Từ quản lý đến quản trị môi trường hiện đại: Bước chuyển chiến lược kiến tạo phát triển xanh

(Mặt trận) - Kết luận số 75-KL/TW không chỉ là sự tiếp nối những chủ trương lớn về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo với tầm nhìn xa.

Từ quản lý đến quản trị môi trường hiện đại: Bước chuyển chiến lược kiến tạo phát triển xanh

Đà Nẵng: Hoàn thành lấy mẫu sinh phẩm hơn 26.000 phần mộ liệt sỹ trước mùa mưa

Thành phố Hồ Chí Minh: Triển khai đồng bộ Cuộc vận động 'Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh'

Các đại biểu thực hiện nghi thức phát động phong trào “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh-sạch-đẹp”. Ảnh: TTXVN 

Trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới, ngày 28/7/2026, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký Chương trình hành động số 31-CTr/TW của Bộ Chính trị thực hiện kết luận quan trọng này.

Trao đổi với phóng viên, tiến sỹ Tăng Thế Cường - Cục trưởng Cục Môi trường nhấn mạnh trong bối cảnh mới, Kết luận số 75-KL/TW, cùng Chương trình hành động số 31-CTr/TW của Bộ Chính trị về thực hiện kết luận, không chỉ là sự tiếp nối những chủ trương lớn của Đảng về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo, chỉ đạo với tầm nhìn xa.

Xây dựng nền quản trị môi trường hiện đại

 Cầu Hoàng Mai nằm trong tổng thể hài hòa của “phố biển” nơi miền chân sóng. (Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN)

- Thưa Tiến sỹ Tăng Thế Cường, Kết luận số 75-KL/TW và Chương trình hành động số 31-CTr/TW vừa được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Theo ông, đâu là ý nghĩa lớn nhất của các văn kiện này?

Tiến sỹ Tăng Thế Cường: Trong tiến trình phát triển đất nước, mỗi giai đoạn đều đòi hỏi những quyết sách mang tính chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn. Nếu như trước đây, bảo vệ môi trường chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ xử lý ô nhiễm, khắc phục sự cố, thì ngày nay (trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045), môi trường trở thành một động lực phát triển mới của nền kinh tế. Đây cũng là nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Vì vậy, Kết luận số 75-KL/TW không chỉ là sự thay đổi về cách tiếp cận, mà còn là sự đổi mới căn bản về quan điểm phát triển. Môi trường không còn được coi là “chi phí” của tăng trưởng, mà là nguồn lực và đóng vai trò kiến tạo, yếu tố tạo nên sức cạnh tranh mới của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thực tiễn phát triển của thế giới đã chứng minh, quốc gia nào biết gìn giữ tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái, giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh sẽ tạo dựng được lợi thế cạnh tranh lâu dài.

Ngược lại, nếu tiếp tục đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn, cái giá phải trả sẽ rất lớn, không chỉ về kinh tế mà còn về sức khỏe cộng đồng, an ninh môi trường, nguồn nước và lương thực, đa dạng sinh học và khả năng chống chịu trước thiên tai, biến đổi khí hậu.

Với Việt Nam, những thách thức này ngày càng hiện hữu rõ nét. Biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn dự báo; nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán, sạt lở, thiên tai cực đoan diễn ra với tần suất và cường độ gia tăng. Cùng với đó là sức ép từ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, gia tăng chất thải, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học và khai thác tài nguyên thiếu bền vững.

Trong khi đó, xu thế phát triển toàn cầu cũng đang thay đổi mạnh mẽ. Các cam kết quốc tế về đạt phát thải ròng bằng “0,” cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, yêu cầu truy xuất nguồn gốc xanh, tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế,... đang tạo ra những "luật chơi" mới trên quy mô toàn cầu. Nếu chúng ta không chuyển đổi kịp thời, doanh nghiệp Việt Nam có thể sẽ đối mặt với nhiều rào cản, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh.

Vì vậy, Kết luận số 75-KL/TW đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc đặt môi trường vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển đất nước trong mục tiêu 100 năm. Quan điểm xuyên suốt là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường; khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; lấy con người làm trung tâm, chất lượng môi trường sống làm thước đo của phát triển.

- Không chỉ dừng ở bảo vệ môi trường, Kết luận số 75-KL/TW còn đặt mục tiêu phát triển kinh tế môi trường và kinh tế xanh. Theo ông, đây sẽ là cơ hội như thế nào đối với doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới?

Tiến sỹ Tăng Thế Cường - Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (Ảnh: Cục Môi trường) 

Tiến sỹ Tăng Thế Cường: Điểm nổi bật của Kết luận số 75-KL/TW không chỉ nằm ở mục tiêu, mà còn ở cách tiếp cận toàn diện và đồng bộ. Theo đó, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân; đặt con người và chất lượng cuộc sống của Nhân dân ở trung tâm của mọi quyết định phát triển.

Đặc biệt, mọi quyết định phát triển đều phải tính đến yếu tố môi trường, khí hậu; mọi chính sách kinh tế phải hướng tới mục tiêu phát triển xanh; mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh đều phải tuân thủ nguyên tắc phát triển bền vững. Đây cũng là lần đầu tiên yêu cầu xây dựng nền quản trị môi trường hiện đại được đặt ra với những yêu cầu rất cụ thể. Đó là hoàn thiện thể chế; ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số; xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường đồng bộ; nâng cao năng lực dự báo, giám sát và cảnh báo; phát huy vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế.

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, Kết luận số 75-KL/TW vừa là định hướng chiến lược, vừa là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về tư duy quản lý. Ngành không chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà còn phải trở thành lực lượng tiên phong kiến tạo các động lực phát triển mới thông qua việc hoàn thiện thể chế, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, thị trường carbon, tín chỉ carbon, tài chính xanh, phát triển ngành công nghiệp môi trường và các mô hình tăng trưởng phát thải thấp, tạo ra các ngành kinh tế mới nhằm giảm áp lực đối với môi trường.

Tôi tin rằng Kết luận số 75-KL/TW sẽ mở ra một giai đoạn phát triển mới, trong đó bảo vệ môi trường không còn là nhiệm vụ mang tính phòng ngừa hay khắc phục hậu quả, mà trở thành nền tảng của phát triển quốc gia; không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân hôm nay mà còn gìn giữ nguồn lực cho các thế hệ mai sau. Đây chính là tư duy phát triển hiện đại, phù hợp với xu thế của thế giới và đáp ứng yêu cầu đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Hiện thực hóa quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa

 Tín chỉ carbon rừng được định giá theo chất lượng để đưa lên sàn giao dịch. (Ảnh minh họa: TTXVN)

- Một trong những điểm mới được nhấn mạnh là xây dựng nền quản trị môi trường hiện đại. Theo ông, mô hình quản trị mới này sẽ khác gì so với cách quản lý môi trường trước đây và sẽ tạo ra những chuyển biến như thế nào?

Tiến sỹ Tăng Thế Cường: Có thể nói, điểm nổi bật của Kết luận số 75-KL/TW không chỉ là việc khẳng định lại những quan điểm đúng đắn của Nghị quyết số 24-NQ/TW sau hơn 13 năm triển khai, mà quan trọng hơn là đã bổ sung, phát triển thêm những chủ trương, quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thời kỳ mới.

Văn kiện cũng xác định rõ bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt ở vị trí trung tâm trong các quyết định phát triển; là điều kiện, nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh và trở thành một trong những động lực phát triển nhanh, bền vững. Đây là bước chuyển rất quan trọng về tư duy phát triển.

Nếu trước đây môi trường thường được nhìn nhận dưới góc độ kiểm soát ô nhiễm, thì nay đã được xác định rõ vai trò kiến tạo và là một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển đều phải tích hợp yêu cầu bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ngay từ khâu hoạch định chính sách, thay vì xử lý hậu quả sau phát triển.

Để hiện thực hóa quan điểm đó, Kết luận số 75-KL/TW đề ra hệ thống nhiệm vụ toàn diện, từ hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình quản trị, huy động nguồn lực, phát triển khoa học công nghệ đến tăng cường hợp tác quốc tế. Đáng chú ý, nhiều giải pháp đột phá được đặt ra, phản ánh yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý môi trường. Trước hết là đổi mới quản trị môi trường theo hướng hiện đại, đồng bộ và dựa trên dữ liệu.

Kết luận yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý theo vùng, lưu vực sông, không gian môi trường; thiết lập cơ chế kết hợp kiểm soát từng nguồn thải với kiểm soát theo vùng, theo tổng thải lượng chất ô nhiễm; hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng, liên địa phương. Đây là yêu cầu rất cấp thiết trong bối cảnh nhiều vấn đề môi trường hiện nay đã vượt khỏi phạm vi quản lý của từng địa phương riêng lẻ. Chỉ khi xây dựng được cơ chế điều phối thống nhất, chia sẻ dữ liệu và phối hợp quản trị hiệu quả thì mới có thể giải quyết tận gốc các vấn đề môi trường.

Rừng ngập mặn ở Cà Mau. (Ảnh: Liên Sơn/TTXVN) 

Một điểm mới rất đáng chú ý khác là việc nhấn mạnh phát triển kinh tế môi trường. Kết luận không chỉ yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn đặt mục tiêu phát triển mạnh các ngành công nghiệp môi trường; thúc đẩy tuần hoàn vật liệu, sản phẩm trong toàn chuỗi giá trị; có cơ chế ưu đãi vượt trội cho các dự án phát triển công nghiệp tái chế; thương mại hóa các sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và kết quả đổi mới sáng tạo về môi trường; hoàn thiện các cơ chế thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát thải carbon thấp...

Điều này mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới cho doanh nghiệp Việt Nam. Thay vì coi chi phí môi trường là gánh nặng, doanh nghiệp có thể biến đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, tái chế chất thải, giảm phát thải thành lợi thế cạnh tranh, đồng thời giảm chi phí, áp lực đối với môi trường. Đây cũng là cơ sở quan trọng để Việt Nam chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường và khí hậu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Kết luận cũng xác định rõ yêu cầu tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, nhất là ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn; ô nhiễm nguồn nước tại các lưu vực sông; ô nhiễm tại làng nghề, khu - cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản; thúc đẩy phân loại chất thải, tái sử dụng, tái chế, xử lý kết hợp thu hồi năng lượng, giảm mạnh tỷ lệ chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt.

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, đây vừa là trách nhiệm, vừa là cơ hội để tiếp tục đổi mới toàn diện phương thức quản lý. Trọng tâm không chỉ dừng ở việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn phải xây dựng nền quản trị môi trường hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và hệ thống quan trắc thông minh nhằm giám sát chất lượng môi trường theo thời gian thực, nâng cao năng lực dự báo, hỗ trợ ra quyết định.

Song song với đó, ngành cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa tiền kiểm gắn với tăng cường hậu kiểm dựa trên mức độ tuân thủ và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư minh bạch nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường. Kết luận cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đối thoại, đồng hành cùng doanh nghiệp nhằm phòng ngừa vi phạm, thay vì chỉ tập trung xử lý khi vi phạm đã xảy ra.

Đặc biệt, Chương trình hành động số 31-CTr/TW đã cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm của từng cơ quan, tạo cơ sở để toàn hệ thống chính trị tổ chức triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trong giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Những nhiệm vụ được đặt ra không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề môi trường trước mắt, mà còn hướng tới xây dựng nền quản trị môi trường hiện đại, minh bạch, hiệu quả, tạo nền tảng cho phát triển xanh và nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang trở thành xu thế tất yếu của thế giới.

Hành động quyết liệt hôm nay, kiến tạo tương lai xanh cho các thế hệ mai sau

 Các tình nguyện viên tham gia nhặt rác tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Đoàn Mạnh Dương/TTXVN)

- Vậy để những chủ trương lớn của Kết luận số 75-KL/TW và Chương trình hành động số 31-CTr/TW thực sự đi vào cuộc sống, theo ông đâu là những nhiệm vụ trọng tâm cần ưu tiên trong thời gian tới?

Tiến sỹ Tăng Thế Cường: Để Kết luận số 75-KL/TW cùng Chương trình hành động số 31-CTr/TW thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất không chỉ là ban hành thêm các quy định mới, mà là tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị. Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, mà phải trở thành trách nhiệm chung của mỗi cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và từng người dân.

Kết luận cũng khẳng định rõ yêu cầu phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò kiến tạo của Nhà nước và trách nhiệm của toàn xã hội đối với sự nghiệp này. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, hiện đại, thống nhất và có tính dự báo cao. Trong đó, Chương trình hành động số 31-CTr/TW yêu cầu rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn; lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; đồng thời huy động và bố trí đầy đủ nguồn lực để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ đã đề ra.

Một giải pháp có ý nghĩa nền tảng là bảo đảm nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường. Kết luận yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, phát triển tài chính xanh, thúc đẩy hợp tác công - tư và mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khí hậu quốc tế.

Cùng với đó là đầu tư hiện đại hóa hệ thống quan trắc, dự báo, cảnh báo môi trường và khí hậu; phát triển hạ tầng xử lý chất thải, hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu; thúc đẩy chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải carbon thấp. Đây không chỉ là đầu tư cho môi trường mà còn là đầu tư cho sức khỏe cộng đồng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và sự phát triển bền vững của quốc gia.

Hơn thế, trong bối cảnh toàn cầu đang đẩy mạnh chuyển đổi xanh, hợp tác quốc tế tiếp tục giữ vai trò hết sức quan trọng, Việt Nam cũng cần chủ động tham gia định hình các sáng kiến toàn cầu về môi trường và khí hậu; tranh thủ nguồn lực về tài chính, công nghệ và tri thức; đồng thời nâng cao năng lực ứng phó với các tiêu chuẩn, quy định và hàng rào kỹ thuật mới.

 Chung tay bảo vệ môi trường. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Đối với ngành nông nghiệp và môi trường, nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng cụ thể hóa các chủ trương, quyết sách của Đảng thành các chương trình, đề án và kế hoạch hành động khả thi; tăng cường phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức thực hiện. Mỗi cán bộ ngành môi trường sẽ đổi mới tư duy, nâng cao năng lực chuyên môn, phát huy tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo của công tác quản lý.

Mặc dù phía trước chúng ta vẫn còn nhiều khó khăn, song cũng mở ra những cơ hội lớn. Nếu chúng ta biết tận dụng tốt động lực từ chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ, Việt Nam hoàn toàn có thể biến những thách thức về môi trường và biến đổi khí hậu thành cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, xây dựng nền kinh tế có khả năng chống chịu cao và phát triển bền vững.

Kết luận số 75-KL/TW cùng Chương trình hành động số 31-CTr/TW đã mở ra một tầm nhìn mới, một quyết tâm chính trị mới và một lộ trình hành động rõ ràng. Điều quan trọng nhất lúc này là chuyển hóa những chủ trương đúng đắn thành những kết quả cụ thể, đo đếm được trong từng ngành, từng địa phương và từng cộng đồng. Như vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là bảo vệ thiên nhiên mà còn là bảo vệ nền tảng phát triển của đất nước, bảo vệ sức khỏe của nhân dân và gìn giữ tương lai cho các thế hệ mai sau.

Đây cũng chính là con đường để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

Trân trọng cảm ơn ông!

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài Ủy viên Bộ Chính trị,
Bí thư Trung ương Đảng,
Bí thư Đảng ủy Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch
Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập
Tìm kiếm văn bản