trận, đoàn thể trong công tác. Do đó, cần đổi mới và tăng cường đầu tư cho lực lượng làm công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và gắn bó lâu dài. Có chính sách, chiến lược trong công tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn, nhất là việc nắm vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo trong từng nhiệm vụ của cách mạng; năng lực tiếp cận, vận động, xử lý những vấn đề tôn giáo và năng lực phục vụ công tác phản biện xã hội chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định cụ thể các chính sách ưu đãi đối với người làm công tác tôn giáo của Mặt trận phù hợp với mặt bằng chung về chính sách để tạo động lực thu hút, hấp dẫn nguồn nhân lực làm công tác tôn giáo, khắc phục tâm lý cán bộ nói chung và cán bộ Mặt trận nói riêng không muốn làm công tác tôn giáo.

- Đầu tư đúng mức cho nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về nâng cao chất lượng, hiệu quả và những tác động của phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Phát huy đúng mức vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng sẽ góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

TS. Lê Bá Trình

Nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H. 2006.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H. 2011.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. CTQG, H. 2016

4. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013.

5. Quốc hội. Luật số: 75/2015/QH13. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 9/6/2015.

6. Quốc hội. Luật số: 02/2016/QH14. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua ngày 18/11/ 2016.

7. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hà Nội.

8. Kết luận số: 02/KL-ĐCT, ngày 29/12/2015 của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “Về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tôn giáo”.

9. Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013.

Đồng chí Trần Thanh Mẫn Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập

Danh sách các mặt trận toàn quốc:

UBMTTQ tỉnh Hà Giang UBMTTQ tỉnh Tuyên Quang UBMTTQ tỉnh Cao Bằng UBMTTQ tỉnh Bắc Kạn UBMTTQ tỉnh Thái Nguyên UBMTTQ tỉnh Lạng Sơn UBMTTQ tỉnh Bắc Giang UBMTTQ tỉnh Bắc Ninh UBMTTQ tỉnh Hải Dương UBMTTQ thành phố Hải Phòng UBMTTQ tỉnh Hưng Yên UBMTTQ tỉnh Nam Định UBMTTQ tỉnh Thái Bình UBMTTQ tỉnh Vĩnh Phúc UBMTTQ tỉnh Ninh Bình UBMTTQ tỉnh Thanh Hóa UBMTTQ tỉnh Nghệ An UBMTTQ tỉnh Hà Tĩnh UBMTTQ tỉnh Quảng Bình UBMTTQ tỉnh Thừa Thiên - Huế UBMTTQ thành phố Đà Nẵng UBMTTQ tỉnh Quảng Nam UBMTTQ tỉnh Quảng Ngãi UBMTTQ tỉnh Bình Định UBMTTQ tỉnh Phú Yên UBMTTQ tỉnh Khánh Hòa UBMTTQ tỉnh Bình Thuận UBMTTQ tỉnh Kon Tum UBMTTQ tỉnh Gia Lai UBMTTQ tỉnh Đắk Lắk UBMTTQ tỉnh Đắk Nông UBMTTQ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu UBMTTQ tỉnh Bình Dương UBMTTQ tỉnh Bình Phước UBMTTQ tỉnh Tây Ninh UBMTTQ tỉnh An Giang UBMTTQ tỉnh Cà Mau UBMTTQ tỉnh Sóc Trăng UBMTTQ tỉnh Tiền Giang UBMTTQ tỉnh Kiên Giang UBMTTQ tỉnh Đồng Tháp UBMTTQ thành phố Cần Thơ UBMTTQ tỉnh Trà Vinh UBMTTQ tỉnh Vĩnh Long UBMTTQ tỉnh Điện Biên UBMTTQ tỉnh Lai Châu UBMTTQ tỉnh Lào Cai UBMTTQ tỉnh Sơn La UBMTTQ tỉnh Yên Bái UBMTTQ tỉnh Phú Thọ UBMTTQ tỉnh Đồng Nai UBMTTQ thành phố Hà Nội UBMTTQ thành phố Hồ Chí Minh UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng UBMTTQ tỉnh Hà Nam UBMTTQ tỉnh Ninh Thuận UBMTTQ tỉnh Quảng Ninh UBMTTQ tỉnh Quảng Trị
Tìm kiếm văn bản