Phát huy nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài

(Mặt trận) - Để đạt mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp vào năm 2025 và trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra, Việt Nam cần nhanh chóng tiếp thu các tinh hoa công nghệ của nhân loại, phát huy cao nhất nguồn lực trí tuệ của toàn dân tộc, trong đó có đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN).

Đoàn đại biểu cấp cao Ủy ban bảo vệ Cách mạng Cuba dâng hoa tại Công viên Fidel và thăm các di tích lịch sử tại Quảng Trị

Phó Chủ tịch Nguyễn Hữu Dũng cùng Đoàn đại biểu cấp cao Uỷ ban Bảo vệ Cách mạng Cuba thăm và làm việc tại Quảng Trị

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ trí thức trẻ Việt Nam tại Pháp (tháng 3-2018) _Ảnh: qdnd.vn 

NGUỒN LỰC QUÝ CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG SUỐT CHIỀU DÀI LỊCH SỬ

Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực quý của đất nước trong suốt chiều dài lịch sử, bằng những hoạt động trí tuệ, mang tính sáng tạo, cộng đồng người VNONN nói chung và trí thức NVNONN nói riêng đã và đang có những đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc, số đông đồng bào ở nước ngoài, trong đó có giới trí thức kiều bào, có tinh thần yêu nước, sẵn sàng tham gia và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Dưới sự vận động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều trí thức NVNONN đã quay về dốc sức phục vụ cho cuộc kháng chiến của nước nhà. Nổi bật trong đó, kỹ sư Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Quý Huân, bác sỹ Trần Hữu Tước… đã đóng góp nhiều phát kiến quan trọng về kỹ thuật quân sự cũng như quân y giúp tăng năng lực của bộ đội ta trong thời kỳ kháng chiến. Trong giai đoạn khôi phục đất nước sau chiến tranh, trí thức kiều bào đã phát động phong trào vận động quyên góp sách báo, tài liệu khoa học kỹ thuật, trang thiết bị đã qua sử dụng gửi về nước. Tại một số quốc gia, các Hội nhóm khoa học kỹ thuật của người Việt đã cử thành viên về nước tìm hiểu nhu cầu, khả năng hợp tác, xây dựng các đề án, chương trình hợp tác với trong nước, huy động khả năng của cộng đồng kiều bào và bạn bè sở tại.

Hiện nay, theo ước tính, số lượng người có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng hơn 10% trong tổng số 5,3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, tương đương khoảng 600.000 người, gồm hai bộ phận là trí thức từ trong nước ra nước ngoài học tập, làm việc và trí thức là con em thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư của người Việt ở sở tại, tập trung chủ yếu ở các nước phương Tây. Trong xu hướng phát triển chung của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN), lực lượng trí thức NVNONN tăng nhanh về lượng và chất, ngày càng thành đạt, có uy tín ở sở tại, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với bạn bè quốc tế. Với lợi thế được đào tạo bài bản ở các nước tiên tiến, có kinh nghiệm thực tiễn, làm việc trong môi trường khoa học, công nghệ phát triển cao, đặc biệt có quan hệ sâu rộng ở nước sở tại cũng như trên thế giới, trí thức kiều bào ta ở nước ngoài là lực lượng lao động đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức.

Đặc biệt, trong khoảng 15 năm trở lại đây, trí thức NVNONN đã và đang liên kết, tập hợp dưới hình thức các tổ chức hội, đoàn để phát huy sức mạnh tập thể, tăng cường đoàn kết trong cộng đồng. Những hội đoàn tiêu biểu có thể kể đến là Hội khoa học Gặp gỡ Việt Nam của GS. Trần Thanh Vân (kiều bào Pháp), Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu AVSE Global, Hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ, Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam (hình thành từ Chương trình Kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tháng 8/2018) hay Mạng lưới người Việt có tầm ảnh hưởng (hình thành từ Diễn đàn người Việt có tầm ảnh hưởng do Bộ Ngoại giao và AVSE Global đồng chủ trì tháng 4/2019). Sự kết nối giữa người Việt trên toàn cầu đang tạo ra các cơ chế làm việc, hợp tác ngày càng linh hoạt cho các chuyên gia trong và ngoài nước khi tham gia vào các dự án, chương trình nằm trong chiến lược phát triển quốc gia của Việt Nam. Ngoài ra, đây là bước tiến quan trọng trong công tác thu hút nguồn lực trí tuệ của NVNONN, mở ra một hướng đi mới, không chỉ kết nối các chuyên gia, trí thức ở các nước lại với nhau để giao lưu, đóng góp về khoa học, học thuật mà còn kết nối mạng lưới trí thức kiều bào với các cơ quan, nhà khoa học, trung tâm nghiên cứu trong nước.

CÔNG TÁC PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ THỨC NVNONN THỜI GIAN QUA

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettel cùng thân mật chào hỏi kiều bào Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập tại Luxembourg - 12/2022 (Nguồn: VGP) 

Nhờ có những quyết sách đúng đắn, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, sự năng động, tích cực trong triển khai công tác của các cơ quan, công tác thu hút, phát huy nguồn lực trí thức NVNONN đã đạt một số thành tựu đáng ghi nhận. Lực lượng chuyên gia, trí thức, các nhà khoa học kiều bào luôn hướng về quê hương, chủ động bày tỏ nguyện vọng được đồng hành cùng Chính phủ và nhân dân trong nước đóng góp cho sự vươn lên mạnh mẽ của đất nước.

Hằng năm trung bình có khoảng 300-500 lượt chuyên gia, trí thức, nhà khoa học NVNONN về nước tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ, triển khai các dự án hợp tác trong giảng dạy, đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển (R&D), đẩy mạnh ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Một số cá nhân chuyên gia, trí thức, nhà khoa học NVNONN tiêu biểu có thể kể đến như: GS. Trần Thanh Vân (kiều bào Pháp), Chủ tịch Hội Gặp gỡ Việt Nam, về nước thành lập Quỹ Học bổng Odon Vallet dành cho các sinh viên, học sinh trung học xuất sắc và các em ở các làng S.O.S Việt Nam trong cả nước, xây dựng Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tại Quy Nhơn, Bình Định để ươm mầm, nuôi dưỡng thế hệ tài năng trẻ của Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên; TS. Nguyễn Thanh Mỹ (kiều bào Canada), thành lập Tập đoàn Mỹ Lan tại Trà Vinh - công ty công nghệ cao đầu tiên của khu vực, ứng dụng thành công nhiều sáng chế, đóng góp cho lĩnh vực nông nghiệp, giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm người lao động tại địa phương; TS. Bùi Hải Hưng (kiều bào Hoa Kỳ), nhà sáng chế trí tuệ nhân tạo tại Google với gần 100 công trình nghiên cứu khoa học và 10 bằng sáng chế về công nghệ được đánh giá cao tại Mỹ, trở về nước và đảm nhiệm vị trí Viện trưởng Viện nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo VinAI và Giáo sư toán học Vũ Hà Văn (kiều bào Hoa Kỳ) đảm nhiệm vị trí Giám đốc Công nghệ Vintech thuộc Tập đoàn Vingroup…

Ngoài ra, thời gian qua, các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học NVNONN cũng tích cực đóng góp ý kiến cho Chính phủ nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá trình phát triển. Bốn chuyên gia NVNONN là thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng nhiệm kỳ 2016-2021, trực tiếp tham gia vào quá trình tham mưu, tư vấn chính sách hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đề nổi lên trong thời gian qua như năng lượng sạch, công nghệ xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 vào nâng cao năng suất, chất lượng…

Đặc biệt, trong giai đoạn 2020-2021, khi đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, các chuyên gia, trí thức kiều bào đã trực tiếp kết nối, vận động các cơ quan chính quyền, tổ chức, doanh nghiệp sở tại hỗ trợ vaccine cho Việt Nam và thúc đẩy chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine, chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch ở nước sở tại và đưa ra nhiều đề xuất, khuyến nghị hữu ích cho các cơ quan trung ương và địa phương trong nước. Hàng loạt chương trình trao đổi, tư vấn nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe cộng đồng giữa đội ngũ bác sĩ, chuyên gia kiều bào trong lĩnh vực y khoa với các cơ quan, người dân trong nước đã được triển khai tổ chức dưới hình thức trực tuyến. Có thể nói, sự đóng góp của các cá nhân NVNONN là chuyên gia, trí thức, nhà khoa học trong thời gian qua đã khẳng định tình yêu nước sâu nặng và tinh thần nhiệt huyết cháy bỏng luôn khát khao cống hiến trí tuệ cho quê hương, đất nước.

Bên cạnh các kết quả đạt được, qua thực tiễn công tác, không thể phủ nhận còn tồn tại nhiều bất cập trong việc việc triển khai các cơ chế, chính sách về thu hút, trọng dụng cán bộ trí thức kiều bào, cụ thể:

Về xây dựng chính sách, các chính sách đã được ban hành chưa đủ mạnh, vẫn thiên về trọng đãi hơn là trọng dụng và nhiều chế độ ưu đãi hiện nay không còn phát huy hiệu quả.  

Về tổ chức thực hiện chính sách, ở một số nơi, một số cấp, thủ tục hành chính rườm rà, phiền nhiễu cũng là rào cản đối với sự nhiệt tình đóng góp của trí thức kiều bào cho đất nước. Do đó, nhiều trí thức vẫn còn băn khoăn, nghi ngại, chưa yên tâm về làm việc lâu dài ở Việt Nam, thậm chí có một số trường hợp đã về nước làm việc ổn định nhưng lại phải trở ra nước ngoài.

Về cơ sở dữ liệu NVNONN, hiện thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia về NVNONN để các Bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp có thể khai thác chung. Uỷ ban Nhà nước về NVNONN, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, thành phố Hồ Chí Minh và một số cơ quan, địa phương đã có cơ sở dữ liệu riêng về chuyên gia, trí thức, doanh nhân nhưng do thiếu kinh phí, không cập nhật thường xuyên và không kết nối với nhau nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng cho các cơ quan trung ương và các địa phương.

Về việc phối hợp giữa các cơ quan trong việc triển khai công tác thu hút nguồn lực NVNONN, hiện chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương để thực hiện hiệu quả công tác. Uỷ ban Nhà nước về NVNONN đã có cơ chế làm việc, trao đổi, ký thoả thuận hợp tác với Ban Dân vận Trung ương, Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan truyền thông về phối hợp triển khai công tác NVNONN, tuy nhiên vẫn chưa thể xây dựng kế hoạch hợp tác, triển khai công tác một cách đồng bộ, hiệu quả hơn giữa các cấp, các ngành.

Bên cạnh đó, môi trường làm việc chưa phù hợp, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học và môi trường học thuật chuyên nghiệp của trong nước còn hạn chế; khác biệt về thể chế; rào cản ngôn ngữ, nhận thức không tương đồng về các vấn đề, đặc biệt các vấn đề chuyên môn sâu giữa chuyên gia, trí thức NVNONN và các đồng nghiệp trong nước; các thông tin, ý kiến đóng góp và tư vấn của chuyên gia, trí thức kiều bào chưa được cơ quan chức năng nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống và thường không có trao đổi, phản hồi hoặc tiếp thu, sử dụng có hiệu quả.

CẦN CÓ CHUYỂN BIẾN THỰC CHẤT

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo vẫn sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Sự phát triển không ngừng của khoa học - công nghệ, đặc biệt sự bùng nổ của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đã khiến thế giới thay đổi nhanh chóng, các ngành công nghiệp tri thức đang gia tăng về số lượng. Các nước trên thế giới đã, đang và sẽ tiếp tục nhìn nhận một cách nghiêm túc việc cạnh tranh nhân tài bởi lực lượng này sẽ quyết định đến chất lượng và vị thế của quốc gia trên bản đồ thế giới. Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc thu hút các chuyên gia, trí thức làm việc trong bộ máy cơ quan nhà nước cũng như khu vực tư nhân trong nước.

Về xu hướng phát triển và tiềm lực của cộng đồng, những năm tiếp theo, đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài sẽ tiếp tục tăng về số lượng, đa dạng hơn về địa bàn cư trú, hội nhập sâu hơn vào xã hội sở tại, cơ cấu tiếp tục thay đổi. Nhìn chung, thế hệ trẻ sẽ thay thế dần lớp người lớn tuổi, dẫn tới một số thay đổi trong đặc điểm của trí thức NVNONN cũng như nhu cầu thực tiễn đặt ra cho công tác phát huy nguồn lực của đội ngũ này.

Số lượng trí thức kiều bào thế hệ thứ 2,3,4 tăng lên nhanh chóng, tuy có lợi thế về chuyên môn và mạng lưới quan hệ ở sở tại nhưng mối liên hệ với quê hương lỏng lẻo hơn thế hệ trước, một bộ phận không nhỏ không biết tiếng và không am hiểu văn hóa Việt. Nhóm trí thức kiều bào trẻ là du học sinh ở lại có mối liên hệ gần gũi, chặt chẽ với quê hương sẽ là những nhân tố chủ yếu tác động tới thái độ, nhận thức của cộng đồng, cũng như sự gắn kết giữa cộng đồng NVNONN với đất nước, tuy nhiên, cũng là đối tượng dễ bị các đối tượng xấu lôi kéo vào các hoạt động đi ngược với lợi ích quốc gia.

Ở trong nước, trên cơ sở đường lối phát triển đất nước được nêu tại Đại hội XIII của Đảng cũng như xuất phát từ nhu cầu thực tiễn được các bộ, ngành, địa phương đúc rút trong triển khai công tác, thời gian tới, nước ta sẽ chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, thúc đẩy chuyển giao thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư… Thực tiễn này đặt ra nhu cầu cấp thiết cho Việt Nam cần khai thác tối đa, có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để tận dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao đưa đất nước phát triển. Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, do đó, cũng cần có chuyển biến thực chất nhằm phát huy tối đa nguồn lực dồi dào của kiều bào, đặc biệt là nguồn lực tri thức, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Qua mỗi chặng đường phát triển, xuất phát từ những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách, nội dung và phương thức khác nhau trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Tuy nhiên, quan điểm, tư tưởng xuyên suốt, đồng thời của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ở trong nước đối với đồng bào ta đã và đang sinh sống ở bên ngoài Tổ quốc là nhất quán: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”.

Thời tình hình mới, về định hướng chính, công tác thu hút nguồn lực tri thức kiều bào thời gian tới cần tập trung vào các nội dung như khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững. Về đối tượng vận động, thu hút, bên cạnh việc duy trì liên hệ, hợp tác với các trí thức, chuyên gia giàu kinh nghiệm, công tác cần tiếp tục mở rộng tới thế hệ trí thức trẻ NVNONN, bao gồm cả lực lượng du học sinh và con em kiều bào thế hệ thứ hai, thứ ba ở sở tại. Về cách thức triển khai, nên tăng cường thu hút nguồn lực chất xám của kiều bào “từ xa”, gián tiếp như giảng dạy ngắn hạn, tư vấn, chuyển giao công nghệ cao, làm cầu nối mời chuyên gia quốc tế đến Việt Nam, thay vì phải quay về Việt Nam làm việc dài hạn. Ngoài ra, công tác thu hút nguồn lực trí thức kiều bào thời gian tới cần giải quyết các tổn tại về xây dựng và triển khai chính sách, cơ sở dữ liệu, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan,… như đã phân tích.

Theo đó, cần chú trọng một số giải pháp cụ thể nhằm phát huy nguồn lực trí thức NVNONN như sau:

Thứ nhất, cần thống nhất nhận thức của toàn bộ hệ thống chính trị về chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước về củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có vai trò của cộng đồng NVNONN, và đây là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, qua đó triển khai hiệu quả công tác thu hút, sử dụng nguồn lực NVNONN.

Các cơ quan trong nước, từ trung ương tới địa phương cần phải có những giải pháp dài hạn nhằm cải thiện, nâng cao đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam nói chung, qua đó thu hẹp được khoảng cách về kinh tế - xã hội, điều kiện sống giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển, đây làm một trong những điều kiện tiên quyết, góp phần tạo sức hút đối với đội ngũ trí thức NVNONN. Bên cạnh đó, cần xây dựng một quy trình bài bản, khoa học trong khâu tuyển chọn và quản lý đội ngũ trí thức làm việc trong nền công vụ, qua đó bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan, hạn chế tối đa tiêu cực trong thi tuyển, gắn liền với cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng vẫn bảo đảm đúng quy trình, đúng tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu công việc.

Các cơ quan thanh nhà Nhà nước/ thanh tra của Đảng cần xây dựng cơ chế, triển khai thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về thu hút và trọng dụng nhân tài là người Việt Nam ở nước ngoàivà đưa đây trở thành một nội dung trong kế hoạch thanh tra định kỳ và đột xuất hàng năm để phát huy, nhân rộng điển hình tốt và ngăn ngừa, phát hiện, xử lý vi phạm.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả triển khai cơ chế, chính sách về thu hút, tuyển chọn, trọng dụng trí thức:

Chính sách về trọng dụng, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫu cụ thể đối với Nghị định 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014, Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/9/2014và Nghị định 27/2020/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là NVNONN và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam liên quan đến việc bổ nhiệm chuyên gia, trí thức NVNONN có năng lực vào các vị trí lãnh đạo, có thể làm việc toàn bộ thời gian hoặc kiêm nhiệm tại các cơ quan nghiên cứu khoa học, trường đại học, cơ sở giáo dục đào tạo, sản xuất, kinh doanh, các dự án đặc biệt ở những lĩnh vực mà trong nước còn ít kinh nghiệm.

Nghiên cứu mở rộng mô hình mời các chuyên gia, trí thức kiều bào tham gia vào các ban/tổ tư vấn trong nước giúp Chính phủ, các bộ, ngành trong nghiên cứu để chia sẻ kinh nghiệm trong việc tổ chức quản lý, quy hoạch phát triển của các nước phát triển nhằm hoạch định chính sách kinh tế - xã hội của Việt Nam; nghiên cứu ban hành quy chế theo hướng mở rộng phân cấp và tăng tính tự chủ cho các đơn vị cơ sở của các cơ quan nghiên cứu khoa học, đào tạo, sản xuất, kinh doanh nhà nước có nhu cầu sử dụng chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài về làm việc.

Mỗi địa phương, Bộ/ngành cần dựa trên đặc điểm và nhu cầu thực tiễn để xây dựng những chiến lược và chính sách linh hoạt nhằm trọng dụng nguồn nhân lực tài năng phù hợp. Tránh trường hợp áp dụng rập khuôn, máy móc, hưởng ứng theo phong trào, không thiết thực, hiệu quả, gây lãng phí nguồn chất xám của đất nước. Cùng với đó cũng cần biểu dương, khuyến khích, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo về thu hút, trọng dụng nhân tài ở địa phương, Bộ/ngành để áp dụng ở các nơi khác; kết hợp tuyên truyền, quảng bá thông tin để tạo động lực cũng như sức lan tỏa đối với cộng đồng trí thức người VNONN, qua đó tạo sức hút đối với những cá nhân điển hình đã có thời gian sinh sống, học tập hoặc thành danh ở nước ngoài

Chính sách về đãi ngộ, nghiên cứu xây dựng chính sách chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với chuyên gia, trí thức NVNONN có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao về nước tham gia các đề án, chương trình ưu tiên, đặc biệt quan trọng của quốc gia, ngành, địa phương và trao quyền cho người đứng đầu chịu trách nhiệm xem xét, đặc cách lựa chọn/tuyển dụng những cá nhân thực sự có tài năng (có thể miễn, đơn giản hóa một số quy định mang tính hành chính, thủ tục).

Xem xét khả năng cấp nhà công vụ, hỗ trợ các khoản phụ cấp và đãi ngộ khác như vé máy bay cho cá nhân và gia đình, trợ cấp thuê chỗ ở, phương tiện đi lại trong thời gian làm việc trong nước.

Thứ ba,các Bộ/ngành, địa phương cần nghiên cứu, xây dựng một cơ chế chung áp dụng trong việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi các thông tin, ý kiến đóng góp và tư vấn của đội ngũ chuyên gia, trí thức NVNONN.

Thực tiễn cho thấy, bên cạnh việc trở về nước trực tiếp tham gia vào các dự án, hoạt động nghiên cứu khoa học, tham mưu chính sách cho Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, sự chia sẻ và đóng góp trí tuệ từ xa đã trở thành một xu hướng chung được đông đảo chuyên gia, trí thức kiều bào lựa chọn, vừa bảo đảm duy trì ổn định cuộc sống của kiều bào ở sở tại vừa có thể tạo ra những giá trị tích cực góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, do hiện chưa có một cơ chế chung mang tính thống nhất để các cơ quan trong nước và địa phương cùng áp dụng trong việc tiếp nhận, xử lý, phản hồi các thông tin, ý kiến đóng góp và tư vấn của đội ngũ chuyên gia, trí thức kiều bào, trong thời gian qua đã xảy ra một số trường hợp chuyên gia, trí thức kiều bào gặp khó khăn khi muốn kết nối, trao đổi và chia sẻ những góp ý, sáng kiến, đề xuất chính sách cho các bộ ngành, địa phương. Do đó, việc nghiên cứu, xây dựng cơ chế chung để tất cả các cơ quan trung ương và địa phương áp dụng là hết sức cần thiết trong thời gian tới.

Trước mắt có thể nghiên cứu xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế này ở các cơ quan cấp Bộ và ngang Bộ, xuất phát từ nhu cầu, mong muốn được trao đổi và đóng góp ý kiến với các cơ quan trung ương của đội ngũ chuyên gia, trí thức kiều bào hiện rất lớn. Sau khi cơ chế được triển khai một cách đồng bộ và đi vào ổn định, có thể cân nhắc áp dụng cho các địa phương trong nước.

Về một số chính sách cụ thể khác:(i) Rà soát để cắt giảm các thủ tục, quy định không cần thiết hoặc gây khó khăn đối với kiều bào, đặc biệt trong đầu tư, đất đai, các thủ tục hành chính khác, vay vốn, thuế cho trí thức, doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, các dự án đào tạo phát triển nguồn nhân lực, các lĩnh vực kinh tế - xã hội  ưu tiên; (ii) Các địa phương, Bộ/ngành cần có đầu mối phụ trách hỗ trợ thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ hoặc các dự án sáng tạo có sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của các doanh nghiệp, trí thức NVNONN để thu hút đầu tư hay xuất khẩu sản phẩm trí tuệ; (iii) Tăng cường sự phối hợp giữa các địa phương, Bộ/ ngành, các cơ quan liên quan trong đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu, tìm kiếm, lựa chọn thu hút trí thức NVNONN; (iv) Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác vận động chuyên gia, trí thức NVNONN; phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên như Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài... trong việc tập hợp, vận động trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời, xây dựng cơ chế tiếp thu, phản hồi các phản ánh các đề xuất, kiến nghị của trí thức kiều bào đối với Đảng và Nhà nước./.

Phạm Việt Dũng
Vụ trưởng Vụ Quan hệ Kinh tế, 
Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao

Đồng chí Đỗ Văn Chiến Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập
Tìm kiếm văn bản