 |
| Đoàn kiểm tra, giám sát số 11 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư do đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm Trưởng đoàn tổ chức Hội nghị công bố quyết định kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2026 đối với Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương_Ảnh: TTXVN |
Nguyên tắc kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy, đồng thời phát hiện, làm rõ vi phạm, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục và xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm; kịp thời phát hiện sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung quy định cho phù hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên và môi trường; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Công tác kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo trong quản lý, sử dụng đất đai là một nội dung trọng yếu của việc bảo đảm hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng, hoạt động quản lý của Nhà nước. Đất đai là nguồn lực phát triển, nhưng cũng tạo ra nhiều thử thách bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và cơ chế kiểm soát quyền lực. Vì vậy, việc kiểm tra, giám sát phải tuân thủ hệ thống nguyên tắc chính trị - pháp lý - đạo đức chặt chẽ, toàn diện và xuyên suốt.
Cấp ủy các cấp, nhất là ban thường vụ, phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát không “khoán trắng” cho cơ quan chuyên môn. Mỗi cuộc kiểm tra, giám sát phải thể hiện được ý chí lãnh đạo, trách nhiệm chính trị và tính thống nhất trong định hướng của Đảng; phải bảo đảm bám sát các yêu cầu sau:
Nguyên tắc chính trị, tổ chức: Kiểm tra, giám sát không chỉ để phát hiện sai phạm, mà còn nhằm đánh giá việc thực hiện nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực đất đai, đặc biệt là chủ trương lớn, như Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”. Lần đầu tiên Đảng ta xác định đất đai là nguồn lực phát triển, đồng thời là đối tượng quản lý thống nhất của Nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, vì vậy đặt ra yêu cầu kiểm soát quyền lực trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Đây là cơ sở để ủy ban kiểm tra các cấp lãnh đạo kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đất đai.
Đến Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”, Đảng ta tiếp tục định hướng rõ với yêu cầu phát huy nguồn lực đất đai trở thành động lực trung tâm của phát triển bền vững. Khẳng định phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực, xử lý nghiêm “tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất”; đưa công khai, minh bạch, số hóa dữ liệu đất đai thành một nguyên tắc bắt buộc. Tạo căn cứ chính trị, pháp lý trực tiếp cho việc thiết kế mô hình kiểm tra, giám sát số, phân tích rủi ro chính trị, kinh tế, xã hội trong đất đai.
Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị “Về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung” là điểm cân bằng giữa kiểm soát quyền lực và bảo vệ động lực đổi mới. Bên cạnh đó, cần xác định công tác kiểm tra, giám sát về đất đai phân biệt rõ giữa sai phạm vì vụ lợi và sai sót trong đột phá, đổi mới vì lợi ích chung. Gợi mở một nguyên tắc rất quan trọng: kiểm tra không nhằm “trói tay cán bộ”, mà nhằm bảo vệ người dám chịu trách nhiệm, dám hành động vì lợi ích đất nước. Đồng thời, tạo cơ sở để cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát nhân văn, công tâm hơn.
Ngày 24-11-2025, Kết luận số 218 “Về quan điểm, chủ trương xử lý vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực”, của Bộ Chính trị, được ban hành với mục tiêu bảo đảm công bằng, khách quan trong xem xét xử lý kỷ luật và tìm rõ nguyên nhân vi phạm để điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn. Kết quả kiểm tra, giám sát vì thế phải phản ánh hiệu lực lãnh đạo của Đảng, giúp điều chỉnh chính sách, nâng cao năng lực thực thi, không chỉ dừng ở xử lý vi phạm.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nền tảng tổ chức của Đảng, phải được bảo đảm trong toàn bộ quy trình kiểm tra: Quyết định tập thể, cá nhân phụ trách; kết luận dựa trên bằng chứng, không suy diễn; thảo luận dân chủ, thống nhất trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ và pháp luật. Cùng với đó, cần minh bạch hóa thông tin, công khai kết quả trong phạm vi phù hợp, nhằm củng cố niềm tin và tạo sức răn đe, phòng ngừa.
Nguyên tắc pháp lý, hành chính: Kiểm tra, giám sát của Đảng trong lĩnh vực đất đai phải dựa trên pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Luật Đất đai đã được Quốc hội thông qua ngày 18-1-2024 và có hiệu lực từ ngày 1-1-2025. Cơ quan kiểm tra cần nắm chắc quy định mới có liên quan: quy hoạch tích hợp, đấu giá công khai, giá đất thị trường, thu hồi, bồi thường, tái định cư, quyền sử dụng đất như tài sản giao dịch. Việc kiểm tra phải chỉ ra được mức độ tuân thủ pháp luật, phát hiện kịp thời “khoảng trống pháp lý” để kiến nghị bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Chủ trương “không có vùng cấm, không ngoại lệ” phải trở thành chuẩn mực thường trực. Mọi vi phạm về đất đai, dù ở cấp nào, đều phải được xử lý kiên quyết, song song với khuyến khích tự kiểm tra, tự phát hiện, tự khắc phục. Kết luận kiểm tra, giám sát phải rõ ràng: sai ở đâu, trách nhiệm thuộc về ai, kiến nghị biện pháp nào; phải bảo đảm quyền khiếu nại, giải trình hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan.
Nguyên tắc đạo đức, trách nhiệm công vụ: Gắn kiểm tra với rèn luyện đạo đức, văn hóa công vụ đòi hỏi cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đất đai thực sự liêm chính, dũng cảm, trung thực, khách quan, không bị chi phối bởi lợi ích hay quan hệ cá nhân. Mỗi cuộc kiểm tra, giám sát là phép thử về đạo đức chính trị và văn hóa quyền lực. Chỉ khi người cán bộ kiểm tra trong sạch, công tâm, thì kết quả kiểm tra mới khách quan, chính xác và có giá trị giáo dục, thuyết phục.
Kết hợp kiểm tra định kỳ và giám sát thường xuyên: Nguyên tắc này bảo đảm tính chủ động, liên tục. Giám sát sớm giúp phát hiện vi phạm từ gốc, còn kiểm tra định kỳ giúp tổng kết, đánh giá toàn diện. Phải chuyển từ “xử lý hậu kiểm” sang “giám sát sớm, cảnh báo sớm, phòng ngừa từ xa”, sử dụng dữ liệu số, bản đồ đất đai và phản ánh của nhân dân làm công cụ cảnh báo tự động. Đề cao trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan quản lý đất đai khi để xảy ra vi phạm trong phạm vi quản lý. Nguyên tắc này làm rõ tính cá thể hóa trách nhiệm, chống “hòa cả làng”, đồng thời khuyến khích hình thành văn hóa nhận lỗi, khắc phục sớm.
Phương pháp kiểm tra, giám sát
Nếu “nguyên tắc” là nền tảng thì “phương pháp” là công cụ thực thi. Phương pháp kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực đất đai cần được vận dụng khoa học, hệ thống và thích ứng với thời đại số, để vừa bảo đảm tính chính trị, pháp lý, kỹ thuật, vừa nâng cao năng lực dự báo và phòng ngừa. Để thực hiện một cuộc kiểm tra, giám sát cần dựa trên một số phương pháp:
Phương pháp tổ chức, quy trình: Trước hết, nắm tình hình, thu thập đầy đủ hồ sơ quy hoạch, bản đồ địa chính, quyết định giao, thuê, chuyển mục đích sử dụng đất, hồ sơ đấu giá, định giá, nghĩa vụ tài chính, phản ánh của nhân dân và báo chí... Ứng dụng dữ liệu số hóa, hệ thống quản lý đất đai điện tử, bản đồ địa chính GIS để xác định biến động, sai lệch, chồng lấn, chuyển mục đích bất thường. Thứ hai, phân tích dấu hiệu vi phạm từ dòng tiền, dữ liệu thuế, đăng ký doanh nghiệp và quy hoạch đô thị để phát hiện bất thường, như thay đổi nhanh quyền sử dụng, giá trị tài sản hoặc mối liên hệ giữa doanh nghiệp, cán bộ quản lý. Thứ ba, tập trung làm rõ việc chỉ đạo của cấp ủy; trách nhiệm của tổ chức đảng, người đứng đầu; quy trình ra quyết định có tuân thủ pháp luật và nghị quyết của Đảng hay không? Cần lập biên bản, đối thoại công khai, tránh báo cáo một chiều. Thứ tư, đối chiếu kết quả kiểm tra với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả và trách nhiệm. Kiến nghị biện pháp xử lý, khắc phục, đồng thời lưu hồ sơ điện tử phục vụ theo dõi, giám sát việc thực hiện kết luận sau kiểm tra, giám sát.
Phương pháp nghiệp vụ: Phân tích lợi ích nhóm và dòng lợi ích bằng việc truy vết toàn bộ chuỗi hành vi hành chính, quyết định hành chính liên quan đến đất đai để nhận diện dòng lợi ích: từ quy hoạch, giao đất, định giá, cấp phép. Phát hiện mối liên hệ bất thường giữa người có thẩm quyền và doanh nghiệp thụ hưởng; đây là dấu hiệu điển hình của xung đột lợi ích và thao túng chính sách. Sau đó, so sánh giá đất thị trường và khung giá Nhà nước áp dụng mô hình định giá kép, kết hợp dữ liệu giao dịch, giá địa phương và chỉ số giá đất quốc gia để lượng hóa thất thoát ngân sách.
Hành vi sai phạm về quản lý, sử dụng đất đai thường gắn liền với biểu hiện tha hóa quyền lực, lợi dụng chức vụ để trục lợi. Vì vậy, cần đánh giá không chỉ hậu quả kinh tế, mà cả tác động chính trị, tư tưởng, niềm tin xã hội, qua đó đưa ra biện pháp phòng ngừa: công khai thông tin đất đai, luân chuyển cán bộ, kiểm soát tài sản, nâng cao văn hóa liêm chính của cán bộ, công chức.
Phương pháp thẩm tra, xác minh: Thẩm tra, xác minh là phương pháp quan trọng nhất trong 5 phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, được hiểu là việc chủ thể kiểm tra tiến hành hoạt động phát hiện, tìm kiếm, thu thập, xem xét, tra cứu, thẩm định, đánh giá và sử dụng những chứng cứ, phân tích thông tin, tài liệu đã thu thập được liên quan đến vụ việc kiểm tra; phân tích mối liên hệ và sự phù hợp giữa thông tin với nhau và với vụ việc kiểm tra theo các nguyên tắc, phương pháp công tác đảng để tìm ra sự thật, chỉ đúng bản chất thông tin đó nhằm chứng minh đối tượng được kiểm tra có hay không có khuyết điểm hoặc vi phạm, giúp cho việc kết luận, xử lý bảo đảm công minh, chính xác, kịp thời. Thẩm tra, xác minh phải đánh giá khách quan, thận trọng, trung thực, chính xác đối với ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để có quyết định xử lý chính xác đối với vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.
Thông tin về dấu hiệu vi phạm trong lĩnh vực đất đai được phản ảnh từ nhiều nguồn và được biểu hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau với phạm vi, tính chất, mức độ cũng khác nhau. Một trong những nguồn thông tin quan trọng để phát hiện, xác định dấu hiệu vi phạm trong lĩnh vực đất đai là thông qua công tác giám sát thường xuyên và khai thác thêm từ tài liệu của cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra hoặc thông qua báo chí, dư luận xã hội, phản ánh, kiến nghị, tố cáo của công dân. Chúng ta cần làm tốt công tác phân tích, sàng lọc, phân loại, tổng hợp thông tin có đủ căn cứ, cơ sở, điều kiện xác định đó là dấu hiệu vi phạm. Từ đó, đối chiếu nội dung thông tin, tài liệu với quy định cụ thể của Đảng, Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị được kiểm tra, giám sát để xác định dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Từ thực tế cho thấy, cấp ủy, ủy ban kiểm tra chủ động thực hiện giám sát thường xuyên, kết hợp với kênh thông tin khác thì sẽ xác định được dấu hiệu vi phạm, giúp cho việc lựa chọn, xác định chính xác nội dung, đối tượng để có quyết định kiểm tra, giám sát đúng, trúng.
Cũng giống như lĩnh vực khác, thẩm tra, xác minh trong lĩnh vực đất đai cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của công tác thẩm tra, xác minh; phải được tiến hành trong suốt quá trình kiểm tra, giám sát, theo nguyên tắc và phương pháp công tác đảng, nhất là thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình...
Trong thực tế, nắm chắc nguyên tắc, phương pháp trên khi thực hiện kiểm tra, giám sát thì việc phát hiện vi phạm, khuyết điểm hoặc sơ hở, vướng mắc trong cơ chế, chính sách rất dễ dàng. Căn cứ quy định của Đảng, Nhà nước về quản lý, sử dụng đất đai và qua thực tiễn kiểm tra, giám sát, có thể nhận dạng một số vi phạm điển hình sau:
1- Vi phạm trong công tác lãnh đạo, định hướng của cấp ủy, như ban hành quy chế làm việc có nội dung lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực đất đai chưa đúng thẩm quyền, không cụ thể, thiếu chặt chẽ, phân định nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể, cá nhân chưa rõ ràng; không quy định hoặc quy định không cụ thể công việc ban thường vụ ủy quyền cho thường trực cấp ủy cho chủ trương đối với các lĩnh vực đất đai, dẫn đến thường trực cấp ủy vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, cho chủ trương trái thẩm quyền; hoặc ban thường vụ cấp ủy đồng ý chủ trương thực hiện dự án có sử dụng đất vượt thẩm quyền, không đúng với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định của pháp luật; không đưa ra họp bàn, thảo luận để cho chủ trương đối với vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy chế làm việc. Trong thực tiễn, có nhiều trường hợp cấp ủy đã bị xử lý kỷ luật khi cho chủ trương chỉ định nhà đầu tư thực hiện dự án, chỉ định thầu và quyết định về mức giá đất cụ thể trái quy định; hay thường trực cấp ủy kết luận, cho chủ trương đối với vấn đề về đất đai, khoáng sản thuộc thẩm quyền của ban thường vụ cấp ủy, không được ban thường vụ ủy quyền, không đưa ra tập thể ban thường vụ thảo luận, thống nhất, cho ý kiến; cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền không chủ động đề xuất, trao đổi trong thường trực cấp ủy vấn đề lớn, quan trọng liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, khoáng sản để đưa ra cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy thảo luận, quyết định; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra vi phạm, khuyết điểm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên và môi trường; không quan tâm chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định pháp luật.
2- Vi phạm trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: vi phạm do không kịp thời lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định; không thống nhất giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương; không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phê duyệt quy hoạch 1/500 không tuân thủ quy hoạch 1/2000 dẫn đến phá vỡ quy hoạch chung; điều chỉnh quy hoạch đất đai, đô thị không đúng quy định để “chạy theo” doanh nghiệp thực hiện dự án (tăng tầng, tăng diện tích, chia nhỏ diện tích, tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất; giảm diện tích cây xanh công cộng, đất công trình hạ tầng kỹ thuật...); để chủ đầu tư tự ý thay đổi quy hoạch, triển khai dự án chậm nhằm giữ đất, trì hoãn bằng cách xin điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh chủ trương đầu tư để chờ khi có điều kiện mới thực hiện hoặc chuyển nhượng cho nhà đầu tư khác.
3- Vi phạm trong giao đất, cho thuê đất: Giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định, nhất là đối với đất công sản, đất sạch; tổ chức đấu giá không có phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; lựa chọn nhà đầu tư để giao đất, cho thuê đất không bảo đảm trình tự, thủ tục, không đáp ứng điều kiện theo quy định; đồng ý thay đổi nhà đầu tư, cho chuyển nhượng dự án trái pháp luật; để đối tượng trục lợi núp bóng doanh nghiệp đứng ra thông thầu, ép giá, hạn chế các doanh nghiệp khác tham gia đấu thầu, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trên địa bàn; giao đất dự án khi chưa có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; giao đất với thời hạn sử dụng lâu dài cho doanh nghiệp để thực hiện dự án; giao đất, cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa; giao đất thuộc khu vực phòng thủ quốc gia; giao dự án có sử dụng đất trồng lúa khi chưa có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa trên từ 10ha) và nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chuyển mục đích sử dụng đất; lợi dụng danh nghĩa của tổ chức để được mua, thuê cơ sở nhà, đất của Nhà nước ở vị trí thuận lợi về giao thương không thông qua đấu giá sau đó chuyển nhượng lại để hưởng chênh lệch; giao đất theo hình thức “đất ở không hình thành đơn vị ở” và triển khai một số loại hình bất động sản du lịch, nghỉ dưỡng chưa rõ về mô hình theo quy định của pháp luật dẫn đến sai phạm trong xác định nghĩa vụ tài chính, trình tự giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, phát sinh tình trạng lợi ích nhóm, tiêu cực, tham nhũng.
4- Vi phạm trong chuyển mục đích sử dụng đất: Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, nhưng không thẩm định điều kiện, nhu cầu sử dụng đất; không theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Doanh nghiệp chưa hoàn thành thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đất sản xuất phi nông nghiệp sang đất ở, nhưng đã cho ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở.
5- Vi phạm trong xác định giá đất: Xác định giá đất, ban hành bảng giá đất không theo mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất tại thời điểm định giá, không sát với giá thị trường; điều chỉnh quy hoạch dự án đầu tư, nhưng không xác định lại giá đất; xác định giá khởi điểm đối với trường hợp giao đất qua đấu giá thấp hơn giá đất tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành; xác định giá đất không đúng phương pháp theo quy định của pháp luật (phương pháp so sánh; phương pháp chiết trừ; phương pháp thu nhập; phương pháp thặng dư; phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất); giao đất, cho thuê đất, nhưng áp giá thấp hơn giá quy định; tính sai thời điểm giao đất khi xác định nghĩa vụ tài chính (giao đất năm nay nhưng tính tiền sử dụng theo giá đất của các năm trước); tính giá đất sản xuất, kinh doanh cho đất ở; quyết định cho miễn, giảm, chậm nộp chậm tiền sử dụng đất trái quy định pháp luật; cho chuyển nhượng dự án chưa xác định hoặc đã xác định, nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính.
6- Vi phạm về tiến độ: Dự án chậm tiến độ, không đúng cam kết, lãng phí đất đai, ảnh hưởng đến đời sống người dân, nhưng không thu hồi theo quy định; thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường; làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa.
7- Vi phạm về thủ tục: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm, vi phạm về thời hạn giải quyết; in giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi hộ gia đình, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ tài chính; cho chuyển mục đích sử dụng, mua bán, chuyển nhượng đất nhiều lần, nhưng không làm thủ tục; không theo dõi biến động và quản lý chặt chẽ về đất đai tại địa phương, để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất công; xây dựng không phép, trái phép; xây dựng nhà ở trên đất không phải là đất ở.
8- Không xây dựng phương án sử dụng đất trước khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; xây dựng, phê duyệt phương án không phù hợp với phương án sắp xếp xử lý nhà đất và quy hoạch sử dụng đất; khi thực hiện cổ phần hóa, không đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp (lấy lý do là đất đang thuê của Nhà nước); sau khi mua được cổ phần chi phối, nhà đầu tư tiến hành thủ tục để thay đổi mục đích sử dụng đất, xin nộp tiền sử dụng đất một lần không đúng quy định của pháp luật, thấp hơn nhiều so với giá đất trên thị trường, gây thất thoát tài sản của Nhà nước.
9- Dùng quyền sử dụng đất để hợp tác, liên doanh, liên kết, góp vốn thành lập pháp nhân mới, sau đó thoái vốn (chuyển nhượng vốn, cổ phần) làm chuyển dịch tài sản nhà nước sang tài sản tư nhân hoặc chuyển mục đích sử dụng đất cho đối tượng không thuộc doanh nghiệp nhà nước và không thuộc đối tượng phải di dời do ô nhiễm môi trường, nhưng không thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định.
10- Giao đất để đổi lấy hạ tầng (dự án xây dựng - chuyển giao (BT)) không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất mà tính toán theo khung giá đất tại địa phương, định giá đất thấp hơn nhiều giá trị đất thực tế tại thời điểm bàn giao công trình, khiến cho việc thanh toán không bảo đảm nguyên tắc ngang giá, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.
Đối chiếu quy định của Đảng, Nhà nước và qua thực tiễn kiểm tra, giám sát, có thể thấy khi một cuộc kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc, phương pháp, tuân thủ đúng quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, quy định của Nhà nước thì vụ việc dù khó đến mấy cũng sẽ được xem xét, giải quyết./.
TRẦN THỊ HIỀN
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Theo Tạp chí cộng sản