 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham quan Triển lãm các kỳ Đại hội của MTTQ Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 (tháng 5/2026) |
Quan điểm này không chỉ mang tính lý luận mà còn được thể hiện rõ trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Vì vậy, việc không ngừng củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là yêu cầu có tính nguyên tắc, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Văn hóa luôn được Đảng ta xác định là một trong những trụ cột quan trọng của sự phát triển đất nước. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã đặt nền tảng lý luận quan trọng, khẳng định yêu cầu xây dựng nền văn hóa vừa kế thừa truyền thống, vừa phát triển phù hợp với điều kiện mới, qua đó góp phần định hướng giá trị, hình thành chuẩn mực xã hội và tăng cường sự gắn kết trong cộng đồng. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục phát triển toàn diện nhận thức của Đảng về văn hóa, nhấn mạnh: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, khi nhấn mạnh vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh có tính chiến lược, gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế; chú trọng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đề cao kỷ cương, pháp luật, trách nhiệm xã hội; đồng thời phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong sáng tạo và thụ hưởng văn hóa.
Tinh thần đó càng được làm rõ trong phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, khi nhấn mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng, là cội nguồn sức mạnh Việt Nam; trong kỷ nguyên mới, đại đoàn kết không chỉ là truyền thống tinh thần mà còn là năng lực phát triển quốc gia, là sức mạnh khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, tạo đồng thuận xã hội và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Theo đó, củng cố khối đại đoàn kết phải được đặt trong yêu cầu mới: Tôn trọng những khác biệt hợp pháp, chính đáng; giải quyết hài hòa lợi ích; lấy mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng để quy tụ mọi người Việt Nam yêu nước[2].
Từ các quan điểm nhất quán và ngày càng hoàn thiện nêu trên có thể khẳng định, văn hóa luôn giữ vị trí trung tâm, là kết tinh giá trị vật chất và tinh thần bền vững của dân tộc Việt Nam qua nhiều thế hệ; văn hóa được xác định vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực nội sinh quan trọng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với việc xây dựng lối sống tốt đẹp trong nhân dân không chỉ mang ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc, góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia.
Về bản chất, văn hóa và đại đoàn kết toàn dân tộc có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ và tác động qua lại chặt chẽ trong quá trình phát triển xã hội. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa được hình thành từ chính nhu cầu tồn tại và phát triển của con người; trong quá trình lao động, sinh hoạt và sáng tạo, con người đã tạo dựng nên các giá trị như ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,… qua đó cấu thành đời sống tinh thần của xã hội[3]. Cách tiếp cận này cho thấy văn hóa không chỉ phản ánh trình độ phát triển mà còn giữ vai trò định hướng hệ giá trị, điều chỉnh hành vi và hình thành các chuẩn mực ứng xử của con người trong cộng đồng. Trên nền tảng đó, những giá trị văn hóa cốt lõi của dân tộc Việt Nam như lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, ý thức cộng đồng, truyền thống “tương thân tương ái” đã trở thành nhân tố quan trọng gắn kết các giai tầng xã hội, các dân tộc, tôn giáo thành một khối thống nhất. Ở góc độ này, văn hóa có thể được xem như “chất keo” xã hội, góp phần bảo đảm sự cố kết cộng đồng, củng cố niềm tin và tăng cường sự đồng thuận xã hội - những yếu tố nền tảng tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ một phương diện khác, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là kết quả của quá trình phát triển văn hóa mà còn là điều kiện chính trị - xã hội quan trọng để bảo tồn, phát huy và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại nhằm tạo động lực tổng hợp cho phát triển đất nước. Khi khối đoàn kết được củng cố vững chắc, môi trường xã hội ổn định, đồng thuận được tăng cường sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các giá trị văn hóa được sáng tạo, lan tỏa và kế thừa. Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong kháng chiến và công cuộc đổi mới, chính sự đồng lòng của toàn dân tộc đã tạo nền tảng để đời sống văn hóa phát triển phong phú, góp phần làm sâu sắc hơn bản sắc văn hóa Việt Nam.
Như vậy, phát triển văn hóa và tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc là hai quá trình thống nhất, gắn bó và bổ trợ lẫn nhau: Văn hóa tạo nền tảng và động lực tinh thần cho đoàn kết; còn đoàn kết lại tạo môi trường và điều kiện để văn hóa phát triển bền vững. Việc nhận thức đầy đủ và xử lý đúng đắn mối quan hệ biện chứng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Từ nhận thức đầy đủ về mối quan hệ biện chứng đó, yêu cầu đặt ra đó là cụ thể hóa thành hệ thống giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, ưu tiên các nhóm giải pháp cụ thể, thiết thực gắn với từng lĩnh vực và chủ thể, bảo đảm triển khai thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, qua đó tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống văn hóa và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cụ thể như sau:
1. Phát huy giá trị văn hóa truyền thống; xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa ứng xử, bồi đắp nền tảng tinh thần của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh nội sinh của dân tộc, hướng đến một xã hội dân chủ, văn minh và nhân văn
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc (tháng 4/2026). Ảnh: Thống Nhất/TTXVN |
Phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, gắn chặt với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Trước hết, cần khơi dậy, bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước như lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết, đức tính cần cù và sáng tạo. Đây là những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc và sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam, đồng thời là nền tảng tinh thần quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững, như đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng với yêu cầu lấy giá trị văn hóa và con người Việt Nam làm nền tảng, động lực cho phát triển đất nước. Trên cơ sở đó, cần lồng ghép hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống vào các phong trào thi đua yêu nước, các chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, qua đó tạo sự lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội.
Cùng với việc phát huy các giá trị truyền thống, cần đặc biệt chú trọng tôn vinh, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số, coi đây là bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Đồng thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại là yêu cầu tất yếu nhằm làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Sự kết hợp hài hòa giữa kế thừa và đổi mới, giữa truyền thống và hiện đại sẽ tạo nền tảng vững chắc cho phát triển văn hóa bền vững.
Trên nền tảng đó, xây dựng văn hóa chính trị trong đời sống xã hội giữ vai trò then chốt, góp phần định hướng hành vi và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Điều này đòi hỏi việc đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, lấy các chuẩn mực “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” làm thước đo trong thực thi công vụ; phát huy dân chủ trong Đảng và ngoài xã hội, bảo đảm mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, xây dựng văn hóa pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm hình thành ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong toàn xã hội. Việc nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân cần được thực hiện thông qua đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cũng như cần bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng, bình đẳng của pháp luật, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm, không có “vùng cấm”, củng cố niềm tin xã hội.
Bên cạnh đó cũng cần chú trọng xây dựng văn hóa ứng xử văn minh, nhân văn trong toàn xã hội nhằm góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội. Cần hình thành và củng cố các chuẩn mực ứng xử dựa trên sự tôn trọng, nghĩa tình, trách nhiệm trong gia đình, cộng đồng và nơi công cộng; xây dựng môi trường ứng xử lành mạnh trên không gian mạng trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay. Việc phát triển văn hóa công sở chuyên nghiệp, liêm chính, tận tụy phục vụ Nhân dân cũng là yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả.
Có thể thấy rằng, việc xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, trong đó có hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới, cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn kết chặt chẽ với các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nội dung này đã được nhấn mạnh trong Văn kiện của Đảng và tiếp tục được cụ thể hóa trong các chương trình hành động của Chính phủ. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển văn hóa, bảo đảm sự gắn kết hữu cơ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế và xã hội, tạo động lực nội sinh cho phát triển bền vững.
Trong nhóm giải pháp này, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn, làm cầu nối vững chắc giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước. Thông qua đó, kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, tham gia giám sát và phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách về văn hóa và pháp luật. Đồng thời, tích cực vận động đồng bào các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, hướng về cội nguồn, qua đó góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.
2. Tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo tốt đẹp
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt 100 đại biểu trong chương trình “Việc tử tế” của Đài Truyền hình Việt Nam (tháng 6/2026). Ảnh: Đăng Khoa/Báo Nhân dân |
Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay cần được triển khai trên cơ sở tiếp cận tổng thể, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại. Trước hết, cần tiến hành rà soát, kiểm kê và số hóa một cách hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, đặc biệt là các lễ hội truyền thống, làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống - những yếu tố cấu thành quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ thiết thực đối với các làng nghề, nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian trong việc duy trì, trao truyền các giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ; gắn bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân, qua đó nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong gìn giữ di sản.
Song song với đó, cần thừa nhận và phát huy đúng mức vai trò của các hình thức tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, cũng như các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần của Nhân dân. Từ đó, khuyến khích các hoạt động tôn giáo gắn với giáo dục đạo đức, nhân văn, hướng thiện và tăng cường đoàn kết cộng đồng; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức tôn giáo nhằm lan tỏa sâu rộng tinh thần “sống tốt đời, đẹp đạo”, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bên cạnh đó, việc tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng thông qua các hoạt động văn hóa - xã hội cần được chú trọng triển khai thường xuyên, bài bản. Định kỳ tổ chức hiệu quả Ngày Văn hóa Việt Nam, các ngày hội văn hóa các dân tộc, liên hoan văn nghệ, thể thao, ẩm thực vùng miền, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, tạo không gian giao lưu, tăng cường sự gắn bó giữa các cộng đồng dân cư. Đồng thời, cần có cơ chế tôn vinh, khen thưởng kịp thời đối với các tập thể, cá nhân, chức sắc tôn giáo, nghệ nhân có nhiều đóng góp trong gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo; đẩy mạnh quảng bá hình ảnh văn hóa, tôn giáo Việt Nam ra thế giới gắn với hoạt động ngoại giao văn hóa, phát triển du lịch và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cần được coi là một hướng đi quan trọng và hiệu quả. Cần đẩy mạnh xây dựng các nền tảng số, bảo tàng số, cơ sở dữ liệu số về di sản văn hóa nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giáo dục và quảng bá, đặc biệt hướng tới thế hệ trẻ. Đồng thời, khuyến khích sáng tạo nghệ thuật đương đại trên nền tảng chất liệu truyền thống, tạo ra các sản phẩm văn hóa mới có sức hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu của giới trẻ nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Việc đưa nội dung giáo dục về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo tốt đẹp vào chương trình học đường và các hoạt động ngoại khóa cũng là giải pháp quan trọng nhằm hình thành ý thức gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa trong thế hệ trẻ.
Cùng với đó, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy ước, hương ước văn hóa ở cơ sở phù hợp với phong tục, tập quán của từng địa phương, đồng thời bảo đảm tính thống nhất với pháp luật và định hướng phát triển chung của xã hội. Việc phát huy vai trò của cộng đồng, trong đó có các tổ chức tôn giáo, trong các hoạt động từ thiện, nhân đạo, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và thiên tai là hết sức cần thiết, góp phần gắn kết các giá trị văn hóa, tín ngưỡng với mục tiêu phát triển bền vững, như đã được đề cập trong các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững.
Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích và phát huy các giá trị tích cực, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hiện tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, truyền bá mê tín dị đoan, gây chia rẽ cộng đồng, ngăn chặn tình trạng thương mại hóa, biến tướng lễ hội, làm suy giảm hoặc sai lệch giá trị văn hóa truyền thống, bảo đảm các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo phát triển lành mạnh, đúng định hướng, góp phần củng cố nền tảng tinh thần của xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát huy vai trò gương mẫu của gia đình, dòng họ, cộng đồng
 |
| Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng các đại biểu tới dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc với nhân dân liên địa bàn dân cư Cụm 1, phường Ba Đình, Hà Nội (tháng 11/2025). Ảnh: Phạm Thắng/Báo Đại biểu nhân dân |
Việc tổ chức các phong trào thi đua yêu nước và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cần được triển khai một cách đồng bộ, thiết thực, gắn với từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội nhằm tạo động lực phát triển toàn diện và bền vững. Trước hết, cần đẩy mạnh các phong trào thi đua, cuộc vận động trong các lĩnh vực như sản xuất kinh doanh giỏi, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, lao động sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh Tổ quốc. Đây là những nội dung đã được khẳng định trong các phong trào lớn do Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, đặc biệt là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Cùng với đó, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, thư viện cộng đồng, trung tâm thể thao, các câu lạc bộ dân ca, dân vũ,… qua đó tạo không gian sinh hoạt văn hóa lành mạnh, góp phần xây dựng nếp sống văn minh, phòng, chống tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phát huy vai trò của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong quản lý, tổ chức đời sống cộng đồng.
Trên cơ sở đó, việc xây dựng và nhân rộng các mô hình văn hóa tiêu biểu như “Gia đình văn hóa”, “Dòng họ văn hóa”, “Khu dân cư văn hóa” cần được triển khai gắn với các tiêu chí cụ thể, thiết thực như no ấm, hạnh phúc, học tập tốt, đoàn kết, chấp hành pháp luật. Việc tôn vinh các gia đình, dòng họ có truyền thống hiếu học, cách mạng, phát triển kinh tế giỏi, giữ gìn bản sắc văn hóa không chỉ có ý nghĩa khích lệ mà còn tạo sức lan tỏa trong cộng đồng. Đồng thời, cần khuyến khích cộng đồng dân cư chủ động xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước văn hóa phù hợp với đặc điểm địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội ở cơ sở theo hướng tự quản, tự giác.
Cùng với đó, công tác phát hiện, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt cần được đẩy mạnh và đổi mới về phương thức triển khai. Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, bản đồ số về các gia đình, dòng họ, cộng đồng văn hóa tiêu biểu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổng hợp, đánh giá và nhân rộng mô hình; đồng thời, kết hợp linh hoạt giữa hình thức trực tiếp và trực tuyến trong tổ chức hội nghị, hội thi, giao lưu điển hình nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền và sức lan tỏa trong xã hội.
Để bảo đảm tính bền vững của các phong trào, cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp, nhất là về nguồn lực duy trì hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở và các hoạt động cộng đồng. Việc phát triển các hoạt động văn nghệ, thể thao, du lịch cộng đồng không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân mà còn tạo môi trường gắn kết, củng cố khối đoàn kết trong cộng đồng dân cư.
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đang tích cực triển khai các phong trào thi đua, cuộc vận động trong Nhân dân, qua đó không chỉ tạo môi trường rèn luyện, phát huy phẩm chất của con người Việt Nam thời kỳ mới mà còn phối hợp hiệu quả với ngành giáo dục, truyền thông và văn hóa trong công tác giáo dục truyền thống, lan tỏa các giá trị tốt đẹp, nhân văn.
4. Mở rộng giao lưu, hợp tác văn hóa với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
 |
| TS. Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội |
Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong quảng bá và lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc cần được triển khai chủ động, gắn kết chặt chẽ với công tác ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân. Trước hết, cần tổ chức định kỳ các hoạt động như “Tuần lễ Văn hóa Việt Nam” tại những quốc gia có đông người Việt sinh sống nhằm giới thiệu hình ảnh đất nước, con người và bản sắc văn hóa Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Đồng thời, tạo điều kiện, hỗ trợ các đoàn nghệ thuật trong nước tham gia giao lưu với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kết hợp với các hoạt động ngoại giao nhân dân nhằm tăng cường sự gắn kết giữa kiều bào với quê hương. Việc tổ chức các cuộc thi, liên hoan văn hóa - thể thao dành cho thanh thiếu niên kiều bào cũng góp phần bồi đắp tình cảm, ý thức cội nguồn và trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong thế hệ trẻ.
Bên cạnh đó, cần khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia tích cực vào việc quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua các lĩnh vực có thế mạnh như ẩm thực, thời trang, thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm văn hóa đặc trưng. Việc kết hợp hiệu quả giữa ngoại giao văn hóa với xúc tiến thương mại, đầu tư không chỉ góp phần lan tỏa giá trị văn hóa mà còn mở rộng cơ hội hợp tác kinh tế, tạo cầu nối để cộng đồng doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp thiết thực vào sự phát triển của đất nước, phù hợp với tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Đồng thời, cần có cơ chế tôn vinh, khen thưởng kịp thời đối với các cá nhân, tổ chức kiều bào có nhiều đóng góp trong quảng bá văn hóa dân tộc; khuyến khích đội ngũ nghệ sĩ, trí thức, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động văn hóa đối ngoại, đóng góp tri thức, sáng tạo cho sự phát triển văn hóa đất nước.
Ngoài ra, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong tổ chức các hoạt động văn hóa như cơ chế hỗ trợ về kinh phí, phương tiện, tài liệu, thủ tục để cộng đồng kiều bào duy trì các hoạt động văn hóa, giáo dục truyền thống, dạy và học tiếng Việt,… góp phần tăng cường gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đó không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Nhân dân giữ vai trò chủ thể sáng tạo, thụ hưởng và lan tỏa các giá trị văn hóa. Phát huy sức mạnh văn hóa gắn với củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc chính là con đường căn bản để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ, hiệu quả của các cấp, các ngành và sự đồng lòng của toàn dân tộc, nền văn hóa Việt Nam sẽ tiếp tục được bồi đắp, tỏa sáng, trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế đất nước trong thời đại mới.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam:
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.23;
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 116;
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 240;
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.158
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr.l10
[2] Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011
TS. Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội
Theo Nông nghiệp và Môi trường