Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
     

 
 

 



   


             
 


NGƯỜI CÔNG GIÁO HÀ TĨNH
LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC

                                                                                                TRỊNH XUÂN DIỆU*

        Hà Tĩnh là một vùng quê nằm trên dải đất miền Trung, tuy không được thiên nhiên ưu đãi nhưng Hà Tĩnh thường được coi là nơi “địa linh nhân kiệt”, là một kho tàng văn hóa quần tụ quanh Núi Hồng - Sông La. Trong khó khăn gian khổ, con người đã vươn lên tạo dựng được một đời sống tinh thần phong phú, để lại cho muôn đời sau những giá trị văn hoá to lớn và tên tuổi của các bậc danh nhân tiêu biểu. Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng văn chương, khoa bảng và cũng rất đỗi anh hùng.

Về truyền thống văn hóa, Hà Tĩnh nổi tiếng với nhiều làng văn hoá, khoa bảng như: làng Tiên Điền, Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội, Gôi Mỹ, Thần Đầu, Trung Lễ, Bùi Xá... Đây là quê hương của các danh nhân lịch sử của đất nước, như: Sử Hy Nhan, Nguyễn Nghiễm, Phan Huy Ích tinh thông sử học; Nguyễn Thiếp giỏi lý học; Lê Hữu Trác được gọi là “Thần y”; Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế; Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Phan Đình Phùng với khí tiết xả thân vì dân tộc; Nguyễn Huy Oánh, Bùi Dương Lịch, Phan Nhật Tĩnh là những nhà giáo xuất sắc; đặc biệt là Đại thi hào Nguyễn Du - đã để lại những áng thi văn bất hủ muôn đời cho hậu thế... Thời hiện đại, vùng đất này cũng là nơi sinh ra các danh nhân, như Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Khắc Viện, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đình Tứ và nhiều tên tuổi lớn khác... Đây cũng là cái nôi của truyền thống cách mạng, đã sinh ra cho Tổ quốc biết bao chí sỹ, trong đó nổi bật là hai cố Tổng Bí thư Trần Phú và Hà Huy Tập.

Hà Tĩnh là tỉnh có đông đồng bào theo các tôn giáo, chủ yếu là Công giáo và Phật giáo, ngoài ra còn một số người theo đạo Tin lành với số tín đồ hiện nay là 154.848 người (chiếm trên 12% dân số toàn tỉnh); có 304 cơ sở thờ tự (231 nhà thờ, nhà nguyện, tu viện; 73 chùa).

Riêng đạo Công giáo Hà Tĩnh là 1 trong 15 tỉnh, thành phố có số lượng tín đồ đạo Công giáo đông nhất cả nước, hiện nay có 6 giáo hạt, 58 giáo xứ, 231 họ đạo, 3 tu viện thuộc dòng Mến Thánh giá Vinh; ngoài ra còn một số cơ sở, nhóm nữ tu Dòng Mến Thánh giá, Dòng Bác ái. Toàn tỉnh có 56 linh mục và hơn 150 nữ tu ở các cơ sở dòng, nhóm nữ tu, có 149.273 giáo dân, chiếm 11,5% dân số, có 131/262 xã, phường, thị trấn có đông giáo dân và có 461 khu dân cư vùng giáo, trong đó 114 vùng giáo toàn tòng... Được sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận các cấp và sự động viên, hướng dẫn của Ủy ban đoàn kết Công giáo các cấp, sự đồng hành của các chức sắc, chức việc, người Công giáo Hà Tĩnh qua các thời kỳ lịch sử đã góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng quê hương.

Thời kỳ đầu chống thực dân Pháp, đội ngũ chức sắc đạo Công giáo của Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình nói chung và Hà Tĩnh nói riêng, có một bộ phận chức sắc luôn nêu cao ý thức bảo vệ độc lập dân tộc, những tên tuổi giàu lòng yêu nước trong Giáo phận, như: Linh mục Đậu Quang Lĩnh (huyện Đức Thọ) là bí thư Tòa Giám Mục; Linh mục Lê Sương Huệ (huyện Hương Khê)... đã bị Pháp kết án khổ sai, bị đày ra Côn Đảo hoặc bị sát hại, những đóng góp cho Tổ quốc, cho nhân dân của các vị đã được lịch sử, Tổ quốc, nhân dân và Giáo hội ghi nhận. Đồng thời, đây cũng là bằng chứng hùng hồn cho lòng yêu nước thương nòi, yêu Tổ quốc, căm thù giặc của tất cả con dân Hà Tĩnh nói riêng và công dân Việt Nam nói chung, không phân biết dân tộc, tôn giáo... đều chung một lý tưởng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chung tay bảo vệ Tổ quốc, xây dựng “thiên đường” trên quê hương, đất nước.

Trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc vĩ đại, người công giáo Hà Tĩnh đã phát huy truyền thống đoàn kết, động viên con em tòng quân bảo vệ Tổ quốc, nhiều người đã hy sinh tuổi xuân cho đất nước hoặc để lại một phần xương máu trên chiến trường. Nước nhà thống nhất, hiện nay Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển; đồng bào Công giáo Hà Tĩnh rất đỗi tự hào, phát huy truyền thống yêu nước, đồng sức đồng lòng cùng nhân dân toàn tỉnh xây dựng quê hương vì mục tiêu xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong những năm đổi mới, nhất là sau 20 năm tái lập tỉnh, kinh tế Hà Tĩnh đạt tốc độ tăng trưởng bình quân gần 10%/năm; cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo từ 53% năm 1991 đến nay còn 23,9%. Ngành Giáo dục luôn giữ vững ở tốp đầu trong cả nước…

Hiện nay, Hà Tĩnh đang triển khai các công trình, dự án trọng điểm, như: Khu kinh tế Vũng Áng đã có 126 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, với vốn đăng ký trên 220.000 tỷ đồng; Dự án Tổng kho xăng dầu Vũng Áng... Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đã thu hút được 9 dự án đầu tư, với tổng số vốn gần 2.000 tỷ đồng và dự án mỏ sắt Thạch Khê đã bóc được 10,5 triệu m3 đất tầng phủ, đạt độ sâu -28m so với mực nước biển, quặng nguyên khai có thể khai thác trên 500.000 tấn.

Thời gian qua, đồng bào Công giáo Hà Tĩnh hăng hái thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thâm canh, mạnh dạn chuyển đổi mùa vụ, cây trồng vật nuôi, nhất là các loại giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao, phát triển kinh tế trang trại, gia trại đem lại hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, điển hình như các giáo xứ, giáo họ thuộc các huyện Đức Thọ, Can Lộc, Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà nhiều năm liên tục đạt năng suất 12 - 13 tấn/ha/năm, lương thực bình quân đầu người 600 - 700 kg/người/năm. Vùng giáo thuộc miền núi như Gia Phố, Tràng Lưu, Tân Hội (Hương Khê); giáo xứ Kim Cương (Hương Sơn) đã mạnh dạn đầu tư kinh phí xoá bỏ vườn tạp, xây dựng vườn kinh tế, trồng cây phủ xanh đất trống, đồi núi trọc theo dự án 327, phát triển kinh tế theo mô hình VACR đem lại hiệu quả kinh tế cao. Giáo dân vùng ven biển Nhượng Bạn, Vĩnh Phước (Cẩm Xuyên), Dinh Cầu, Dụ Lộc, Quý Hoà (Kỳ Anh), An Nhiên, Lộc Thuỷ (Thạch Hà) phát triển nuôi trồng thuỷ sản, cho thu nhập mỗi hộ bình quân 50 triệu đồng/năm. Nhiều xứ đạo phát huy ngành nghề truyền thống, như: Làng Mộc ở xứ đạo Tràng Đình, Làng Nề ở Giáo họ Tân Vĩnh (Can Lộc), chế biến hải sản ở Giáo xứ Trung Nghĩa (Lộc Hà) đều thu hút hàng trăm lao động có việc làm ổn định quanh năm; phát triển nghề công nghiệp, dịch vụ như công ty TNHH Châu Tuấn ở thị trấn Xuân An doanh thu mỗi năm hàng tỷ đồng, đóng nộp ngân sách vượt kế hoạch. Kinh tế phát triển, cuộc sống ổn định và có tích luỹ, người Công giáo đã cùng với cộng đồng dân cư đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, như đường nhựa, đường bê tông, kênh mương, cầu cống, trường học, nhà trẻ... Nhiều vùng giáo đã nhựa hoá, bê tông hoá đường giao thông thuận tiện cho sinh hoạt của giáo dân. Diện mạo nông thôn vùng giáo ngày càng khang trang, đổi mới, qua điều tra khảo sát vùng giáo toàn tỉnh có 791 hộ thu nhập 30 - 40 triệu đồng/năm, 484 hộ thu nhập 40 - 50 triệu đồng và nhiều hộ thu nhập trên 50 triệu đồng/năm.

Phong trào chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhất là chăn nuôi lợn hướng nạc, bò lai Sind và nái sinh sản cũng được bà con giáo dân hướng ứng. Giáo dân nhiều họ đạo, như: Tân Thành (Sơn Lâm), họ đạo Đức Vọng, họ Quát (Sơn Giang), họ Tịnh Dy (Sơn Diện), họ Khe Chè (Hương Sơn) mỗi hộ thường xuyên có từ 15 - 20 con hươu, cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Nổi lên một số cá nhân điển hình, như anh Dâng, anh Thạch ở giáo xứ Chân Thành (thành phố Hà Tĩnh) bước đầu phát triển chăn nuôi lợn hướng siêu nạc từ 20 - 50 con, mỗi năm xuất chuồng 3 đợt cho thu nhập khá. Mô hình lai tạo đàn bò vàng trắng ở họ giáo Phương Mỹ (Can Lộc) đang phát triển, đàn lợn siêu nạc với quy mô 50 - 100 con/hộ và mô hình này đang được nhân rộng nhiều nơi ở các xóm giáo của giáo xứ Thượng Bình (Hương Khê). Đặc biệt, mô hình kinh tế vườn đồi, phủ xanh đất trống đồi trọc đang được phát triển khá bền vững ở nhiều vùng giáo ở Hương Khê, Hương Sơn và vùng ven núi của các huyện Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên kết hợp mô hình kinh tế trang trại cây trồng, chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích sử dụng. Phong trào trồng cây của giáo dân phát triển mạnh ở các vùng giáo ven biển như giáo họ Thu Chỉ, Làng Khe (Thạch Hà).

Ngành nghề kinh tế biển đáng chú ý, như nghề nuôi tôm, cua có thu nhập cao, phát triển mạnh ở các vùng giáo An Nhiên (thành phố Hà Tĩnh); Thanh Thủy, Tiến Thủy, Xuân Tình (Thạch Hà); Dụ Lộc, Quý Hòa (Kỳ Anh) cho thu nhập cao, góp phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống của nhân dân. Bên cạnh đó, một bộ phận giáo dân năng động đã trở thành những doanh nhân làm ăn phát đạt trên nhiều lĩnh vực, đóng góp nhiều cho xã hội.

Trên một số phong trào khác, Uỷ ban ĐKCG cùng với chính quyền, Mặt trận các cấp đã vận động người Công giáo Hà Tĩnh tích cực tham gia và có sự đóng góp không nhỏ, như:

Về lĩnh vực giáo dục, nâng cao dân trí đã được các vị linh mục phối hợp tích cực, hiện nay con em vùng giáo đã được phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Số học sinh THPT tăng cả số lượng và chất lượng. Trong 5 năm qua, đã có 647 học sinh thi đỗ Đại học, 1.184 thi đỗ Cao đẳng. Tiêu biểu cho phong trào đó, là con em vùng Giáo các huyện Can Lộc, Đức Thọ, Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh. Con em vùng giáo học tập tốt, lao động tốt, yêu thầy, mến bạn, không có tệ nạn trong học đường, góp phần xây dựng trường học, lớp học.

Về phong trào ngói hóa, xóa nhà tranh tre dột nát, hiện nay trong vùng giáo không còn nhà tranh tre dột nát, tỷ lệ hộ giáo được dùng điện đạt 100%. Công tác giao thông nông thôn, thuỷ lợi nội đồng đều được bà con giáo dân tham gia tích cực khi địa phương phát động, như: Giáo dân xứ Trại Lê (Quang Lộc, Can Lộc) đóng góp làm được 2 km đường bê tông giá trị 300 triệu đồng, Linh mục quản xứ giúp đỡ 100 triệu đồng, giáo xứ Ninh Cường (Gia Phổ, Hương Khê) đã bê tông hoá 100%. Giáo dân các xứ, họ đạo huyện Thạch Hà năm qua đào đắp được 75.537m2 đất, đóng góp 98.723 ngày công, nâng cấp 7,3 km, phát quang mở rộng 62 km, làm bê tông cứng 8,2 km đường, tiêu biểu có họ giáo Xuân Hải (Thạch Bằng, Thạch Hà), làm 2 km đường bê tông và đầu tư 20 triệu đồng xây dựng Hội quán…

Về phong trào từ thiện, nhân đạo, xã hội, hưởng ứng lời kêu gọi của UBMTTQ tỉnh đã xuất hiện nhiều nghĩa cử cao đẹp của chức sắc, tín đồ Công giáo. Giáo dân Giáo xứ Trung Nghĩa (Thạch Bằng, Thạch Hà) bình quân mỗi hộ ủng hộ 5.000 đồng, đồng bào Công giáo thị xã đã đóng góp 25 triệu đồng giúp các hộ nghèo làm nhà; điển hình như giáo xứ An Nhiên đóng góp 21 triệu đồng, 3.000 quyển vở, 30 bộ chăn màn và 1.200 kg gạo giúp nhân dân trong xã gặp khó khăn; giáo dân Hương Khê đã ủng hộ 256 triệu đồng cho “Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam/dioxin”; linh mục Nguyễn Ngọc Nga, quản xứ Dụ Thành (Kỳ Khang, Kỳ Anh) đã trao tặng 506 suất quà (mỗi suất trị giá 250 đồng); Hội tình thương (Kỳ Lợi, Kỳ Anh) đã quyên góp được 6 tấn gạo, 200 kg thịt heo và 12 triệu đồng hỗ trợ cho những hộ gia đình khó khăn; vùng giáo thành phố Hà Tĩnh đã ủng hộ tết cho người nghèo và hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn 150 triệu đồng, Ban đoàn kết Công giáo huyện Can Lộc mua 7 con trâu bò trị giá 42 triệu đồng cấp cho 7 hộ nghèo; bà con giáo dân các giáo xứ Xuân Tình, Trung Nghĩa, Mỹ Lộc thuộc huyện Lộc Hà vận động đóng góp được 10 triệu đồng và 700 kg gạo cho hàng trăm hộ giáo dân có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều vị linh mục đã tích cực vận động, quyên góp và trực tiếp đi tiếp ứng lương thực, thức ăn cho nhân dân vùng giáo bị lũ lụt. Ngoài ra, vùng giáo thành phố Hà Tĩnh đã ủng hộ nhân dân Nhật Bản bị sóng thần 257 triệu đồng.

Trong phong trào xây dựng Nông thôn mới, các xã, thôn, khu dân cư vùng giáo đồng hành tích cực, nổi lên một số điển hình, như: Giáo xứ Nhượng Bạn (Cẩm Xuyên), Giáo xứ Châu Long (Kỳ Anh), Giáo họ Ban Long (Can Lộc), đặc biệt là xã Gia Phổ (Hương Khê) có trên 80% giáo dân, đã 2 lần được phong danh hiệu xã Anh hùng và 1/11 xã trong cả nước được chọn là xã điểm trong phong trào xây dựng Nông thôn mới.

Cuộc bầu Đại biểu Quốc hội khóa XIII, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016 vừa qua tại Hà Tĩnh, cho thấy tỷ lệ cử tri người Công giáo đi bỏ phiếu cao, nhiều vị linh mục, tu sỹ, giáo dân là những người đi bỏ phiếu đầu tiên, thực hiện tốt quyền công dân, tạo không khí phấn khởi trong ngày bầu cử ở các xứ, họ đạo. Nhiệm kỳ HĐND này có 1 vị chức sắc trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, 18 giáo dân trúng đại biểu HĐND cấp huyện và 214 giáo dân trúng cử HĐND cấp xã; tất cả các đại biểu là chức sắc, giáo dân đạo Công giáo trúng cử vào HĐND các cấp nhiệm kỳ này đều có số phiếu bầu cao.

Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh triển khai nhiều công trình, dự án trọng điểm Quốc gia phải thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng, di dời tái định cư liên quan nhiều đến các giáo xứ, giáo họ đạo Công giáo đã có sự đồng thuận của linh mục, giáo dân, như Dự án khai thác Mỏ sắt Thạch Khê, Dự án thủy điện Ngàn Trươi - Cẩm Trang, đặc biệt là Dự án Khu kinh tế Vũng Áng có 5 xã có đông đồng bào Công giáo, chiếm 42% dân số nằm trong vùng dự án phải di dời, trong đó là 2 giáo xứ, 2 giáo họ, 2 khu tượng thánh, 1 dòng tu, 1 ngư trường liên quan đến địa bàn đánh bắt hải sản của 4.500 giáo dân thuộc giáo xứ Đông Yên với 450 hộ giáo dân.

Những kết quả mà chức sắc, tín đồ Công giáo đạt được như trên, một phần lớn nhờ sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp ủy, chính quyền như nhu cầu chính đáng được giải quyết kịp thời. Trong thời kỳ đổi mới, trên 100 nhà thờ giáo xứ, giáo họ được xây mới, nâng cấp, gần 90% cơ sở được cấp giấy công nhận quyền sử dụng đất, hàng chục giáo xứ, giáo họ được chấp thuận thành lập, chia tách... Cuộc sống của đồng bào Công giáo cơ bản đã “ấm no phần xác, thong dong phần hồn”, thêm tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Người Công giáo Hà Tĩnh ở thời kỳ lịch sử nào, tuy điều kiện khác nhau nhưng luôn xác định chân lý “Kính Chúa, yêu Nước” và “phúc âm giữa lòng dân tộc”, hăng hái chiến đấu, tích cực lao động, đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong ngôi nhà chung - quê hương Hà Tĩnh và Tổ quốc Việt Nam anh hùng.

* Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Hà Tĩnh.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             



BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO CỦA TÍN ĐỒ CÔNG GIÁO VIỆT NAM
- TỪ THỰC TIỄN Ở GIÁO PHẬN BÙI CHU

                                                                                                             MAI DIỆU ANH*

         Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Bên cạnh hệ thống tín ngưỡng truyền thống với nhiều loại hình lễ hội diễn ra quanh năm thì hệ thống các tôn giáo nội và ngoại sinh cũng tồn tại với nhiều hình thức lễ hội sôi động, đặc sắc. Tham gia các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của đông đảo nhân dân. Sự sôi động, đặc sắc trong các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo là minh chứng thực tế xác đáng thể hiện chính sách nhất quán tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Đối với đồng bào giáo dân, Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, mong muốn cho giáo dân được “phần hồn thong dong, phần xác ấm no”. Tinh thần ấy được giữ vững từ khi mới thành lập Đảng đến nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.

Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta.
Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mĩ như những người bạn thân thiết.

Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”1.

Đây có thể coi là một tư tưởng lớn, thể hiện một sự tìm kiếm mặt tương đồng giữa các hệ ý thức và tôn giáo trong một thế giới đang xung đột. Cốt lõi của tư tưởng này là cần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi người, phát huy các giá trị, tư tưởng nhân văn tốt đẹp của các tôn giáo, từ đó đoàn kết tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 3-9-1945, khi nói về “sáu vấn đề cấp bách”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết ”2.

Hơn nữa, Người đã sớm nhìn thấy những giá trị tích cực về mặt văn hoá, đạo đức trong các tôn giáo cũng như khả năng đóng góp của các tôn giáo trong việc làm giàu thêm đời sống văn hoá tinh thần cho xã hội. Đồng thời, Người cũng tỏ thái độ hết sức kiên quyết trong đấu tranh, loại bỏ việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng vào những mục đích chống dân tộc, chống con người, phản văn hoá.

Quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương - giáo đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ ra khỏi bờ cõi, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Giám mục Hồ Ngọc Cẩn - địa phận Bùi Chu - trong tuần lễ vàng sau ngày 2-9-1945 đã ủng hộ quỹ kháng chiến dây chuyền vàng với hàm ý phụng vụ Tổ quốc, còn cây Thánh giá thì giữ lại, hàm ý để phục vụ giáo hội. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bùng nổ, nhiều linh mục đã lên chiến khu tham gia kháng chiến với tinh thần “ở đâu có tín đồ, ở đó có giáo sĩ” mà tiêu biểu có thể kể đến các linh mục Phạm Bá Trực, Vũ Xuân Kỷ, Võ Thành Trinh, Lương Minh Ký… Trong số các giáo sĩ yêu nước luôn tỏ rõ lòng kiên trung với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, có linh mục trở thành nòng cốt cho phong trào người Công giáo kính Chúa, yêu nước cho mãi đến sau này, như linh mục Võ Thành Trinh; có những linh mục đã ngã xuống vì mũi súng của quân thù như các linh mục Nguyễn Bá Luật, Vũ Ninh Khang… Ở miền Nam, trong kháng chiến chống Pháp, tại các chiến khu, số người Công giáo tham gia kháng chiến đã có lúc lên tới 5.000 - 6.000 người. Riêng tại Đồng Tháp, thường trực có 400 - 600 chiến sỹ Công giáo. Ở miền Bắc, dù là nơi có tư tưởng chống Cộng mạnh mẽ nhất nhưng với đường lối đúng đắn của Chính phủ kháng chiến, dưới ngọn cờ đoàn kết toàn dân kháng chiến của Hồ Chí Minh, nhiều linh mục, giáo dân tham gia Mặt trận Việt Minh, tham gia kháng chiến, tích cực thi hành những chính sách của Chính phủ…3

Bước sang thời kỳ đổi mới, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta tiếp tục kế thừa, trong đó phải kể đến Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới. Nghị quyết xác định: “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), Đảng ta đã khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”4.

Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đang trong giai đoạn phục hồi nền kinh tế, cấu trúc lại nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, duy trì sự ổn định chính trị, văn hóa, xã hội. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 - 2020, Đảng ta xác định đối với tín ngưỡng, tôn giáo phải “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước; tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”5.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn có nhiều thay đổi, Đảng ta nhấn mạnh phải “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”6.

Như vậy, Đảng ta luôn xác định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần lâu dài của nhân dân. Tín ngưỡng, tôn giáo tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được quy định rõ ràng trong các văn bản; chính trong môi trường chính trị, pháp lý minh bạch đó, các tôn giáo, trong đó có Công giáo được tạo điều kiện thuận lợi để tự do hoạt động, từ đó đóng góp ngày càng nhiều hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các sinh hoạt của Công giáo diễn ra ngày một sôi nổi, an toàn. Điều đó, không chỉ phản ánh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng - trong đó quyền tự do tuyên xưng đức tin là một trong những quyền cơ bản nhất, đồng thời thể hiện sự bình đẳng giữa các tôn giáo trong một đất nước đa tôn giáo, đa dân tộc, đa văn hóa như Việt Nam. Nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có tổ chức nhân quyền, các phái đoàn Vatican đến Việt Nam đều phải thừa nhận sự thực trên.

Có thể thấy được thực tế sống động đó thông qua một trong những hoạt động của tín đồ Công giáo, là Đại lễ Kính Thánh Đa Minh ở giáo phận Bùi Chu - Nam Định.

Hàng năm, cứ vào ngày mùng 8-8 dương lịch, theo truyền thống có từ lâu đời trong giáo phận Bùi Chu - Nam Định, bà con giáo dân ở khắp các giáo xứ thuộc giáo phận và ở khắp các vùng miền lại nô nức kéo về nhà thờ Chính tòa Bùi Chu để tham dự đại lễ kính thánh Đa Minh - thánh quan thày bổn mạng giáo phận.

Giáo phận Bùi Chu hiện nay nằm gọn trong tỉnh Nam Định, bao gồm sáu huyện - Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng và khu vực xứ Khoái Đồng ở thành phố Nam Định. Giáo phận này nằm giữa hạ lưu của sông Hồng và sông Đáy, vốn là môi trường thuận lợi trong đón nhận và phát triển Tin Mừng. Ngoài ra phải kể đến con sông Ninh Cơ - một nhánh sông Hồng - nằm giữa giáo phận, dù không lớn bằng hai sông trên nhưng lại là trục giao thông rất thuận tiện. Những con sông đó in đậm dấu vết những cuộc hành trình rao giảng Tin Mừng của các nhà truyền giáo. Hiện giáo phận có 167 linh mục, 150 giáo xứ, 5 hội dòng, một đại chủng viện và do Đức Giám mục Giuse Hoàng Văn Tiệm coi sóc, chủ chăn từ năm 2001 đến nay. Về phương diện tôn giáo, giáo phận Bùi Chu là một trong 26 giáo phận của Giáo hội Việt Nam, là giáo phận có diện tích nhỏ bé nhất, nhưng lại có số lượng giáo dân đông thứ 4 trên 26 giáo phận. Địa phận Bùi Chu là địa phận đại diện cho các địa phận có dòng Đa Minh quản lý, do đó đời sống đạo của giáo dân địa phận Bùi Chu ít nhiều mang những nét khác biệt.

Trước đây, khi các phương tiện đi lại, các phương tiện truyền thông còn hạn chế, các giáo dân phải đi bộ tới nhà thờ Chính tòa thì họ thường khởi hành từ trưa ngày hôm trước để buổi tối có mặt tại nhà thờ mừng lễ. Từng đoàn người, từng giáo xứ, trong tay chỉ mang theo nắm cơm muối vừng, một cái áo mưa mà rất háo hức kéo về nhà thờ Chính tòa. Dân địa phương thời đó thường ngạc nhiên về sự mộ đạo của giáo dân khi biết nắm cơm muối vừng là để họ dùng cho bữa tối và sáng hôm sau, còn chiếc áo mưa để ban đêm trải ra chỗ có thể ngủ được, ban ngày thì dùng để che mưa.

Ngày nay, đời sống người giáo dân đã có nhiều đổi thay, cơ sở vật chất, sinh hoạt văn hóa tinh thần được cải thiện, phong phú, nhiều màu sắc hơn xưa. Tuy nhiên, trong tâm thức của các giáo dân, lễ đầu dòng, lễ Bùi, Lễ thánh Đaminh vẫn hiện diện tới tận ngày hôm nay, là sinh hoạt văn hóa, là dấu ấn không thể phai mờ.

Thánh lễ chính tiệc do Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm - Giám mục Giáo phận Bùi Chu chủ tế, đồng tế có đông đảo các linh mục trong Giáo phận và các linh mục dòng Đa Minh, các thầy ở Đại chủng viện, các nữ tu ở các dòng tu trong Giáo phận. Đức Cha Giuse Hoàng Văn Tiệm - vị Giám mục Giáo phận đã nêu lên những khó khăn của những người về tham dự Thánh lễ, những khó khăn của những người phục vụ để thánh lễ được cử hành tốt đẹp, và ngài xác tín lại rằng những người có mặt tại nơi đây là vì niềm tin. Đức Cha Giuse đã gợi lại hình ảnh của vị thánh Đa Minh với một ngọn đuốc trong tay, mang trên mình ánh sáng của Đức Kitô...

Đại lễ Kính thánh Đa Minh là sinh hoạt tôn giáo thường niên ở giáo phận Bùi Chu. Cho đến nay, tinh thần của ngày Đại lễ vẫn được bảo toàn, qui mô Đại lễ diễn ra rộng rãi, thường có khoảng 30.000 đến 50.000 giáo dân và hơn 100 linh mục đoàn tham dự.

Được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của chính quyền các cấp về an toàn giao thông, cháy nổ, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường… nên đại lễ kính thánh Đa Minh năm nào cũng diễn ra thuận lợi, không khí trang nghiêm, sôi động nhưng rất an toàn và trật tự. Như vậy là Đảng và Nhà nước ta rất nhất quán trong việc đề ra và thực hiện đường lối, chính sách đối với tôn giáo: luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tôn trọng người dân Việt Nam có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như không có tín ngưỡng, tôn giáo. Không hề có việc Việt Nam vi phạm các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, không có chuyện đàn áp, gây khó khăn cho người dân theo hay không theo tôn giáo. Với Đại lễ kính thánh Đa Minh, chính quyền các cấp đã tạo điều kiện, môi trường tốt đẹp để bảo đảm cho người dân được tham gia vào đại lễ, sống trong tinh thần Phúc âm nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn giáo của họ. Điều này đã khiến đồng bào giáo dân phấn khởi, yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, từ đó tạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tích cực góp thêm sức mạnh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từng bước hoàn thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

1. Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2006), Những vấn đề nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa và nay, Nxb Đà Nẵng, tr.175.
2. Hiến pháp Việt Nam (Năm 1946, 1959, 1980, 1992), Nxb CTQG, H, 1995, tr.9.
3. Xem PGS. TS Nguyễn Hồng Dương, ThS. Ngô Quốc Đông (2012), Công giáo Việt Nam - tri thức cơ bản, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.71-73.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2006, t.51, tr.142.
5. Sđd, tr.51.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr.81.

* ThS, Học viện An ninh nhân dân.

 | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |             

 

 

 
 
 

 

 

 

 

 

 

  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 

   Chợ bến Thành ( TP Hồ Chí Minh )


Khuê các Vănmiếu
TP Hà Nội

 

    Kon Tum

              Quảng Nam


Biển Hà Tiên       

 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

| TCMT | Trở Về đầu trang  |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn