TRANG CHỦ

Vấn đề sự kiện

Diễn đàn Đại đoàn kết

Kinh nghiệm thực tiễn

Bạn hỏi tạp chí trả lời - Thông tin lý luận

   KINH NGHIỆM THỰC TIỄN


Nhìn lại một năm thực hiện các phong trào thi đua yêu nước và cuộc vận động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Để "lực tòng tâm"

"Kiều bào là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam"

Gia đình và văn hoá gia đình trong bối cảnh đất nước đổi mới


NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN CÁC PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG

 CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

HÀ THỊ LIÊN

 Ủy viên Ban Thường trực

Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Năm 2006 vừa đi qua với nhiều sự kiện quan trọng của đất nước: năm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, năm nước ta đăng cai tổ chức thành công Hội nghị APEC lần thứ 14, cũng là năm nước ta chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Với chức năng và nhiệm vụ của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã không ngừng vươn lên, nỗ lực hoạt động, tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào thi đua yêu nước, sáng tạo trong việc tổ chức các cuộc vận động với những nội dung và hiệu quả thiết thực, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, cụ thể:

1/ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phối hợp với các tổ chức thành viên tích cực vận động các tầng lớp nhân dân, vận động đoàn viên, hội viên tham gia các phong trào thi đua yêu nước phù hợp với chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức, đoàn thể, phù hợp với mỗi vùng, miền, dân tộc, tôn giáo...

Hiện nay Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có 44 tổ chức thành viên, trong đó có những tổ chức chính trị - xã hội có hàng triệu tới hàng chục triệu đoàn viên, hội viên, như: Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Người cao tuổi Việt Nam… Tất cả đều hướng phong trào thi đua về cơ sở, khu dân cư, về từng gia đình, từng đoàn viên, hội viên trong mỗi tổ chức.

Tùy theo chức năng nhiệm vụ của mình, các tổ chức thành viên của Mặt trận đều cố gắng gắn các phong trào, cuộc vận động với việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước. Thông qua hoạt động và nhờ có đoàn viên, hội viên tích cực hưởng ứng và thực hiện mà các phong trào thi đua không chỉ mang lại những lợi ích thiết thực cho mỗi thành viên, mỗi gia đình mà còn góp phần vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương và đất nước. Nhìn chung các hoạt động đều hướng vào việc vận động nhân dân, vận động đoàn viên, hội viên tham gia vào các nhiệm vụ: phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo; thực hiện đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện; phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; xây dựng đời sống văn hoá; góp phần xây dựng tổ chức chính trị ở cơ sở, cộng đồng dân cư. Năm 2006 là năm có nhiều phong trào thi đua tiêu biểu mang lại hiệu quả thiết thực, như: phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng”; phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” trong đoàn viên công đoàn; phong trào thanh niên “Thi đua tình nguyện, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; phong trào “Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện” trong quân đội; phong trào “Thi đua làm kinh tế giỏi, xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” trong Hội Cựu chiến binh; phong trào “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong Hội Người cao tuổi; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo” trong đồng bào công giáo; phong trào “Xây dựng chùa cảnh tinh tiến” trong Hội Phật giáo Việt Nam... Qua sơ kết, tổng kết, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên các cấp đều có nhiều hình thức biểu dương khen thưởng, duy trì và nhân rộng các điển hình tiên tiến kịp thời.

2/ Ngày 30-6-2006 Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Thông tri số 21-TTr/MTTW tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”; phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành Thông tư liên tịch về phối hợp chỉ đạo, nâng cao chất lượng cuộc vận động, đồng thời Ban Thường trực ban hành hướng dẫn số 32/HD-MTTW về tiêu chuẩn đăng ký, bình xét và công nhận danh hiệu “Khu dân cư tiên tiến” trong cuộc vận động.

Các văn bản hướng dẫn mới đã từng bước tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho việc thực hiện cuộc vận động và sự phối hợp hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp với chính quyền, các ngành chức năng. Các văn bản đều tiếp tục khẳng định việc duy trì và phát triển cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” với 6 nội dung toàn diện hướng về từng cơ sở thôn, làng, bản, ấp, khóm, tổ dân phố… Hầu hết các Ban Công tác Mặt trận ở đây đều phát huy được vai trò hoạt động của mình, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, như: già làng, trưởng bản, cán bộ về hưu, người có uy tín trong các dòng họ, dòng tộc, các chức sắc tôn giáo…

Thực hiện chủ trương đổi mới công tác Mặt trận và hướng mạnh hoạt động về cơ sở, các Ban Công tác Mặt trận nói trên đều được củng cố, tăng cường, được tổ chức tập huấn nghiệp vụ. Nhiều nội dung chương trình, các phong trào, cuộc vận động, các dự án do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể phối hợp thực hiện đã được lồng ghép thực hiện gắn với cuộc vận động, được cụ thể hoá thành các tiêu chí thi đua để các khu dân cư phấn đấu. Nhiều địa phương mặc dù còn rất khó khăn, nhưng thấy rõ tác dụng và ý nghĩa cuộc vận động đã tạo điều kiện để có phụ cấp hàng tháng cho Trưởng ban Công tác Mặt trận. Chủ trương cấp 1 triệu đồng cho 1 khu dân cư trong năm đã được tổ chức thực hiện có hiệu quả ở hầu hết Ban Công tác Mặt trận. Đặc biệt từ năm 2003 đến nay, với chủ trương tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư” hàng năm đã có tác dụng làm cho công tác Mặt trận nói chung, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” nói riêng có bước phát triển mới về chất, sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự kết hợp của chính quyền và các ngành chức năng cũng chặt chẽ và có hiệu quả hơn. Đội ngũ cán bộ, đảng viên sống ở khu dân cư ngày càng gắn bó với các hoạt động Mặt trận ở cơ sở, cộng đồng dân cư.

Kết quả thực hiện 6 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đã thực sự góp phần đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ở từng địa phương, cơ sở:

 - Phong trào thi đua đoàn kết cùng nhau xoá đói, giảm nghèo làm giàu chính đáng được duy trì thường xuyên và phấn đấu với những mục tiêu cụ thể. Ủy ban Mặt trận ở nhiều khu dân cư đã có sự phối hợp khảo sát cùng các đoàn thể và chính quyền để nắm chắc nguyên nhân số hộ nghèo đói, có phân công giúp đỡ đối với từng hộ cụ thể. Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên đều phát huy vai trò của mình trong việc hướng dẫn đoàn viên, hội viên vay vốn, phát triển sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh, dịch vụ. Đối với các khu dân cư số hộ đói, nghèo đến nay đã giảm dần, một số nơi đã không còn hộ đói, nghèo. Với sự giúp đỡ của Mặt trận, các đoàn thể, đồng bào ở nhiều nơi, nhất là bà con dân tộc ở khu vực miền núi đã biết chuyển đổi cơ cấu cây trồng, định canh, định cư, xoá bỏ trồng cây thuốc phiện, từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hoá, phá bỏ tình trạng tự cấp, tự túc, từ đó thoát đói nghèo.

 - Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, nhân đạo từ thiện được phát động và tổ chức thực hiện có hiệu quả cao. Ngày 20-7-2006 Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra lời kêu gọi toàn dân tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” hưởng ứng một năm cao điểm hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2007). Ngay sau lời kêu gọi, ngày 26-7-2006, Ban Thường trực đã kịp thời ban hành kế hoạch hướng dẫn và được Mặt trận các cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận hưởng ứng bằng những hoạt động rất cụ thể, như: nhận phụng dưỡng chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, tặng sổ tiết kiệm, vườn tình nghĩa, tu bổ nghĩa trang, đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa, làm nhà tình nghĩa...

Kết quả hoạt động đền ơn đáp nghĩa nói trên đã góp phần chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho trên 8 triệu người là các đối tượng chính sách sinh sống tại các cộng đồng dân cư. Năm 2006 đã có trên 8000 xã, phường, thị trấn được công nhận là cơ sở làm tốt công tác thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công trong cả nước.

Cùng với việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, các nội dung phát động toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng, chống HIV/AIDS, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm,… đều được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức thành viên phối hợp với chính quyền và các ngành chức năng, như: Công an, Lao động - Thương binh - Xã hội, Y tế… triển khai và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả.

Một số đề án do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, như: Đề án số 01-138: “Phát động toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hoá giáo dục người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư”; Đề án số 07: “Xây dựng xã phường, cơ quan, đơn vị không có tội phạm và người nghiện ma tuý” được duy trì thực hiện thường xuyên, đã xuất hiện nhiều mô hình hay là điểm sáng trong hoạt động tự quản ở nhiều cơ sở. Ngoài các đề án, phong trào nói trên, các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc với nội dung bảo vệ môi trường, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, bảo vệ sức khoẻ, thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình cũng được triển khai với nhiều hoạt động phong phú. Thông qua việc tổ chức toạ đàm, hội thảo, chỉ đạo điểm, Mặt trận đã thường xuyên rút kinh nghiệm nhằm hướng dẫn cho đồng bào các nội dung thiết thực.

Để kịp thời động viên phong trào, Mặt trận các cấp đã xem xét bình bầu thi đua và công nhận các danh hiệu: gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến, khu dân cư văn hoá. Theo báo cáo của 58 tỉnh, thành phố thì năm 2006 đã công nhận 10.365.000/14.044.000 hộ gia đình văn hoá (đạt tỷ lệ 73,8%); 51.468/85.871 khu dân cư tiên tiến (đạt tỷ lệ 59,9%), trong đó có 36.766 khu dân cư đạt danh hiệu khu dân cư văn hoá.

Thực hiện việc tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân ở khu dân cư” năm 2006 gắn với kỷ niệm ngày truyền thống của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đã có 91.762 khu dân cư tổ chức Ngày hội với gần 11 triệu người tham dự. Nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các vị là cán bộ, đảng viên về tham gia Ngày hội với các cộng đồng dân cư ở nhiều địa phương đã có tác dụng tạo ra sự đoàn kết gắn bó cộng đồng, góp phần củng cố, xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân.

Thông qua việc tổ chức thực hiện các nội dung hoạt động công tác Mặt trận cũng góp phần xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở. Vị trí và vai trò Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư không ngừng được nâng cao. Do hoạt động có hiệu quả, nhiều tỉnh, thành phố đã quyết  định có phụ cấp hàng tháng hỗ trợ cho Trưởng ban Công tác Mặt trận hoạt động.

3/ Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, xây dựng “Nhà Đại đoàn kết” cho hộ nghèo ngày càng được khẳng định và đi vào chiều sâu. Ban vận động “Ngày vì người nghèo” Trung ương và địa phương đã có nhiều chủ trương, biện pháp giúp người nghèo. Với nhiều hình thức vận động phong phú, năm 2006 cả nước đã vận động được 313 tỷ đồng, xây dựng và sửa chữa: 74.543 căn nhà “Đại đoàn kết”. Hơn 6 năm qua, Quỹ toàn quốc đã vận động được 1744 tỷ đồng, góp phần xây dựng, sửa chữa 495.703 căn nhà cho hộ nghèo. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cấp 4918 Bằng ghi công cho cấp xã, 256 Bằng ghi công cho cấp huyện, 17 Bằng ghi công cho cấp tỉnh đã hoàn thành chương trình xây dựng nhà “Đại đoàn kết”, xoá nhà dột nát cho hộ nghèo. Phong trào giúp đỡ xây dựng nhà “Đại đoàn kết” cho hộ nghèo đã cùng với Chương trình 134 của Chính phủ tạo chỗ ở ổn định cho trên 2 triệu người nghèo, giúp họ “an cư lạc nghiệp” để vươn lên thoát nghèo.

Vận động nhân dân tham gia phong trào thi đua yêu nước, tổ chức có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần thiết thực vào việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước.

[về đầu trang]


ĐỂ “LỰC TÒNG TÂM” 

PHẠM KHẮC LÃM

Tổng Thư ký Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài.

 Qua nhiều năm làm việc ở Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài và tiếp đó ở Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, tôi cảm nhận rất rõ bước phát triển, những tiến bộ cả về nhận thức lẫn hành động của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Tuy nhiên, những bước phát triển và sự tiến bộ đó chưa như ta mong muốn, chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình đang thay đổi theo chiều hướng có lợi. Do những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới cả về đối nội và đối ngoại, hơn 3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng tự hào là người Việt Nam, ngày càng hướng về Tổ quốc.

Tuy nhiên - lại phải một lần nữa nói chữ tuy nhiên - phải thừa nhận rằng, chúng ta chưa tranh thủ được số đông kiều bào thực sự gắn bó với trong nước. Vì sao?

Nguyên nhân thì nhiều, khách quan có, chủ quan có. Về chủ quan, cũng có nhiều điều phải bàn. Trong bài ngắn này, chỉ muốn nêu lên “nghịch lý” sau đây: trong các Chỉ thị, Nghị quyết chúng ta luôn nhấn mạnh và ngày càng nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, nhưng trên thực tế không hẳn là như vậy, xét về cả ba mặt: tổ chức, cán bộ và ngân sách.

- Về tổ chức: Bộ phận chuyên trách công tác này về mặt quản lý Nhà nước, đầu tiên là Ban Việt kiều Trung ương thuộc Chính phủ; về sau là Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài, lúc đầu cũng thuộc Chính phủ, về sau vẫn trực thuộc Thủ tướng nhưng Thủ tướng giao cho Bộ trưởng Ngoại giao phụ trách, cuối cùng là trực thuộc Bộ Ngoại giao, chịu sự quản lý toàn diện của Bộ Ngoại giao: từ một Bộ xuống Thứ bộ rồi dưới Bộ.

- Về cán bộ: Thủ trưởng cơ quan chuyên trách công tác kiều bào lúc đầu là một Phó Thủ tướng (đồng chí Phó Thủ tướng Trần Quang Huy lúc đó làm Trưởng ban Việt Kiều) sau đó là một Bộ trưởng và bây giờ là một Thứ trưởng.

- Về ngân sách: Kinh phí cấp cho Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài rất eo hẹp, gần đây có lập thêm Quỹ hỗ trợ công tác cộng đồng nhưng tất cả khoảng trên dưới mười tỉ, bằng kinh phí của một đoạn ngắn đường cao tốc hoặc một chiếc cầu con.

Về Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức xã hội vừa chịu sự quản lý Nhà nước của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài, vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì phải tự túc kinh phí hoàn toàn.

Tóm lại là: “Lực bất tòng tâm”! Vậy kết luận tất yếu rút ra là: Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thực chất là công tác vận động quần chúng, là công tác dân vận, trong đó cốt lõi là vận động trí thức. Đã là công tác vận động quần chúng thì nên do đoàn thể quần chúng (phi Chính phủ) đảm nhiệm. Hiện nay phụ trách công tác này là cơ quan Nhà nước (Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài - Bộ Ngoại giao). Mặt khác, kiều bào được coi là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc, là người Việt Nam (định cư ở nước ngoài) nhưng phụ trách công tác kiều bào lại là cơ quan đối ngoại (Bộ Ngoại giao). Đó là điều khó trả lời trước dư luận kiều bào.

Ở Trung Quốc, Đoàn thể quần chúng phụ trách công tác này được coi là một trong “sáu đại đoàn thể” như: Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ,...

Nếu có vị trí xứng đáng về mặt tổ chức thì vấn đề cán bộ, ngân sách chắc chắn sẽ được giải quyết thoả đáng. Lúc đó “Lực sẽ tòng tâm”.

[về đầu trang]


 “KIỀU BÀO LÀ MÁU CỦA MÁU VIỆT NAM,

THỊT CỦA THỊT VIỆT NAM”

 

LTS: Với đặc thù có khoảng 1,8 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, thành phố Hồ Chí Minh coi đây là nguồn lực quan trọng trong chiến lược phát triển của mình. Thành phố đã và đang có nhiều chính sách mạnh mẽ nhằm thu hút kiều bào về nước đóng góp xây dựng quê hương… Phóng viên Hà Minh - Hòa An đã phỏng vấn ông Nguyễn Chơn Trung, Chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Mặt trận xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. 

PV: Nghị quyết 36 về người Việt Nam ở nước ngoài là một chính sách lớn của Đảng, Nhà nước. Xin ông cho biết việc thực hiện Nghị quyết này của thành phố Hồ Chí Minh sau 3 năm Nghị quyết được ban hành?

Ông Nguyễn Chơn Trung:  Trong gần 3 năm qua, thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai quán triệt Nghị quyết trong các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể. Chúng tôi đã có nhiều hoạt động cụ thể. Ví dụ, Tết 2005, chúng tôi đã tham mưu cho Thành uỷ, Ùy    ban nhân dân thành phố tổ chức cuộc gặp mặt trọng thể bà con kiều bào, có Thủ tướng Phan Văn Khải đến dự. Tại đây, bà con Việt kiều rất xúc động khi nghe Thủ tướng phát biểu rằng: “Dù bà con ở đâu, hoặc ra đi bằng bất cứ hình thức nào đều là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”. Cuộc gặp mặt đã gây tiếng vang rất quan trọng.

Chúng tôi quan tâm triển khai là việc phát huy trí thức kiều bào. Trước đây, chúng ta cũng có quan tâm đến việc thu hút trí thức kiều bào nhưng làm một cách nhỏ lẻ, chủ yếu thu hút từng cá nhân về nước. Thành phố Hồ Chí Minh đã đứng ra thành lập Câu lạc bộ khoa học Việt kiều nhằm tập hợp trí thức, chuyên gia kiều bào. Đến nay, Câu lạc bộ đã tập hợp được gần 180 trí thức kiều bào, trong đó có tới 60% là kiều bào đang hoạt động ở nước ngoài về nước tham gia. Các hoạt động của Câu lạc bộ có tác dụng rất quan trọng, làm vai trò cầu nối giữa trí thức Việt kiều với trí thức trong nước.

Chúng tôi đã ra cuốn sách “Kiều bào với quê hương”. Cuốn sách không những có tác dụng quan trọng đối với thế hệ trẻ kiều bào mà cả thế hệ trẻ trong nước để hiểu hơn những đóng góp của bà con kiều bào trong suốt quá trình lịch sử. 

PV: Thưa ông, hàng năm có rất nhiều kiều bào về nước và đầu tư kinh doanh ở địa bàn thành phố. Xin ông cho biết đóng góp của kiều bào trong những năm qua, nhất là trong năm 2006 vào sự phát triển chung của thành phố?

Ông Nguyễn Chơn Trung: Thời gian qua, trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, chúng tôi đã tập hợp được nhiều trí thức, chuyên gia kiều bào tham gia và họ đã bắt đầu bắt nhịp với công việc của đất nước, từ đó đã có những tham mưu, phát huy chất xám của mình.

Thành phố cũng đã thu hút trên cả ngàn doanh nghiệp Việt kiều, tuy đóng góp của bà con chưa ở quy mô lớn nhưng bắt đầu có dấu hiệu tích cực. Riêng năm 2006, đã tăng thêm 383 doanh nghiệp của kiều bào đầu tư vào trong nước, đặc biệt trước đây bà con đầu tư một cách đơn lẻ, nhưng gần đây có xu hướng bà con tập hợp lại để xây dựng khu công nghiệp Việt kiều hay ngân hàng Việt kiều. Mặc dù mới trong giai đoạn xây dựng dự án, nhưng ý tưởng đó đáng khuyến khích bởi bà con đã biết hợp lực để xây dựng các công trình kinh tế ngày càng lớn hơn cho đất nước.

Về kiều hối, những năm qua bà con kiều bào có đóng góp rất lớn, riêng năm 2006 tăng 15%, so với 2005. Trước đây, bà con gửi tiền về giải quyết nhu cầu của gia đình, nhưng nay thì bà con đã chuyển dần lượng kiều hối sang đầu tư.  

PV:  Theo ông, việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ có tác động như thế nào trong việc thu hút đầu tư kiều bào trong năm 2007?

Ông Nguyễn Chơn Trung: Ngay trong quá trình đàm phán để tiến tới ký Hiệp định về WTO, bà con kiều bào cũng rất quan tâm theo dõi và đã có tham gia nhất định. Bà con rất phấn khởi và thấy rõ đó là thành tựu của đường lối đổi mới đúng đắn, củng cố thêm lòng tin của bà con đối với Đảng. Nhiều bà con cho rằng đây là cơ hội rất tốt để quay về kinh doanh, đầu tư, đóng góp xây dựng đất nước. Rõ ràng vai trò của kiều bào là rất quan trọng vì họ là cầu nối nối liền Việt Nam với thế giới. Nếu phát huy vai trò cầu nối này, kiều bào sẽ là một nguồn lực để chúng ta thực hiện mạnh mẽ cam kết của WTO. 

PV:  Thu hút kiều bào đầu tư về nước không chỉ nhằm gắn kết tình cảm giữa bà con trong và ngoài nước mà còn tạo điều kiện để bà con đóng góp xây dựng quê hương. Vậy thành phố Hồ Chí Minh đã và đang có những chính sách gì để thu hút kiều bào, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh, đầu tư?

Ông Nguyễn Chơn Trung: Chúng tôi rất quan tâm đến việc tháo gỡ cơ chế chính sách, tạo điều kiện thu hút bà con về nước làm ăn. Vừa rồi đã đề nghị với thành phố và Trung ương làm thí điểm ba lĩnh vực trọng tâm:

Thứ nhất, cải tiến thủ tục hành chính với mục đích rút ngắn thời gian về cấp phép hay các thủ tục khác. (Ví dụ, cấp chứng nhận huyết thống cho kiều bào, trước đây phải mất cả tháng, nay chỉ còn 1-3 ngày…).

Thứ hai, quan tâm việc sắp xếp lại cơ chế chính sách trước đây đã ban hành, chính sách nào đúng thì tiếp tục phát huy, chính sách nào chưa hoàn chỉnh thì đề nghị bổ sung, còn chưa đúng thì nhất quyết phải sửa đổi.

Thứ ba, về chính sách đối với trí thức kiều bào, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Làm sao phải thu hút được đối tượng này ngày càng nhiều. 

PV:  Theo ông, vì sao các chính sách đối với bà con kiều bào đã được ban hành từ lâu nhưng khi thực hiện vẫn chậm và còn nhiều tồn tại?

Ông Nguyễn Chơn Trung:  Sự phối hợp của các ngành, các cấp chưa thống nhất nhau, dẫn đến việc thực hiện còn chậm chễ. Đã có Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị thì nên lấy Nghị quyết làm cơ sở, nền tảng cho sự thống nhất để cùng đồng thuận thực hiện.

Công tác đối với bà con kiều bào là nhiệm vụ chính trị rất lớn, nay cần đổi mới, theo tôi, Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài nên trực thuộc Chính phủ. Bởi ở trong nước, với hơn 1 triệu người đã được thành lập tỉnh, còn có tới 3 triệu kiều bào với tính chất rất đặc thù và rải rác nhiều nơi, cần phải có một cơ quan ngang Bộ để quản lý. Nếu triển khai một khối lượng lớn công việc mà bộ máy chưa hoàn chỉnh, ổn định thì không thể nào thực hiện một cách hiệu quả được. 

PV:  Xin ông cho biết những nhiệm vụ chủ yếu trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài của thành phố trong năm 2007?

Ông Nguyễn Chơn Trung: Năm 2007, chúng tôi rất quan tâm đến việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền để bà con hiểu hơn về chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước. Bà con ở bên ngoài chưa về nước còn nghe nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược, vì thế bà con cần về nước để tận mắt thấy được đổi thay của đất nước, tự mình củng cố lòng tin.

Chúng tôi cũng quan tâm đến việc đẩy mạnh hoạt động của Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật để thu hút nhiều hơn nữa chất xám của trí thức, chuyên gia kiều bào; đồng thời có những chương trình phối hợp giữa trí thức kiều bào và chuyên gia trong nước đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước.

Thông qua các tổ chức doanh nghiệp Việt kiều, cần đẩy mạnh hơn nữa việc đưa hàng hoá Việt Nam ra nước ngoài, tạo thế cạnh tranh mới cho hàng hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Trong lĩnh vực văn hoá, chúng tôi đang quảng bá cuốn “Kiều bào với quê hương”; đồng thời xin thành lập tờ báo “Quê nhà” để tăng cường hơn nữa công tác thông tin về tình hình trong nước. 

PV:  Hàng năm, có rất đông kiều bào về thành phố ăn Tết. Thành phố đã tạo điều kiện như thế nào để bà con được đón Tết ở quê nhà vui vẻ, đầm ấm, đậm đà bản sắc dân tộc? 

Ông Nguyễn Chơn Trung: Năm 2005, bà con về ăn Tết khoảng gần 100.000 lượt, dự kiến Tết năm nay có thể lên đến 140.000 lượt, tăng 40% so với năm ngoái. Dự báo như vậy trên cơ sở lượng bà con về trong nước trong năm cũng tăng hơn nhiều so với năm trước. Mặt khác, đất nước có những đổi thay rất lớn sẽ là động lực để bà con phấn khởi trở về.

Để đón tiếp bà con chu đáo, chúng tôi sẽ có lực lượng thanh niên tình nguyện tại sân bay Tân Sơn Nhất để giúp đỡ và hỗ trợ kiều bào trong thời gian cao điểm từ ngày 9/1 đến 28/2/2007. Các cơ quan chức năng như:  Công an, Hải quan, các cấp chính quyền cũng nhận thức sẽ tạo mọi thuận lợi về cư trú.

Ngày 7-2 tới (tức 20 tháng Chạp), dự kiến Uỷ ban Nhân dân thành phố sẽ chủ trì buổi gặp mặt có 400 kiều bào và 150 khách trong nước, trong đó có lãnh đạo trung ương và thành phố Hồ Chí Minh tham dự.

PV:  Xin cảm ơn ông.

[về đầu trang]


GIA ĐÌNH VÀ VĂN HOÁ GIA ĐÌNH

TRONG BỐI CẢNH ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI 

PGS. NINH VIẾT GIAO

Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Nghệ An

 I.GIA ĐÌNH VÀ VĂN HOÁ GIA ĐÌNH TRƯỚC ĐÂY

1. Gia đình: Xã hội Việt Nam với nền văn minh lúa nước, từ lâu đã sống định cư và lấy gia đình làm gốc. Gia đình có thể là một thế hệ, hai thế hệ, ba thế hệ, bốn thế hệ, cá biệt có gia đình 5 thế hệ. Gia đình truyền thống ở Việt Nam trước đây thường là 3, 4 thế hệ.

Gia đình, đó là một khái niệm được dùng thường chỉ một đơn vị xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết thống, nảy sinh từ mối quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, họ hàng nội ngoại). Có thể nói, gia đình như một xã hội vi mô, là tổ chức tế bào của từng cộng đồng, là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam thông qua việc thực hiện bốn chức năng cơ bản (chức năng truyền chủng; chức năng kinh tế; chức năng thoả mãn các nhu cầu tình cảm và chức năng nuôi dưỡng, giáo dục, rèn luyện và thực hiện các nghĩa vụ đối với mỗi thành viên).

Mặc dù đất nước đã trải qua nhiều biến thiên to lớn, nhưng cho đến nay ở Việt Nam, gia đình vẫn là một thiết chế xã hội tồn tại bền vững. Gia đình vẫn gắn chặt với làng, bản, khối phố và với nước, dù chúng ta đang đi trên con đường đổi mới và tiếp cận mạnh mẽ với văn hoà nước ngoài.

2. Văn hoá gia đình: Con người ta khi mới ra đời, bú dòng sữa mẹ, nghe tiếng ru hời của mẹ là bắt đầu tiếp thu văn hoá dân tộc, văn hoá loài người. Từng phút, từng giây, qua lời ru ngọt ngào và rất đỗi thân thương, mẹ truyền cho con những tình cảm, ý nghĩ, nhận thức của mẹ, những từng trải của mẹ trong cuộc sống mà mẹ tiếp thu được qua cuộc đời mình. Mà đâu chỉ của mẹ, mà còn của cha, ông bà và của anh chị em nữa. Con người lớn lên từ cái nôi gia đình. Văn hoá của một con người bắt đầu từ cái nôi, tức là văn hoá gia đình, đồng thời mang dấu ấn của văn hoá dân tộc và thời đại.

Văn hoá gia đình được hình thành qua việc thực hiện các chức năng cơ bản nêu trên. Chính từ việc thực hiện các chức năng đó mà nảy sinh quan hệ gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi, lao động và học tập, tình yêu thương và lòng biết ơn, ngôn ngữ và cách ứng xử hàng ngày...

Văn hoá gia đình Việt Nam có ảnh hưởng của Nho giáo, song vẫn lấy đạo lý cổ truyền của dân tộc làm gốc. Đó là bốn chữ hiếu, hoà, nhẫn và tình. Hiếu là yêu thương cha mẹ, kính trọng ông bà, thờ phụng tổ tiên. Hoà là vợ chồng, anh em ăn ở với nhau hoà thuận. Để đảm bảo được hiếu và hoà, phải có chữ nhẫn. Nhẫn là nhường nhịn lẫn nhau. Có nhẫn thì mới đè nén được những tính toán, dục vọng cá nhân, mới đem về cho gia đình sự hoà thuận và thanh thản, niềm vui và hạnh phúc. Có nhẫn mới tự giác rèn luyện mình, mới ra sức lao động và học tập để xây dựng gia đình phát triển, hưng thịnh. Còn tình tức tình cảm, là sự yêu thương đối với nhau.

Gia đình tức là nhà của chúng ta, nó gắn liền với nước. Nhà tiếp thu di sản văn hoá của cả nước, bảo vệ nước. Nhưng nhà cũng sản sinh văn hoá, đóng góp, làm phong phú thêm cho nền văn hoá của cả dân tộc, cả đất nước. Nhà đã nhen ngọn lửa ấm áp, loé sáng đương thời và mãi mãi mai sau. Người Việt Nam đi từ nhà đến nước. Hai tiếng nhà - nước quyện lấy nhau trong một nếp sống văn hoá hoà đồng, chung một bản sắc văn hoá Việt Nam.

Văn hoá gia đình là cái gì lớn lao, tốt đẹp nhưng lại được thể hiện qua hành động của các thành viên trong gia đình từ các việc làm, về các mặt sinh hoạt trong gia đình và đời sống xã hội hàng ngày như lời nói, cách ứng xử, ăn, uống. Có hiểu văn hoá gia đình mới xây dựng được một gia đình có văn hoá, nhất là văn hoá gia đình trong xã hội chúng ta hôm nay.

II. THỰC TRẠNG GIA ĐÌNH VÀ VĂN HOÁ GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Những năm gần đây, đất nước đổi mới theo cơ chế thị trường, bên cạnh mặt tích cực cũng nảy sinh nhiều yếu tố tiêu cực. Trong lĩnh vực gia đình cũng có nhiều biến đổi, đáng chú ý có nhiều người chuyển hoá theo trào lưu và sự đòi hỏi thúc bách của vật dục mà bỏ rơi vẻ đẹp tinh thần, trong đó có đạo lý gia đình.

Ý kiến của nhiều nhà xã hội học, văn hoá học cho rằng, gia đình đang bị rạn nứt là do các ông bố bà mẹ giờ đây mặc dù rất yêu con cái, nhưng lại không muốn từ bỏ cuộc sống riêng của bản thân; một số quá bận rộn vào các công việc kiếm sống hoặc công tác đã không có thời gian chăm sóc gia đình. Do không dành cho con cái nhiều sức lực và thời gian, nên sự gắn bó trong gia đình trở nên lỏng lẻo. Một số khác lại không biết giáo dục con cái như thế nào cho đúng, họ chỉ biết chiều con, gửi con đến trường học, sắm sửa cho con cái này, cái nọ, đủ thoả mãn yêu cầu của con. Một số gia đình, bố mẹ lại dạy con bằng những bài chính trị khô khan, đòi hỏi, yêu cầu ở con như đối với một cán bộ, một chiến sĩ. Một số ông bố, bà mẹ thiếu gương mẫu thường dạy con một đàng, nhưng lại làm một nẻo, đồng loã với những lỗi lầm, hỗn xược của con đối với người thân trong gia đình và mọi người trong xã hội, thầy cô giáo ở nhà trường. Không ít gia đình có con, em học tập yếu kém nhưng vẫn đứng ra chạy điểm, chạy lớp, chạy trường, chạy đỗ đạt trong thi cử, chạy việc làm, nơi công tác... cho con em, làm cho chúng sinh ra dựa dẫm, ỷ lại, không chịu phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện.

 Con cái của không ít gia đình, nhất là ở khu vực thành thị thường yêu vội, sống vội, tự lo cho bản thân mình bằng sự thụ hưởng đam mê. Số này mong muốn hưởng thụ nhiều, nhưng lại lười lao động, lười học tập, thích tiêu xài bằng tiền của bố mẹ, nhưng lại không nghe lời bố mẹ, bố mẹ có nói gì, lại cho rằng là cổ hủ, lạc hậu... Một số gia đình trẻ đang xa dần lối sống truyền thống dân tộc để bắt chước cuộc sống của những nước giàu có ở phương Tây, kể cả mặt trái của nó. Họ lầm tưởng rằng sống như thế là theo trào lưu tiến bộ, song có biết đâu rằng, đó là sự lầm lạc có chiều hướng tụt hậu. Và hệ quả tất nhiên, là kết cấu gia đình đang bị rạn nứt, bị phá vỡ.

Những hiện tượng đau lòng về con cái đối xử tệ bạc với cha mẹ, anh em đối xử bất nhân với nhau, vợ chồng đối xử với nhau thô bạo, thậm chí đưa nhau ra tòa chỉ vì một căn nhà, một mảnh đất hay về sự phụng dưỡng người già đã không còn là chuyện hiếm trong xã hội. Đã thế, các tệ nạn xã hội, như: ma tuý, mại dâm, cờ bạc, thanh thiếu niên hư hỏng vi phạm pháp luật, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, hiểm hoạ nhiễm HIV/AIDS... đang ngày đêm tấn công vào các gia đình.

Những điều vừa nói trên đã khiến nhiều gia đình có cuộc sống chao đảo. Dấu hiệu suy thoái về đạo đức, ly tán của gia đình, của thành viên trong gia đình đã thể hiện rõ: Người già sống cô đơn, tỷ lệ ly hôn khá cao… Quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng phổ biến. Hiện tượng nạo thai của các cô gái chưa chồng ở bệnh viện nào cũng có. Những đứa con ngoài giá thú ngày một nhiều. Cấu trúc gia đình đã có phần thay đổi, gia đình hạt nhân nhiều hơn...

Chính vì vậy, việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc trên cơ sở gìn giữ, phát huy các giá trị truyền thống và tiếp thu các yếu tố tốt đẹp của văn hoá bốn phương giữa thời buổi cơ chế thị trường đã và đang được đặt ra như một đòi hỏi ngày càng khẩn thiết. Nhiều nhà nghiên cứu về văn hoá và xã hội trên thế giới cho rằng, đề cao các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc được kết tinh trong gia đình có thể vẫn gìn giữ được nếp sống của gia đình, bản sắc văn hoá của dân tộc, vừa tạo thành động lực cho sự phát triển bền vững của xã hội trong hiện tại và tương lai. Trước yêu cầu ấy, có vấn đề cần làm là xây dựng gia đình văn hoá thành gia phong.

III. GIA PHONG

Chúng ta đều biết rằng, cuộc sống gia đình dù là gia đình văn hoá không bao giờ chỉ là những ngày hội. Phương Đông trước kia cho con người có 3 điều bất hạnh: thiếu niên đăng khoa, trung niên táng thê, vãn niên táng tử. Phương Tây lại cho 3 điều bất hạnh đó là: tuổi già, cái chết và những đứa con hư. Tuổi già không thể đảo ngược, cái chết không thể tránh khỏi, nhưng phải tránh việc để con cái hư hỏng như tránh lửa. Cho nên, điều cơ bản là phải giáo dục con cái, bày dạy cho con cái từ khi còn nhỏ, giáo dục từ thế hệ này qua thế hệ khác, lâu ngày sẽ thành nền nếp, rồi em sẽ noi gương anh chị, con cháu sẽ noi gương ông cha.

Nền nếp là điều cơ bản của tổ chức gia đình và cả dòng họ. Có nền chắc thì ngôi nhà sẽ vững vàng trước gió bão, mưa lụt. Gia đình có nền chắc là có lối sống hợp đạo lý cổ truyền, hợp với những phép tắc và hợp với những cách ứng xử văn hoá đã lắng đọng, định hình, đã ăn sâu bén rễ từ đời ông cha. Nếp là những bậc cấp, là cách sống chuyển tiếp của những thành viên trong gia đình, gia tộc với khả năng nhiều vẻ, nhưng vẫn từ nền, bám nền, giữ vững nền. Một gia đình hay gia tộc có nền thường cung cấp cho xã hội và đất nước những công dân tốt, đắc lực, trung thành và đầy tài năng. Gia đình có nền nếp như vậy, nhân dân ta thường gọi là có gia phong. Khi nói về gia phong, giáo sư Phan Ngọc từng nhận định: “Gia phong của một gia đình không chỉ dựa trên nền tảng kinh tế, mà còn dựa trên đạo đức tư cách… Việc xây dựng và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, trong đó có gia phong, đã đảm bảo cho Việt Nam độc lập một ngàn năm và chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đồng thời là điều kiện giúp ta chiến thắng trong hoàn cảnh xã hội mới”.

Như vậy, gia phong gắn chặt với gia đình, gia phong là thói nhà, là sự khẳng định của những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của một cộng đồng gia đình (gia tộc) có văn hoá, đã kéo dài qua nhiều thế hệ, được mọi thành viên trong gia đình công nhận, tuân theo và thực hiện một cách tự giác. Cũng có thể nói, gia phong đã trở thành tập quán, một trong những yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng các gia đình (gia tộc) Việt Nam, được cả xã hội thừa nhận.

 Mục đích của gia phong là giữ vững, tái tạo cho thế hệ mới phương thức sinh hoạt trong cuộc sống, những hình thức tư duy và ứng xử, cảm xúc và hành động, những điều thuộc về nền nếp của gia đình, về gia đạo, gia pháp mà nó đã được hình thành, lắng đọng trong cả một thời gian dài.

Cũng chính vì lẽ đó, mà gia phong là giá trị văn hoá vô thể cao quý, đẹp đẽ, nhưng lại rất cụ thể, gần gũi. Hầu như người Việt Nam nào đi xa quê hương, bất kể làm một công việc gì, vẫn da diết nghĩ về quê hương, về nơi chôn nhau cắt rốn, với mồ mả tổ tiên, với việc lập gia phả, dựng nhà thờ họ, với việc học hành, thành đạt và nghề nghiệp của con cháu mình, với nếp sống sao cho có văn hoá để giữ được gia phong của cả gia đình, gia tộc mình.

Tác dụng của gia phong (bậc cao hẳn của gia đình văn hoá) thật là to lớn. Gia phong của nhiều gia đình tiêu biểu như ở xứ Nghệ và cả Việt Nam đã làm cho con em mình có thêm sức đề kháng, chống đỡ được sự cám dỗ của vật chất, sự xâm nhập của những hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội, sự tha hóa của bản thân. Tuy nhiên, gia phong cũng không phải là cái gì khép kín, bất biến mà luôn luôn được bổ sung và thanh lọc. Tinh hoa sẽ còn lại, phù phiếm sẽ mất đi. Gia phong Việt Nam hôm nay không phải là của hôm qua. Vậy để xây dựng gia đình văn hoá ở bậc cao, cần lưu ý một số vấn đề sau:

1. Trên cơ sở tìm hiểu gia phong cổ truyền của gia đình, gia tộc ở từng vùng, miền,… phải nghiên cứu để phát huy được những yếu tố, những giá trị tốt đẹp, những nét văn hoá gia đình truyền thống của nhân dân ta.

2. Tiếp cận, tiếp thu một cách có chọn lọc những yếu tố tích cực của văn hoá bốn phương đã và đang xâm nhập vào xã hội ta, nhất là hiện nay nước ta đã là thành viên chính thức của WTO.

3. Đảng và Nhà nước nên có một văn bản chính thức quy định về văn hoá gia đình, bao gồm những bổn phận, cách ứng xử cụ thể của các thành viên trong gia đình, kiểu như những điều mà các sách thuộc về Nho giáo đã dạy, chứ không phải là khẩu hiệu chính trị và những tiêu chuẩn chung chung. Rõ ràng rất cần phải có cái sườn vững vàng, rõ nét như nói trên, để trên cơ sở đó các gia đình tùy theo điều kiện nơi ở, cuộc sống, công tác, lao động và cả truyền thống nữa,… mà xây dựng nếp sống gia phong cho kiểu gia đình nông thôn, thành thị, miền biển, gia đình buôn bán, gia đình công chức… Nhưng dù là kiểu gia đình nào, muốn có gia phong, yêu cầu:

+ Phải có gia giáo, tức là một nền giáo dục theo truyền thống tốt đẹp của gia đình, trên cơ sở đó tiếp thu những cái mới tích cực theo gia giáo để đảm bảo gia đạo.

+ Phải có gia lễ, tức là những nghi lễ truyền thống hay tập tục riêng tốt đẹp. Biểu hiện cụ thể là những cung cách ăn nói, ứng xử, học hành, lao động… được những bậc cha chú trong gia tộc ấn định và các thế hệ sau tôn trọng, nhưng có bổ sung, sửa chữa để thích ứng với thời đại, xã hội mới.

+ Phải có gia huấn, để truyền dạy cho con cháu những điều hay lẽ phải, thích hợp với gia đình mình và đạo lý chung của xã hội.

+ Phải có gia phả, để biết công đức của tổ tiên, quá trình tạo dựng lịch sử của dòng họ, cành nọ chi kia, nhất là những tiền nhân kiệt xuất trong dòng họ để tự hào, để noi theo, để kế tiếp, phát huy.

Ấy là chưa kể, đến lúc nào đó chúng ta còn phải có gia huy nữa.

Xây dựng gia đình và văn hoá gia đình đã công phu, nâng lên thành gia phong càng công phu hơn. Nó là công việc hàng ngày với sự giáo dục, rèn luyện công phu từ ngôn ngữ đến mọi cử chỉ, hành vi,… không chỉ trong gia đình mà còn ngoài xã hội. Chính vì vậy, nó cũng phải được làng xã, nói rộng ra là xã hội, nhà trường… cộng tác, giúp đỡ thì mới xây dựng được, duy trì lâu dài được.

__________________

1, 2, 3. Gia phong xứ Nghệ trong bối cảnh đất nước đổi mới. Kỷ yếu hội thảo khoa học, tập thể tác giả, Nxb Nghệ An, 2004.

[về đầu trang]


 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TẠP CHÍ MẶT TRẬN

Cơ quan chủ quản : UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
Hội đồng biên tập: Chủ tịch Hội đồng Nhà báo Lê Truyền, GS Phan Hữu Dật, GS Phan Đình Diệu, Nhà báo Đỗ Phượng, GS-VS Nguyễn Duy Quý, GS Văn Tạo, Nhà báo Trần Trọng Tân, GS Lý Chánh Trung, Nhà báo Hoàng Tùng, GS Đặng Nghiêm Vạn.
Tổng Biên tập : TS Nguyễn Quang Du, Phó Tổng Biên tập : Bùi Thượng Toản.
Toà soạn : 46 Tràng Thi - Hoàn Kiếm - Hà Nội, Điện thoại: 04-9287010
E-Mail : tapchi@mattran.org.vn, tapchi_mattran@vol.vnn.vn , Website : WWW.MATTRAN.ORG.VN