Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 

 



   


              
 


TRÔNG ĐỢI CỦA NHÂN DÂN VÀO QUỐC HỘI VÀ CHÍNH PHỦ
ĐỐI VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ BỨC XÚC HIỆN NAY CỦA ĐẤT NƯỚC

                                                                                                              SONG NỮ ANH*

        Hướng tới kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XIII, cử tri và nhân dân cả nước đã phản ánh tình hình bức xúc hiện nay của đất nước và đưa ra những ý kiến, kiến nghị đối với Quốc hội và Chính phủ qua báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân của các địa phương tại các hội nghị tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu Quốc hội diễn ra trước kỳ họp. Dưới đây, xin tóm lược những ý kiến, kiến nghị và sự trông đợi của cử tri và nhân dân vào những hành động quyết liệt của nhà nước trước những vấn đề bức xúc hiện nay của đất nước.

1. Đối với tình hình kinh tế của đất nước có dấu hiệu giảm sút

Cử tri và nhân dân phản ánh tình hình sản xuất hiện nay gặp nhiều khó khăn, thách thức: tăng trưởng kinh tế những tháng đầu năm đạt thấp, sức mua giảm sút, hàng hoá tồn kho lớn, hàng chục ngàn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải giải thể, phá sản, tạm ngừng hoặc thu hẹp sản xuất; người lao động mất việc làm tăng, gây nhiều bức xúc trong xã hội. Mặc dù lãi suất huy động giảm nhưng thực tế nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn do lãi suất cho vay giảm chậm, thủ tục, điều kiện vay vốn phức tạp. Nhiều cử tri cho rằng, tình hình hiện nay, cả người gửi tiết kiệm và người đi vay đều phải chịu thiệt; ngành ngân hàng được lợi…

Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo sớm có giải pháp đồng bộ về cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

Các tập đoàn kinh tế nhà nước được đầu tư lớn về vốn, đất đai và nhiều ưu đãi khác nhưng kết quả hoạt động không tương xứng; nhiều tập đoàn đầu tư ngoài ngành hiệu quả thấp, lâm vào tình trạng khó khăn, khó thu hồi vốn, thậm chí có tập đoàn làm ăn thua lỗ. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ sớm có giải pháp tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là cơ cấu về các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế Nhà nước, về đầu tư công… nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững, trả được vốn vay trong và ngoài nước.

Cử tri và nhân dân kiến nghị cần nhanh chóng giải quyết tình trạng đầu tư công dàn trải, khai thác tài nguyên bừa bãi, cạn kiệt nhưng không biết tận dụng hiệu quả cho phát triển kinh tế, chủ yếu dành cho xuất khẩu; thiếu các chính sách hỗ trợ, phát triển kinh tế tư nhân, để cho tình trạng độc quyền kinh doanh nhà nước tràn lan... khiến môi trường kinh doanh còn méo mó, kém hiệu quả, thiếu tính cạnh tranh.

Đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn còn dàn trải, hiệu quả thấp; chưa huy động được sức mạnh nội lực của nhân dân ở từng địa phương, cử tri và nhân dân kiến nghị nhà nước tăng cường hơn nữa và nâng cao hiệu quả đầu tư lĩnh vực này; và kiến nghị các cơ quan Trung ương hướng dẫn cụ thể để các tỉnh cụ thể hóa tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với địa phương do bộ tiêu chí nông thôn mới có những điểm chưa thực sự phù hợp với các địa bàn khó khăn, miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa…

2. Đối với đời sống còn nhiều khó khăn của nhân dân

Hiện nay, đời sống của nhiều công nhân lao động, nông dân, người nghèo, đồng bào vùng sâu vùng xa, người có thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn do giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng cao. Cử tri và nhân dân kiến nghị Chính phủ có các giải pháp nhằm bình ổn giá cả các mặt hàng thiết yếu, đồng thời tăng cường hơn nữa các biện pháp quản lý, kiểm soát giá cả thị trường, xử lý nghiêm những trường hợp tự ý nâng giá, tăng giá bất hợp lý.

Thời tiết năm nay có nhiều diễn biến phức tạp, rét đậm, rét hại kéo dài, nắng nóng bất thường; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều, nơi nhất là ở các khu công nghiệp, làng nghề; nạn phá rừng, khai thác khoáng sản bừa bãi; tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ tràn lan trên thị trường thiếu sự kiểm soát của cơ quan chức năng vẫn diễn ra nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sản xuất và sức khoẻ người dân. Tình hình dịch bệnh, nhất là dịch chân tay miệng diễn biến phức tạp ở một số địa phương, bệnh lạ xuất hiện ở Quảng Ngãi khiến nhiều người chết nhưng chậm được làm rõ và chữa trị chưa có hiệu quả. Việc khám chữa bệnh thủ tục còn nhiêu khê; khi ốm đau phải vào viện thực sự là nỗi ám ảnh, khốn đốn đối với người nghèo, người có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, tệ nạn xã hội, tội phạm không giảm, nhất là các vụ cướp của giết người táo tợn, nhiều thủ phạm ở tuổi vị thành niên; tình trạng cháy nổ diễn ra ở nhiều nơi, việc cháy nổ ô tô, xe máy chưa được kết luận rõ ràng… gây bất an trong đời sống người dân. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo có những giải pháp đồng bộ, quyết liệt nhằm chấn chỉnh, khắc phục tình trạng trên.

3. Đối với tình hình khiếu nại, tố cáo ngày càng phức tạp và gia tăng hiện nay

Những tháng đầu năm 2012, tình hình khiếu nại, tố cáo có nhiều diễn biến phức tạp. Số vụ việc, số lượt công dân, số lượng đoàn đông người, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo đều tăng, trong đó khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn; một số vụ khiếu nại, tố cáo đông người có sự kích động của các phần tử xấu.

Tình trạng một số dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản được lấy đất, cấp đất ở những khu bờ xôi, ruộng mật... khiến người dân mất đất canh tác, mất phương tiện sản xuất trong khi chỉ được đền bù những khoản tiền nhỏ, chỉ đủ nuôi sống họ vài tháng cũng đang gây nên những bức xúc gay gắt, có lúc đe dọa bùng phát, làm mất ổn định trật tự xã hội.

Cử tri và nhân dân cho rằng, tình trạng trên chủ yếu là do chính sách bồi thường cho người có đất bị thu hồi còn nhiều bất cập, hay thay đổi, thiếu nhất quán, giá bồi thường thấp, có sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất bồi thường so với giá trị trường hoặc giá nhà đầu tư bán; thu hồi đất nhưng chậm sử dụng, để hoang hoá trong khi người dân không có đất để sản xuất; công tác quản lý đất đai còn sơ hở, lỏng lẻo; không ít cán bộ lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực nhưng không bị xử lý nghiêm minh, gây bức xúc trong nhân dân.

Cử tri và nhân dân hoan nghênh Chính phủ thời gian qua đã có nhiều cố gắng trong chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo và tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc về khiếu nại, tố cáo vừa qua. Tuy nhiên, cử tri và nhân dân cho rằng, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, một số địa phương chưa tổ chức tốt việc tiếp công dân, chưa gắn công tác tiếp công dân với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; nhiều vụ việc giải quyết còn chậm; một số vụ việc giải quyết không đúng chính sách, pháp luật và thực tế; còn né tránh, đùn đẩy, thấy sai phạm nhưng chưa có biện pháp khắc phục; nhiều địa phương chưa quan tâm đến việc giải quyết dứt điểm các vụ việc.

Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục dứt điểm tình trạng trên; giải quyết tới nơi tới chốn những vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài; chỉ đạo người đứng đầu chính quyền các cấp phải dành thời gian để tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc thu hồi đất phải đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người dân có đất bị thu hồi; việc tổ chức cưỡng chế phải đúng trình tự pháp luật, có lý, có tình, phải đối thoại, vận động trước khi cưỡng chế; làm rõ trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không thực hiện đúng pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, đùn đẩy, né tránh trong giải quyết khiếu nại tố cáo, để xảy ra tình trạng khiếu nại đông người, khiếu nại vượt cấp và xử lý nghiêm đối với những trường hợp lợi dụng khiếu nại, tố cáo để kích động người khác tụ tập đông người trái pháp luật, gây rối an ninh trật tự.

Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội sớm xem xét ban hành Luật về Tiếp công dân, Luật về biểu tình làm cơ sở đấu tranh, xử lý những trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để gây rối; Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về tài chính đất đai, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, về trình tự, thủ tục cưỡng chế thu hồi đất; Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai, tiến tới xây dựng Bộ luật Đất đai hoàn chỉnh phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

4. Đối với nạn tham nhũng, lãng phí ngày càng nghiêm trọng, phức tạp và tinh vi

Cử tri và nhân dân phản ánh, công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua mặc dù có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị nhưng vẫn chưa đạt được mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi. Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trong các lĩnh vực và hoạt động liên quan đến đất đai, khoáng sản; đầu tư công; xây dựng cơ bản; quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; thu chi ngân sách, mua sắm tài sản công; công tác cán bộ; quan hệ giữa cơ quan, cán bộ nhà nước với người dân, doanh nghiệp; người dân khi xin việc làm, học hành, chữa bệnh hầu như đều phải “lót tay” mới được việc...

Cử tri và nhân dân cho rằng số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện xử lý chưa phản ánh đúng tình hình tham nhũng đang diễn ra; việc xử lý các vụ án tham nhũng thường bị kéo dài, trong đó các vụ án nghiêm trọng, phức tạp thường bị kéo dài theo hướng thu hẹp vụ án; tội phạm tham nhũng được cho hưởng án treo còn nhiều, tài sản bị tham nhũng hoặc bị thiệt hại do tham nhũng được thu hồi và bồi thường còn rất hạn chế.

Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ sớm sửa đổi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và có giải pháp đồng bộ, tập trung phòng chống tham nhũng, lãng phí; sớm cụ thể hoá, thể chế hoá Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; sớm tổ chức lại cơ quan phòng chống tham nhũng đủ mạnh; kiên quyết xử lý các đơn vị, cá nhân mua sắm, sử dụng tài sản công không đúng quy định, gây lãng phí ngân sách nhà nước; sớm thực hiện chủ trương lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

Cử tri và nhân dân cho rằng, tình trạng lãng phí diễn ra phổ biến trong sản xuất và tiêu dùng, trong đầu tư, mua sắm tài sản công… Đầu tư công dàn trải, hiệu quả chưa cao; nhiều công trình dở dang do thiếu vốn, nhiều công trình xây dựng xong nhưng không khai thác hoặc khai thác kém hiệu quả gây lãng phí nghiêm trọng. Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục tình trạng trên.

5. Đối với nỗi lo thường trực của người dân về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông

Tình hình tai nạn giao thông thời gian qua vẫn hết sức phức tạp, gây thiệt hại lớn về người và của. Ùn tắc giao thông vẫn xảy ra thường xuyên ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Cử tri và nhân dân hoan nghênh nỗ lực, quyết tâm của ngành giao thông vận tải và chính quyền một số địa phương trong việc đề ra các giải pháp nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Tuy nhiên, những giải pháp đưa ra chỉ mang tính tình thế, chưa căn bản, đồng bộ, hiệu quả không cao; thậm chí một số giải pháp dự kiến đưa ra chưa sát thực tiễn, nhiều cử tri và nhân dân không đồng tình.

Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo có giải pháp đồng bộ, quyết liệt kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông; quan tâm đến việc quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về giao thông, phương tiện giao thông công cộng, tổ chức, quản lý, điều hành giao thông; tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc tuyên truyền, vận động để người dân nâng cao ý thức, tự giác chấp hành luật lệ giao thông đi đôi với việc tăng cường các biện pháp xử phạt những người cố tình vi phạm luật lệ giao thông; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, các cơ quan, tổ chức hữu quan trước khi ban hành các giải pháp về kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.

6. Đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Cử tri và nhân dân đánh giá cao sự đổi mới bước đầu về tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XIII; Quốc hội đã thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 Cử tri và nhân dân cả nước mong muốn và kiến nghị Quốc hội khóa XIII tiếp tục đổi mới về tổ chức, nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động, thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội; Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội; quan tâm giám sát các lĩnh vực mà nhân dân có nhiều ý kiến bức xúc, nhất là trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, nợ công và chi tiêu công, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân... Cần nâng cao chất lượng giám sát tại các kỳ họp của Quốc hội. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn cần tập trung vào những vấn đề bức xúc, cử tri quan tâm, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc tiếp thu, giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhân dân và các đại biểu Quốc hội.

Đối với đại biểu Quốc hội, cử tri và nhân dân cho rằng việc tiếp xúc cử tri, thu thập, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri của nhiều đại biểu Quốc hội còn hạn chế, đại biểu Quốc hội mới chỉ tiếp xúc cử tri qua hình thức hội nghị trước và sau mỗi kỳ họp; chưa quan tâm tiếp xúc theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, vì vậy không nắm bắt được đẩy đủ những bức xúc trong các tầng lớp nhân dân; việc phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri giữa hai kỳ họp Quốc hội chưa được quan tâm; việc tham gia giám sát chính quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân còn nhiều hạn chế…

Cử tri và nhân dân kiến nghị Quốc hội quan tâm hơn nữa đến việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri; các đại biểu Quốc hội thực hiện tốt chương trình hành động của mình; thường xuyên giữ mối liên hệ và dành nhiều thời gian tiếp dân, tiếp xúc với cử tri; nêu gương trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có bản lĩnh và dũng khí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí...

Cử tri và nhân dân mong chờ sự chủ động của các đại biểu Quốc hội trong việc kịp thời đề ra quyết sách và hành động quyết liệt của cán bộ, công chức chính quyền các cấp trước những vấn đề bức xúc hiện nay để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

________________________________________

Nguồn: Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân của các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương và của UBTWMTTQ Việt Nam đối với kỳ họp thứ 3 Quốc hội XIII.

* ThS, cộng tác viên tại Hà Nội.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT TRONG THÁNG 7-2012

                                                                                                         TOÀN TRỰC*

        Tháng 7 có những ngày kỷ niệm quan trọng, có ý nghĩa lớn liên quan đến đời sống, chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước ta. Sau đây, xin giới thiệu một số sự kiện để bạn đọc tham khảo:

1. Ngày thành lập thành phố Hà Nội (19-7-1888):

Tỉnh Hà Nội được thành lập năm 1831 dưới triều vua Minh Mệnh. Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta. Đầu tháng 11-1873, chúng đánh chiếm thành Hà Nội. Năm 1884, nhà Nguyễn ký hòa ước công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 19-7-1888, Tổng thống Pháp Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội (phần còn lại thành lập tỉnh Hà Nam và Hà Đông). Năm 1902, thành phố Hà Nội trở thành Thủ đô của Liên bang Đông Dương.

Nhờ sự quy hoạch của người Pháp, Hà Nội dần dần có bộ mặt mới. Các công trình phủ Thống sứ, nhà Bưu điện, Kho bạc, nhà Đốc lý, cầu Long Biên, ga Hàng Cỏ... được xây dựng. Hà Nội cũng có thêm trường đua ngựa, các nhà thờ Cơ Đốc giáo cùng những nhà máy sản xuất bia, diêm, hàng dệt... Khi những nhà tư bản người Pháp tới Hà Nội ngày một nhiều hơn, các rạp chiếu phim, nhà hát, khách sạn... cũng xuất hiện, những con phố cũng thay đổi để phù hợp với tầng lớp dân cư mới. Không còn là một kinh thành thời phong kiến, Hà Nội ít nhiều mang dáng dấp của một đô thị châu Âu.

 Ngày 10-10-1954, Hà Nội được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của thực dân Pháp. Tiếp đó, Hà Nội đã trải qua những năm tháng chiến đấu chống Mỹ và xây dựng trong hòa bình, mở ra một thời kỳ mới trên con đường đổi mới và phát triển.

2. Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai (16 đến 20-7-1948):

Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai diễn ra trong các ngày từ 16 đến 20-7-1948 tại Việt Bắc, với hơn 200 đại biểu tham dự. Tại hội nghị này, đồng chí Trường Chinh đã đọc một bản báo cáo hết sức quan trọng với nhan đề Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, đề cập sâu hơn những quan điểm của Đảng ta về văn hóa mà trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) chưa có điều kiện trình bày cụ thể. Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của đồng chí Trường Chinh là một công trình phát triển nền văn hóa mới ở nước ta. Với Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, đồng chí Trường Chinh đã trình bày sâu sắc hơn những quy luật phát triển của văn hóa nói chung và tính chất, nhiệm vụ văn hóa dân chủ mới Việt Nam và mối quan hệ giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa tiến bộ trên thế giới.

Các tác phẩm “Đề cương văn hóa Việt Nam”, “Mấy nguyên tắc của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam lúc này”, và đặc biệt là cuốn “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” là những công trình đặt cơ sở lý luận cho đường lối xây dựng nền văn hóa cách mạng Việt Nam theo phương châm: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Cho đến nay, cả 3 nguyên tắc cơ bản trên vẫn là những vấn đề cốt lõi của nền văn hóa mới của Việt Nam.

3. Hợp nhất Hội nhà báo 2 miền Nam Bắc (7-7-1976):

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, các nhà báo ở miền Nam đã tập hợp lại trong Hội nhà báo Yêu nước và Dân chủ miền Nam. Sau khi thống nhất đất nước, ngày 7-7-1976, tại Hà Nội, Đoàn đại biểu Hội Nhà báo Việt Nam do ông Hoàng Tùng - Chủ tịch Hội, làm Trưởng đoàn và Đoàn đại biểu Hội Nhà báo Yêu nước và Dân chủ miền Nam do ông Tân Đức - Chủ tịch Hội, làm Trưởng đoàn họp Hội nghị bàn việc hợp nhất 2 tổ chức Hội. Trên cơ sở nhất trí hoàn toàn về ý nghĩa trọng đại của việc hợp nhất, Hội nghị quyết định: Từ ngày 7-7-1976, Hội Nhà báo Việt Nam và Hội Nhà báo Yêu nước và Dân chủ miền Nam hợp nhất thành một tổ chức báo chí duy nhất, hoạt động trên phạm vi cả nước, lấy tên chính thức là Hội Nhà báo Việt Nam và cử ông Hoàng Tùng làm Chủ tịch; các ông Tân Đức và Huỳnh Văn Tiểng làm Phó Chủ tịch; ông Lưu Quý Kỳ làm Tổng Thư ký.

Hiện nay, cả nước có trên 700 cơ quan truyền thông, gồm 1 hãng thông tấn quốc gia, 2 đài phát thanh, truyền hình quốc gia, 37 báo điện tử và nhiều báo in... Nhiều cơ quan báo chí đã lập Chi hội nhà báo thuộc Hội Nhà báo Việt Nam và ở 63 tỉnh, thành đều có Hội Nhà báo.

 4. Công bố Luật đất đai 1993 (14-7-1993):

Ngày 14-7-1993, Quốc hội thông qua Luật đất đai 1993, có hiệu lực từ ngày 15-10-1993.

Trước đó, ngay từ khi giành được độc lập năm 1945, Nhà nước ta đã có những văn bản pháp lý quản lý đất đai. Nhưng để nâng lên thành luật thì Luật đất đai năm 1987 là lần đầu tiên. Đến nay, nước ta đã ban hành thêm 2 luật đất đai nữa, đó là Luật đất đai 1993 (đã qua 2 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998 và 2001) và Luật đất đai 2003 (được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2003, thay thế Luật đất đai 1993) và có hiệu lực cho đến nay.

 Có thể nói, hệ thống chính sách pháp luật về đất đai ở nước ta đã có nhiều thay đổi tích cực và thu được những thành công lớn kể từ khi đổi mới. Đặc biệt, những thay đổi mới về quyền sử dụng đất của Luật Đất đai năm 1993 đã giúp nền kinh tế Việt Nam chuyển biến mạnh theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ, giúp tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao và ổn định, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong GDP, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh... Tuy nhiên, do những kẽ hở và sự thực thi Luật yếu của các cán bộ địa chính và các cán bộ có liên quan nên mặc dù đã liên tục có những bổ sung sửa đổi nhưng vẫn tồn tại và phát sinh nhiều vấn đề (như sự thiếu thống nhất giữa Luật Đất đai với các luật khác, cũng như thiếu phù hợp với qui hoạch kinh tế tổng thể, có sự khác biệt lớn giữa giá đất của Nhà nước và thị trường, vấn đề hạn điền và thời gian giao đất...). Hơn nữa, sự thiếu trách nhiệm và yếu kém của cán bộ trong ngành địa chính đã dẫn tới sự thiếu minh bạch và khó khăn trong đền bù, giải phóng mặt bằng và tạo điều kiện cho tham nhũng, chiếm dụng đất đai, cấp đất sai phép... làm cho việc kiện tụng, khiếu nại dài ngày với số người ngày càng tăng, gây lãng phí và thiệt hại lớn cho Nhà nước cả trong ngắn hạn và dài hạn1.

5. Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (9-7-1912/2012):

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9-7-1912, tại thôn Phù Khê, xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ khi mới 15 tuổi. Tháng 8-1928 ông đi “vô sản hóa” ở vùng mỏ Đông Bắc và trở thành người chỉ đạo trực tiếp phong trào công nhân, phong trào cộng sản tại đây.

 Năm 1930, Nguyễn Văn Cừ thành lập chi bộ Đảng CSVN đầu tiên ở Vùng mỏ Quảng Ninh tại Mạo Khê. Dưới sự lãnh đạo của ông, các chi bộ Đảng như Uông Bí, Vàng Danh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông lần lượt ra đời. Cùng với các đồng chí của mình, ông đã tập trung khôi phục cơ sở Đảng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân và thành công trong việc khôi phục Xứ uỷ Bắc Kỳ.

Năm 1938, khi chưa đầy 26 tuổi, ông được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng và là một Tổng Bí thư trẻ nhất trong lịch sử Đảng ta.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là một tài năng lý luận và lãnh đạo chính trị sắc sảo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông là người đi đầu trong việc đề cao tinh thần thẳng thắn đấu tranh phê bình và tự phê bình nhằm nâng cao sức mạnh của Đảng, thể hiện qua tác phẩm “Tự chỉ trích” (7-1939). Ông và Ban Chấp hành T.Ư Đảng lúc bấy giờ đã quyết định những vấn đề cực kỳ quan trọng trong chuyển hướng cách mạng mà nội dung trọng yếu là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc - giai cấp, xây dựng Đảng và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng ta hoàn chỉnh chiến lược cách mạng, dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng 8-1945.

 Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt và bị hành quyết vào ngày 26-8-1941.

Để tưởng nhớ và tôn vinh công lao của cố TBT Nguyễn Văn Cừ, BCH Trung ương Đảng, Nhà nước, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và tỉnh Bắc Ninh tổ chức lễ kỷ niệm cấp Nhà nước nhân 100 năm Ngày sinh của ông, vào ngày 8-7-2012. Cùng với đó là các hoạt động văn nghệ chào mừng, thực hiện bộ phim tài liệu, tổ chức hội thảo khoa học và hoàn thiện các công trình lưu niệm cố Tổng Bí thư tại xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đây còn là dịp đẩy mạnh hoạt động tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng theo tinh thần tác phẩm “ Tự chỉ trích” của ông; gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay2.

6. Phạm Tuân - người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ (23-7-1980):

Phạm Tuân sinh ngày 14-2-1947 tại tỉnh Thái Bình. Ông là sỹ quan lái máy bay chiến đấu và là người đầu tiên bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ. Ông từng là Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Không quân, Tổng cục trưởng Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng trực thuộc Bộ Quốc phòng, quân hàm Trung tướng. Hiện ông nghỉ hưu và đang sống ở Hà Nội.

Năm 1977, ông được cử sang Liên Xô học bay vũ trụ và được chọn vào đội bay quốc tế thứ 6 trong chương trình Intercosmos của Liên Xô. Ngày 23-7-1980, Phạm Tuân cùng với nhà du hành vũ trụ Xô viết Viktor Vassilyevich Gorbatko bay vào  vũ trụ trên tàu Soyuz 37. Phạm Tuân ở trong không gian trong vòng 7 ngày, 20 giờ và 42 phút. Ông đã thực hiện tổng cộng 142 vòng quanh quỹ đạo Trái Đất và tiến hành một số nghiên cứu khoa học.

Ông trở thành người Việt Nam và châu Á đầu tiên bay lên vũ trụ. Với thành tích này, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam và Huân chương Hồ Chí Minh. Ông cũng là một trong số ít người nước ngoài được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô và Huân chương Lênin. Như vậy, ông là người Việt Nam duy nhất 3 lần được trao tặng danh hiệu Anh hùng (Anh hùng LLVTND, Anh hùng Lao động của Việt Nam, Anh hùng Liên Xô).

7. Ngày quốc tế về Bảo tồn Hổ (29-7-2010):

Ngày 29-7-2010 được chính thức công bố là ngày Quốc tế về Bảo tồn Hổ, ngay trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh về Hổ diễn ra tại thành phố Xanh Pê-téc-bua (Nga). Hội nghị đã quy tụ những người đứng đầu các nước có hổ với cam kết nhân đôi số lượng hổ hoang dã vào năm 2022. Kể từ đó, ngày 29-7 hàng năm được tổ chức kỷ niệm để nhấn mạnh tình hình đáng báo động của loài hổ và kêu gọi ủng hộ công tác bảo tồn loại động vật này ở tất cả 13 nước còn hổ sống ngoài tự nhiên.

Trên khắp châu Á, hổ đang bị săn bắt và buôn bán bất hợp pháp để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người. Tại Việt Nam, hổ bị buôn bán trái phép chủ yếu sử dụng trong các loại sản phẩm được cho là thuốc, như cao hổ cốt, rượu hổ cốt. Ngoài ra, thịt, da của chúng được dùng để trưng bày hoặc làm thành các sản phẩm lưu niệm.

Hiện nay, trên thế giới chỉ còn khoảng 3.200 cá thể hổ sống sót ngoài tự nhiên (trong đó Việt Nam còn khoảng 30 con). Từ năm 1900 trở lại đây, số lượng hổ đã giảm tới 97% trong khi sinh cảnh của hổ giảm đến 93%. Sự suy giảm này phần lớn là do săn bắn trái phép, buôn lậu hổ và các bộ phận cơ thể của hổ, ngoài ra còn do mất sinh cảnh sống và quần thể các loài thú mồi của hổ.

Vì vậy, để bảo vệ loài hổ này khỏi tuyệt chủng, hành động khẩn cấp bây giờ là chặn đứng nạn buôn bán hổ trái phép trong nước và xuyên biên giới, cũng như nâng cao nhận thức để hạn chế sử dụng các sản phẩm từ hổ.

8. Các sự kiện kinh tế:

* Tuy chưa nêu thời điểm áp dụng nhưng Bộ Tài chính thông báo sẽ khôi phục trở lại mức thuế suất thuế nhập khẩu 5% đối với mặt hàng gas (LPG):

Hiện nay, thuế nhập khẩu đối với LPG là 0%. Đại diện PetroVietnam gas cho rằng, trong bối cảnh giá gas thế giới giảm, để hài hoà lợi ích Nhà nước, việc tăng thuế nhập khẩu là hợp lý.

Theo PetroVietnam gas, việc tăng thuế nhập khẩu gas nên áp dụng từ tháng 7-2012 vì lúc đó nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ cung ứng trở lại.

* Bộ Tài chính vừa ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt áp dụng tại đô thị đặc biệt, đô thị loại 1, loại 2, loại 3, loại 4, loại 5 và nước sạch khu vực nông thôn từ ngày 11-7-2012.

Theo đó, giá nước tại đô thị đặc biệt, đô thị loại 1 có giá tối thiểu từ 3.500 đồng/m3 và tối đa là 18.000 đồng/m3, tăng tương ứng 16,7% và 50% so với mức giá đang được áp dụng.

Tại đô thị loại 2, loại 3, loại 4, loại 5 áp dụng mức giá tối thiểu là 3.000 đồng/m3 và tối đa 15.000 đồng/m3, cùng tăng 50% so với mức giá hiện hành. Đối với nước sạch khu vực nông thôn mức giá tương ứng là 2.000 đồng/m3 và 11.000 đồng/m3, tăng 100% và 37,5% so với mức giá đang bán cho người dân. Như vậy, sau 3 năm được giữ giá từ ngày 15-7-2009, giá nước sẽ được điều chỉnh tăng vào ngày 11-7 tới đây.

Giá nước sinh hoạt hiện tại áp dụng tại đô thị đặc biệt, đô thị loại 1 tối thiểu là 3.000 đồng/m3 và tối đa 12.000 đồng/m3. Mức giá áp dụng cho 2 khu vực còn lại tương đương là 2.000 đồng/m3 và 10.000 đồng/m3; 1.000 đồng/m3 và 8.000 đồng/m3.

* Bộ Công Thương đã chính thức ban hành Thông tư số 17/2012/TT-BCT Quy định về giá bán điện mới và hướng dẫn thực hiện. Theo đó, kể từ ngày 1-7, giá bán điện bình quân là 1.369 đ/kWh.

Mức giá trên (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng) tăng 65 đ/kWh (5%) so với giá bán điện bình quân đang áp dụng (1.304 đ/kWh).

Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, với việc tăng giá điện mới, doanh thu bán điện của EVN dự kiến tăng thêm khoảng trên 3.700 tỉ đồng, tương ứng với sản lượng điện thương phẩm của EVN dự kiến từ 1-7-2012 đến 31-12-2012 là 56,8 tỉ kWh (bao gồm cả sản lượng điện xuất khẩu sang Campuchia).

EVN cũng cho biết lần điều chỉnh giá điện này không có sự thay đổi về đối tượng áp giá, cơ cấu biểu giá, tức không thêm giờ cao điểm, cũng không thêm bậc thang tính giá điện mà chỉ chỉnh mức giá đối với các đối tượng theo cơ cấu được quy định. Riêng mức giá bán điện sinh hoạt bậc thang từ 0 -50 kWh áp dụng cho hộ nghèo, hộ thu nhập thấp, EVN khẳng định sẽ không điều chỉnh, giữ nguyên ở mức 993 đ/kWh.

9. Các sự kiện văn hóa - xã hội:

* Cuộc thi “Tìm kiếm chân dung áo dài nữ sinh Việt Nam 2012”, với chủ đề “Tôi yêu áo dài” do tạp chí VTM phát động đã được các teen girl tham gia rất đông đảo. Không chỉ tập trung vào vẻ ngoài hình thức, chương trình bắt buộc các thí sinh phải bộc lộ được nét đẹp tâm hồn qua bài viết cảm nhận về tình yêu đối với chiếc áo dài. Chính những trải lòng nghiêm túc này sẽ là điểm cộng trong nhận định góc tâm hồn của mỗi thí sinh, giúp chương trình tìm kiếm được các ứng viên thực sự xứng đáng với danh hiệu “Gương mặt Áo dài Nữ sinh Việt Nam 2012”.

Ấn tượng trước tài năng và phong cách trình diễn catwalk trang phục áo dài của các thí sinh, ban tổ chức đã chọn ra 18 thí sinh xuất sắc nhất bước tiếp vào vòng Chung kết toàn quốc diễn ra vào cuối tháng 7-2012.

* Công bố danh sách 100 điều thú vị của thành phố Hồ Chí Minh. Chương trình bình chọn “Thành phố Hồ Chí Minh - 100 điều thú vị” lần 2 năm 2012 vừa khép lại giai đoạn đề cử ứng viên để chuẩn bị đưa ra công chúng bình chọn. So với trước, lần này Ban Tổ chức đã rút tỉa được khá nhiều kinh nghiệm trong việc đưa ra các tiêu thức, tiêu chí phù hợp.

Khi tham gia chương trình lần này, các ứng viên sẽ là những đơn vị cam kết tiếp tục tạo được sự hấp dẫn và duy trì chất lượng dịch vụ sản phẩm để đồng hành cùng ngành du lịch trong công tác quảng bá, xúc tiến hình ảnh du lịch của thành phố hấp dẫn, có chiều sâu mà họ là một trong những đại diện tiêu biểu.

Sau khi hoàn chỉnh tiêu chí của 20 tiêu thức bình chọn được Ủy ban nhân dân thành phố đồng ý, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã cùng Hiệp hội Du lịch TPHCM và Công ty Cổ phần Thương mại Doanh nhân Việt lấy ý kiến của giới chuyên môn là những nhà văn hóa, chuyên gia ẩm thực, chuyên gia du lịch… Ban tổ chức cũng tuyên truyền rộng rãi thông tin về chương trình nhằm kêu gọi sự hưởng ứng tham gia của người dân.

 Sau khi tổng hợp kết quả bình chọn, Ban Tổ chức sẽ công bố danh sách 100 điều thú vị ở lễ công bố kết quả bình chọn tổ chức tại Nhà hát thành phố nhằm tôn vinh các sản phẩm du lịch mở đầu cho một chiến dịch quảng bá hình ảnh chương trình giai đoạn 2012-2013. Buổi lễ dự kiến tổ chức vào cuối tháng 7-2012.

* Phấn đấu tháng 7-2012, thi công xong đền thờ các Bà mẹ Việt Nam anh hùng và các anh hùng liệt sĩ:

 Công trình đền thờ các Bà mẹ Việt Nam anh hùng và các anh hùng liệt sĩ (tại đồi Cánh Tiên, quần thể núi Hàm Rồng, TP Thanh Hóa) được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hỗ trợ và các nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân.

Công trình được triển khai thi công xây dựng từ tháng 3-2011 và theo kế hoạch, tháng 2-2013 sẽ hoàn thành. Vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị sớm hoàn thành một số hạng mục chính của công trình, như: Đền chính, sân đền, cổng tam quan, đường dẫn lên đền, hệ thống cấp điện, cấp nước và nội thất đồ thờ trước ngày 10-7-2012 để phục vụ lễ kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh - liệt sĩ; đồng thời tạo địa điểm tham quan, du lịch trong Khu Du lịch văn hóa lịch sử Hàm Rồng.

Ban Quản lý các dự án công trình xây dựng đã tập trung chỉ đạo nhà thầu khắc phục khó khăn, tranh thủ thời điểm thuận lợi đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình, bảo đảm kỹ thuật, mỹ thuật. Đến cuối tháng 4-2012, các đơn vị thi công đã thực hiện được tổng giá trị hơn 53 tỷ đồng/giá trị xây lắp 89 tỷ đồng.

Các đơn vị đang gấp rút thi công hoàn thiện một số hạng mục chính, phấn đấu đầu tháng 7-2012 hoàn thành, đưa vào sử dụng.

(Nguồn: Các phương tiện truyền thông)

_________________________

1. Xem Tạp chí Mặt trận số 105, bài tr.52 và tr.75.
2. Xem Tạp chí Mặt trận số 104, bài trang 3.

*  Nhà báo.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

                                                                                                BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY*

         Thành tựu trong nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam ngày càng rõ hơn, thể hiện ở 3 nội dung chính dưới đây.

1. Về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng

Từ thực tiễn thành công và thất bại của CNXH trên thế giới và nhất là từ thực tiễn những năm đầu tiến hành đổi mới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh đã phác họa mô hình CNXH mà nhân dân ta xây dựng, với 6 đặc trưng: “Đó là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên nền sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”1.

Về cơ bản, 6 đặc trưng trên đã thể hiện khá toàn diện các lĩnh vực của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Xét trong bối cảnh lúc bấy giờ đã thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định với mục tiêu CNXH. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nét khái quát cơ bản về những đặc trưng của CNXH mà nhân dân ta phấn đấu xây dựng.

Kể từ khi Cương lĩnh năm 1991 ra đời đến nay, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều biến đổi to lớn. Nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra được nhận thức và giải quyết qua các nhiệm kỳ đại hội. Đại hội lần thứ X bổ sung, phát triển, làm cho mô hình xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng ở nước ta toàn diện hơn với 8 đặc trưng. Văn kiện Đại hội X đã bổ sung thêm 2 đặc trưng mới của CNXH: “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” và “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. Việc bổ sung thêm 2 đặc trưng này đã làm rõ được đặc trưng tổng quát nhất của CNXH ở Việt Nam cũng như cho thấy vị trí, vai trò của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011) đã điều chỉnh, chuẩn hóa một số nội dung và cô đọng hóa một số đặc trưng về CNXH đã nêu trong Văn kiện Đại hội X: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng... có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”2.

So với Cương lĩnh năm 1991 và Văn kiện Đại hội X, 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam được nêu trong Cương lĩnh 2011 có những điểm đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, trong đặc trưng đầu tiên của Cương lĩnh 2011 đã chuyển từ “dân chủ” lên trước từ “công bằng”. Đây không đơn thuần là việc thay đổi trật tự từ ngữ mà nó đã thể hiện thái độ của Đảng ta về tầm quan trọng của dân chủ. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ dân chủ là điều kiện, tiền đề của công bằng, văn minh; dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; đồng thời, để nhấn mạnh bản chất của xã hội ta là xã hội dân chủ theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, xuất phát từ thực trạng dân chủ trong Đảng và trong xã hội ta, bên cạnh những thành tựu, còn nhiều hạn chế, yếu kém; các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Thứ hai, kế thừa quan điểm của Đại hội X mở rộng biên độ “do nhân dân làm chủ”, chứ không giới hạn “do nhân dân lao động làm chủ” như trong Cương lĩnh năm 1991. Sự khẳng định đó nhằm phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; mỗi người dân Việt Nam đều là người chủ đất nước, có trách nhiệm xây dựng đất nước, dù sinh sống ở trong nước hay ngoài nước.

Thứ ba, đặc trưng về kinh tế. Cương lĩnh 2011 kế thừa Đại hội X nhưng có bổ sung từ “tiến bộ” và viết gọn hơn. Thể hiện như Đại hội XI là phù hợp với chính sách phát triển các thành phần kinh tế của Đảng ta hiện nay, tránh được cách hiểu coi nhẹ đối với khu vực kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân. Đây là sự tiếp tục hoàn thiện nhận thức của Đảng ta về mối tương quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Khái niệm “quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp” được hiểu là quan hệ sản xuất không chỉ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mà phù hợp với xu thế phát triển khách quan của xã hội loài người; phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và phù hợp với đường lối, chủ trương phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước mà chúng ta kiên trì thực hiện trong nhiều năm nay và trong lâu dài.

Thứ tư, đặc trưng về con người trong Cương lĩnh 2011 diễn đạt khái quát hơn, tinh gọn hơn song vẫn rõ và đầy đủ; nêu bật những tư tưởng cơ bản phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người.

Thứ năm, về quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam cũng có những bổ sung và phát triển. Cương lĩnh 2011 mở rộng phạm vi các dân tộc, thay cụm từ “các dân tộc trong nước” (Cương lĩnh 1991) bằng cụm từ “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam” (giống Đại hội X). Cương lĩnh 2011 sử dụng khái niệm “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam” đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn và thêm 2 cụm từ “tôn trọng lẫn nhau” là rất có ý nghĩa, bởi vì “tôn trọng” là một trong những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, không tôn trọng thì không thể có bình đẳng, đoàn kết thực sự giữa các dân tộc.

Thứ sáu, về quan hệ đối ngoại. Cương lĩnh 2011 mở rộng phạm vi quan hệ, bỏ 2 từ “nhân dân” trong cụm từ “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các dân tộc trên thế giới” trong Cương lĩnh 1991 và Đại hội X, thay bằng “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Đặc trưng này phản ánh xu thế lớn của tình hình thế giới là hòa bình, hợp tác và phát triển, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; thể hiện đúng đường lối, quan điểm của Đảng ta quan hệ với các đảng, quan hệ với các nước, các nhà nước có chế độ chính trị khác nhau.

Thứ bảy, đặc trưng về nhà nước đã được xác định từ Đại hội X và được khẳng định trong Cương lĩnh 2011, phản ánh đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, song Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, để tránh hiểu lầm hoặc tránh sự xuyên tạc của một số người khi cho rằng “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” nghĩa là Đảng ta đứng trên Nhà nước và pháp luật, nên trong Cương lĩnh đã thay từ “dưới” bằng từ “do” Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Như vậy, đến Cương lĩnh 2011, đặc trưng mô hình CNXH đã được xây dựng thành một hệ thống gồm tám đặc trưng cơ bản. Tám đặc trưng ấy hình thành một chỉnh thể bổ sung lẫn nhau, hòa quện với nhau để trở thành bản chất của CNXH. Trong tám đặc trưng của mô hình CNXH của chúng ta, đặc trưng nhân dân làm chủ, đặc trưng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo là những đặc trưng rất quan trọng. Nó kết hợp với nhân tố khác, nó chế định và quy định các nhân tố khác, phản ánh thành một bản chất, một trạng thái riêng của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Mô hình trên thể hiện sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH. Mô hình ấy biểu hiện như một kết cấu tổng thể, ổn định tương đối, nó không phải là một mô hình khép kín và cứng nhắc. Mô hình CNXH thời kỳ đổi mới ở nước ta chứa đựng khả năng mở rộng nội hàm, tiếp tục bổ sung những nét mới, là kết quả của việc không ngừng nâng cao trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn phong phú, đa dạng. Nó thể hiện xu hướng gắn kết hợp lý tiến trình phát triển của CNXH với sự vận động không ngừng của nhân loại đi lên phía trước, kế thừa những thành tựu tiến bộ của loài người để xây dựng thành công CNXH.

2. Về thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Trước đổi mới, chúng ta có những cách hiểu khác nhau về vấn đề này. Có khi nói: bỏ qua chủ nghĩa tư bản, có khi lại nói bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay bỏ qua thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản. Dù diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung đều xuất phát từ một nhận thức đối lập hoàn toàn giữ chủ nghĩa tư bản và CNXH, coi những gì đã có trong chủ nghĩa tư bản đều phải loại bỏ, không dung nạp được trong CNXH. Đó là biểu hiện của nhận thức giáo điều và siêu hình. Do đó, nhiều nhân tố hữu ích của chủ nghĩa tư bản đã không được kế thừa, phát huy để xây dựng CNXH.

 Trên cơ sở tiếp tục đổi mới tư duy về CNXH, cũng như tổng kết thực tiễn đất nước, nghiêm túc tự phê phán về những sai lầm, thiếu sót trong nhận thức lý luận và chỉ đạo thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ nội dung quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Trong Cương lĩnh 1991 đã xác định: Bỏ qua chế độ tư bản chủ với nghĩa là bỏ qua một chế độ kinh tế - chính trị tư bản chủ nghĩa hoàn chỉnh, song cần thiết phải phát triển những nhân tố nhất định nào đó. Đến Đại hội IX, X, XI Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển luận điểm này cụ thể hơn. Thực chất “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Bỏ qua quan hệ sản xuất với tư cách là quan hệ sản xuất giữ vai trò thống trị trong toàn xã hội, chứ không phải là xóa sạch các hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa, khi nó còn có tác dụng tích cực và những biện pháp tư sản khi nó còn hữu ích. Mặt khác, cần tiếp thu những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng nền kinh tế hiện đại. Đặc biệt, tư duy mới đã phân biệt sự khác nhau về chất giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản, trong đó đặt chủ nghĩa tư bản và CNXH vào quá trình phát triển chung của sự tiến hóa nhân loại, qua 5 hình thái kinh tế - xã hội. Cương lĩnh 2011 cũng chỉ rõ: Đi lên CNXH ở nước ta “là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”3.

Nhận thức trên đây là kết quả của sự đổi mới tư duy về CNXH, về mối quan hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Nước ta quá độ lên CNXH trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, vừa tạo thời cơ phát triển, vừa tạo ra những thách thức gay gắt. Đặc điểm nổi bật nhất hiện nay của thời đại là sự tồn tại của các nước với chế độ xã hội khác nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ, phát triển tiến bộ dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng sẽ có những bước phát triển mới. Theo quy luật của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH; đất nước ta nhất định sẽ tiến vững chắc lên CNXH. Niềm tin đó phải thực sự là niềm tin xã hội rộng lớn, không lay chuyển trong đời sống chính trị - xã hội ở nước ta. Đi lên CNXH thực sự là khát vọng của nhân dân ta.

3. Về phương hướng xây dựng CNXH ở nước ta

Việc xác định đúng đắn, chính xác con đường đi lên CNXH ở nước ta là một trong những vấn đề rất hệ trọng của Đảng và nhân dân ta. Cương lĩnh năm 1991 của Đảng không chỉ nêu ra sáu đặc trưng của CNXH, mà còn vạch ra phương hướng, con đường xây dựng CNXH ở nước ta gồm bảy điểm. Đây cũng chính là những nhiệm vụ lớn phải giải quyết trong thời kỳ quá độ, là nội dung của con đường đi lên CNXH ở nước ta. Nội dung đó là một hệ thống, có tính toàn diện từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, con người, từ xây dựng Đảng tới xây dựng nhà nước…

Đại hội X, qua tổng kết 20 năm đổi mới đã viết khái quát hơn. Kế thừa Đại hội X, cùng với việc bổ sung, phát triển các đặc trưng của CNXH, Cương lĩnh 2011 cũng đã bổ sung, điều chỉnh cách diễn đạt, tách vấn đề đối ngoại, quan hệ quốc tế thành một phương hướng riêng, đã xác định tám phương hướng cơ bản:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. So với Cương lĩnh 1991 và Đại hội X thêm cụm từ “gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh năm 1991 đã xác định mô hình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Đại hội XI khẳng định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong 7 phương hướng cơ bản của Cương lĩnh năm 1991 chưa đề cập đến xây dựng con người. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về nhân tố con người; phát triển con người giữ vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đảng ta cũng nhận thức rõ hơn về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, khẳng định: Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, ở từng địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Ở Cương lĩnh năm 1991 không xác định thành một phương hướng cơ bản riêng. Việc bổ sung, phát triển phương hướng “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” là đúng với thực trạng hội nhập của nước ta hiện nay và là phương hướng cơ bản, lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã khẳng định dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh năm 1991 mới xác định xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII. Các đại hội VIII, IX và X đều nhấn mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việc xác định đây là một trong tám phương hướng cơ bản là đúng đắn, phù hợp cả về lý luận và thực tiễn.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.4

Có thể khẳng định rằng, cùng với việc bổ sung thêm một phương hướng, cách diễn đạt gọn rõ, súc tích với sự tương ứng giữa các đặc trưng của CNXH và các phương hướng xây dựng CNXH trong Cương lĩnh 2011 cho thấy những thành quả của đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta. Tám phương hướng cơ bản nêu trên đã thể hiện tính hệ thống, đồng bộ của con đường đi lên CNXH ở nước ta, vừa đúng xu thế thời đại, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Thực hiện có kết quả 8 phương hướng trên, chính là điều kiện tiên quyết để đến giữa thế kỷ XXI nước ta có thể trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đến khi kết thúc thời kỳ quá độ, nước ta xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng phù hợp. Việc thực hiện các phương hướng trên không tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành chất lượng và hiệu quả của quá trình phát triển, trong đó có các mối quan hệ lớn mà chúng ta cần nhận thức cho đúng và giải quyết cho hiệu quả.

Kể từ khi Cương lĩnh năm 1991 ra đời đến nay, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều biến đổi to lớn. Nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra được nhận thức và giải quyết qua các nhiệm kỳ đại hội. Với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử dân tộc trong hơn 25 năm đổi mới, con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội đã được khẳng định. Đó là con đường duy nhất đúng để bảo đảm tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

_______________________________________

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, H.1991, tr.111-112.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H. 2006, tr.68.
 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H. 2011, tr.70; tr.72.

* ThS, Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                                                                           HOÀNG THU TRANG*

       Trong hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng là mục đích to lớn nhất và quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng như mối quan hệ mật thiết giữa chúng được xác lập từ yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX.

Cuối thế kỷ XIX, sau khi thực dân Pháp đặt xong ách thống trị của chúng đối với nước ta thì chế độ xã hội thuộc địa nửa phong kiến cũng bắt đầu hình thành. Những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, như mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược, giữa giai cấp công nhân Việt Nam với bọn tư bản, giữa giai cấp nông dân Việt Nam với giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, tính chất của mỗi mâu thuẫn, cũng như phương thức giải quyết chúng không thể đồng bộ, ngang nhau và như nhau được. Thực tế lịch sử xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã cho thấy rằng mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp tư sản chưa trực tiếp đặt ra vấn đề lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đối với nước ta. Vậy sự lựa chọn ấy bắt nguồn từ đâu?

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng đã bị nhân dân ta chống trả quyết liệt. Những cuộc đấu tranh bất khuất của hàng triệu đồng bào ta dưới sự lãnh đạo của các văn thân, sỹ phu yêu nước đã liên tục diễn ra cho đến trước những năm 30 của thế kỷ XX. Tuy nhiên các cuộc đấu tranh này dù theo hệ tư tưởng phong kiến (đỉnh cao là phong trào Cần vương) hay có khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều thất bại và bị dìm trong bể máu. Trước tình hình đó, yêu cầu bức thiết nảy sinh là phải tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp.

Trăn trở trước vận nước lâm nguy, với sự nghiệp cứu nước không thành của các bậc tiền bối, từ Bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định ra đi tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc. Sau gần 10 năm bôn ba học hỏi, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra chân lý và đến với chủ nghĩa Mác, đến với phong trào công nhân quốc tế bằng việc Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành đảng viên của đảng này. Bước ngoặt quyết định trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc là khi Người đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo - cơ quan Trung ương của Đảng cộng sản Pháp. Từ đây, Người rút ra kết luận: Muốn giải phóng dân tộc chỉ có con đường cách mạng vô sản, nghĩa là chỉ có giải phóng giai cấp vô sản mới giải phóng được dân tộc và cả 2 cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản. Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã giành được những thắng lợi vô cùng to lớn mà đỉnh cao là sự thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra Nhà nước dân chủ nhân dân. Cùng với sự ra đời của chế độ dân chủ nhân dân, chính quyền dân chủ nhân dân ở nước ta với tất cả những đặc điểm và tính chất của nó chính là hình thức quá độ, cách đi quá độ theo hướng lên chủ nghĩa xã hội, làm tiền đề cho việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong tương lai.

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vừa ra đời đã phải đối phó với nhiều kẻ thù, ở miền Bắc chúng ta phải đối phó với quân Tưởng; quân đội Anh đóng ở miền Nam, giúp quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Ngày 23-9-1945, Pháp tiến công vào Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Trước tình thế đó, Đảng và Nhà nước đã xác định kháng chiến, kiến quốc là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn thể nhân dân Việt Nam. Đảng ta, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Ngoài mục đích trước mắt là “tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn” cho dân tộc, cách mạng còn “thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội”. Điều đó có nghĩa là cùng một lúc, chúng ta phải giải quyết 2 nhiệm vụ, một là thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng; hai là, tiếp tục công cuộc kiến thiết nước nhà, chuẩn bị những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội vững chắc để ngay sau khi giành độc lập, Đảng sẽ lãnh đạo nhân dân ta tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa đem lại sự ấm no, hạnh phúc cho tất cả nhân dân.

Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam rơi vào ách xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Đảng ta đã quyết định nhiệm vụ cách mạng riêng cho 2 miền: Miền Bắc bắt tay vào công cuộc cải tạo chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương vững chắc chi viện cho chiến trường miền Nam, miền Nam quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước độc lập, thống nhất, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành. Ngày 24-6-1976, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên tại Hà Nội, quyết định đặt tên nước Việt Nam thống nhất là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta bước đầu đã thu được những thành tựu, tuy nhiên nó cũng bộc lộ những hạn chế, những khiếm khuyết và sai lầm. Căn cứ trên sự lạc hậu của lực lượng sản xuất và cơ sở vật chất còn nghèo nàn lại bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, lẽ ra Đảng phải lãnh đạo nhân dân ta xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước. Trái lại, Đảng đã tiến hành xây dựng ngay nền kinh tế với hai thành phần chủ yếu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Điều này đã đi trái với quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, cùng với cơ chế quan liêu, bao cấp, cửa quyền đã nhanh chóng đưa đến cuộc khủng hoảng trên lĩnh vực kinh tế, từ đó dẫn đến cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt là với sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Liên Xô và Đông Âu đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào cách mạng thế giới, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào.

Đứng trước những thách thức lớn lao đó, Đảng ta vẫn khẳng định một cách sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là sự đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc; chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là cái đích cuối cùng của sự giải phóng con người khỏi mọi áp bức bất công; chỉ có chủ nghĩa xã hội mới khiến cho độc lập dân tộc có đầy đủ ý nghĩa. Chính vì thế, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mới là con đường đi đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử loài người. Nhận thức được những điều đó, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới trên mọi phương diện, nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và vững bước tiến lên trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Tại Đại hội VI (1986), Đại hội đánh dấu bước đầu trong công cuộc đổi mới ở nước ta, Đảng khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Trong các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng ta, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn luôn được khẳng định một cách mạnh mẽ và dứt khoát.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã nêu rõ: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Báo cáo chính trị được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) xác định bài học quan trọng đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới; nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) - Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI, đại hội của dân chủ, trí tuệ, đoàn kết và đổi mới đã tiếp tục khẳng định: “Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Như vậy, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên thực tế đã trở thành dòng chủ lưu, là tư tưởng xuyên suốt, được quán triệt và đề cao trong sự nghiệp đổi mới mà toàn dân ta đang tiến hành.

Nhờ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cùng với những chủ trương và chính sách đúng đắn trên các lĩnh vực, sau hơn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nước ta đã thu được những thành công to lớn. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng và có những bước tiến lớn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhận thức được sâu sắc tầm quan trọng của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gần đây nhất, trong Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Đảng phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đại hội XI cũng chỉ rõ những biến động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế trong việc thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cụ thể ở chỗ, trên thế giới, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang trở thành dòng chảy chính lôi cuốn mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới dù muốn hay không muốn đều phải tham gia. Tham gia quá trình hội nhập quốc tế đã đem lại cho Việt Nam không ít những cơ hội to lớn trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần to lớn vào việc đẩy mạnh thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Nhờ nắm bắt được những thời cơ mà toàn cầu hóa mang lại, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế. Các nước trên thế giới ngày càng biết đến Việt Nam không chỉ với tư cách là một nước đã chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mà họ ngày càng biết đến Việt Nam như một nước xã hội chủ nghĩa đang trên đà phát triển. Thấy được việc Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Bên cạnh những cơ hội to lớn mà toàn cầu hóa mang lại là những thách thức, những khó khăn không nhỏ trong việc tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Chúng ta biết rằng, xu thế toàn cầu hóa (bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế) có khởi nguồn từ các nước tư bản chủ nghĩa lớn trên thế giới. Chính vì thế, đi kèm với những cơ hội phát triển như cung cấp nguồn vốn, khoa học công nghệ, giao lưu văn hóa… là những âm mưu, những thủ đoạn nhằm khẳng định quyền bá chủ của chủ nghĩa tư bản. Thông qua quá trình toàn cầu hóa, các nước tư bản chủ nghĩa muốn can thiệp vào công việc nội bộ, can thiệp vào đường lối chính trị và xâm phạm độc lập, tự chủ của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, đối với nước ta, một trong những nước xã hội chủ nghĩa hiếm hoi còn lại trên thế giới càng trở thành đích ngắm của chủ nghĩa tư bản. Với âm mưu diễn biến hòa bình, gây bạo loạn, lật đổ, chủ nghĩa tư bản rắp tâm làm thất bại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Điều đó cũng có nghĩa là làm thất bại mục tiêu gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng đã kích động những thế lực phản động trong và ngoài nước (đặc biệt là trong nước) ra sức chống phá chính quyền xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức, nhiều thủ đoạn mới rất tinh vi. Điều này cũng gây ra không ít những khó khăn, phức tạp trong việc thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian qua.

Mặc dù đứng trước những khó khăn và thử thách vô cùng to lớn, Đảng ta luôn nhận thức một cách rõ ràng rằng chỉ khi nào độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới trở nên có ý nghĩa thực sự, mới đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội lại là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc. Nếu độc lập dân tộc không gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc chỉ là hình thức. Vì thế, mỗi bước tiến của cách mạng Việt Nam đều là bước tiến của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chính vì thế, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường đúng đắn của cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn từ những năm đầu thế kỷ XX và trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải trung thành với mục tiêu và lý tưởng đó. Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng đã khẳng định: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Một lần nữa chúng ta phải khẳng định lại rằng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Với chủ trương đúng đắn đó cùng với những bước đi thích hợp của Đảng ta trong từng thời kỳ, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Sau chặng đường dài tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta có thể tự hào với những thắng lợi mà chúng ta đã đạt được. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Đảng cần tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng như phát huy tính sáng tạo trong việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có như vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta mới thành công tốt đẹp.

* ThS, Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI
CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VÀO CUỘC SỐNG

                                                                                                     VI THỊ HƯƠNG LAN*

           Trong những năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quyết định. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, làm giảm tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Một trong những nguyên nhân dẫn tới hạn chế đó là quá trình triển khai đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống chưa kịp thời, chưa hiệu quả. Điều này trở thành những lực cản rất lớn đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Trong quá trình triển khai chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước có nhiều nhân tố tác động cản trở, như:

1. Những hạn chế của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị

Trong những năm qua, bên cạnh đa số cán bộ có bản lĩnh chính trị, có năng lực lãnh đạo, có phẩm chất đạo đức tốt… đã đóng góp to lớn đối với sự nghiệp phát triển đất nước, vẫn còn một bộ phận cán bộ bộc lộ những hạn chế trong công tác lãnh đạo, quản lý. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của công tác lãnh đạo, quản lý, qua đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Một là, đạo đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất làm xuất hiện chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội dưới nhiều hình thức.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là việc lợi dụng chức vụ, tham ô, bớt xén của công; luôn thắc mắc, đấu tranh về lương bậc, về đãi ngộ, cảm thấy lúc nào cũng bị thiệt thòi. Đi liền với những biểu hiện đó là đầu óc địa vị, kèn cựa, tranh giành chức vụ, gièm pha, khích bác, nói xấu sau lưng, không tôn trọng kỷ luật, không tôn trọng tổ chức. Một số cán bộ đã thoái hoá, biến chất, lợi dụng quá trình chuyển đổi cơ chế, lợi dụng sơ hở của chính sách, lợi dụng chức quyền để làm giàu bất chính, để bao che cho hoạt động sản xuất, buôn bán hàng giả, buôn lậu… Lối sống thực dụng, dối trá, ích kỷ, ăn bám, chạy theo đồng tiền xuất hiện. Quốc nạn tham nhũng ở nước ta trong những năm qua là hiện tượng thể hiện rõ nhất sự tha hóa, biến chất đó. Đảng ta đã cho rằng: “Tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân với Đảng, đối với chế độ bị xói mòn, các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch dẫn tới chệch hướng”1.

Biểu hiện suy thoái đạo đức này ngày càng có tính chất phức tạp và sự thiệt hại do việc lợi dụng chức quyền ngày càng lớn. Nó không chỉ gây thiệt hại về mặt vật chất, làm thất thoát khối lượng lớn tài sản của Nhà nước và nhân dân, mà nguy hiểm hơn nó còn làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cán bộ, đối với Nhà nước, đối với Đảng, tác động tiêu cực tới đạo đức, tư cách người cán bộ cách mạng, làm xói mòn cấu trúc đạo đức của xã hội.

Có thể nói, những hiện tượng tiêu cực về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên xuất hiện là do họ không chịu rèn luyện, tu dưỡng nâng cao đạo đức cách mạng; do sự tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường; do những bất cập trong cơ chế chính sách quản lý; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện; các thế lực thù địch chống phá quyết liệt… nên trong công tác dễ bị chi phối bởi điều kiện hoàn cảnh, khi gặp khó khăn thì thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí vượt qua và bị trượt dài trên con đường sa ngã. Đây là một trong những nhân tố cơ bản làm xuất hiện những rào cản cản trở việc thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta trong những năm qua.

Hai là, năng lực lãnh đạo của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý còn hạn chế.

Hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu năng lực lãnh đạo, quản lý, do đó, họ không thể nhận thức và triển khai có hiệu quả đường lối, chính sách. Theo đánh giá tại Đại hội X của Đảng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ”2.

Do hạn chế về trình độ nên một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý không có khả năng nắm bắt đúng tinh thần của đường lối, chính sách; không có khả năng tổ chức triển khai, không thể cụ thể hóa đường lối, chính sách thành những chương trình, kế hoạch hành động cho phù hợp với thực tiễn của địa phương.

Ngoài những hạn chế trên, hiện nay do hạn chế về trình độ tư duy lý luận, nên một bộ phận cán bộ mắc phải những “căn bệnh” trong tư duy, như bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, bệnh giáo điều; vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; thiếu quan điểm khách quan, khoa học... Điều này cũng làm giảm hiệu quả lãnh đạo, quản lý và triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thực chất của căn bệnh chủ quan duy ý chí là, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, người ta tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan, xa rời hiện thực khách quan, coi thường các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển. Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạch định đường lối chiến lược, sách lược cách mạng và sự cụ thể hoá đường lối đó bằng các chủ trương, chính sách và pháp luật, nếu có sự áp đặt của ý muốn chủ quan của người lãnh đạo, quản lý, có thể làm sai lệch đường lối, chính sách đó, gây ra hậu quả nghiêm trọng. Về vấn đề này, V.I. Lênin đã cảnh báo, đối với một chính đảng vô sản, không sai lầm nào nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan. Định ra một sách lược trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại.

Đối với người mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, họ thường cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là “chìa khoá vạn năng” trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra. Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh nghiệm là đề cao kinh nghiệm bản thân, coi thường tri thức lý luận, tri thức khoa học, áp đặt kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, căn bệnh này làm cho họ rơi vào tình trạng mò mẫm, sự vụ, tùy tiện, không nhất quán trong việc thi hành các chủ trương, chính sách của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.

Người cán bộ lãnh đạo, quản lý mắc bệnh giáo điều lại tuyệt đối hoá tri thức lý luận, tri thức khoa học, coi tri thức đã là chân lý tuyệt đối và vận dụng một cách máy móc những tri thức đó vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không tính đến tính lịch sử - cụ thể của những hoạt động đó. Trong thực tiễn, bệnh giáo điều còn biểu hiện ở việc áp dụng cái chung vào cái riêng một cách đơn giản, lấy cái phổ biến áp đặt cho cái riêng, cái đặc thù, hoặc áp dụng một lý thuyết, một mô hình chưa được kiểm nghiệm thực sự bởi thực tiễn.

Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận, nhất là lý luận biện chứng mácxít, do đó, dẫn đến hạn chế khả năng áp dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo vào cuộc sống và không hiểu được tính biện chứng của quá trình nhận thức cũng như biện chứng của lịch sử xã hội.

Những hạn chế trên của một bộ phận cán bộ là do sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường; ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện, tu dưỡng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo quản lý còn thấp đã cản trở quá trình thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và cản trở sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Do vậy, việc đẩy mạnh công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt sẽ góp phần nâng cao bản lĩnh, phẩm chất chính trị, tư cách, đạo đức, lối sống của người cán bộ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay.

2. Bất cập trong phương thức hoạt động của hệ thống chính trị

Có thể nói, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị cũng là nguyên nhân cơ bản đảm bảo cho việc thực thi có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Khi hoạt động của các bộ phận trong hệ thống chính trị có biểu hiện chồng chéo, “lấn sân” sẽ làm cản trở hoặc sai lệch đường lối, chính sách. Do vậy, đổi mới hệ thống chính trị là vấn đề được bàn nhiều trong những năm qua.

Trong những năm đổi mới, một trong những vấn đề mấu chốt là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, khắc phục hai khuynh hướng: Đảng bao biện, làm thay, hoặc buông lỏng sự lãnh đạo. Trong quá trình đổi mới tư duy lãnh đạo, Đảng ta đã xác định: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp, nhưng Đảng không làm thay Nhà nước, không sử dụng quyền lực Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước ban hành luật, nhưng Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao.

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, mặc dù chúng ta đã rất tích cực trong đổi mới hệ thống chính trị, song không phải tất cả các bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị đã phát huy hết vai trò, thể hiện tốt chức năng của nó. Có lúc, có nơi vẫn còn hiện tượng bao biện, làm thay, không có sự phân định rõ về vai trò lãnh đạo, chức năng quản lý giữa các cơ quan của Đảng và Nhà nước, nhất là ở hệ thống chính trị cơ sở. Tình trạng thiếu thống nhất trong việc quán triệt, xây dựng kế hoạch, triển khai và đề ra các chính sách cụ thể giữa các cấp ủy đảng với chính quyền cơ sở ở một số nơi vẫn còn xảy ra. Điều này đã xuất hiện những rào cản đối với việc thực thi đường lối, chính sách, pháp luật ở nước ta trong những năm qua, làm chậm quá trình đổi mới đất nước.

3. Những hạn chế từ công tác tư tưởng

Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm xây dựng, xác lập, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, định hướng giá trị, tạo niềm tin và thúc đẩy quần chúng nhân dân thực thi đường lối, chính sách để thực hiện những mục tiêu nhất định. Hiệu quả của công tác tư tưởng được thể hiện thông qua việc tuyên truyền nhanh chóng, chính xác, đúng đắn tinh thần, nội dung của đường lối, chính sách; tạo ra sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng nhân dân về các chủ trương, đường lối, chính sách, tạo ra chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động của nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, có thể nói, công tác tư tưởng cũng có tác động rất lớn đến việc đảm bảo cho các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước có thể nhanh chóng đi vào cuộc sống, đem lại chuyển biến tích cực trong hành động của nhân dân.

Trong những năm qua, nhất là từ khi đổi mới đất nước, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng đã có đóng góp to lớn vào việc truyền bá, phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đem lại những kết quả đặc biệt quan trọng. Tuy vậy, những năm qua, ở nhiều nơi công tác tư tưởng vẫn chưa được thực hiện tốt. Điều này có nguyên nhân trước hết là do đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền còn hạn chế về năng lực trình độ nên chưa nhận thức đúng, đầy đủ về tinh thần, nội dung của chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhất là ở cơ sở; do chưa có cơ chế đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền; do phương tiện vật chất phục vụ công tác tuyên truyền còn thiếu và lạc hậu... Vì vậy đã làm cho chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước chậm được triển khai vào thực tiễn, thậm chí còn làm sai lệch đường lối, chính sách, pháp luật. Vì vậy, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng là nhân tố góp phần làm cho việc triển khai đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn.

4. Sự chống phá của các thế lực thù địch, các lực lượng bảo thủ, cản trở tiến bộ xã hội

Cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội đại diện cho hai xu thế tiến bộ và lạc hậu biểu hiện thành mâu thuẫn xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá - tư tưởng...) làm cho mâu thuẫn giai cấp, đấu tranh giai cấp diễn ra phức tạp, đã tác động tới việc thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm đổi mới ở nước ta, cũng xuất hiện những phần tử cơ hội chính trị. Những phần tử này ngả nghiêng, dao động về chính trị dẫn đến phá hoại thành quả cách mạng của nhân dân; xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính trị của Đảng. Để che giấu hành vi của mình, khi muốn kéo dài trì trệ thì treo khẩu hiệu “thận trọng”, “kiên định”; khi muốn phiêu lưu, bốc đồng thì treo khẩu hiệu “quyết tâm cao”; muốn nhân danh tổ chức đảng để bao biện cho ý đồ cá nhân thì treo khẩu hiệu “giữ vững sự lãnh đạo”; muốn thoát ly sự lãnh đạo đó thì nhấn mạnh “tổ chức đảng không làm thay”… Do tính bảo thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách che giấu khuyết điểm, sai lầm chủ quan, tìm cách thuyết minh cho “sự sáng tạo hợp quy luật” hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác, hoặc cho nguyên nhân khách quan... Trong tình hình đó, họ tỏ ra là những người vì dân, vì nước; muốn đổi mới triệt để nhưng thực chất lại chỉ nửa vời, tư lợi. Do vậy, để bảo vệ Đảng, bảo vệ những thành quả của cách mạng, chúng ta không lúc nào được phép buông lỏng đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội với mọi biểu hiện của nó, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong quá trình đó, để bảo vệ lợi ích của mình, các lực lượng bảo thủ ra sức cản trở đổi mới, cản trở việc thực thi đường lối, chính sách, qua đó kìm hãm sự phát triển xã hội. Các thế lực thù địch cũng ra sức chống phá cách mạng bằng nhiều hình thức. Một mặt, chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo, phủ nhận đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; mặt khác chúng ra sức cản trở, chống phá, bóp méo, xuyên tạc sự thật, tinh thần đúng đắn của đường lối, chính sách. Đây là nguyên nhân cơ bản, là rào cản đối với việc thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn. Do vậy, cùng với quá trình xây dựng đất nước, chúng ta cần chú trọng vào công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và những lợi ích của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đây cũng là nhiệm vụ cấp bách trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của nước ta trong thời kỳ hiện nay.

5. Những bất cập về trình độ nhận thức của nhân dân

Nhân dân là chủ thể của lịch sử, nên hoạt động của quần chúng nhân dân có ý nghĩa quyết định tạo nên những chuyển biến cách mạng. Đường lối cách mạng của một chính đảng chỉ có thể phát huy được vai trò nếu nó đi vào nhận thức của quần chúng. Khi lý luận thâm nhập vào quần chúng nó có thể trở thành lực lượng vật chất, tạo ra những chuyển biến vĩ đại. Để lý luận thâm nhập được vào quần chúng, bên cạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục... thì trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân cũng là yếu tố quan trọng. Do vậy, có thể nói, trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân cũng là nguyên nhân làm xuất hiện các rào cản đối với việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ở nước ta, 80% dân số sống ở nông thôn, với trình độ học vấn còn nhiều hạn chế, do vậy khả năng nhận thức đúng các chủ trương, đường lối chính sách cũng chưa cao. Có khi những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn đã được phổ biến, nhưng nhân dân cần phải có quá trình nhận thức, trải nghiệm, mắt thấy, tai nghe thông qua các mô hình, cách làm hiệu quả rồi mới bắt tay vào hành động. Điều này có thể làm chậm quá trình thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống. Mặt khác, do trình độ nhận thức hạn chế nên có khi đường lối, chính sách đúng nhưng lại không được nhận thức đúng, không đầy đủ, nên trong quá trình vận dụng dễ bị sai lệch, làm giảm hiệu quả tác động của đường lối, chính sách. Do đó, nâng cao dân trí cũng là giải pháp góp phần làm cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai và thực thi có hiệu quả hơn trong thực tiễn.

Như vậy, việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào thực tế cuộc sống ở nước ta trong những năm qua còn nhiều nhân tố cản trở. Khắc phục được những nhân tố này không chỉ góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền kinh tế đất nước mà còn góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong tình hình mới - một nhân tố cốt lõi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

_______________________________________

1. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. CTQG, H, 1996, tr.79.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr.66.

* ThS. Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



KẾT HỢP CHẶT CHẼ
GIỮA TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG
VỚI GÓP Ý, PHÊ BÌNH CỦA NHÂN DÂN

                                                                                                       VŨ NGỌC LÂN*

        Cho đến nay (hết tháng 6-2012), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã ban hành được vừa tròn 6 tháng. Theo Kế hoạch của Ban chấp hành Trung ương, bắt đầu từ tháng 7-2012, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo 3 nội dung nêu trong Nghị quyết và trong các tháng 9, 10, 11-2012, kiểm điểm tự phê bình và phê bình ở cấp ủy, tổ chức đảng cơ sở, đảng viên. Các ban tham mưu của Đảng ở Trung ương, như: Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, với chức năng, nhiệm vụ của mình đã có Hướng dẫn một cách khá đầy đủ, cụ thể thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ tư, trọng tâm, trọng điểm là công tác tự phê bình và phê bình. Như vậy, công tác tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng đã có những quy chế, quy định, hướng rất khá đầy đủ, rõ ràng, cụ thể.

Vậy việc góp ý, phê bình của nhân dân hiện nay dựa trên những quan điểm, quy chế, quy định nào? Từ lâu Đảng ta đã khẳng định nguyên tắc: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào dân để xây dựng Đảng...”. Trong lịch sử của mình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần triển khai công tác tự phê bình và phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết về vấn đề tự phê bình và phê bình. Năm 1952, với bút danh CB trong bài báo “Tự phê bình và phê bình”, Người khẳng định: “Từ nay, những cuộc tự phê bình và phê bình cần nhằm đúng mấy điểm:

- Đoàn kết chặt chẽ cán bộ trong Đảng, ngoài Đảng và toàn dân.

- Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần thi hành nghiêm chỉnh và triệt để chính sách của Đảng và Chính phủ.

- Theo đường lối quần chúng, vượt mọi khó khăn để đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”.

 Người đã yêu cầu, trong công tác tự phê bình và phê bình “trách nhiệm của cán bộ chính quyền và đoàn thể là phải xem trọng những phê bình và những kiến nghị của quần chúng. Những cán bộ (hoặc cơ quan, đoàn thể) được phê bình cần phải thật thà và công khai tự phê bình, ra sức sửa chữa (...) “dù phê bình đúng cả hay chỉ đúng một phần nào, chúng ta cũng cần luôn luôn hoan nghênh quần chúng phê bình. Tuyệt đối không được áp bức phê bình” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 8, trang 238). Trong nhiều nghị quyết, chỉ thị của mình, gần đây là Nghị quyết Đại hội XI, Đảng ta đã cụ thể hóa quan điểm này của Bác. Đó là: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động (...) thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh”; “định kỳ lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm mọi cán bộ, đảng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống”.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc chưa có cơ chế, quy định rõ ràng để quần chúng, nhân dân đóng góp xây dựng Đảng, cho nên có một số nghị quyết về xây dựng Đảng chưa đạt yêu cầu đề ra. Chẳng hạn, việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) khóa VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, Đảng ta cũng lấy công tác tự phê bình và phê bình làm “khâu đột phá”, nhưng sau một thời gian thực hiện lại “không đạt yêu cầu đề ra”. Một trong những nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót này là “chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể để lấy ý kiến của nhân dân và cán bộ, công chức tham gia đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên; chưa thực hiện tốt việc công khai kết quả tự phê bình và phê bình theo quy định để phát huy vai trò của tổ chức dân cử, Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát cán bộ, đảng viên”.

Rút kinh nghiệm những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện nguyên tắc “dựa vào dân để xây dựng Đảng”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” tiếp tục đề ra chủ trương phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, lấy ý kiến nhân dân góp ý xây dựng Đảng, “định kỳ tổ chức để nhân dân góp ý xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Đồng thời, trong Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, BCH Trung ương Đảng đã giao cho Ban Dân vận Trung ương:

“- Phối hợp với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; xây dựng cơ chế để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Trình Bộ Chính trị năm 2012.

- Phối hợp với Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ hướng dẫn, kiểm tra việc cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp thực hiện chế độ tiếp xức, đối thoại trực tiếp với nhân dân”.

Như vậy có nghĩa là, trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 11-2012, khi các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên tiến hành tự phê bình và phê bình thì các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ tham mưu, xây dựng quy chế, quy định giám sát, góp ý của nhân dân đối với tổ chức đảng, chính quyền, tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân vẫn đang trong quá trình chuẩn bị văn bản, trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành. Theo đó, phải chăng phải sang đầu năm 2013 mới có thể ban hành các văn bản, quy định nói trên? Như thế cũng có nghĩa là việc góp ý, phê bình của nhân dân với công tác tự phê bình và phê bình của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có “một độ trễ” nhất định, ít ra là 6 tháng? Tất nhiên, công tác tự phê bình và phê bình là công việc lâu dài, có thể có những hình thức khác để nhân dân góp ý, phê bình tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhưng rõ ràng cho đến nay, nhân dân vẫn trong quá trinh chờ đợi quy chế, quy định góp ý, phê bình các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Khi có quy chế, quy định thì đợt tự phê bình và phê bình trong Đảng đã qua rồi (việc này thực hiện từ tháng 7-2012 đến tháng 11-2012), khi đó sự phê bình, góp ý của người dân liệu có được coi trọng, xem xét, xử lý? Rõ ràng nếu không tổ chức tốt thì sự kết hợp giữa công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng với góp ý, phê bình của nhân dân sẽ thiếu đồng bộ, chặt chẽ. Chính vì vậy, cần có những giải pháp khắc phục sự chậm trễ này một cách thiết thực, hiệu quả, sao cho nhân dân đóng góp ý kiến, phê bình tổ chức đảng, cán bộ đảng viên một cách thiết thực, cụ thể, hiệu quả trong việc giải quyết “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Trong thời gian chờ đợi quy chế, quy định, người dân đóng góp ý kiến, phê bình tổ chức đảng cũng như cán bộ, đảng viên bằng cách nào? Ở đây có hai hình thức góp ý, phê bình. Đó là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Thứ nhất, hình thức dân chủ đại diện. Cho đến nay, người dân đã có tương đối nhiều tổ chức đại diện cho mình. Đảng, Nhà nước ta đã ban hành không ít quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho các tầng lớp nhân dân. Vấn đề là ở chỗ, những cơ quan, đại diện cho dân đó có làm tròn chức năng, có phản ánh đúng, phản ánh hết những nguyện vọng, nhu cầu, vấn đề bức xúc của người dân đến các cơ quan chức năng để giải quyết không; những người đại diện của dân có dám hy sinh lợi ích cá nhân, có dám rời bỏ “cái ghế” của mình vì lợi ích chính đáng của người dân không? Do vậy, việc tổ chức Hội nghị góp ý xây dựng Đảng tới đây cần được tổ chức, chuẩn bị chu đáo, có kế hoạch cụ thể; tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu đầy đủ ý kiến góp ý tham gia xây dựng Đảng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội; trước khi tổ chức Hội nghị, các đại biểu dân cử cần có những cuộc tiếp xúc, đối thoại, tiếp thu ý kiến, kiến nghị, phản ánh của người dân về tổ chức đảng, về phẩm chất, tư cách, lối sống của cán bộ ở nơi công tác và nơi cư trú. Khi góp ý, cần tập trung làm rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị về những hạn chế, khuyết điểm của cơ quan, đơn vị; việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện pháp lệnh của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn; việc kê khai tài sản của cán bộ, đảng viên...

Thứ hai, về hình thức dân chủ trực tiếp trong góp ý phê bình cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Từ lâu, nhất là từ khi thực xây dựng, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta đã chủ trương: nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hoạt động của Nhà nước, của hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp. Trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục đề ra nhiệm vụ “có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp” và “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất là dân chủ trực tiếp”.

Trong những năm gần đây, một số hình thức dân chủ trực tiếp trong xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng đa phát huy hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực, thu được những thành tích ban đầu. Việc Bộ Chính trị BCH Trung ương (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 30/CT-TW, ngày 18-2-1998 “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” đã mở đầu cho quá trình thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở, để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng thiết thực, gắn với lợi ích của nhân dân. Quy chế dân chủ ở cơ sở đã mở ra nhiều hình thức dân chủ trực tiếp trong hoạt động của người dân, như: xây dựng chế độ tự quản ở khu dân cư; xây dựng, thực hiện cơ chế giám sát đầu tư cộng đồng; lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND cấp xã; bầu trực tiếp trưởng thôn, tổ trưởng dân phố, khu dân cư... Trong công tác xây dựng Đảng, trước khi tiến hành Đại hội XI, Đảng ta đã tiến hành một số hình thức dân chủ trực tiếp trong nội bộ tổ chức đảng và thu được những kết quả, kinh nghiệm bước đầu như: bầu cử trực tiếp Cấp ủy, Ban Thường vụ, Phó Bí thư, Bí thư ở cấp cơ sở; đã có từ 5% đến 7% số đại hội đảng bộ cơ sở thí điểm bầu trực tiếp Ban Thường vụ, Phó Bí thư, Bí thư cấp ủy; từ 15% đến 20% đại hội cấp huyện bầu trực tiếp Phó Bí thư, Bí thư cấp ủy; có 10 đại hội cấp tỉnh, thành phố bầu trực tiếp Bí thư tỉnh, thành ủy đạt kết quả tốt.

Việc người dân góp ý, phê bình tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên ở một số nơi đã thực hiện nhưng hiện nay chưa có một quy trình, quy chế thống nhất. Do vậy, việc kết hợp như thế nào cho chặt chẽ, chất lượng, hiệu quả, thiết thực giữa công tác tự phê bình, phê bình trong Đảng với góp ý, phê bình của nhân dân đối với tổ chức đảng, với cán bộ, đảng viên hiện nay phụ thuộc vào cách vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác này. Nhưng dù thế nào chăng nữa, việc thực hiện dân chủ trực tiếp của người dân trong góp ý, phê bình tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cần tuân thủ một số nội dung sau đây:

- Việc thực hiện dân chủ trực tiếp cần tuân thủ 3 nguyên tắc: Thực hiện quyền chủ động quyết định của người dân; thực hiện quyền trưng cầu ý dân; thực hiện quyền miễn nhiệm của người dân dối với đại biểu của mình.

- Không ngừng nâng cao dân trí, trình độ nhận thức, kỹ năng thực hành dân chủ cho đông đảo quần chúng, nhân dân.

- Coi trọng việc xây dựng, mở rộng dân chủ trực tiếp trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, khắc phục tình trạng tổ chức đảng buông lỏng lãnh đạo hoặc bao biện làm thay chức năng, nhiệm vụ của chính quyền.

- Trên cơ sở đánh giá, tổng kết việc thực hiện dân chủ trực tiếp ở các loại hình cơ sở, các khâu trong công tác xây dựng Đảng, cần bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện và mở rộng dân chủ trực tiếp ở tất cả các loại hình cơ sở, bảo đảm tất cả các cơ sở đều xây dựng và thực hiện tốt Quy chế dân chủ.

- Tổng kết việc thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân cấp quận, huyện, phường; bầu cử trong đại hội đảng bộ các cấp, trực tiếp bầu người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cấp xã, nhất là nhất thể hóa hai chức danh Bí thư cấp ủy và Chủ tịch UBND.

- Xây dựng cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng, Nhà nước, nhất là các chính sách kinh tế, xã hội, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chính sách đất đai, giải phóng mặt bằng.

- Quy định chế độ cung cấp thông tin, công khai, minh bạch thông tin để người dân được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát và trách nhiệm trả lời, giải trình, tự phê bình của các tổ chức, cá nhân trước nhân dân, trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Xây dựng cho được một thể chế, bộ máy tổ chức đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh; hiện đại hóa nền hành chính quốc gia.

Đó là những tiền đề, cơ sở để công tác xây dựng Đảng ngày càng đáp ứng tốt hơn quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

* Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Dân vận.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



CHỈ SỐ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ VÀ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH:
CÔNG CỤ ĐỂ “DÂN BIẾT, DÂN BÀN, DÂN LÀM, DÂN KIỂM TRA”

                                                                                                                 HOẢNG HẢI*

         LTS: Ngày 3-5-2012 tại Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, cùng với Tạp chí Mặt trận, Ban Dân nguyện Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đã tổ chức công bố Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI 2011) trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tế tại 63 địa phương. Tạp chí Mặt trận từ số này giới thiệu loạt bài liên quan đến PAPI 2011, mở đầu là bài tổng quan về kết quả nghiên cứu công phu nói trên.

          Báo cáo tổng quan PAPI 2011 là kết quả của cuộc khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên lần thứ 2 sau PAPI 2010 nhưng có quy mô toàn quốc và được coi là lớn nhất từ trước đến nay về chủ đề quản trị và hành chính công cấp tỉnh. Hơn 13.640 người dân tham gia trả lời phỏng vấn trực tiếp để đánh giá hiệu quả quản trị và hành chính công của các cấp chính quyền địa phương dựa trên trải nghiệm của cá nhân và hộ gia đình. PAPI cung cấp một bức tranh toàn diện về thực trạng công tác quản lý nhà nước ở tất cả 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam. PAPI đưa ra những phân tích sâu rộng về quản trị và hành chính công ở cấp quốc gia.

“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là câu nói tóm tắt một cách đầy đủ nhất bản chất và mục đích của PAPI. PAPI không những cung cấp thông tin khách quan về những trải nghiệm và các mối quan hệ của người dân với các cơ quan chính quyền địa phương, hay những vấn đề “dân biết”, mà còn là phương tiện hỗ trợ việc thảo luận và thẩm định các giải pháp chính sách ở cấp trung ương và địa phương nhằm tạo điều kiện để “dân bàn”. PAPI làm rõ những trải nghiệm thực tế của người dân, để từ đó các cấp chính quyền hành động thay cho dân và hiện thực hóa phương châm “dân làm”. PAPI còn là công cụ đánh giá hiệu quả thực tế của các cấp chính quyền thông qua việc tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền hạn “dân kiểm tra”.

Khi Việt Nam đạt đến trình độ phát triển cao hơn thì người dân cũng đòi hỏi các cấp chính quyền nâng cao chất lượng dịch vụ công. Ngoài yêu cầu về tăng số lượng hay diện bao phủ của các loại hình dịch vụ từ cả khu vực công và khu vực tư, người dân cũng đòi hỏi chất lượng dịch vụ tốt hơn. Nói cách khác, kỳ vọng của người dân giờ đây ở mức cao hơn. Để khuyến khích các cấp chính quyền, cán bộ, công chức nhà nước và đại biểu dân cử đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân, việc huy động người dân tham gia tích cực và chủ động vào quy trình xây dựng chính sách, đặc biệt là khâu giám sát thực hiện ngày càng trở nên bức thiết. Điều không kém phần quan trọng là hiểu được tâm tư, nguyện vọng và trải nghiệm của người dân. Các công cụ mới mang tính sáng tạo nhằm đo lường, theo dõi và thảo luận về hiệu quả quản trị và hành chính công là hết sức cần thiết để không ngừng đạt tới mức độ phát triển cao hơn và công bằng hơn. Một nội dung quan trọng trong quá trình chuyển đổi này là đổi mới công tác “dân vận” từ cách làm truyền thống sang cách làm mới để người dân có thể chủ động tham gia vào các quá trình quản trị và hành chính công để đạt được trình độ cao hơn về phát triển con người ở Việt Nam.

Chỉ số PAPI nhằm đo lường mức độ hiệu quả của công tác quản trị và hành chính công dựa vào trải nghiệm của người dân khi tiếp xúc, giao dịch với cơ quan chính quyền các cấp. Là một công cụ theo dõi hiệu quả hoạt động, PAPI góp phần không ngừng cải thiện hiệu quả quản trị và hành chính công. Trong khi các báo cáo tổng kết của các cơ quan, ban ngành nhà nước ở trung ương và địa phương hiện nay chủ yếu là “tự đánh giá”, nghiên cứu PAPI đem đến cách tiếp cận từ dưới lên để tìm hiểu và nghiên cứu trải nghiệm và cảm nhận thực tiễn của người dân.

Tuân thủ cách tiếp cận từng bước, phương pháp thiết kế và khảo sát của nghiên cứu PAPI đã được thẩm định thông qua quá trình thí điểm ban đầu và lặp lại. PAPI 2011 phản ánh trải nghiệm và cảm nhận của người dân ở các địa phương, đánh dấu bước ngoặt lớn của nghiên cứu PAPI trong nỗ lực hỗ trợ tích cực cho quy trình hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu thực chứng. PAPI 2011 có cơ cấu 6 nội dung lớn (còn gọi là trục nội dung), 22 nội dung thành phần và 92 chỉ số thành phần. Báo cáo PAPI 2011 cung cấp nhiều phát hiện nghiên cứu phong phú về xu hướng quản trị và hành chính công ở cấp quốc gia. Báo cáo cũng cho thấy một bức tranh khá toàn diện về hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh được đo lường dựa trên trải nghiệm và cảm nhận thực tiễn của người dân từ 63 tỉnh/thành trên toàn quốc. Chỉ số tổng hợp PAPI được tổng hợp thông qua tính toán 5.796 biến số độc lập, 1.368 điểm ở cấp nội dung thành phần và 378 điểm ở cấp trục nội dung theo một quy trình lập trình chặt chẽ.

1.Tác dụng ban đầu của PAPI về phương diện chính sách và thực tiễn

Trước nhu cầu ngày một lớn về huy động người dân tham gia vào việc đánh giá hiệu quả quản trị và hành chính công, Chỉ số PAPI ngày càng khẳng định được vị trí của mình là một công cụ đo lường mới cung cấp thực chứng và thông tin khách quan cho quá trình hoạch định chính sách. Tính tiên phong của nghiên cứu PAPI trong việc đo lường trải nghiệm của người dân khi tiếp xúc, giao dịch với các cấp chính quyền địa phương đang trở thành một phần của quy trình hoạch định, thực thi và theo dõi thực thi chính sách.

Tuy công cụ thu thập dữ liệu PAPI trong thời gian đầu vẫn mang tính thử nghiệm, song các phát hiện của nghiên cứu PAPI đã và đang được các cơ quan chính quyền, các đối tác phát triển và các chủ thể ngoài nhà nước sử dụng để theo dõi, đánh giá hiệu quả quản trị và hành chính công cũng như xây dựng chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến quản trị và nâng cao hiệu quả của hệ thống hành chính nhà nước.

Ở cấp trung ương, dữ liệu PAPI ngày càng được ghi nhận có tác dụng tốt và độ tin cậy cao nhờ sự tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực về phương pháp luận. Trong thời gian qua, Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, những cơ quan phụ trách công tác phòng chống tham nhũng ở Việt Nam, đã sử dụng một số phát hiện nghiên cứu của PAPI để đưa vào báo cáo của Chính phủ và khung đánh giá về tình hình tham nhũng. Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ, cơ quan chủ trì thực hiện cải cách hành chính, cũng đang xem xét sử dụng PAPI làm công cụ mang tính tham khảo và bổ sung cho bộ chỉ số theo dõi, đánh giá công tác cải cách hành chính (PAR Index) ở trung ương và địa phương.

Chỉ số PAPI cũng ngày càng có tác dụng đối với các cấp chính quyền tỉnh/thành phố. Đây là lần đầu tiên dữ liệu về trải nghiệm của người dân liên quan đến các nội dung quản trị và hành chính công được công bố rộng rãi tới các cấp chính quyền. Một ví dụ điển hình nhất đó là, Kon Tum - một tỉnh nghèo ở khu vực Tây nguyên và có thứ hạng thấp nhất trong xếp hạng 30 tỉnh/thành phố của Chỉ số PAPI 2010 nhưng chính quyền tỉnh đã yêu cầu các sở, ban, ngành của tỉnh xây dựng đề án chi tiết về việc cải thiện hiệu quả quản trị và hành chính công nhằm phát huy hơn nữa điểm mạnh và cải thiện những mặt còn yếu kém. Điều quan trọng là đề án tập trung cải thiện chất lượng dịch vụ cung ứng cho người dân ở cấp cơ sở. Ngoài ra, Sở Nội vụ Đà Nẵng đã chủ động thông tin cho lãnh đạo chính quyền thành phố về mức độ hiệu quả ở từng lĩnh vực nội dung được phản ánh qua Chỉ số PAPI. Dữ liệu và phương pháp luận của PAPI cũng đang được tham khảo để theo dõi hiệu quả của các sở, ban ngành và cấp chính quyền cơ sở ở Đà Nẵng. Chính quyền TP. Hồ Chí Minh đã cho phân tích và xem PAPI là nguồn dữ liệu tham khảo cho quá trình ra quyết sách và đẩy mạnh hiệu quả của bộ máy chính quyền các cấp.

Hệ thống chỉ báo về hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh

PAPI là một hệ thống chỉ báo thể hiện giá trị đo lường định lượng hiệu quả của nhiều lĩnh vực liên quan đến quản trị và hành chính công. PAPI tập trung nghiên cứu 6 lĩnh vực nội dung cụ thể có mối quan hệ tương hỗ liên quan đến quản trị và hành chính công ở cấp tỉnh:: (1) tham gia của người dân ở cấp cơ sở; (2) công khai, minh bạch; (3) trách nhiệm giải trình với người dân; (4) kiểm soát tham nhũng; (5) thủ tục hành chính công; và (6) cung ứng dịch vụ công. Mỗi trục nội dung này là sự kết hợp của 3 đến 4 nội dung thành phần được cấu thành từ các nhóm chỉ số thành phần.

PAPI được xem là một bộ chỉ số tổng hợp thể hiện bức tranh tổng thể về quản trị và hành chính công ở cấp quốc gia. Song, chỉ số tổng hợp không phải là đích cuối cùng của nghiên cứu. PAPI còn là một hệ thống chỉ báo thể hiện tính phức hợp nhiều chiều của những nỗ lực cải cách hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, hành chính công và cung ứng dịch vụ công từ cảm nhận và quan điểm của một mẫu đại điện cho dân số Việt Nam. PAPI không những thu thập thông tin kịp thời về những gì đang diễn ra trong công tác quản trị và hành chính công nói chung mà còn quan tâm tới những gì người dân đang trải nghiệm khi đi sử dụng dịch vụ của nền hành chính nhà nước.

Để xác định những địa phương có mức độ hiệu quả cao cải cách hành chính công từ đó tìm kiếm những điển hình tốt nhằm mục đích nhân rộng điển hình, PAPI phân nhóm các tỉnh/thành phố theo 4 nhóm hiệu quả dựa trên điểm số chung của mỗi tình/thành phố. Phát hiện nghiên cứu quan trọng đầu tiên đó là các tỉnh/thành phố có thể thuộc vào nhóm có điểm số cao nhất ở một số trục nội dung song cũng có thể thuộc vào nhóm có điểm số thấp nhất ở các trục nội dung còn lại. Lấy 3 trường hợp của Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và tỉnh Thanh Hóa làm ví dụ. 3 địa phương này có thể thuộc về nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất với điểm số từ bách phân vị thứ 75 trở lên (trong số 100 phân vị, với phân vị thứ nhất là giá trị thấp nhất và phân vị thứ 100 là giá trị cao nhất) ở một số trục nội dung. Hà Nội đạt điểm khá ở các trục nội dung “Tham gia của người dân ở cấp cơ sở”, “Công khai, minh bạch”, và “Cung ứng dịch vụ công”, song đạt điểm trung bình thấp ở trục nội dung “Kiểm soát tham nhũng”. TP. Hồ Chí Minh đạt điểm cao ở các trục nội dung “Công khai, minh bạch”, “Kiểm soát tham nhũng” và “Cung ứng dịch vụ công”, song lại rơi vào nhóm trung bình thấp ở trục nội dung “Trách nhiệm giải trình với người dân”. Trong số 6 tỉnh/thành phố có dân số trên 2 triệu người, An Giang rơi vào nhóm đạt điểm số thấp nhất, với tổng điểm dưới điểm bách phân vị thứ 25 ở 4 trục nội dung: “Tham gia của người dân ở cấp cơ sở”, “Công khai, minh bạch”, “Trách nhiệm giải trình với người dân” và “Thủ tục hành chính công”. Ngoài ra, An Giang cũng nằm trong nhóm đạt điểm trung bình thấp ở trục nội dung “Kiểm soát tham nhũng”. Chỉ riêng ở trục nội dung “Cung ứng dịch vụ công” An Giang thuộc về nhóm đạt điểm trung bình cao.

Long An là địa phương duy nhất trên cả nước thuộc về nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất ở cả 6 trục nội dung. Đối lập với Long An là Trà Vinh (ở phía Nam) và Hà Giang (ở phía Bắc), bởi cả 2 tỉnh này đều nằm trong nhóm đạt điểm thấp nhất.

Trục nội dung 1. Tham gia của người dân ở cấp cơ sở

Trục nội dung 1 tập trung tìm hiểu mức độ hiệu quả của các cấp chính quyền địa phương trong việc huy động sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở, qua đó đánh giá các cơ chế tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các quy trình quản trị và hành chính công cấp tỉnh. Các vấn đề chính được đề cập ở đây là hiểu biết của người dân về cơ hội tham gia của mình, kinh nghiệm trong bầu trưởng thôn/tổ trưởng dân phố và mức độ hài lòng với chất lượng bầu cử vị trí trưởng thôn/tổ trưởng dân phố; và huy động đóng góp tự nguyện của người dân cho các dự án công trình công cộng của xã/phường.

Sơn La là tỉnh đạt ước lượng điểm cao nhất, tiếp đến là Quảng Bình, Hòa Bình, Lạng Sơn và Bà Rịa-Vũng Tàu. Ngoài ra, những tỉnh/thành phố khác cùng nhóm đạt điểm cao nhất (với điểm số từ 5,65 đến 6,642 trên thang điểm từ 1-10) là Bắc Ninh, Bình Định, Quảng Trị, Bến Tre, Long An, Hà Nội, Tiền Giang, Đắk Nông, Cần Thơ, Hải Dương và Phú Thọ.

Nhóm các tỉnh/thành phố đạt điểm thấp nhất gồm những địa phương có điểm số dưới 5,092 điểm. Các tỉnh Bình Dương, Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Hậu Giang, Sóc Trăng, Ninh Bình, Hà Giang, An Giang, Điện Biên, Cà Mau, Phú Yên, Trà Vinh, Bạc Liêu, Tây Ninh và Bình Thuận nằm trong nhóm này. Bình Thuận và Tây Ninh có số điểm trung bình thấp nhất và nằm trong khoảng từ 4,3 đến 4,5 điểm.

32 tỉnh/thành phố còn lại, trong đó có các thành phố trực thuộc trung ương như Hải Phòng, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh đạt trong khoảng điểm từ 5,09 đến 5,63 điểm, và thuộc 2 nhóm đạt điểm trung bình cao và trung bình thấp. Khoảng cách điểm trung bình của các tỉnh/thành phố này là rất hẹp.

Trục nội dung 2. Công khai, minh bạch

Trục nội dung 2 đánh giá mức độ công khai, minh bạch trong cung cấp thông tin kịp thời và tin cậy của chính quyền địa phương tới người dân. Đặc biệt, trục nội dung này tập trung vào vấn đề nhận thức của người dân từ kết quả cung cấp thông tin của chính quyền cũng như mức độ công khai thông tin về các chính sách xã hội cho người nghèo, về các quy định pháp luật ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người dân, về thu chi ngân sách cấp xã/phường, và về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và khung giá đền bù đất bị thu hồi.

Nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất tập trung nhiều hơn ở khu vực miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Điều đáng lưu ý là phần lớn các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ lại nằm trong nhóm đạt điểm thấp nhất. Trong số các thành phố trực thuộc trung ương, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh nằm trong nhóm đạt điểm cao nhất, trong khi đó Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng lại thuộc nhóm đạt điểm thấp nhất.

Bà Rịa - Vũng Tàu đạt điểm trung bình cao nhất với 6,85 điểm trên thang điểm từ 1-10. Tiếp đến là Hà Tĩnh, Nam Định và Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Bình, Long An, Quảng Trị, Yên Bái, Bình Phước, TP. Hồ Chí Minh, Gia Lai, Hà Nội, Hoà Bình, Thanh Hoá và Thái Nguyên với điểm số thấp nhất của nhóm là 5,946.

Trong nhóm tỉnh/thành phố đạt điểm thấp nhất, tỉnh Trà Vinh, Lâm Đồng, Tây Ninh, Ninh Thuận và Bạc Liêu đạt điểm thấp nhất với ước lượng điểm trung bình là 4,5 điểm. Các địa phương khác trong nhóm này (với điểm trung dưới 5,124 điểm) bao gồm: Kiên Giang, Hậu Giang, Hà Giang, Bình Thuận, Sóc Trăng, An Giang, Phú Yên, Phú Thọ, Hưng Yên và Vĩnh Long. 32 tỉnh/thành phố còn lại thuộc 2 nhóm đạt điểm trung bình với số điểm dao động từ 5,085 đến 5,938.

Trục nội dung 3: Trách nhiệm giải trình với người dân

Trục nội dung 3 về trách nhiệm giải trình với người dân tập trung đánh giá hiệu quả giải trình của cán bộ chính quyền về các hoạt động tại địa phương với cấp cơ sở. Trục nội dung này xem xét mức độ và hiệu quả tiếp xúc của người dân với các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền để giải quyết các vấn đề cá nhân, gia đình, hàng xóm, hoặc liên quan tới chính quyền địa phương; về khiếu nại, tố cáo của người dân; về mức độ phổ biến và hiệu quả của các cơ chế dân cử để yêu cầu chính quyền địa phương chịu trách nhiệm trước các chương trình và dự án triển khai ở cấp xã/phường (như Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng).

Quảng Trị là địa phương đạt điểm trung bình cao nhất - xấp xỉ 7,0 điểm; tiếp đến là 2 tỉnh cùng miền Trung là Quảng Bình và Hà Tĩnh. Các tỉnh/thành phố cũng nằm trong nhóm đạt điểm cao nhất (với điểm số từ 5,856 trở lên) gồm Thái Bình, Nghệ An, Nam Định, Hải Dương, Long An, Hà Nam, Hòa Bình, Bình Định, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Đồng Tháp, Phú Thọ và Lạng Sơn.

Cao Bằng, Hải Phòng và An Giang là những địa phương đạt điểm thấp nhất - trung bình dưới 4,8 điểm. Ngoài ra, trong nhóm các tỉnh/thành phố đạt điểm thấp nhất (dưới 5,256 điểm) còn có: Phú Yên, Lai Châu, Tây Ninh, Cà Mau, Sóc Trăng, Hưng Yên, Đồng Nai, Bến Tre, Trà Vinh, Ninh Bình, Bạc Liêu và Hà Giang.

Số các tỉnh/thành phố còn lại, trong đó có Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, nằm trong 2 nhóm đạt điểm trung bình, với số điểm dao động từ 5,256 đến dưới 5,856. Một điều đáng lưu ý là ngoài tỉnh Bình Định ở khu vực Nam Trung Bộ và tỉnh Đồng Tháp và Long An ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tất cả các tỉnh/thành phố trong nhóm đạt điểm cao nhất tập trung ở vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng và khu vực Bắc Trung Bộ. Bên cạnh đó, có hơn một nửa số tỉnh/thành phố đạt điểm thấp nhất lại tập trung ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, và số còn rải rác ở miền Bắc.

Trục nội dung 4: Kiểm soát tham nhũng

Trục nội dung 4 đề cập đến tệ tham nhũng. Trục nội dung này đánh giá mức độ tham nhũng, và động cơ của người dân trong việc tố cáo các hành vi tham nhũng. Mặc dù tham nhũng là một vấn đề rộng, song để thuận lợi cho phân tích, báo cáo tập trung phân tích vấn đề lạm dụng ngân sách nhà nước vì mục đích tư lợi, hối lộ, tầm quan trọng của việc thân quen (vị thân) khi xin hoặc thi vào làm việc trong khu vực nhà nước, lạm dụng chức quyền trong xử lý các thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ y tế và giáo dục, nhận thức của người dân về quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và cảm nhận về hiệu quả của những nỗ lực chống tham nhũng của các cơ quan nhà nước.

Kiểm soát tham nhũng là trục nội dung có mức độ khác biệt nhiều giữa các tỉnh/thành phố ở cả cấp độ mẫu khảo sát và cấp tỉnh. Khoảng cách về điểm số trung bình giữa nhóm đạt điểm cao nhất và nhóm đạt điểm thấp là 2,33 điểm. Khi so sánh điểm trung bình của các tỉnh/thành phố, điểm số cao nhất (7,269 điểm của Long An) cao hơn nhiều so với điểm số thấp nhất (4,944 điểm của Cao Bằng).

Các tỉnh Bình Dương, Cà Mau, Bình Định, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang và Bà Rịa-Vũng Tàu, thuộc vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng thuộc nhóm đạt điểm cao nhất. 10 địa phương đứng đầu và 12 trong số 15 địa phương đứng đầu là các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Trong số 10 địa phương đạt điểm thấp nhất có Quảng Ninh, Trà Vinh, Hải Phòng, Hà Giang, Bắc Ninh, Tây Ninh, Ninh Bình, Ninh Thuận và Lâm Đồng (với sự kết hợp của nhiều đặc điểm địa lý, xã hội như đô thị, miền núi, duyên hải, cao nguyên và đồng bằng).

Trục nội dung 5: Thủ tục hành chính công

Tâm điểm của trục nội dung 5 là đánh giá một số dịch vụ và thủ tục hành chính công được lựa chọn. Trục nội dung này xem xét việc thực hiện và hiệu quả của việc cung ứng dịch vụ và xử lý thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính địa phương dựa trên trải nghiệm thực tế của người dân khi đi làm các thủ tục hành chính như xin cấp giấy phép xây dựng, cấp mới, cấp đổi hoặc sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cấp huyện/quận và xã/phường, và mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ chứng thực, xác nhận của các cấp chính quyền địa phương.

Điểm số trung bình của 63 tỉnh/thành phố ở trục nội dung này có xu hướng hội tụ. Khoảng cách giữa điểm cao nhất và điểm thấp nhất là nhỏ nhất trong 6 lĩnh vực được đo lường. Điều này cho thấy có sự đồng nhất về mức độ hiệu quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên toàn quốc, đặc biệt là trong xử lý 4 loại dịch vụ và thủ tục hành chính được đo lường. Điểm số trung bình chung toàn quốc ở lĩnh vực này còn thấp, đòi hỏi cần nhiều nỗ lực của các tỉnh/thành phố trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính.

Khi các tỉnh/thành phố được phân theo 4 nhóm hiệu quả, có thể thấy sự khác biệt giữa các vùng miền. Nhóm các tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất thường tập trung ở miền Trung và phía Nam. Bắc Kạn và Nam Định là 2 địa phương duy nhất ở phía Bắc nằm trong nhóm này. Trong số 5 thành phố trực thuộc trung ương, Đà Nẵng nằm trong nhóm đạt điểm cao nhất; TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Hà Nội thuộc về nhóm đạt điểm trung bình cao; Cần Thơ nằm trong số các tỉnh/thành phố đạt điểm trung bình thấp.

Trục nội dung 6: Cung ứng dịch vụ công

Trục nội dung 6 đề cập tới các dịch vụ công được coi là đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện điều kiện sống của người dân như: y tế, giáo dục, nước sạch, và tình hình an ninh, trật tự ở địa bàn khu dân cư.

Phần lớn các tỉnh/thành phố đạt điểm số cao nhất tập trung ở miền Trung là: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Bình Định đều thuộc về nhóm có điểm số từ 6,926 đến 7,43. Trong khi đó, các địa phương trong nhóm đạt điểm thấp nhất nằm rải rác ở các khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

5 thành phố trực thuộc trung ương có xu hướng đạt điểm cao ở lĩnh vực này. Ngoại trừ Cần Thơ, 4 thành phố khác gồm Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đều nằm trong nhóm đạt điểm cao nhất. Hà Nội có điểm số thấp hơn 3 thành phố còn lại, song điểm số của Hà Nội cao hơn tương đối nhiều so với Cần Thơ.

3. Tổng quan mức độ hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh

Mục đích của nghiên cứu PAPI là làm rõ mức độ hiệu quả ở từng nội dung cụ thể nhằm chỉ ra những mặt đã làm được và những mặt cần được cải thiện của từng tỉnh/thành phố. Vì vậy, PAPI 2011 cũng là một kho dữ liệu và thông tin được phân tích ở từng lĩnh vực nội dung được đo lường. Ngoài các kết quả phân tích ở từng lĩnh vực, PAPI 2011 còn là bộ chỉ số tổng hợp để đánh giá chung về mức độ hiệu quả ở cấp tỉnh, tương tự PAPI 2010. Nói cách khác, 6 lĩnh vực nội dung nghiên cứu của PAPI có thể được tổng hợp thành bộ chỉ số tổng hợp để so sánh mức độ hiệu quả ở cấp tỉnh. Chỉ số tổng hợp PAPI có tác dụng chỉ báo những điển hình tốt, qua đó các tỉnh/thành phố có thể chia sẻ kinh nghiệm. Đồng thời, qua chỉ số tổng hợp, các địa phương có cùng điều kiện kinh tế- xã hội song được đánh giá là có mức hiệu quả thấp có thể trao đổi kinh nghiệm ở những nội dung đã làm được. Việc so sánh mức độ hiệu quả của các tỉnh/thành phố có thể tạo động lực cho các địa phương thúc đẩy hơn nữa hiệu quả quản trị và hành chính công ở địa phương.

Nhìn chung, kết quả phân tích ở từng nội dung cụ thể cho thấy rõ mức độ hiệu quả khác nhau. Song, qua Chỉ số tổng hợp PAPI, có thể thấy rõ 4 nhóm hiệu quả khác nhau, sử dụng thang điểm từ 6-60 điểm (lưu ý: việc phân nhóm là tương đối với một số tỉnh/thành phố do khoảng tin cậy đo được ở những địa phương này khá rộng):

* Nhóm các tỉnh/thành phố đạt điểm cao nhất với điểm số từ 37,381 đến 40,319 (hay từ bách phân vị thứ 75 trở lên) gồm: Quảng Bình, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Sơn La, Nam Định, Lạng Sơn, Bình Định, Hòa Bình, Tiền Giang, Thanh Hóa, Hải Dương, Đà Nẵng, Hà Nội và Đồng Tháp.

* Nhóm các tỉnh/thành phố đạt điểm trung bình cao với điểm số từ 36,144 đến 37,217 gồm: Bến Tre, TP. Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thái Bình, Bình Dương, Bắc Kạn, Bình Phước, Gia Lai, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Quảng Nam, Hà Nam, Đồng Nai, Phú Thọ, Yên Bái và Đắk Nông.

* Nhóm các tỉnh/thành phố đạt điểm trung bình thấp với điểm số từ 35,003 đến 36,098 gồm: Bắc Ninh, Kon Tum, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tuyên Quang, Đắk Lắk, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai, Cà Mau, Thừa Thiên - Huế, Hải Phòng, Khánh Hòa, Kiên Giang, Sóc Trăng và Lâm Đồng.

* Nhóm các tỉnh/thành phố đạt điểm thấp nhất với số điểm từ 32,599 đến 34,995 (hay dưới bách phân vị thứ 25) gồm: Ninh Thuận, Điện Biên, Quảng Ngãi, Hậu Giang, Hưng Yên, Lai Châu, Bạc Liêu, Ninh Bình, Bình Thuận, An Giang, Phú yên, Cao Bằng, Tây Ninh, Hà Giang và Trà Vinh.

* TS, Uỷ viên Hội đồng khoa học cơ quan Trung ương Mặt trận.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             

 

 

 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   Chợ bến Thành ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Vănmiếu
TP Hà Nội

 

    Kon Tum

              Quảng Nam


Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn