Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 

 



   


             
 


THẤY GÌ QUA VỤ CƯỠNG CHẾ
TẠI VĂN GIANG - HƯNG YÊN

                                                                                              NGUYỄN LANG*

        Cũng như vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng, vụ cưỡng chế tại Văn Giang tiếp tục vi phạm điều 40 của Luật Đất đai 2003 nhưng lại lộ ra là một hoạt động có tổ chức, với quy mô lớn hơn, có bài bản hơn, hình thành một dây chuyền bảo kê rộng để có thể thực hiện cưỡng chế với sự chống đối thấp hơn của dư luận xã hội. Thực trạng đó phản ánh quy mô và tác động rộng lớn của “nhóm lợi ích”, đồng thời phản ánh một thực tiễn phổ biến trên thế giới là “có sự móc nối giữa lực lượng maphia của thế giới ngầm với một số cán bộ có thế lực của hệ thống chính quyền”. Tuy nhiên trong việc này, có một kẽ hở nhưng không rõ nhóm lợi ích đã bịt chưa? Đó là tại khoản 1, điều 40 của Luật Đất đai 2003 có ghi là “thực hiện thu hồi đất khi có... dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ”. Do đó phải rà soát lại là Chính phủ đã ban hành quy định nào chưa và theo đó, có thể liệt Ecopark vào danh mục dự án đầu tư lớn không? Nếu không có văn bản quy định theo chiều hướng này thì việc tỉnh Hưng Yên cưỡng chế thu hồi đất để giao cho Vihajico là hoàn toàn sai với điều 40 của Luật Đất đai 2003.

1. Đã có hoạt động hạn chế, vô hiệu hóa vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, thông qua hoạt động hạn chế vai trò của các phóng viên. Trong lĩnh vực này, có dấu hiệu cho thấy đấy là một hoạt động có tổ chức, có khả năng chi phối rộng rãi nên không thể coi thường. Cụ thể là:

- Tại vụ Tiên Lãng, TP Hải Phòng mới khống chế được hoạt động tuyên giáo, báo chí, truyền thông trực thuộc TP, sử dụng lực lượng tại chỗ, bao gồm cả lực lượng xã hội đen, để khống chế, hạn chế hoạt động của phóng viên. Thế nhưng đến vụ Văn Giang thì vừa có sự hạn chế các phương tiện thông tin đưa tin, vừa có việc lực lượng cưỡng chế hành hung, bắt giữ phóng viên, tức là sự khống chế phát triển lên mức cao hơn.

- Việc khống chế hoạt động của phóng viên còn thể hiện trong vụ cản trở phóng viên đến thu thập thông tin tại địa điểm biệt thự giá khủng của con trai Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương. Nói chung, không thể coi nhẹ hoạt động của “nhóm lợi ích BĐS nói riêng và nhóm lợi ích nói chung” trên lĩnh vực khống chế các phương tiện truyền thông.

- Đặc biệt là với vụ án trang trại Phường Đồng Tâm, TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) núp danh lập trang trại để biến đất trang trại thành nền biệt thự để kinh doanh. Sau gần 1 năm điều tra, ngày 14-10-2011, công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có kết luận và đến 12-2011 đã ra lệnh truy nã Nguyễn Anh Quân là chủ mưu, nhưng y đã kịp trốn ra nước ngoài. Nhiều báo, trang mạng điện tử đã kịp thời phản ánh và cung cấp thông tin về vụ này và, qua đó, phát hiện những khuất tất trong quá trình điều tra, kết luận và khởi tố. Trong hoàn cảnh đó, một số người có hành vi tiêu cực liên quan đến quá trình này đã phản công lại bằng cách gửi đơn tố cáo và khởi kiện báo điện tử tamnhin.net lên nhiều cơ quan và lãnh đạo Nhà nước, trong đó có gửi lên cả Chủ tịch nước. Đồng thời Tổng biên tập và phóng viên báo điện tử tamnhin.net bị đe dọa qua mạng. Qua đó có thể thấy lực lượng khống chế phóng viên đã phát triển lên trình độ có thể sử dụng hệ thống mạng chứ không còn ở những người có trình độ thấp như tại vụ Tiên Lãng, Văn Giang. Mặt khác, đã có cả Công an đến trụ sở của tamnhin.net để theo dõi tình hình dân đến tố cáo.

2. Qua các sự kiện chủ yếu như đã nêu ở trên, có thể sơ bộ kết luận là từ sau vụ cưỡng chế trái pháp luật tại Tiên Lãng, các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS đã có phản ứng thúc đẩy cưỡng chế tại nhiều nơi. Do thấy các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận không có phản ứng mạnh mẽ như đối với vụ Tiên Lãng, qua vụ cưỡng chế tại Văn Giang và qua việc các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh những khuất tất trong vụ xét xử vụ án trang trại phường Đồng Tâm, các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS đã phản công, trước mắt là chĩa mũi nhọn vào giới phóng viên, báo chí để hạn chế thông tin đến với dư luận xã hội, để chúng dễ bề hành động. Do đó, quá trình đấu tranh trên lĩnh vực này phải là cuộc đấu tranh có tổ chức, có sự chỉ đạo khách quan của cơ quan có trách nhiệm thì mới có khả năng đối phó thành công trước sự phản công của các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS.

Để góp phần làm rõ thêm vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang, xin được cung cấp thêm một số vấn đề chủ yếu sau đây.

I. Quá trình từ dự án Ecopark đến cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang

1. Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) được thành lập vào ngày 19-8-2003 và đến khi dự án Ecopark được Chính phủ phê duyệt có một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Dự án Ecopark sử dụng 500 ha, vốn đầu tư 3.989 tỷ nên là dự án thuộc nhóm A, phải do Chính phủ phê duyệt. Do đó UBND tỉnh Hưng Yên có trình xin sự phê duyệt của Chính phủ.

- Vì là dự án đổi đất lấy công trình nên thủ tục xem xét phải theo Quyết định 22/2003/QĐ-BCT. Thực hiện chức năng thẩm định, Bộ KH&ĐT có công văn số 3796/BKH/TĐ&GSĐT (ngày 18-6-2004) trong đó xác định “phương án đền bù giải phóng mặt bằng dự án chưa đảm bảo tính khả thi; hồ sơ pháp lý của chủ đầu tư, khả năng tài chính cho việc thực hiện dự án… chưa đủ, vi phạm Thông tư 04/2003/TT-BKH của Bộ hướng dẫn thẩm định dự án đầu tư”.

- Ngày 28-6-2004, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên vẫn lập tờ trình 704/TT-UB gửi lên Thủ tướng xin cho thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư là Công ty đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng.

- Ngày 30-6-2004, Chính phủ có Quyết định 742/QĐ-TTg cho phép thu hồi đất (tức 1 ngày trước khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực).

2. Dự án Ecopark đã được sự ủng hộ của một số tổ chức trong và ngoài nước sau đây:

- Năm 2012, dự án Ecopark đã được trao giải thưởng Bất động sản châu Á-TBD tại Malaysia.

- Công ty bất động sản Sevills (chuyên kinh doanh văn phòng, nhà ở thuộc loại lớn nhất nước Anh) đã tham gia giai đoạn I của Ecopark và, vào năm 2009, đã ký thỏa thuận với Vihajico để được độc quyền bán nhà tại Ecopark. Theo thông cáo báo chí của Sevillis thì Sevills đã nghiên cứu thị trường VN từ 1995, có đặt trụ sở tại HN và TP. HCM và đã tuyển đến hơn 800 nhân viên.

- Bristish University Việt Nam (thuộc London Univercity) vào tháng 11-2011 đã ký hợp đồng với Vihajico để xây dựng trường Đại học Anh quốc tại Ecopark.

- Cũng trong năm 2012, Ecopark còn được Hội Kiến trúc sư VN trao giải thưởng kiến trúc xanh.

- Dự án Ecopark cũng tranh thủ được sự đồng tình của Bộ Công an nên Bộ đã cử lực lượng trực thuộc Bộ tham gia vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang.

3. Sau khi xảy ra vụ cưỡng chế tại Văn Giang, GS Phạm Quang Tuấn, công tác tại Úc, đã cùng 27 người khác ký tên vào một bức thư gửi lãnh đạo Đại học London (London University) đề nghị tác động đến lãnh đạo Bristish University Việt Nam (thuộc London University) và lãnh đạo Công ty Sevills, là hai tổ chức có liên quan đến dự án Ecopark, để họ gây áp lực với chủ đầu tư Vihajico phải xin lỗi người dân và thực hiện đền bù thỏa đáng hơn. Viện phó Đại học London đã có thư trả lời GS Phạm Quang Tuất, cho biết sẽ nghiên cứu thêm về vấn đề này và thông báo là Bristish University Việt Nam chưa phải là thành viên của Đại học London, vì họ chỉ mới đang ký xin gia nhập Đại học London (BBC Tiếng Việt, ngày 13-5-2012).

4. Ông Bùi Huy Thành, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên, trả lời phóng viên báo Tuổi trẻ, dự án khu đô thị - thương mại - du lịch Văn Giang (Ecopark) là một dự án đổi đất lấy công trình. Theo đó công trình mà tỉnh cần là tuyến đường từ chân cầu Thanh Trì nối thành phố Hưng Yên, dài khoảng 22 km, trong đó có 5,3 km đi qua khu đô thị Ecopark. Để có được công trình đó, tỉnh chấp nhận đổi 500 ha đất cho Vihajico để xây dựng khu đô thị Ecopark. Do chủ đầu tư đã thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc huyện Văn Giang nên Tỉnh phải có trách nhiệm giao đủ đất thuộc dự án cho chủ đầu tư, do đó đã thực hiện việc cưỡng chế như đã triển khai.

5. Lực lưỡng cưỡng chế có quy mô lớn, có thể nói là chưa từng có. Tuy nhiên, thông tin đưa ra có những sai số, cụ thể: (1) về số lượng lực lượng cưỡng chế có tin là chỉ có 1.000 nhưng cũng có tin đưa ra con số 3.000 người. (2) lực lượng cưỡng chế chỉ sử dung 2 quả lựu đạn hơi cay để giải tán khoảng 300 người chống cưỡng chế. Nhưng lại có tin đưa ra là lực lượng cưỡng chế nổ súng, bắn hơi cay mù mịt, có đánh đập người chống cưỡng chế. (3) có tin 2 cảnh sát bị xây sát nhẹ vì trúng đá của người chống cưỡng chế ném nên đã phải đưa đi cấp cứu tại bệnh viện huyện. Ngoài ra còn khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” để tạm giữ hơn 20 người dân.

- Đại bộ phận những người bị cưỡng chế thu hồi đất là người dùng đất đó để sản xuất kinh doanh cây cảnh nên thu nhập cao, mức đền bù tuy đã được chủ đầu tư nâng lên nhưng không đủ bù đắp thiệt hại (Nhân dân, 24-4-2012, trong bài “Làm gì để bảo vệ 3,81 triệu ha đất trồng lúa” có đưa tin là trong năm 2009, thu nhập bình quân tính theo GDP/ha của đất trồng lúa là 9,1 triệu đồng trong khi đất kinh doanh phi nông nghiệp là 2,1 tỷ đồng, tức cao gấp 230 lần đất trồng lúa. Thông tin này cho thấy việc nông dân trồng cây cảnh không chấp nhận giá đền bù của chủ đầu tư là có căn cứ thực tế).

6. Trong quá trình thực hiện cưỡng chế, có hai phóng viên VOV của đài TNVN là Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long, được cử đi tìm hiều tình hình cưỡng chế tại Văn Giang vào ngày 24-4-2012 bị CA đánh và bắt đưa về Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Văn Giang.

Ngày 9-5-2012, Hội Luật gia VN chính thức có công văn đề nghị Bộ CA, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Hưng Yên làm rõ vụ nhà báo, luật gia Nguyễn Ngọc Năm bị hành hung khi đang tác nghiệp tại Văn Giang.

Ngày 9-5-2012, Ủy ban bảo vệ nhà báo, tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại New York đã lên án vụ hành hung 2 nhà báo tại Văn Giang.

Đài TNVN đã có công văn ngày 9-5-2012, gửi Ban Tuyên giáo TƯ, Bộ Thông tin truyền thông, Hội Nhà báo VN và UBND tỉnh Hưng Yên yêu cầu làm rõ vấn đề. Chiều ngày 10-5-2012, thiếu tướng Trần Huy Ngạn, Giám đốc CA Hưng Yên đã đến đài TNVN làm việc với lãnh đạo Đài. Cùng tham dự có đại diện A87 (Bộ CA), VP đài TNVN, lãnh đạo Trung tâm tin Đài TNVN và 2 nhà báo. Theo ông Ngạn thì việc xảy ra ngoài ý muốn của tỉnh. Tham gia cưỡng chế có CA của xã, huyện, tỉnh và một số CA của Bộ và dân phòng. Lãnh đạo đài TNVN khẳng định là Đài cử 2 phóng viên đi tác nghiệp tại đây và hoạt động theo đúng pháp luật. Do đó, yêu cầu CA Hưng Yên nhanh chóng điều tra, xử lý nghiêm những người hành hung, bắt giữ 2 phóng viên của Đài. Theo tin chính thức thì VOV đã nhận được giấy mời của CA Hưng Yên, đến ngày 16-5-2012 làm việc với tỉnh (gồm cả VP UBND tỉnh) để làm rõ vụ việc. Đến nay, kết quả chưa được công bố.

Liên chi hội nhà báo VOV có kiến nghị với Hội Nhà báo VN, thông tin về vụ này và đề nghị có ý kiến. Ông Hà Minh Huệ, PCT Hội Nhà báo VN cho biết, vì mới nhận được thông tin một chiều nên chưa có thể nói quan điểm của mình (!), cần có thêm thông tin của phía tỉnh.

Theo Chánh văn phòng UBND Bùi Huy Thành, tỉnh Hưng Yên đòi hỏi phải có bản gốc của video clip, chứng thực thương tích,… thì mới có thể có căn cứ kết luận. Yêu cầu phải có chứng cứ cụ thể là đúng, nhưng chỉ hạn chế vào những chứng cứ đó mà không đề cập đến những nhân chứng, vật chứng khác và bảo đảm cho các nhân chứng không bị chính quyền làm khó dễ,... qua đó đã thể hiện việc muốn áp đặt quan điểm của chính quyền. Clip các lực lượng cưỡng chế đánh người là rõ và có thể xác định những người thuộc lực lượng bảo vệ đánh người là ai, từ đó, làm rõ những chứng cứ cụ thể. Dù người bị đánh không phải là nhà báo thì đấy cũng là hành vi phạm pháp. Đánh nhà báo cũng là hành vi phạm pháp.

7. Hội nghị trực tuyến về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo do Thủ tướng chủ trì ngày 2-5, có mặt lãnh đạo của 63 tỉnh, thành, bộ, ngành. Theo yêu cầu của Phó Thủ tướng Nguyễn xuân Phúc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Nguyến Khắc Hào báo cáo việc cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang là theo đúng Luật Đất đai. Sau 8 năm từ khi có quyết định thu hồi đất, tỉnh vẫn chưa hoàn thành việc giao đất cho chủ đầu tư do dân khiếu kiện liên tục… do đó, tỉnh phải thực hiện việc cưỡng chế. Ông cho là trong vụ việc này, có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước, dựng video clip giả về việc lực lưỡng cưỡng chế đàn áp dân. Các phương tiện thông tin đại chúng nói ít trong khi “phía bên kia” phản ứng nhanh, đưa tin liên tục.

Trước ngày cưỡng chế, dân đã dựng lều, tụ tập để chống đối và CVP UBND tỉnh Bùi HuyThành đã yêu cầu các phóng viên không được có mặt tại nơi cưỡng chế để “đảm bảo an toàn tuyệt đối”

II. Một số nhận xét về quá trình trên

1. Cho tới nay, chỉ mới có báo Người cao tuổi, ngày 24-4-2012 lên tiếng xác định cưỡng chế tại Văn Giang là sai Luật Đất đai.

- Theo Luật Đất đai 2003, điều 40, khoản 1 về thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, thì dự án Ecopark không thuộc phạm vi thu hồi đất để phát triển kinh tế mà là dự án sản xuất kinh doanh nên thuộc phạm vi điều chỉnh của khoản 2 “Đối với dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”. Do đó quyết định cưỡng chế thu hồi đất của tỉnh là trái Luật Đất đai 2003. Đặc biệt lưu ý là lãnh đạo tỉnh Hưng Yên cũng làm theo TP. Hải phòng trong vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng là vận dụng Luật Đất đai 1993 để biện minh cho việc cưỡng chế thu hồi đất. Theo điều 145 của Luật Đất đai 2003 thì Luật Đất đai 2003 thay thế Luật Đất đai 1993 và Luật bổ sung một số điều được ban hành vào các năm 1998 và 2001. Vì thế nên lãnh đạo tỉnh Hưng Yên không thể dựa vào các điều khoản của Luật Đất đai trước đó để biện minh cho quyết định của mình là đúng luật, coi dự án Ecopark thuộc diện đề án có thể thi hành cưỡng chế theo điều 40, khoản 1 của Luật Đất đai.

- Dự án Ecopark là dự án đổi đất lấy công trình. Chủ đầu tư là Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) chứ không phải chủ đầu tư là UBND tỉnh Hưng Yên. Do đó, đây là dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Theo điều 40, khoản 2 của Luật Đất đai thì nhà đầu tư phải tiến hành thương thảo với người đang sử dụng đất và chính quyền chỉ có thể đứng làm trung gian chứ không có quyền thu hồi đất cho nhà đầu tư.

2. Về nội dung của dự án Ecopark, tổng diện tích đất giao cho dự án Ecopark là 500 ha và được sử dụng như sau:

- 33,85% diện tích dùng để xây nhà ở.

- 22,28% diện tích được dùng phục vụ thương mại.

- 21,86% diện tích dùng để trồng cây xanh và mặt nước (phục vụ du lịch sinh thái).

- 17,13% diện tích phục vụ giao thông.

- 4,88% diện tích phục vụ quản lý công cộng của Ecopark.

Với cơ cấu sử dụng đất như vậy, dự án Ecopark thực chất là dự án sản xuất kinh doanh (đầu tư xây dựng khu đô thị - thương mại - du lịch), thuộc phạm vi điều chỉnh của điều 40, khoản 2 của Luật Đất đai 2003. Toàn bộ vốn đầu tư là thuộc Vihajico chứ không thuộc vốn từ ngân sách của UBND tỉnh Hương Yên. Nếu Vihajico chấp nhận đầu tư xây dựng đường giao thông từ Hà Nội về Hưng Yên để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của tỉnh, theo tinh thần đổi đất lấy công trình, thì so với tổng mức đầu tư mà Vihajico bỏ ra, kinh phí đầu tư đó không lớn. Mặt khác, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đó còn có tác động đến khía cạnh tạo điều kiện thuận lợi để khai thác Ecopark, vì nếu không có giao thông thuận lợi đưa khách đến Ecopark thì Ecopark sẽ không có đầu ra, và do đó, không thể đảm bảo hiệu quả mong đợi. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nằm trong quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông của tỉnh và về cơ bản, vốn đầu tư thuộc về ngân sách. Trong trường hợp này thì UBND tỉnh có thể sử dụng phương thức cho Vihajico thuê một diện tích nào đó trong quỹ đất mầu mỡ của nông dân, qua đó thu về số tiền cần thiết để đầu tư xây dựng tuyến đường từ cầu Thanh Trì đến TP. Hưng Yên.

Từ đó, có thể nói là UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang vừa sai Luật Đất đai 2003, vừa phục vụ cho lợi ích của chủ đầu tư là chủ yếu chứ không phải phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (và phục vụ đời sống nhân dân Văn Giang) là chủ yếu, vì công trình được dùng để cho Vihajico đổi lấy đất, về thực chất, còn để đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án Ecopark. Do đó, đã buộc nông dân phải chấp nhận giá đền bù quá thấp do Vihajico đưa ra, so với phần lợi nhuận mà Vihajico thu được từ dự án. Để đánh giá đúng mức hơn vụ cưỡng chế tại Văn Giang của UBND tỉnh Hưng Yên, cần so sánh với vụ thỏa thuận thu hồi đất tại ngã ba Tràng Tiền - Hai Bà Trưng tại Hà Nội. Sự việc như sau:

- Công ty cổ phần Thời đại mới T&T là chủ đầu tư của dự án thành lập Trung tâm Thương mại - Văn phòng cho thuê trên mảnh đất này.

- Công ty phải thương lượng với người đang sử dụng căn nhà đó để xác định giá đền bù. Suốt thời gian dài hai bên không thỏa thuận được vì không thống nhất được giá đền bù nên không thực hiện được việc giải tỏa địa bàn để Công ty thực hiện đề án đầu tư của mình.

- Trong trường hợp đó, lãnh đạo TP. Hà Nội phải vào cuộc và cuối cùng hai bên đã thống nhất được giá đền bù là 500 triệu đồng/m2. Đây là giá cao kỷ lục, vượt xa khung giá của TP đã ban hành. Như vậy không có chuyện UBND TP Hà Nội cưỡng chế người dân phải nhận mức đền bù do Công ty đưa ra và cũng không cưỡng chế thu hồi đất, tức đã thực hiện đúng điều 40, khoản 2 của Luật Đất đai.

Trong khi đó thì tại Văn Giang, tuy UBND tỉnh Hưng Yên có tham gia vào quá trình thương thảo giá đền bù giữa hai bên nhưng người dân vẫn không chấp nhận giá do chủ đầu tư và UBND tỉnh thống nhất đưa ra, vì quá thấp so với nguồn lợi mà người dân thu được từ sản xuất kinh doanh cây cảnh. Tiếp đó, UBND tỉnh Hưng Yên đã không làm theo đúng luật nên đã thực hiện cưỡng chế người dân trên hai bình diện chủ yếu: (1) Buộc người dân phải chấp nhận giá đền bù được chủ đầu tư và UBND đơn phương thống nhất. Qua đó, UBND đã đứng ra bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư, không tôn trọng quyền lợi của người dân. (2) Thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư, vi phạm điều 40, khoản 2 của Luật Đất đai.

Phải chăng từ đó, có thể kết luận là UBND tỉnh Hưng Yên vừa làm sai luật, vừa đứng về phía bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư, coi thường quyến lợi hợp pháp của người dân, không thể hiện đúng nhiệm vụ là đại diện của nhân dân, phục vụ nhân dân.

3. Qua vụ hành hung, bắt giữ 2 nhà báo, lộ ra thông tin là có cả lực lượng của Bộ CA tham gia vào cưỡng chế. Thực tế đó cho thấy việc cưỡng chế đã được sự đồng tình của cơ quan cấp TƯ, ít nhất là của Bộ CA. Trước đây, trong trường hợp vụ Tiên Lãng, trung tướng Phạm Quý Ngọ, thứ trưởng Bộ CA được cử tham gia vào vụ xét xử cưỡng chế tại Tiên Lãng, sau một đêm xem xét lại hồ sơ, đã tự điều chỉnh nhận thức, công nhận là cưỡng chế sai Luật để báo cáo với Thủ tướng. Đối với trường hợp cưỡng chế tại Văn Giang, lãnh đạo Bộ CA có xem xét sự kiện một các nghiêm túc như trung tướng Phạm Quý Ngọ trước khi có quyết định ủng hộ tỉnh Hưng Yên trong cưỡng chế tại Văn Giang không?

- Quy mô của vụ cưỡng chế tại Văn Giang lớn gấp nhiều lần (có thể cả trăm lần) so với quy mô cưỡng chế tại Tiên Lãng. Thế nhưng dư luận xã hội và các phương tiện thông tin báo chí có thái độ ứng xử khác biệt. Tại vụ Tiên Lãng, các phương tiện truyền thông và tuyên giáo của thành phố và huyện đều ủng hộ việc cưỡng chế thu hồi đất nhưng dư luận xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng đều lên tiếng phản đối một cách mạnh mẽ và rộng rãi. Tại vụ Văn Giang, dường như dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng không có phản ứng gì rõ rệt và mạnh mẽ như vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng. Tại sao có sự khác biệt đó? Phải chăng là từ sau vụ Tiên Lãng đã có những vụ cưỡng chế Bắc Giang, Vụ Bản nhưng dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng hầu như không lên tiếng nên đã tạo cơ hội để thực hiện tiếp vụ Văn Giang với quy mô lớn hơn?

- Về việc Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên đánh giá là có sự móc nối giữa các thế lực chống đối trong và ngoài nước để gây ảnh hưởng xấu đối với chính quyền, thì cần lưu ý là tuy không có lệnh cấm phóng viên đến tác nghiệp nhưng CVP UBND tỉnh, Ông Bùi Huy Thành “đã yêu cầu các phóng viên không được có mặt tại đây với lý do đảm bảo an toàn cho phóng viên”. Thực tế cho thấy sự uy hiếp an toàn của phóng viên lại từ lực lượng cưỡng chế, trong khi người dân chống cưỡng chế lại bảo vệ phóng viên.

Nhìn chung, không thấy có bằng chứng nào thể hiện vai trò của các thế lực chống đối trong và ngoài nước tổ chức chống cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang, tuy nhiên các thế lực đó có thể lợi dụng vụ cưỡng chế này để xuyên tạc thêm. Trong thực tế, chỉ mới có tác động từ bên ngoài là trí thức Việt kiều đấu tranh đòi hỏi các đối tác nước ngoài của Vihajico phải tác động trở lại với Vihajico, chứ không phải kích động người dân đứng lên chống việc cưỡng che. Ngược lại, Vihajico đã tranh thủ (lobby) được ba tổ chức nước ngoài như đã nêu ở trên. Ngoài ra Vihajico còn tranh thủ được sự ủng hộ trong nước từ Hội Kiến trúc sư VN và sự đồng tình của Bộ Công an. Phải chăng Công ty Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) đã có hoạt động lobby trong và ngoài nước để ủng hộ đề án Ecopark. Hoạt động lobby này có dừng lại ở các đối tượng trên không? Phải chăng việc tranh thủ đó đã củng cố thêm quyết tâm của UBND tỉnh Hưng Yên để triển khai việc cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang?

* GS, Ủy viên Hội đồng tư vấn Kinh tế, Trung ương Mặt trận.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



MẶT TRẬN TỔ QUỐC CÁC CẤP Ở HÀ TĨNH
VỚI VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

                                                                                                        BÙI NHÂN SÂM*
                                                                                                        LÊ THANH NGHỊ**

      Hà Tĩnh là tỉnh thuần nông nằm ở khu vực Bắc Trung bộ, với diện tích đất tự nhiên 599.800 ha, đất nông nghiệp 484.491 ha chiếm 80,4%. Dân số 1.280 nghìn người, trong đó sống ở nông thôn chiếm 85%, lao động nông nghiệp 435.000 người chiếm 62% tổng số lao động; có 12 huyện, thành phố, thị xã với 262 xã, phường, thị trấn, trong đó có 235 xã vùng nông thôn; thu nhập bình quân năm 2011 đạt 12,7 triệu đồng/người, tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2011 là 17,44%, hộ cận nghèo 16,21%. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, Hà Tĩnh đặt ra mục tiêu phấn đấu năm 2012 có 3 xã hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới; 2015 có trên 20% số xã đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới, các xã còn lại đạt từ 7 tiêu chí trở lên; năm 2020 có ít nhất 50% số xã hoàn thành 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Ngay từ khi Thủ tướng Chính phủ quyết định ban hành bộ tiêu chí quốc gia xây dựng Nông thôn mới và phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, hưởng ứng lời kêu gọi của Uỷ ban TW MTTQ Việt Nam về kêu gọi toàn dân chung sức xây dựng Nông thôn mới, các Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch của Đảng bộ, UBND tỉnh về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh đã chủ động phối hợp với các Ban xây dựng Đảng, các sở, ban, ngành và các tổ chức thành viên của MTTQ thành lập Ban vận động cuộc vận động “Toàn dân chung sức xây dựng Nông thôn mới” tỉnh Hà Tĩnh, theo Quyết định số 48-QĐ/MT, ngày 13-6-2011 của Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh, gồm 22 thành viên do đồng chí Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh làm Trưởng ban, đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT- Chánh văn phòng Ban Điều phối xây dựng NTM tỉnh làm Phó Ban. Đồng chí Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh tham gia làm Phó Ban Chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới của tỉnh, là một nét mới so với các tỉnh trên toàn quốc.

Sau khi thành lập Ban vận động, Tổ giúp việc và Tổ công tác chuyên trách (mỗi tổ do 1 đồng chí Phó Chủ tịch làm tổ trưởng), Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh đã xây dựng kế hoạch, chương trình hành động của MTTQ các cấp tham gia xây dựng Nông thôn mới gắn với các nội dung của Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”; tổ chức ký kết Chương trình phối hợp xây dựng Nông thôn mới giữa UBND tỉnh với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh và các tổ chức thành viên, trong đó xác định các nội dung trọng tâm mà MTTQ và các tổ chức thành viên tham gia phù hợp, có hiệu quả như công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho nhân dân về mục đích, ý nghĩa và nội dung của xây dựng nông thôn mới; xác định trách nhiệm của người dân trong việc tham gia thực hiện các tiêu chí; vận động nhân dân tham gia hiến đất, cây cối, vật liệu kiến trúc trên đất và huy động nội lực tham gia xây dựng NTM; vận động MTTQ các cấp tham gia đỡ đầu, giúp đỡ các xã xây dựng NTM; chủ trì tham gia thực hiện một số tiêu chí phù hợp, như tiêu chí về nhà ở, môi trường, hình thức tổ chức sản xuất, xoá đói giảm nghèo, xây dựng hệ thống chính trị, huy động nội lực làm đường giao thông nông thôn, thuỷ lợi nội đồng… để thiết thực tham gia có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Biên tập và in ấn 3.500 cuốn tài liệu tuyên truyền về xây dựng NTM phát hành đến tận khu dân cư; hàng quý, Bản tin Mặt trận tỉnh phát hành đến khu dân cư đều có các nội dung tuyên truyền về xây dựng NTM. Hàng năm, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh đưa nội dung tham gia xây dựng NTM, đô thị văn minh gắn với thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, trở thành một trong những tiêu chí quan trọng trong phát động, ký cam kết thi đua, đánh giá xếp loại thi đua khen thưởng.

Phối hợp với Văn phòng Ban điều phối xây dựng NTM tỉnh và Ban ATGT tỉnh tổ chức tập huấn cho hơn 700 cán bộ từ Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ các xã, phường, thị trấn, cán bộ MTTQ cấp huyện và cấp tỉnh về các nội dung xây dựng Nông thôn mới gắn với thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và công tác đảm bảo ATGT; sau tập huấn ở tỉnh, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các huyện, thành phố, thị xã đã tổ chức hội nghị tập huấn cho gần 2.800 Trưởng ban Công tác Mặt trận ở các khu dân cư. Đầu năm 2012 đã biên soạn, in ấn, phát hành 360 ngàn bản cam kết 3 nội dung về thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, thực hiện 19 tiêu chí xây dựng Nông thôn mới và thực hiện “Năm an toàn giao thông - 2012”, tổ chức ký cam kết giữa các hộ gia đình và Ban Công tác Mặt trận khu dân cư, tỷ lệ ký đạt 99,7% (số còn lại không ký là các hộ neo đơn, già cả, tạm vắng đi làm ăn xa); tổ chức ký cam kết giữa Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ các cấp với các tổ chức thành viên và MTTQ cấp dưới. Ban vận động thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới” của MTTQ tỉnh đã tuyên truyền, vận động các sở, ban, ngành cấp tỉnh, MTTQ và các tổ chức thành viên cấp tỉnh, cấp huyện nhận đỡ đầu các xã xây dựng nông thôn mới; đến nay, các ngành cấp tỉnh nhận đỡ đầu 98 xã, các ngành cấp huyện nhận đỡ đầu 102 xã về xây dựng nông thôn mới đồng thời xây dựng 102 khu dân cư văn hoá điểm gắn với xây dựng nông thôn mới để nhân ra diện trong toàn tỉnh.

Đến nay, toàn tỉnh đã có 233/235 xã đã phê duyệt Đồ án quy hoạch NTM (còn 2 xã Kỳ Lợi và Thạch Hải do đặc thù nằm trong vùng di dời phục vụ các dự án nên chưa quy hoạch); 231/235 xã đã được phê duyệt đề án xây dựng NTM, đề án phát triển sản xuất; 90/235 xã đã hoàn thành việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch theo Thông tư 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT; 146/235 xã đã tổ chức công bố quy hoạch; 142/235 xã thực hiện việc cắm mốc chỉ giới hành chính (59 xã hoàn thành. Toàn tỉnh lựa chọn 48 xã thực hiện làm điểm về xây dựng NTM trong giai đoạn 2010- 2015, trong đó 1 xã điểm của TW, 12 xã điểm của tỉnh và 35 xã điểm của các huyện, thị xã, thành phố; đến nay đã có 3 xã đạt 16 - 17/19 tiêu chí (xã Thiên Lộc, Tùng Ảnh, Gia Phố), 3 xã đạt 15 tiêu chí (Cẩm Bình, Hương Trà, Thạch Tân), 2 xã đạt từ 13 - 14 tiêu chí, 18 xã đạt 10 - 12 tiêu chí, 140 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí, 69 xã dưới 5 tiêu chí. Toàn tỉnh có 25/25 sở, ngành và tổ chức chính trị - xã hội được tỉnh giao đỡ đầu các xã điểm xây dựng NTM, 24/25 đơn vị thành lập được tổ công tác tham mưu chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM. 100% xã đã thành lập được Ban Giám sát đầu tư cộng đồng và Ban Phát triển thôn. Ban Giám sát đầu tư cộng đồng đã đi vào hoạt động có nề nếp và có hiệu quả góp phần thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các công trình đầu tư cộng đồng trên địa bàn.

Nét nổi bật là, cùng với việc tham gia thực hiện các chương trình chung của tỉnh thì Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh đã hướng dẫn, chỉ đạo Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên cấp huyện, cấp xã nhận đỡ đầu, giúp đỡ 40 xã thực hiện xây dựng Nông thôn mới, 102 khu dân cư làm điểm thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong giai đoạn mới. Tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh quyết định nâng kinh phí Cuộc vận động từ 1 triệu đồng lên 4 triệu đồng; Ban Giám sát đầu tư cộng đồng được trích kinh phí hoạt động 10% chi phí quản lý của các công trình với mức tối thiểu là 3 triệu đồng/1 công trình (nếu từ nguồn 10% chi phí quản lý không đủ thì trích từ ngân sách các cấp và các nguồn khác cho đủ), có chế độ phụ cấp hoạt động cho Trưởng ban Công tác Mặt trận KDC và cấp trưởng các chi đoàn, chi hội với hệ số là 0,15 (so với nhiều tỉnh thì quá thấp, nhưng so với điều kiện tỉnh nghèo thì đây là cố gắng lớn, hiện nay đang đề xuất nâng lên đã được UBND tỉnh đồng ý về mặt chủ trương). Tổ chức vận động mỗi cơ quan, đơn vị cấp tỉnh nhận đỡ đầu 1 đến 2 xã xây dựng nông thôn mới, đến nay đã có 88 cơ quan nhận đỡ đầu 98 xã. Khối dân vận, MTTQ và các đoàn thể đã nhận đỡ đầu 11 xã. Mặt trận Tổ quốc các cấp tiếp tục nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư” gắn với việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM; Hội Nông dân và Liên đoàn Lao động phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phấn đấu sớm hoàn thành tiêu chí đào tạo nghề, trước mắt dồn sức ưu tiên cho các xã làm điểm của tỉnh, của huyện; Hội Liên hiệp Phụ nữ với chương trình chăn nuôi sạch, đảm bảo vệ sinh môi trường kết hợp với xây dựng bể Biogas, phát động hội viên làm nòng cốt trong phong trào thi đua xây dựng nhà đẹp, vườn đẹp, xây dựng công trình vệ sinh, nước sạch; Hội Cựu chiến binh gắn với trách nhiệm đi đầu trong chỉnh trang khu dân cư, xây dựng gia đình đạt tiêu chí gia đình nông thôn mới, tham gia bảo vệ an ninh trật tự, giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ; Đoàn Thanh niên với trách nhiệm xung kích trong giữ gìn vệ sinh môi trường, làm giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, xây dựng các đoạn đường kiểu mẫu, đoạn đường tự quản. MTTQ và các đoàn thể nhân dân đã tập trung tuyên truyền, vận động mọi nguồn lực trong dân với số tiền hơn 230 tỷ đồng (chiếm 10,5% tổng nguồn lực đã chi phục vụ NTM), ngoài ra vận động con em địa phương đi làm ăn xa quê đóng góp xây dựng quê hương với số tiền hàng trăm tỷ đồng, điển hình như huyện Can Lộc 68 tỷ đồng, huyện Đức Thọ 25 tỷ đồng, xã Phù Lưu 1,4 tỷ đồng; vận động nhân dân hiến đất, vật kiến trúc trên đất để mở rộng đường giao thông nông thôn, xây dựng các công trình công cộng hàng triệu m2 đất, tiêu biểu như huyện Đức Thọ có 1.200 hộ hiến 132.000 m2 đất, nhân dân xã Thuận Lộc - Thị xã Hồng Lĩnh hiến 22.000 m2, xã Thạch Hạ - Thành phố Hà Tĩnh có hộ hiến 1.000 m2 đất. Đồng thời, tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ, sự phối hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức quốc tế để giúp các địa phương từng bước hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới. Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã xác định được các loại cây con chủ lực, xây dựng mô hình sản xuất, chăn nuôi, chế biến sau thu hoạch với quy mô lớn… Riêng cơ quan MTTQ tỉnh nhận đỡ đầu 2 xã điểm (Trường Sơn và Khánh Lộc) thực hiện xây dựng NTM trong giai đoạn 2010 - 2015. Ban Thường trực và lãnh đạo cơ quan đã tổ chức ký kết với Ban Chỉ đạo 2 xã, tập trung cho công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho người dân; tổ chức các lớp đào tạo nghề, giải quyết việc làm; giúp đỡ hộ nghèo, gia đình chính sách làm nhà ở; vận động nhân dân hiến đất, huy động nội lực làm đường giao thông nông thôn, thuỷ lợi nội đồng; kêu gọi các doanh nghiệp, nhà hảo tâm giúp đỡ, hỗ trợ cho việc xây dựng mới 1 nhà văn hoá khu dân cư 70 triệu đồng, thành lập mới được 1 hợp tác xã hỗ trợ 30 triệu đồng; hình thành được 1 trang trại hỗ trợ 40 triệu đồng, 1 gia trại hỗ trợ 20 triệu đồng…

Cùng với việc tham gia thực hiện công tác quy hoạch, xây dựng các đề án về nông thôn mới, tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghề, MTTQ và các tổ chức thành viên ở Hà Tĩnh đã tập trung tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng chủ trương sáp nhập thôn xóm theo chủ trương của tỉnh để đảm bảo quy mô thôn xóm đạt chuẩn nông thôn mới. Đây là một việc làm hết sức khó khăn vì đụng chạm đến thói quen, nếp nghĩ, lợi ích của rất nhiều người, nhưng nhờ công tác tuyên truyền, vận động tốt nên được nhân dân hưởng ứng, tạo đồng thuận... Đến nay, toàn tỉnh đã sáp nhập được 284 thôn xóm (giảm 10,2%).

Quá trình tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới gần hai năm qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:

Một là, cần tập trung thực hiện tốt công tác dân vận, quy chế dân chủ cơ sở, có cơ chế chính sách phù hợp, trao quyền chủ động cho người dân, cộng đồng, thôn xóm để họ thực sự là người hưởng lợi, là chủ thể trong quá trình xây dựng nông thôn mới; chú trọng việc thay đổi nhận thực người dân để họ tự giác, hăng hái tham gia thực hiện; lựa chọn việc cấp thiết, cấp bách để ưu tiên đầu tư trước sẽ huy động sức dân dễ dàng hơn, nhất là trong điều kiện nguồn lực đầu tư cho nông thôn mới còn hạn chế, thì việc trao quyền cho người dân, cộng đồng sẽ mang lại nhiều hiệu quả thiết thực cho phong trào xây dựng nông thôn mới.

Hai là, công tác tuyên truyền phải thường xuyên, liên tục; tuyên truyền bằng nhiều phương pháp, phương tiện, nhiều hình thức, tăng cường đi tham quan học tập càng nhiều càng hiểu vấn đề, rút được nhiều bài học quý báu cho mình. Tuyên truyền phải làm rõ lợi ích, vai trò chủ thể của người dân; trách nhiệm của toàn xã hội.

Ba là, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành đặc biệt là người đứng đầu nhất là cán bộ xã, thôn xóm có vai trò hết sức quan trọng.

Bốn là, sự chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên kiểm tra, bám sát cơ sở, hàng tuần có kế hoạch kiểm tra cụ thể từng địa phương, tổ chức giao ban định kỳ để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình.

Năm là, phải tạo ra sự cạnh tranh, thi đua lẫn nhau giữa các địa phương, đơn vị, giữa các tổ chức với tổ chức, giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau.

Sáu là, công tác sơ kết, tổng kết thi đua khen thưởng cần phải được làm thường xuyên, động viên khích lệ; biểu dương khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể làm tốt và phê bình nhắc nhở nghiêm túc những tập thể, cá nhân còn thờ ơ, ỷ lại trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.

Bảy là, có cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo mặt bằng đất sạch, thủ tục hành chính nhanh gọn, ưu đãi thuế đất, hỗ trợ một phần lãi vay khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư vào nông nghiệp nông thôn..

Những kết quả bước đầu trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở Hà Tĩnh đã tạo ra bước đột phá mới trong công tác tuyên truyền, vận động toàn dân đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo ra nét khởi sắc mới trong mỗi làng quê, được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ và hưởng ứng tích cực, huy động sự vào cuộc của MTTQ, các tổ chức thành viên các cấp cùng với cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Kết quả đó đã góp phần tích cực vào việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương và tạo ra động lực mới trong việc thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở Hà Tĩnh trong những năm tiếp theo.

* Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh Hà Tĩnh.
** CTV tại Hà Tĩnh.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



MỘT SỐ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN KRÔNG PÁCH,
TỈNH ĐĂK LĂK

                                                                                             TRẦN THỊ THƯƠNG*

         Huyện Krông Pách nằm về phía đông thành phố Buôn Ma Thuột, trải dài từ km 12 đến km 49 theo quốc lộ 26 từ Buôn Ma Thuột đi Nha Trang (Khánh Hòa), trung tâm huyện cách thành phố Buôn Ma Thuột 30km. Là huyện miền núi, nhưng Krông Pách (Đăk Lăk) có vị thế chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Trong những năm gần đây, đời sống nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, với những bước tiến nhảy vọt.

Nhận thức được tầm quan trọng và vị thế của mình và là một trong những huyện điểm của tỉnh Đăk Lăk trong vấn đề phát triển lương thực, thực phẩm, huyện luôn chú trọng lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn trong khâu đột phá. Được sự quan tâm, tạo điều kiện thường xuyên của Trung ương, Tỉnh ủy và các ban ngành, Đảng bộ và nhân dân huyện Krông Pách đã có nhiều nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế - xã hội có bước phát triển khá toàn diện, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính quyền được củng cố và tăng cường.

Những năm từ 2005 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của huyện là 12,3%, giá trị sản xuất theo giá hiện hành năm 2010 đạt 3.413 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2005. Thu nhập bình quân đầu người từ 5,72 triệu đồng/người/năm vào năm 2005 thì đến năm 2010 là 16 triệu đồng/người/năm. An ninh lương thực được đảm bảo, năm 2010 tổng sản lượng lương thực là 136.455 tấn, cà phê nhân xô 36.455 tấn, mục tiêu phấn đấu vào năm 2015 đạt 179.500 tấn lương thực, 40.000 tấn cà phê. Hình thành và phát triển các khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các khu nông nghiệp phát triển bền vững. Chăn nuôi tăng trưởng khá, phát triển theo hướng trang trại, tập trung với quy mô vừa và nhỏ, kinh tế trang trại được áp dụng rộng rãi các khu dân cư, hiện có 52 trang trại chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi. Công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đã có chuyển biến theo hướng xã hội hóa, trung bình mỗi năm trồng mới được 171 ha rừng tập trung, độ che phủ của rừng đạt 17% năm 2010.

Cơ sở vật chất không ngừng được đầu tư, nâng cấp nhất là xây dựng giao thông nông thôn, thủy lợi, lưới điện. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đến năm 2010, 55% đường liên thôn được cứng hóa, 65% đường giao thông ở thị trấn được nhựa hóa và bê tông hóa. Hệ thống kênh mương thủy lợi thường xuyên được tu sửa, nạo vét đáp ứng 70% nhu cầu tưới tiêu.

Thu chi ngân sách hàng năm đều vượt kế hoạch, hệ thống tín dụng ngân hàng đã tích cực tìm mọi biện pháp, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, đổi mới phương thức giao dịch, đáp ứng nhu cầu giao dịch của nhân dân và doanh nghiệp.

Giáo dục và đào tạo có những chuyển biến tích cực, toàn huyện có 106 trường từ mẫu giáo đến trung học phổ thông, học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 98%; 100% xã, thị trấn hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học, 14,2% số trường đạt chuẩn quốc gia. Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở từng bước được c?ng cố và phát triển, hầu hết các thôn buôn có cán bộ y tế, có 68,7% số xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 chỉ còn 1,255, giảm 0,35% so với năm 2005. Năm 2010, hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao, truyền thanh - truyền hình đạt được nhiều kết quả khả quan, 100% xã, thị trấn phủ sóng FM, tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt 100%, chương trình truyền hình, truyền thanh bằng tiếng dân tộc Ê Đê, Xơ Đăng được nâng cao cả về thời lượng lẫn chất lượng. Công tác thực hiện chính sách xã hội đem lại những kết quả khả quan, mỗi năm giải quyết việc làm cho 1.360 lao động, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện năm 2010 còn 10% (giảm 18,97% so với năm 2005). Trong các thôn, buôn được ưu tiên xây dựng trường học, đường giao thông…, miễn giảm đóng góp trong giáo dục, y tế.

Nhiệm vụ an ninh - quốc phòng được quán triệt và triển khai lãnh đạo theo quan điểm và đường lối của Đảng và Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong xây dựng huyện thành khu vực phòng thủ “Cơ bản, liên hoàn, vững chắc”, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng được củng cố. Tỷ lệ đảng viên trong dân quân tự vệ đạt 16,14%; 100% xã, thị trấn có chi bộ quân sự, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn huyện.

Hệ thống chính trị cơ sở được củng cố và đạt được nhiều thành tựu. Từ năm 2005 - 2010 mở 335 lớp với 40.614 học viên. Chú trọng phát triển đảng viên mới, đảng viên là người dân tộc thiểu số, đào tạo cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Kết nạp 1.218 đảng viên mới. Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, trong quy hoạch chú trọng đến nguồn cán bộ nữ, cán bộ dân tộc, cán bộ trẻ. Từ năm 2005 đến nay, huyện đã đào tạo chuyên môn: thạc sỹ 1 người, đại học 52 người, trung cấp 48 người, lý luận chính trị cao cấp 55 người, lý luận chính trị trung cấp 253 người, đào tạo ngắn hạn tại trung tâm 40.614 lượt người.

Bên cạnh những thành tựu căn bản, huyện Krông Pách còn một số hạn chế khó khăn mang tính đặc thù. Nền kinh tế phát triển chậm, chưa đồng bộ, chưa có sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế nông - lâm - công - thương nghiệp, chênh lệch lớn giữa thị trấn và các vùng sâu, vùng xa. Nhiều hộ thiếu đất canh tác nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất. Tình trạng lao động chưa qua đào tạo, thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn sản xuất, đông con,… hạ tầng cơ sở thấp kém, thiếu tính bền vững, đặc biệt là giao thông, nước sạch và thủy lợi. Những năm gần đây giá cả thị trường biến động mạnh so với khung giá Nhà nước gây bất lợi đến sản xuất. Trong nhân dân, thậm chí cả trong một bộ phận cán bộ vẫn còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và cấp trên.

Dân số đông (năm 2010 có khoảng 200.000 người) trình độ dân trí không đều, có những cụm dân cư hài lòng chấp nhận với cuộc sống hiện tại nên không chịu khó nghiên cứu học hỏi tìm tòi, để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống.

Để huy động tối đa các nguồn lực, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đưa Krông Pách trở thành địa bàn giàu có về kinh tế, vững về an - ninh quốc phòng cần phải có nhiều kế hoạch thực tiễn, biện pháp toàn diện, đồng bộ trong từng lĩnh vực. Từ thực tiễn đó, có thể đề ra một số giải pháp đối với huyện Krông Pách như sau:

1. Xây dựng hệ thống chính trị

Một là: Trong công tác xây dựng Đảng cần tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện. Thường xuyên chăm lo củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng từ huyện đến cơ sở, đảm bảo vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình trong Đảng. Vận động nhân dân các dân tộc thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đoàn kết chống lại âm mưu gây chia rẽ của các thế lực thù địch, thực hiện có hiệu quả hoạt động kết nghĩa giữa các cơ quan đơn vị trên địa bàn huyện với các buôn đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các buôn mới thành lập.

Hai là: Đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp cơ sở (xã, thôn, buôn). Bởi họ là đầu mối đưa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với dân, là người quản lý toàn diện đời sống chính trị, xã hội ở địa phương và tác động tích cực vào sự phát triển kinh tế của nhân dân. Cần có kế hoạch, chính sách tạo nguồn nhân lực tại chỗ, có chính sách đãi ngộ, nâng mức phụ cấp đối với cán bộ xã, thôn buôn vùng sâu, vùng xa, cán bộ chuyên trách để họ gắn bó với công việc, thực hiện nhiệm vụ tốt hơn.

Ba là: Thực hiện quản lý, điều hành quy hoạch đúng mục tiêu của các cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Quyết định 907 của Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh đối với huyện Krông Pách giai đoạn 2006 - 2020.

2. Vấn đề kinh tế

Một là: thực hiện có hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, coi trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa có chất lượng và hiệu quả. Hình thành và phát triển một số vùng chuyên canh sản xuất sản phẩm hàng hóa phục vụ cho thị trường trong huyện, tỉnh và hướng tới xuất khẩu, như lúa, ngô, cà phê; phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Hoàn thành quy hoạch và phát triển xây dựng cụm công nghiệp, ban hành chính sách hấp dẫn mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh để phát triển lĩnh vực công nghiệp. Đầu tư phát triển các ngành nghề truyền thống, như: dệt thổ cẩm, mây tre đan, hàng thủ công mỹ nghệ.

Hai là: Giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa khu vực phi nông nghiệp và nông nghiệp trên địa bàn huyện. Để giải quyết bài toán này cần đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, kết hợp hài hòa kinh tế nông - lâm - công nghiệp để lấy ngắn nuôi dài, từ đó tạo ra những sản phẩm có chất lượng và hiệu quả, mang tính bền vững, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Đồng thời, có kế hoạch cụ thể liên hệ đầu vào và đầu ra cho tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị sản phẩm làm ra, từ đó cải thiện đời sống nhân dân.

Ba là: Sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn vốn trợ cước, trợ giá cho các hộ nghèo ở các xã, thôn, buôn đặc biệt khó khăn, góp phần giải quyết tình trạng đói nghèo, ổn định cuộc sống. Nhân rộng các mô hình chăn nuôi, kinh tế trang trại trên cơ sở các phòng ban chuyên môn bàn bạc kỹ với các hộ dân về việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi thích hợp để đem lại hiệu quả cao nhất. Quan tâm chính sách đầu tư và cho vay vốn phát triển sản xuất. Ưu tiên đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bốn là: Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển và cạnh tranh lành mạnh. Tiếp tục phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, khuyến khích phát triển một số mô hình hợp tác xã kinh doanh trên lĩnh vực dịch vụ vận tải và nông nghiệp…

Năm là: Gắn việc đẩy mạnh sản xuất với bảo vệ môi trường để phát triển bền vững thông qua việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, công nghệ chế biến, bảo quản, xây dựng các trung tâm phát triển cây trồng vật nuôi, vừa đảm bảo về số lượng vừa đảm bảo về chất lượng, tăng giá trị sản phẩm hàng hóa trong sản xuất nông - lâm - công nghiệp; để nâng cao hiệu quả trong cơ cấu ngành kinh tế, có chính sách động viên, khuyến khích nhân rộng mô hình trang trại, trao đổi kinh nghiệm làm ăn phát triển sản xuất.

 Sáu là: Ngoài việc phát huy có hiệu quả nguồn lực đầu tư từ ngân sách Nhà nước, cần vận động, tranh thủ các nguồn khác, như: vốn của các dự án nước ngoài, quỹ hỗ trợ của các đoàn thể, doanh nghiệp…, ưu tiên vay vốn tín dụng để phát triển kinh tế.

Bảy là: Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, như hệ thống giao thông, thủy lợi, hệ thống điện, cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, văn hóa. Ưu tiên vùng sâu, vùng xa

3. Về văn hóa - xã hội

Một là: Thực hiện đồng bộ các giải pháp và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo bằng cách đổi mới quản lý giáo dục, phương pháp dạy và học ở các cấp học, thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào do Bộ Giáo dục phát động. Thực hiện xã hội hóa giáo dục, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất như trường lớp, nhà công vụ, trang thiết bị dạy học, đáp ứng nhu cầu dạy và học cho giáo viên và học sinh. Chú trọng mở rộng liên kết đào tạo nghề cho vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm từng bước đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trên địa bàn huyện.

Hai là: Nâng cao chất lượng y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, y tế cộng đồng, chế độ bảo hiểm y tế toàn dân. Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước đối với cơ sở y tế, hành nghề y dược tư nhân. Chú trọng công tác y tế dự phòng, phát triển y học dân tộc và y tế thôn buôn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Ba là: Phát triển văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao, tăng cường các hình thức thông tin tuyên truyền, xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở. Tăng thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc nhằm phục vụ tốt nhu cầu về thông tin chính sách của Nhà nước cho nhân dân, để họ tiếp cận và hưởng các dịch vụ xã hội một cách sâu rộng. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, nhất là các lễ hội truyền thống các dân tộc trên địa bàn huyện. Thực hiện quy hoạch tổng thể và từng bước tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa; đầu tư xây dựng các nhà văn hóa, thể thao gắn với phát triển du lịch. Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; nâng cao đời sống tinh thần thôn, buôn, tổ dân phố, xã văn hóa.

Bốn là: Thực hiện tốt chính sách dân tộc, giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các chương trình mục tiêu Chính phủ. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Tạo điều kiện và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng và đoàn kết tôn giáo. Xây dựng quỹ tình nghĩa để giúp và chăm lo thường xuyên đối với các gia đình chính sách, người có công, chăm sóc và phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, trẻ em tàn tật, các nạn nhân chất độc da cam…

Như vậy, với tiềm năng dồi dào cùng những khó khăn, thách thức, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Krông Pách trong giai đoạn sắp tới cần hàng loạt các chủ trương, biện pháp, kế hoạch tổng thể, ngoài nỗ lực vượt bậc của toàn đảng bộ, nhà nước và nhân dân địa phương, Krông Pách rất cần có sự hỗ trợ to lớn của các ngành, các cấp từ tỉnh đến trung ương. Nếu được vậy, chắc chắn Krông Pách sẽ có nhiều khởi sắc hơn nữa trong tiến trình đổi mới toàn diện, tiến lên cùng với cả nước.

* Đại học Khoa học Huế.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



THỰC TRẠNG VỀ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH
VÙNG TÂY NGUYÊN

                                                                                             TRẦN ANH TUẤN*

        Tây Nguyên là vùng 5 gồm 5 tỉnh trong nghiên cứu thực tế của Dự án PAPI 2011. Trong bài này giới thiệu khái quát thực trạng về hành chính công cấp tỉnh vùng Tây Nguyên.1

1. Tác dụng ban đầu của PAPI về phương diện chính sách và thực tiễn

Chỉ số PAPI là bộ chỉ số tổng hợp dựa trên thực chứng khách quan và khoa học nhằm đo lường trải nghiệm của người dân về hiệu quả và chất lượng của công tác quản trị, điều hành, hành chính nhà nước và cung ứng dịch vụ công ở cấp tỉnh.

Nghiên cứu xây dựng Chỉ số PAPI bắt đầu được thực hiện thí điểm vào năm 2009 tại 3 địa phương gồm Phú Thọ (miền Bắc), Đà Nẵng (miền Trung) và Đồng Tháp (miền Nam). Trong năm 2010, nghiên cứu đã triển khai rộng ra 30 tỉnh/thành phố với sự tham gia của 5.568 người dân được chọn ngẫu nhiên trên toàn quốc, tập trung vào nhiều lĩnh vực liên quan đến công tác quản trị và hành chính công ở địa phương. Năm 2011, nghiên cứu PAPI được thực hiện trên phạm vi toàn bộ 63 tỉnh/thành phố toàn quốc, với sự tham gia chia sẻ trải nghiệm và ý kiến của 13.642 người dân. PAPI áp dụng phương pháp luận chuẩn mực quốc tế, bảo đảm tính nghiêm túc, khoa học, khách quan, độ tin cậy và tính hữu dụng, được ghi nhận và đánh giá rất cao ở trong nước và quốc tế.

PAPI 2010 được sử dụng cho phân tích các dịch vụ xã hội trong Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 2010. Một số chỉ số PAPI 2010 được Thanh tra Chính phủ sử dụng trong báo cáo gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội; làm chỉ số tham chiếu cho hệ thống đo lường và giám sát công tác phòng, chống tham nhũng đang được xây dựng. Ngoài ra, PAPI đang là điển hình tốt được một số quốc gia khác tham khảo, chẳng hạn như: Trung Quốc và Tunisia. PAPI được giới nghiên cứu và các cơ quan phát triển quốc tế sử dụng để làm nguồn dữ liệu tham khảo.

Việc so sánh giữa các tỉnh trong vùng và các địa phương 6 vùng khác cho thấy phần nào những điểm mạnh, điểm yếu của các địa phương và mức độ chuyển biến qua thời gian. Qua đó, các nhà hoạch định chính sách ở trung ương và cơ quan thực thi chính sách ở địa phương có thể xem xét điều chỉnh chính sách cho phù hợp.

Kết quả PAPI năm 2011 cho thấy, trên phạm vi toàn quốc, các tỉnh/thành phố có nhiều điểm tương đồng về mức độ hiệu quả quản trị và hành chính. Các thứ hạng này không phụ thuộc nhiều điều kiện kinh tế- xã hội, địa lý khác nhau. Điểm số ở lĩnh vực nội dung về cung ứng dịch vụ công là thế mạnh của tất cả 63 tỉnh/thành phố. Điểm số ở các lĩnh vực khác đều yếu hơn. Tây Nguyên không có tỉnh nào đạt điểm cao nhất nhưng cũng không có tỉnh nào bị xếp vào nhóm có điểm

thấp nhất.

2. Điểm số PAPI tổng hợp của các tỉnh Tây Nguyên

3. Phân tích cụ thể những chỉ số tại các trục nội dung vùng Tây Nguyên

Trục nội dung 1. Tham gia của người dân ở cấp cơ sở

Kết quả ở từng tiêu chí chi tiết cho thấy, Đắk Nông thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Tham gia của người dân ở cấp cơ sở”. Cụ thể là:

Về mức độ nhận thức việc thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn của người dân: người dân Đắk Nông biết đến câu khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” nhiều hơn so với người dân ở Gia Lai. Song nhận thức của người dân Gia Lai về “Pháp lệnh thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn” tốt hơn so với nhận thức về câu khẩu hiệu trên.

Về chất lượng bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố: người dân Gia Lai đánh giá cao hơn so với bốn tỉnh còn lại trong khu vực. Mặc dù vậy, khi đánh giá về mức độ dân chủ trong việc quyết định đóng góp cho các dự án đầu tư ở cộng đồng (thể hiện qua mức độ được tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình hình thành dự án, mức độ tự nguyện đóng góp, vai trò tham gia giám sát công trình), phản ánh của người dân Gia Lai ít tích cực hơn so với người dân ở 4 tỉnh còn lại.

Trục nội dung 2. Công khai, minh bạch

Gia Lai thuộc nhóm điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Công khai, minh bạch”. Cụ thể là:

Ở các nội dung chi tiết gồm công khai danh sách hộ nghèo, ngân sách cấp xã/phường, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Gia Lai, Đắk Nông, Đắk Lắk được đánh giá tốt hơn khi so với Kon Tum và Lâm Đồng. Vấn đề còn tồn tại ở cả 5 tỉnh (cũng như trên phạm vi toàn quốc) là mức độ công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Kon Tum và Lâm Đồng cũng cần nhiều nỗ lực hơn nữa để đạt đến điểm trung bình chung của toàn quốc trong lĩnh vực nội dung này.

Trục nội dung 3: Trách nhiệm giải trình với người dân

Không có tỉnh nào trong 5 tỉnh vùng Tây Nguyên thuộc về nhóm cao nhất ở nội dung “Trách nhiệm giải trình với người dân”.

Cụ thể là:

Cả 5 tỉnh Tây Nguyên đều đạt mức điểm sấp sỉ mức điểm trung bình chung của toàn quốc. Người dân Kon Tum dường như khá hài lòng với mức độ hiệu quả trong tương tác với chính quyền địa phương khi có vấn đề cần đến các cấp chính quyền. Hiệu quả của Ban Thanh tra nhân dân ở Lâm Đồng so với 4 tỉnh khác trong khu vực lại yếu nhất. Kon Tum cũng cần nâng cao hiệu quả của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng bởi theo đánh giá của người dân, đây là một điểm còn yếu.

 Trục nội dung 4: Kiểm soát tham nhũng

Không có tỉnh nào trong 5 tỉnh Tây Nguyên thuộc về nhóm cao nhất ở nội dung “Kiểm soát tham nhũng”. Cụ thể là:

3 trong số 5 tỉnh trong khu vực đạt điểm sấp sỉ điểm trung bình chung của toàn quốc là Gia Lai, Kon Tum và Đắk Nông. Vấn đề tồn tại của cả 5 tỉnh khiến điểm trung bình chung của lĩnh vực nội dung này thấp là ở chỗ người dân cho rằng tuyển dụng nhân lực vào khu vực nhà nước ở cả 5 tỉnh còn nặng tính “vị thân”, có nghĩa là mối quan hệ để xin được việc vào khu vực nhà nước là rất quan trọng. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề riêng của 5 tỉnh vùng này, bởi điểm số ở nội dung thành phần này của 63 tỉnh/thành phố đều thấp. Trong số 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên, thì tình trạng “vị thân” ở Lâm Đồng dường như phổ biến hơn cả. Chính quyền tỉnh Gia Lai được người dân cho rằng có quyết tâm phòng, chống tham nhũng. Đắk Nông được đánh giá thấp hơn ở nội dung thành phần này. Kiểm soát tham nhũng trong cung ứng dịch vụ công ở 5 tỉnh trong khu vực tương đối khá, và điểm số tương đối đều nhau.

Trục nội dung 5: Thủ tục hành chính công

3 tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng và Kon Tum thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Thủ tục hành chính công”. Cụ thể là:

Cả 5 tỉnh đều đạt điểm trên trung bình chung của toàn quốc. 3 trong số 5 tỉnh có điểm số thuộc về nhóm tỉnh đạt điểm cao nhất, đó là Kon Tum, Lâm Đồng và Đắk Nông. Gia Lai được người dân đánh giá tốt hơn ở dịch vụ về chứng thực, xác nhận. Kon Tum được đánh giá tốt hơn ở thủ tục liên quan đến giấy phép xây dựng. Lâm Đồng được đánh giá cao hơn ở dịch vụ hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất và các thủ tục do Ủy ban Nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm thực hiện. Riêng về dịch vụ hành chính công liên quan đến quyền sử dụng đất, trong số 5 tỉnh trong khu vực, Lâm Đồng dường như được đánh giá rất cao về dịch vụ hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất. Những tỉnh còn lại cần nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ ở các tiêu chí được đo lường và nâng cao mức độ hài lòng của người dân. Các tiêu chí Gia Lai cần tập trung chú ý cải thiện đó là thủ tục giấy tờ, công khai phí dịch vụ, hẹn ngày trả kết quả và trả kết quả đúng lịch ngoài các tiêu chí khác. Đối với Kon Tum, cần chú trọng cải thiện thái độ tiếp dân của công chức và công khai thông tin về thủ tục cần làm ngoài các tiêu chí khác.

Trục nội dung 6: Cung ứng dịch vụ công

Không có tỉnh nào ở Tây Nguyên thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Cung ứng dịch vụ công”. Cụ thể là:

Kon Tum thuộc về nhóm trung bình cao, và Đắk Lắk thuộc về nhóm trung bình thấp. 3 tỉnh còn lại đều nằm trong nhóm tỉnh đạt điểm thấp nhất, trong đó có Đắk Nông đạt mức điểm gần như thấp nhất toàn quốc. Người dân Đắk Nông còn phàn nàn nhiều về chất lượng giáo dục tiểu học công lập ở tỉnh.

Về y tế công lập, các tỉnh Tây Nguyên còn nhiều tồn tại về chất lượng bệnh viện công lập tuyến huyện. Theo đánh giá từ trải nghiệm của người dân, bệnh viện tuyến huyện của Đắk Nông chưa đáp ứng được các tiêu chí nêu trong biểu đồ hình sao. Đặc biệt, theo phản ánh của người dân, hiện tượng bác sĩ chỉ định bệnh nhân đến nhà thuốc tư nhân quen biết để mua thuốc diễn ra khá phổ biến. Mặc dù Kon Tum được đánh giá cao hơn, song người dân Kon Tum còn phàn nàn nhiều về tình trạng bệnh nhân vẫn phải nằm chung giường và hiện tượng bác sĩ chỉ định bệnh nhân đến nhà thuốc tư nhân quen biết để mua thuốc.

Chất lượng trường tiểu học công lập ở Tây Nguyên còn nhiều tồn tại ở tất cả các tiêu chí được đo lường. Người dân Gia Lai, Đắk Nông, Kon Tum và Lâm Đồng khá hài lòng với điều kiện lớp học là nhà kiên cố. So với 4 tỉnh khác trong khu vực, tổng chất lượng trường học của Gia Lai theo các tiêu chí đo lường có cao hơn một chút, song điểm số của cả các tiêu chí đều thấp hơn nhiều so với điểm hoàn hảo. Đặc biệt là ở 2 tiêu chí gồm “giáo viên không ưu ái học sinh học thêm” và “nhà vệ sinh sạch sẽ” cần được cải thiện để người dân hài lòng hơn.

4. Kết luận2

Các tỉnh ở Tây Nguyên đạt điểm số nằm trong khoảng trung bình cao: Gia Lai và Đắk Nông và trung bình thấp: Kon Tum, Đắk Lắk và Lâm Đồng (Xem bảng 1). Khoảng cách điểm giữa Gia Lai và Quảng Bình - đạt Chỉ số chung PAPI 2011 cao nhất tương đối xa.

Kết quả khảo sát PAPI 2010-2011 đã cung cấp nguồn dẫn chứng cho các tỉnh/thành phố phân tích và đề ra các giải pháp cải thiện hiệu quả quản trị và hành chính công. Riêng tỉnh Kon Tum đã thiết lập Đề án cải thiện hiệu quả quản trị và hành chính công của tỉnh. Tỉnh Đắk Lắk cũng đang trong quá trình xây dựng đề án cải thiện chỉ số PAPI. Khuyến nghị của PAPI năm 2011 là các tỉnh khác trong vùng Tây Nguyên cũng cần noi gương Kon Tum và Đăk Lăk.

_____________________________________________

1. Theo tư liệu do CECODES cung cấp
2. Để so sánh với các vùng khác xem thêm Tạp chí Mặt trận số 105 các bài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính công cấp tỉnh vùng Nam Trung Bộ”; “Mấy vấn đề về hành chính công cấp tỉnh vùng Bắc Trung Bộ” và 2 bài trong số 106, 2 bài trong số 107.

* TS, Phó Giám đốc Trung tâm Công tác Lý luận. Bài có sự phối hợp thực hiện của Vũ Đinh Long (hội viên Chi hội nhà báo Tạp chí Mặt trận)

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH
VÙNG NAM TRUNG BỘ

                                                                                               LÊ MINH PHỤNG*

       Nam Trung Bộ được xác định là vùng 4 (gồm 8 tỉnh, 1 thành phố trực thuộc Trung ương) trong nghiên cứu thực tế của Dự án PAPI 2011. Dưới đây, khái quát kết quả nghiên cứu về vùng này.

1. Điểm số PAPI tổng hợp của 9 địa phương vùng Nam Trung Bộ1

Các địa phương cấp tỉnh ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ có điểm số PAPI 2011 tương đối khác nhau. Bình Đình và Đà Nẵng nằm trong nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất; Quảng Nam trong nhóm đạt điểm trung bình cao, Thừa Thiên - Huế và Khánh Hòa trong nhóm đạt điểm trung bình thấp; trong khi đó 4 tỉnh trong nhóm đạt điểm thấp nhất gồm Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Bình Thuận và Phú Yên (Xem Bảng 1).

Kết quả ở từng nội dung cụ thể cho thấy, Bình Định thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Tham gia của người dân ở cấp cơ sở”; không có địa phương nào trong vùng thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực “Công khai, minh bạch”; Bình Định thuộc về nhóm cao nhất ở nội dung “Trách nhiệm giải trình với người dân”; Bình Định và Quảng Nam thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Kiểm soát tham nhũng”; Đà Nẵng thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Thủ tục hành chính công”; và 3 trong số 9 tỉnh trong vùng thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Cung ứng dịch vụ công”, gồm Bình Định, Đà Nẵng và Thừa Thiên - Huế.

Trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ, người dân tỉnh Phú Yên dường như chưa hài lòng về mức độ hiệu quả trong công tác quản trị và hành chính công của địa phương, thể hiện qua việc điểm số của tỉnh ở 5 trong 6 lĩnh vực nội dung đo lường trong Chỉ số PAPI nằm trong nhóm điểm thấp nhất, và lĩnh vực nội dung còn lại (kiểm soát tham nhũng) thuộc về nhóm điểm trung bình thấp.

Về mức độ nhận thức việc thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn của người dân, người dân tỉnh Thừa Thiên - Huế biết đến câu khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” nhiều hơn so với người dân ở 8 địa phương còn lại trong vùng. Nhận thức của người dân Đà Nẵng và Bình Định về “Pháp lệnh thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn” tốt hơn so với nhận thức về câu khẩu hiệu trên, và so với các tỉnh còn lại ở vùng này.

Khi đánh giá về mức độ dân chủ trong việc quyết định đóng góp cho các dự án đầu tư ở cộng đồng (thể hiện qua mức độ được tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình hình thành dự án, mức độ tự nguyện đóng góp, vai trò tham gia giám sát công trình), phản ánh của người dân Bình Thuận ít tích cực hơn so với người dân ở các tỉnh/thành phố còn lại. Việc tham gia của người dân trong các quyết định và quy trình đóng góp cho các công trình công cộng ở xã, phường, thị trấn của cả 9 tỉnh/thành phố còn hạn chế.

Về chất lượng bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, người dân Quảng Nam đánh giá cao hơn so với các tỉnh/thành phố còn lại trong khu vực. Người dân ở cả 9 tỉnh/thành phố trong khu vực, đặc biệt là Bình Định, đều đánh giá cao cơ hội được tham gia bầu cử vị trí trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố.

Về mức độ công khai, minh bạch ở các nội dung cụ thể gồm: công khai danh sách hộ nghèo, ngân sách cấp xã/phường, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Quảng Nam và Bình Định là 2 địa phương trong khu vực được người dân đánh giá tốt hơn khi so với các địa phương còn lại. Điểm số của 2 địa phương này đều trên điểm trung bình chung toàn quốc. Mức độ công khai, minh bạch trong việc lập danh sách hộ nghèo ở các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa và Thừa Thiên - Huế dường như cao hơn so với các tỉnh/thành phố khác trong vùng. Quảng Ngãi được người dân đánh giá khá tốt về mức độ công khai, minh bạch trong thu chi ngân sách cấp xã. Vấn đề còn tồn tại ở cả 9 tỉnh/thành phố (cũng như trên phạm vi toàn quốc) là mức độ công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. So với các tỉnh/thành phố khác trong vùng, Khánh Hòa và Thừa Thiên - Huế là 2 địa phương cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao mức độ công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Về trách nhiệm giải trình với người dân, Bình Định đạt điểm cao nhất so với các tỉnh/thành phố khác trong vùng, tiếp đến là Đà Nẵng. Điểm mạnh của Bình Định là ở chỗ người dân đánh giá khá cao về hiệu quả của Ban Thanh tra nhân dân ở địa phương, trong khi đó người dân Đà Nẵng khá hài lòng với hiệu quả của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng. Người dân Ninh Thuận và Đà Nẵng dường như khá hài lòng với mức độ hiệu quả trong tương tác với chính quyền địa phương khi có vấn đề cần đến các cấp chính quyền.

Về kiểm soát tham nhũng trong lĩnh vực công, Bình Định và Quảng Nam là 2 trong số 9 tỉnh/thành phố trong khu vực thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất. Các tỉnh trong khu vực được người dân đánh giá khá tốt về hiệu quả kiểm soát tham nhũng trong cung ứng các dịch vụ công gồm y tế tuyến huyện và giáo dục tiểu học. Vấn đề tồn tại của cả 9 tỉnh/thành phố khiến điểm trung bình chung của lĩnh vực nội dung này chưa cao là ở chỗ người dân cho rằng, tuyển dụng nhân lực vào khu vực nhà nước ở cả 5 tỉnh còn nặng tính “vị thân”, có nghĩa là mối quan hệ để xin được việc vào khu vực nhà nước là rất quan trọng. Đây không phải là vấn đề riêng của khu vực, bởi điểm số ở nội dung thành phần này của 63 tỉnh/thành phố đều thấp. Trong số 9 tỉnh/thành phố khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, thì tình trạng “vị thân” ở Phú Yên dường như phổ biến hơn cả. Chính quyền tỉnh Bình Định được người dân đánh giá là có quyết tâm phòng, chống tham nhũng cao. Đà Nẵng và Thừa Thiên - Huế được đánh giá thấp hơn về quyết tâm phòng chống tham nhũng của chính quyền khi so với các địa phương khác trong khu vực.

Về thủ tục hành chính công, có sự khác biệt tương đối lớn giữa 9 tỉnh/thành phố trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Đà Nẵng là địa phương duy nhất nằm trong số những tỉnh đứng đầu ở lĩnh vực nội dung này. Có tới 6 trong số 9 tỉnh/thành phố trong khu vực có điểm số thuộc về nhóm tỉnh đạt điểm thấp nhất, gồm Bình Thuận, Thừa Thiên - Huế, Phú Yên, Quảng Nam, Khánh Hòa và Quảng Ngãi.

Ở dịch vụ hành chính về chứng thực, xác nhận, trừ Khánh Hòa, 8 tỉnh/thành phố còn lại trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ dường như có chất lượng dịch vụ chứng thực, xác nhận đều khá. Người dân Quảng Ngãi rất hài lòng với chất lượng dịch vụ hành chính trong lĩnh vực này. Mặc dù vậy, vẫn còn những tiêu chí cần củng cố, đặc biệt là công khai, minh bạch về mức phí phải nộp, mức độ thạo việc và thái độ của công chức thừa hành. Riêng Khánh Hòa cần có chú trọng nâng cao điểm số ở cả 8 tiêu chí được đánh giá. Ninh Thuận cần lưu ý tới 3 tiêu chí là niêm yết phí công khai, năng lực công chức và lịch trả kết quả.

Trong số 8 tỉnh/thành phố có người dân đã từng làm thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất, người dân Đà Nẵng dường như hài lòng hơn với dịch vụ hành chính này. Tuy nhiên, người dân Đà Nẵng vẫn chưa được hài lòng với một số tiêu chí như thông tin về thủ tục giấy tờ, lịch hẹn nhận và trả kết quả. Bình Định làm tốt ở 2 tiêu chí gồm thông tin rõ ràng về thủ tục cần làm và giấy tờ không quá rườm rà, song lại cần cải thiện ở 6 tiêu chí còn lại. Khánh Hòa cần đặc biệt chú ý tới các tiêu chí gồm lịch nhận và trả kết quả, nâng mức hài lòng chung đối với dịch vụ hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất.

Về cung ứng dịch vụ công, Đà Nẵng đứng đầu danh sách trên toàn quốc. 2 địa phương khác trong vùng thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất là Bình Định và Thừa Thiên - Huế. Quảng Ngãi và Phú Yên thuộc về nhóm đạt điểm thấp nhất. Người dân Đà Nẵng hài lòng về cơ sở hạ tầng căn bản ở địa phương như: đường sá, nước sinh hoạt, thu gom rác thải và điện lưới. Người dân Quảng Nam khá hài lòng với dịch vụ y tế công lập ở bệnh viện tuyến huyện. Người dân Bình Thuận tương đối hài lòng với dịch vụ giáo dục tiểu học công lập, song phản ánh tình hình an ninh, trật tự ở địa bàn dân cư chưa được tốt.

Về y tế công lập, các tỉnh trong vùng còn nhiều tồn tại về chất lượng bệnh viện công lập tuyến huyện. Theo đánh giá từ trải nghiệm của người dân, bệnh viện tuyến huyện của Thừa Thiên - Huế chưa đáp ứng được 10 tiêu chí được sử dụng để đánh giá. Người dân Đà Nẵng còn phàn nàn nhiều về tình trạng bệnh nhân vẫn phải nằm chung giường; phải chờ đợi lâu để được khám bệnh và thái độ phục vụ bênh nhân của cán bộ y tế. Người dân Quảng Ngãi phản ánh hiện trạng người bệnh phải nằm chung giường mặc dù có hài lòng hơn so với người dân ở các tỉnh/thành phố khác trong vùng.

Chất lượng trường tiểu học công lập ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ còn nhiều tồn tại ở tất cả các tiêu chí được đo lường. Người dân Ninh Thuận dường như chưa hài lòng với chất lượng trường tiểu học công lập ở cả 9 tiêu chí được đo lường, đặc biệt là ở khía cạnh trình độ và tình trạng ưu ái học sinh học thêm của giáo viên và vấn đề công khai thu chi của trường với phụ huynh học sinh. So với 8 tỉnh trong khu vực, tổng chất lượng trường học của Quảng Ngãi theo các tiêu chí đo lường có cao hơn một chút, song điểm số của cả 9 tiêu chí đều thấp hơn nhiều so với điểm hoàn hảo.

2. Nhận xét chung:

- PAPI không chỉ là một bộ chỉ số tổng hợp, mà còn là tập hợp của rất nhiều chỉ số thành phần đo lường định lượng hiệu quả của nhiều lĩnh vực liên quan đến quản trị và hành chính công cấp tỉnh. PAPI được thực hiện thường niên từ năm 2011 trở đi nhằm chỉ báo xu hướng thay đổi ở và cấp tỉnh, cấp vùng và cả cấp quốc gia. Sau khi được thực hiện lặp lại nhiều lần, Chỉ số PAPI sẽ là cơ sở để đánh giá kết quả và tác động của nhiều nỗ lực cải cách ở địa phương và cấp quốc gia.

- Việc so sánh giữa các tỉnh/thành phố trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ và trên toàn quốc cho thấy, phần nào những điểm mạnh, điểm yếu của các địa phương và mức độ chuyển biến qua thời gian. Từ những kết quả so sánh đó, các địa phương trong vùng và trên toàn quốc có thể xem xét học hỏi kinh nghiệm của nhau ở những chỉ tiêu, chỉ số, nội dung và lĩnh vực đã làm tốt, từ đó tìm hướng cải thiện hiệu quả công tác quản trị và hành chính ở địa phương2.#

- Chỉ số PAPI cũng cung cấp hệ thống chỉ báo để các nhà hoạch định chính sách ở trung ương và cơ quan thực thi chính sách ở địa phương có thể xem xét điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn.

_______________________________________

1. Theo Báo cáo tổng hợp kết quả Dự án do CECODES và UNDP công bố ngày 3-5-2012 tại Hà Nội.
2. Để so sánh xem thêm Tạp chí Mặt trận số 105 các bài: “Mấy vấn đề về hành chính công cấp tỉnh vùng Bắc Trung Bộ”; “Thực trạng về hành chính công cấp tỉnh vùng Tây Nguyên”.

* TS, Tạp chí Môi trường & Cuộc sống.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



MẤY VẤN ĐỀ VỀ
HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ

                                                                                        NGUYỄN THU THẢO*

        Bắc Trung Bộ theo nghiên cứu thực tế của Dự án PAPI 2011 là vùng 3 gồm 9 tỉnh. Hà Nam, Nam Định, Hoà Bình, Ninh Bình là 4 tỉnh thuộc miền Bắc nhưng để cân đối vùng nghiên cứu nên đã xếp vào vùng 3. Bài viết này giới thiệu mấy vấn đề về hành chính công cấp tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo kết quả khảo sát thực tế năm 2011…

1. Điểm số PAPI tổng hợp của các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ

Trên phạm vi toàn quốc, mức độ hiệu quả quản trị và hành chính ở tỉnh/thành phố có nhiều điểm tương đồng. Các thứ hạng này không phụ thuộc nhiều điều kiện kinh tế-xã hội, địa lý khác nhau. Điểm số ở lĩnh vực nội dung về cung ứng dịch vụ công là thế mạnh của tất cả 63 tỉnh/thành phố. Điểm số ở các lĩnh vực khác đều yếu hơn. Nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất ở Bắc Trung Bộ có: Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nam Định, Hòa Bình, Thanh Hóa. Nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm thấp nhất vùng này có: Ninh Bình.

Các tỉnh ở Bắc Trung Bộ có điểm số PAPI 2011 tương đối cao. Có tới 6 trong số 9 tỉnh vùng này có điểm số PAPI 2011 tổng hợp thuộc nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất, gồm Hà Tĩnh, Nam Định, Quảng Bình, Quảng Trị, Hòa Bình và Thanh Hóa. 2 địa phương thuộc nhóm đạt điểm trung bình cao là Nghệ An và Hà Nam. Chỉ có Ninh Bình thuộc nhóm đạt điểm thấp nhất (xem Bảng 1). Quảng Bình, Quảng Trị và Hà Tĩnh là 3 trong số 5 địa phương đạt điểm tổng hợp cao nhất trong cả nước.

2. Phân tích cụ thể những chỉ số tại các trục nội dung vùng Bắc Trung Bộ

 Kết quả ở từng nội dung cụ thể cho thấy, Quảng Bình, Quảng Trị và Hòa Bình thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Tham gia của người dân ở cấp cơ sở”; 6 trong số 9 tỉnh vùng này thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực “Công khai, minh bạch”; 8 trong số 9 tỉnh thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất ở nội dung “Trách nhiệm giải trình với người dân”; không có địa phương nào trong khu vực thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Kiểm soát tham nhũng”; 5 trong số 9 tỉnh thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Thủ tục hành chính công”; và 2 trong số 9 tỉnh vùng này thuộc nhóm đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung “Cung ứng dịch vụ công”, gồm Quảng Bình và Quảng Trị.

Tại vùng Bắc Trung Bộ, người dân tỉnh Ninh Bình dường như chưa hài lòng về mức độ hiệu quả trong công tác quản trị và hành chính công của địa phương, thể hiện qua việc điểm số của tỉnh ở 3 trong 6 lĩnh vực nội dung đo lường trong Chỉ số PAPI nằm trong nhóm điểm thấp nhất, và 3 lĩnh vực nội dung còn lại (gồm “kiểm soát tham nhũng”; “công khai, minh bạch” và “cung ứng dịch vụ công”) thuộc về các nhóm điểm trung bình.

Về mức độ nhận thức việc thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn của người dân: người dân tỉnh Quảng Bình biết đến câu khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và “Pháp lệnh thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn” đều tốt. Nhận thức về các vị trí dân cử của người dân Quảng Bình cũng cao hơn so với của người dân ở các tỉnh trong vùng. Tỉ lệ người dân Hà Tĩnh cũng biết đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn cũng cao so với cả nước và vùng này. Người dân Ninh Bình biết đến câu khẩu hiệu “Dân biết,…” nhiều hơn là biết đến Pháp lệnh.

Về chất lượng bầu cử trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố: người dân Quảng Trị đánh giá cao hơn so với các tỉnh/thành phố còn lại trong vùng. Người dân ở 7 trong số 9 tỉnh vùng này, đặc biệt là Hòa Bình, đánh giá cao cơ hội được tham gia bầu cử vị trí trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố.

Khi đánh giá về mức độ dân chủ trong việc quyết định đóng góp cho các dự án đầu tư ở cộng đồng (thể hiện qua mức độ được tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình hình thành dự án, mức độ tự nguyện đóng góp, vai trò tham gia giám sát công trình), phản ánh của người dân Nghệ An và Quảng Trị ít tích cực hơn so với người dân ở các tỉnh còn lại. Việc tham gia của người dân trong các quyết định và quy trình đóng góp cho các công trình công cộng ở xã, phường, thị trấn của cả 9 tỉnh còn nhiều hạn chế.

Về mức độ công khai, minh bạch ở các nội dung cụ thể gồm công khai danh sách hộ nghèo, ngân sách cấp xã/phường, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Hà Tĩnh và Nam Định là 2 địa phương trong vùng được người dân đánh giá tốt hơn khi so với các địa phương còn lại. Điểm số của 2 địa phương này đều gần với điểm của tỉnh đạt điểm cao nhất. Mức độ công khai, minh bạch trong việc lập danh sách hộ nghèo ở các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Nam Định dường như cao hơn so với các tỉnh khác trong vùng. Nam Định, Quảng Bình và Quảng Trị được người dân đánh giá khá tốt về mức độ công khai, minh bạch trong thu chi ngân sách cấp xã. Vấn đề còn tồn tại ở cả 9 tỉnh (cũng như trên phạm vi toàn quốc) là mức độ công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và khung giá đất. So với các tỉnh khác trong vùng, Hà Nam và Hòa Bình là 2 địa phương cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao mức độ công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hà Tĩnh, Nam Định và Quảng Bình đạt điểm tương đối tốt ở lĩnh vực này.

Về trách nhiệm giải trình với người dân, có tới 3 tỉnh trong vùng đạt mức điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung này, gồm Quảng Trị, Quảng Bình và Hà Tĩnh. Ngoài ra, Nghệ An, Nam Định, Hà Nam, Hòa Bình và Thanh Hóa cũng nằm trong nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất. Điểm mạnh của các tỉnh đạt mức điểm cao là nhờ mức độ hài lòng cao của người dân đối với sự hiện diện và hiệu quả của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng ở địa phương. Người dân các tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An và Hòa Bình dường như khá hài lòng với mức độ hiệu quả trong tương tác với chính quyền địa phương khi có vấn đề cần đến các cấp chính quyền khi có bức xúc hay khúc mắc cần giải quyết. Riêng Ninh Bình cần củng cố ở cả ba tiêu chí để đạt được mức độ hài lòng cao hơn ở phương diện trách nhiệm giải trình với người dân.

Về kiểm soát tham nhũng trong lĩnh vực công: không có tỉnh nào trong vùng Bắc Trung Bộ thuộc về nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất. Đây là lĩnh vực mà các tỉnh trong vùng cần lưu tâm cải thiện trong thời gian tới. Ở từng nội dung thành phần cụ thể, các tỉnh trong vùng được người dân đánh giá khá tốt về hiệu quả kiểm soát tham nhũng trong cung ứng các dịch vụ công gồm y tế tuyến huyện và giáo dục tiểu học, tương đối tốt trong kiểm soát tham nhũng trong chính quyền địa phương. Vấn đề tồn tại của cả 9 tỉnh phố khiến điểm trung bình chung của lĩnh vực nội dung này chưa cao là ở chỗ người dân cho rằng tuyển dụng nhân lực vào khu vực nhà nước ở cả năm tỉnh còn nặng tính “vị thân”, có nghĩa là mối quan hệ để xin được việc vào khu vực nhà nước là rất quan trọng. Đây không phải là vấn đề riêng của khu vực, bởi điểm số ở nội dung thành phần này của 63 tỉnh/thành phố đều thấp. Trong số 9 tỉnh trong khu vực, thì tình trạng “vị thân” ở Ninh Bình, Hà Nam và Hòa Bình dường như phổ biến hơn cả. Mặc dù vậy, chính quyền của cả 3 tỉnh được người dân đánh giá là có quyết tâm phòng, chống tham nhũng. Quảng Bình, Nam Định và Thanh Hóa được đánh giá thấp hơn về quyết tâm phòng chống tham nhũng của chính quyền khi so với các địa phương khác trong khu vực.

Về thủ tục hành chính công, mức độ hiệu quả trong cung ứng dịch vụ hành chính ở những thủ tục được PAPI đo lường trong năm 2011 là tương đối đồng đều giữa 9 tỉnh trong khu vực. Quảng Bình là địa phương đứng đầu trong nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất ở lĩnh vực nội dung này. Ngoài ra, còn có Nam Định, Quảng Trị, Thanh Hóa và Hà Tĩnh thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất. Không có tỉnh nào trong vùng đạt điểm thấp nhất ở lĩnh vực nội dung này.

Ở dịch vụ hành chính về chứng thực, xác nhận: 9 tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ được người dân đánh giá tốt về thủ tục và chất lượng dịch vụ chứng thực, xác nhận, mặc dù so với mức độ hoàn hảo các địa phương cũng vẫn cần cố gắng hơn nữa. Chẳng hạn ở Nghệ An, người dân vẫn cho rằng tỉnh cần thực hiện niêm yết công khai phí và lệ phí; với Hà Tĩnh cũng cần cải thiện hơn ở tiêu chí về niêm yết phí và lệ phí và hẹn lịch trả kết quả.

Về chất lượng dịch vụ hành chính và thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất: Trong số 9 tỉnh vùng này, Nam Định và Quảng Trị được đánh giá cao hơn về dịch vụ hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất, song điểm số ở các tiêu chí là chưa đồng đều. Với tỉnh Quảng Bình, điểm số ở các tiêu chí đều hơn. Chẳng hạn, với tỉnh Nam Định, người dân chưa hài lòng ở các tiêu chí như không quá nhiều giấy tờ, hẹn ngày nhận và trả kết quả đúng lịch và mức độ hài lòng nói chung với dịch vụ. Ninh Bình cần tập trung chú ý cải thiện ở tất cả các tiêu chí đánh giá thủ tục và chất lượng dịch vụ hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất.

Về cung ứng dịch vụ công: Quảng Bình và Quảng Trị là 2 địa phương trong vùng thuộc về nhóm đạt điểm cao nhất. Hà Nam thuộc về nhóm tỉnh đạt điểm thấp nhất. Người dân Quảng Bình hài lòng về cơ sở hạ tầng căn bản ở địa phương như đường sá, nước sinh hoạt, thu gom rác thải và điện lưới. Người dân Hà Tĩnh khá hài lòng với dịch vụ y tế công lập ở bệnh viện tuyến huyện. Người dân Thanh Hóa tương đối hài lòng với dịch vụ giáo dục tiểu học công lập. Mức độ hài lòng của người dân về an ninh, trật tự địa bàn khu dân cư ở cả 9 tỉnh chỉ đạt mức trung bình khá.

Về y tế công lập: mỗi tỉnh trong khu vực còn những tồn tại khác nhau về chất lượng bệnh viện công lập tuyến huyện. Theo đánh giá từ trải nghiệm của người dân, bệnh viện tuyến huyện của Nam Định chưa đáp ứng được các tiêu chí nêu trong biểu đồ hình sao. Đặc biệt, theo phản ánh của người dân, hiện tượng bác sĩ chỉ định bệnh nhân đến nhà thuốc tư nhân quen biết để mua thuốc diễn ra khá phổ biến. Người dân Quảng Bình, Thanh Hóa, Hà Nam còn phàn nàn nhiều về tình trạng bệnh nhân vẫn phải nằm chung giường; Riêng Hà Tĩnh, hiện tượng người dân phải nằm chung giường và thời gian chờ đợi quá lâu khiến người dân chưa hài lòng với bệnh viện tuyến huyện.

Chất lượng trường tiểu học công lập ở vùng Bắc Trung Bộ còn nhiều tồn tại ở tất cả các tiêu chí được đo lường. Người dân Hà Nam, Quảng Trị, Hòa Bình và Thanh Hóa chưa hài lòng ở phần lớn các tiêu chí. So với 9 tỉnh khác trong vùng, tổng chất lượng trường học của Hà Tĩnh theo các tiêu chí đo lường có cao hơn một chút, song điểm số của cả 9 tiêu chí đều thấp hơn nhiều so với điểm hoàn hảo. Đặc biệt là ở 2 tiêu chí gồm “giáo viên không ưu ái học sinh học thêm” và “nước sạch để uống ở trường” cần được cải thiện để người dân hài lòng hơn.

*
* *

Mặc dù có thể một số tiêu chí, một số nhận xét còn phải cân nhắc thêm song nhìn chung sự cảm nhận của người dân vùng Bắc Trung Bộ về hành chính công tại địa phương là khá khách quan. Hy vọng rằng, PAPI 2012 sẽ bổ sung nâng cao giá trị nghiên cứu thực tiễn và giúp ích hiệu quả cho xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh giai đoạn 2012 - 2015.1

___________________________________________

1. Để so sánh xem thêm Tạp chí Mặt trận số 105 các bài: “ Chỉ số hiệu quả và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2011 vùng Nam Trung Bộ”; “Thực trạng về hành chính công cấp tỉnh vùng Tây Nguyên”…

* ThS, Thư ký Toà soạn Tạp chí Mặt trận. Bài viết theo phân công của Chi hội nhà báo Tạp chí Mặt trận.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             

 
 

 

 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   Chợ bến Thành ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Vănmiếu
TP Hà Nội

 

    Kon Tum

              Quảng Nam


Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn