Giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá cần được thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ

(Mặt trận) - Đóng góp ý kiến vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, nhiều ĐBQH tại Tổ 13 cho rằng, mục tiêu hạn chế khả năng tiếp cận và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá cần được thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung vào kiểm soát nguồn cung từ khâu sản xuất, nhập khẩu...

Đại biểu Vũ Văn Tiến: Để chủ đầu tư không muốn, không dám và không thể vi phạm

Siết trách nhiệm chủ đầu tư, bảo vệ quyền lợi người mua bất động sản

Thu hồi đất phải gắn với phục hồi sinh kế

 Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Thái điều hành nội dung phiên thảo luận tại Tổ 13

Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về kinh doanh thuốc lá

Đồng tình với quan điểm của Chính phủ về việc tiếp tục quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh thuốc lá, là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, đại biểu Phạm Ngọc Lâm – Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho rằng, việc quy định như trong Luật hiện hành đồng nghĩa là phải có giấy phép đối với tất cả các hoạt động kinh doanh thuốc lá có thể tạo thêm rào cản, gia tăng thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Một số khâu trong hoạt động phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá hoàn toàn có thể quản lý thông qua các điều kiện kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của thương nhân, kết hợp với tăng cường kiểm tra, giám sát và hậu kiểm mà không phải bắt buộc có giấy phép. Qua đó, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch cho doanh nghiệp, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước và mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Theo đại biểu Phạm Ngọc Lâm, pháp luật về đầu tư cho phép áp dụng nhiều hình thức quản lý đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, không nhất thiết phải bằng giấy phép. Khoản 1 và khoản 5 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2025 quy định về việc phân loại ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo phương thức tiền kiểm, hậu kiểm và cho phép áp dụng nhiều hình thức quản lý khác nhau, bao gồm giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền hoặc các yêu cầu khác mà tổ chức, cá nhân phải đáp ứng mà không cần xác nhận bằng văn bản.

Nhà nước vẫn có thể duy trì đầy đủ các điều kiện kinh doanh cần thiết, đồng thời lựa chọn phương thức quản lý phù hợp với từng hoạt động nhằm giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá không phải là công cụ trực tiếp và duy nhất để hạn chế khả năng tiếp cận và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá.

Mục tiêu hạn chế khả năng tiếp cận và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá cần được thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung vào kiểm soát nguồn cung từ khâu sản xuất, nhập khẩu và nội dung này đã được quản lý chặt theo quy định tại Điều 21 và Điều 22 của Luật. Bên cạnh đó còn có chính sách thuế; kiểm soát địa điểm bán, đối tượng mua và hành vi bán hàng. Trong khi đó, việc cấp giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ hiện nay chủ yếu dựa trên việc xem xét hồ sơ, giấy tờ, chưa trực tiếp quyết định số lượng thuốc lá được đưa ra thị trường cũng như mức độ tiếp cận của người tiêu dùng.

Đại biểu Phạm Ngọc Lâm cho rằng, thay vì tập trung vào thủ tục cấp phép ở khâu lưu thông, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về kinh doanh thuốc lá, đặc biệt tại các điểm bán trực tiếp đến người tiêu dùng. Đây là những biện pháp cần được ưu tiên để bảo đảm mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Việc tiếp tục duy trì giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá sẽ làm gia tăng gánh nặng thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cơ quan quản lý Nhà nước. Với số lượng lớn thương nhân tham gia hệ thống phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá trên cả nước, việc tiếp tục quy định bắt buộc phải có giấy phép trong Luật có thể dẫn đến nguy cơ phát sinh trở lại 09 thủ tục hành chính liên quan đến cấp mới, cấp sửa đổi, bổ sung và cấp lại giấy phép đã được quy định không thực hiện theo Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP của Chính phủ. Điều này không chỉ làm tăng thời gian, chi phí tuân thủ, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh mà còn tiêu tốn nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước cho việc tiếp nhận, thẩm định và giải quyết hồ sơ, trong khi nguồn lực dành cho kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh thực tế còn hạn chế.

Theo đại biểu Phạm Ngọc Lâm, thời gian vừa qua cũng đã bỏ giấy với 4 loại trong lĩnh vực kinh doanh thuốc lá (Giấy chứng nhận đầu tư trồng cây thuốc lá, giấy phép mua bán nguyên liệu thuốc lá, giấy phép phân phối sản phẩm thuốc lá, giấy phép bán buôn sản phẩm thuốc lá). Có số liệu ước tính, với chi phí 6 triệu/1 giấy phép, thời hạn cấp là 5 năm thì quy đổi ra 1 cơ sở phải đóng 1,2 triệu đồng/năm, với số lượng hàng triệu cơ sở hộ kinh doanh, cửa hàng tạp hóa mà đa số đều bán thuốc lá, hàng nghìn thương nhân bán buôn bán lẻ thuốc lá phải được cấp phép thì chi phí tuân thủ lên đến hàng nghìn tỷ đồng/năm.

Đại biểu Phạm Ngọc Lâm nhấn mạnh, không thể đánh đổi tiền với sức khỏe, tuy nhiên, nếu bảo đảm được cả 2 thì việc cấp hay bỏ giấy phép cũng nên được cân nhắc. Việc bãi bỏ yêu cầu cấp giấy phép đối với các hoạt động này cũng phù hợp với chủ trương cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh tại Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP và Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ; đồng thời tạo điều kiện chuyển nguồn lực từ giải quyết thủ tục hành chính sang tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Để trả lời câu hỏi là bãi bỏ giấy phép đối với phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm thuốc lá thì có công cụ nào thay thế không, đại biểu Phạm Ngọc Lâm cho rằng, cần gắn với đổi mới phương thức quản lý, tăng cường ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả hậu kiểm. Theo đó, thương nhân kinh doanh thuốc lá vẫn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Việc cung cấp thông tin về địa điểm kinh doanh cần được thực hiện theo phương thức đơn giản, điện tử, tận dụng dữ liệu đăng ký kinh doanh hiện có, tránh phát sinh thêm thủ tục hành chính.

Cơ quan quản lý Nhà nước tăng cường khai thác, kết nối dữ liệu đăng ký kinh doanh, hóa đơn điện tử và thông tin truy xuất nguồn gốc hàng hóa để theo dõi, giám sát hoạt động kinh doanh. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng trong công tác kiểm tra, hậu kiểm; tập trung xử lý thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả, hành vi bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi, bán tại địa điểm bị cấm và các hành vi vi phạm khác. Qua đó, chuyển từ quản lý chủ yếu bằng giấy phép sang quản lý thực chất việc tuân thủ pháp luật trong quá trình kinh doanh, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm yêu cầu phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Nghiên cứu có lộ trình đưa tư vấn cai nghiện thuốc lá vào phạm vi chi trả bảo hiểm y tế

Nêu quan điểm về giấy phép đối với hoạt động kinh doanh thuốc lá, đại biểu Lê Hoàng Anh - Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai đồng tình với việc giữ giấy phép. Tuy nhiên, hồ sơ của dự án Luật cho thấy từ 01/7/2026 đến 28/02/2027, Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ cho phép không thực hiện giấy phép mua bán, giấy phép bán thuốc lá; Bộ Công Thương vẫn đề xuất thay giấy phép bằng thông báo điểm bán.

Từ 01/3/2027, Luật hiện hành áp dụng trở lại, hàng trăm nghìn điểm bán đang hoạt động sẽ đột nhiên “thiếu giấy phép”, mà dự thảo không có quy định chuyển tiếp. Do vậy, đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị bổ sung chuyển tiếp 12 tháng; số hóa cấp phép trực tuyến gắn với hóa đơn điện tử, tem điện tử và dùng thu hồi giấy phép làm chế tài với điểm bán tái phạm như Vương quốc Anh vừa luật hóa năm 2026. Như vậy, giấy phép không còn là thủ tục hình thức mà thành đòn bẩy thực thi. Cùng với đó, việc bỏ quản lý giấy cuốn điếu và năng lực máy móc tại Điều 22 nằm ngoài hai chính sách Chính phủ đã thông qua, chưa được giải trình. Đây là đầu vào của thuốc lá giả. Do đó, đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị giữ quản lý giấy cuốn điếu theo phương thức hậu kiểm, không cần cấp phép.

Đối với đề nghị của doanh nghiệp chuyển thuốc lá nung nóng sang quản lý có điều kiện, đại biểu Lê Hoàng Anh nêu quan điểm, không nên mở lại điều Quốc hội đã quyết; giảm phơi nhiễm chưa phải là giảm rủi ro, và 8 trên 11 nước ASEAN đã cấm bán thuốc lá điện tử.

Về cai nghiện thuốc lá, khoản 2 Điều 17 sửa đổi buộc cơ sở “tuân thủ khoản 1 Điều 18", nhưng khoản 1 Điều 18 là trách nhiệm của Bộ Y tế, không phải nghĩa vụ của cơ sở cung cấp dịch vụ, dẫn chiếu lệch chủ thể, không làm căn cứ quản lý được. Do đó, đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị quy định cơ sở phải tuân thủ hướng dẫn chuyên môn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành và có lộ trình đưa tư vấn cai nghiện vào phạm vi chi trả bảo hiểm y tế, đúng theo tinh thần Nghị quyết 72.

Về nguồn lực cho phòng chống tác hại của thuốc lá, Tờ trình của Chính phủ đề cập chỉ cần 2-3 tỷ đồng là chưa sát với khối lượng kiểm tra, giám định, truyền thông. Tuy nhiên, Quỹ Phòng chống tác hại thuốc lá đã nhập vào Quỹ Phòng bệnh nên đại biểu đề nghị quy định ưu tiên dành khoản đóng góp 2% từ thuốc lá cho phòng, chống tác hại thuốc lá.

Trong khuôn khổ phiên họp, các ĐBQH còn đóng góp ý kiến về dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế.

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài Ủy viên Bộ Chính trị,
Bí thư Trung ương Đảng,
Bí thư Đảng ủy Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch
Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập
Tìm kiếm văn bản