Đổi mới quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Khâu đột phá tạo lập năng lực phát triển mới

(Mặt trận) - Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là thay đổi nguồn lực và động lực tăng trưởng, mà trước hết phải tạo đột phá về thể chế, phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia. Trong điều kiện khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trở thành động lực chính của phát triển, quản trị quốc gia cần chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị kiến tạo, dựa trên pháp quyền, dữ liệu, bằng chứng, phối hợp liên thông, trách nhiệm giải trình và kết quả phát triển. Qua đó chuyển hóa tri thức, công nghệ và sức sáng tạo của toàn xã hội thành năng suất, giá trị công và năng lực tự chủ quốc gia.

Đổi mới quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Khâu đột phá tạo lập năng lực phát triển mới

Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam lần thứ V, nhiệm kỳ 2026 - 2031

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm, kiểm tra hoạt động tại Trung tâm hành chính công Hà Nội, ngày 1-7-2025_Ảnh: Tư liệu

Đổi mới quản trị quốc gia - Điều kiện tạo lập năng lực phát triển mới

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia. Quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng: GDP của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 514,7 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.066 USD. Việt Nam chính thức là nước có thu nhập trung bình cao. Đây là bước tiến rất lớn so với giai đoạn đầu đổi mới, phản ánh năng lực tích lũy, mở cửa và hội nhập ngày càng sâu của nền kinh tế(1). Trên phương diện đối ngoại, Việt Nam đã thiết lập mạng lưới quan hệ đối tác rộng khắp, tham gia sâu vào các thể chế, cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu. Tính đến tháng 1-2026, có 15 đối tác chiến lược toàn diện; đồng thời là thành viên tích cực của Liên hợp quốc, ASEAN, WTO, APEC và nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP, qua đó mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực tham gia và định hình các chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu(2). Tuy nhiên, bối cảnh phát triển đang có những thay đổi sâu sắc. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển bùng nổ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình kinh doanh, cấu trúc quản trị và tương quan cạnh tranh giữa các quốc gia. Trong điều kiện đó, các lợi thế phát triển truyền thống dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp ngày càng suy giảm. Năng lực cạnh tranh quốc gia ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo lập, hấp thụ, làm chủ và chuyển hóa tri thức, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo thành các giá trị phát triển.

Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28-7-2026, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, “Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam” xác định: Đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo ra năng lực phát triển mới; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia làm động lực chính. Nghị quyết yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu và đo lường bằng kết quả, tác động; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo(3). Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy quản trị quốc gia trong giai đoạn mới. Việc đặt đột phá về thể chế và quản trị ở vị trí “trước hết” xuất phát từ vai trò đặc biệt của thể chế đối với phát triển. Thể chế xác lập luật chơi, phương thức thực thi quyền lực, động cơ của các chủ thể, quyền hạn, trách nhiệm và mức độ tin cậy của các giao dịch kinh tế - xã hội. Công nghệ không tự động tạo ra quyết định đúng; dữ liệu không tự bảo đảm trách nhiệm giải trình; đổi mới sáng tạo không thể phát triển bền vững nếu thiếu quyền tài sản rõ ràng, cạnh tranh lành mạnh và cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Chất lượng thể chế và quản trị vì thế quyết định khả năng chuyển hóa tri thức, công nghệ, dữ liệu thành năng suất, giá trị gia tăng và phúc lợi xã hội(4).

Quản trị quốc gia là “cơ chế chuyển hóa” hiệu quả các nguồn lực phát triển thành kết quả phát triển. Một quốc gia có nhiều dữ liệu nhưng thiếu thể chế chia sẻ, chuẩn dữ liệu và năng lực phân tích thì dữ liệu chưa trở thành nguồn lực. Một quốc gia có nhiều kết quả nghiên cứu nhưng thiếu cơ chế chuyển giao, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thị trường công nghệ và doanh nghiệp hấp thụ thì tri thức khó trở thành giá trị kinh tế - xã hội. Một quốc gia đầu tư nhiều nền tảng số nhưng giữ nguyên các thủ tục phân mảnh, trùng lặp thì chuyển đổi số có thể chỉ làm cho quy trình cũ vận hành nhanh hơn, chưa tạo ra phương thức quản trị mới.

Từ cách tiếp cận đó, quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là phương thức tổ chức và vận hành quá trình phát triển quốc gia dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân và bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; sử dụng dữ liệu, bằng chứng khoa học, nền tảng số và đổi mới sáng tạo trong hoạch định, tổ chức thực thi, giám sát và điều chỉnh chính sách nhằm tạo lập giá trị công, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, năng lực và chất lượng phát triển của đất nước.

Bản chất của đổi mới mô hình này là đổi mới đồng bộ về tư duy lãnh đạo, cầm quyền, thể chế, tổ chức bộ máy, phương thức vận hành, năng lực cán bộ, công chức, quan hệ giữa các chủ thể và hệ thống đo lường kết quả. Công nghệ là hạ tầng và công cụ; dữ liệu là nguồn lực, tài nguyên chiến lược; đổi mới sáng tạo là nguyên lý vận hành; nhân dân là trung tâm, là động lực, mục tiêu của phát triển. Mọi quyết định liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của người dân phải có căn cứ pháp luật, có chủ thể chịu trách nhiệm, có khả năng giải thích, khiếu nại và giám sát; không thể lấy thuật toán thay thế trách nhiệm chính trị, pháp lý và đạo đức của con người.

Chuyển đổi cốt lõi của quản trị quốc gia trong mô hình phát triển mới

Đổi mới quản trị quốc gia trong giai đoạn hiện nay là quá trình chuyển đổi toàn diện về tư duy phát triển, tổ chức thể chế và phương thức vận hành quốc gia. Mục tiêu là nâng cao năng lực hấp thụ thể chế, tạo điều kiện để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo thực sự trở thành động lực phát triển. Quá trình đó thể hiện tập trung ở 5 chuyển đổi nền tảng sau đây:

Một là, chuyển từ quản lý hành chính, kiểm soát sang quản trị kiến tạo phát triển. Quản lý và kiểm soát là chức năng cần thiết của nhà nước nhằm bảo đảm trật tự và tuân thủ, nhưng thường tập trung vào thẩm quyền, thủ tục và xử lý sự vụ. Trong môi trường phát triển đầy biến động và phức tạp, Nhà nước cần nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, kiến tạo thể chế, điều phối nguồn lực và dẫn dắt các chuyển đổi dài hạn. Vai trò kiến tạo của nhà nước là thiết kế luật chơi, tạo môi trường cạnh tranh, cung cấp hạ tầng nền tảng, xử lý thất bại thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ lợi ích quốc gia. Sự chuyển đổi này đòi hỏi đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao năng lực hoạch định chiến lược và năng lực tổ chức thực hiện của Nhà nước. Mục tiêu không chỉ là duy trì trật tự quản lý, mà phải tạo lập các điều kiện để người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội tham gia sáng tạo và phát triển. Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định mô hình phát triển được vận hành đồng bộ theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Đổi mới quản trị đòi hỏi mỗi chủ thể thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm và cùng hướng vào kết quả phát triển.

Hai là, chuyển từ quản lý đầu vào, thủ tục và mức độ tuân thủ sang quản trị theo mục tiêu, kết quả, tác động và giá trị công.

Một chính sách có thể đúng quy trình nhưng chưa giải quyết được triệt để vấn đề; một dịch vụ có thể trực tuyến nhưng người dân vẫn phải khai báo lại dữ liệu và đi lại nhiều lần. Vì vậy, cần xác định rõ mục tiêu cuối cùng, sản phẩm đầu ra, tác động mong muốn, trách nhiệm của từng chủ thể và cơ chế theo dõi trong toàn bộ vòng đời chính sách. Việc đo lường phải hướng tới năng suất, chất lượng phục vụ, mức độ tiếp cận, tính công bằng, niềm tin xã hội, khả năng giải quyết vấn đề và chất lượng sống. Khi kết quả và tác động trở thành thước đo, trách nhiệm người đứng đầu được xác định rõ hơn, đồng thời tạo không gian để cơ quan lựa chọn phương thức thực hiện hiệu quả thay vì chỉ tuân thủ hình thức.

Ba là, chuyển từ quản trị phân mảnh theo ngành, lĩnh vực và cấp hành chính sang quản trị tích hợp, đa tầng và liên thông. Những thách thức hiện nay như chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, an ninh mạng, phát triển vùng, chuyển đổi năng lượng hay quản trị trí tuệ nhân tạo đều mang tính liên ngành, liên vùng và liên cấp. Trong khi đó, mô hình quản lý truyền thống thường được tổ chức theo ngành, lĩnh vực và địa giới hành chính, dễ dẫn tới tình trạng phân mảnh về thể chế, cát cứ thông tin, chồng chéo trách nhiệm và thiếu phối hợp trong thực thi chính sách. Vì vậy, quản trị quốc gia cần chuyển mạnh sang mô hình tích hợp và liên thông. Việc hoạch định và thực thi chính sách phải dựa trên các mục tiêu phát triển chung, dữ liệu dùng chung, tiêu chuẩn liên thông thống nhất và cơ chế điều phối đủ thẩm quyền. Phân cấp, phân quyền cần gắn với nguồn lực, trách nhiệm giải trình và tiêu chuẩn đầu ra rõ ràng, đồng thời vẫn bảo đảm năng lực điều phối thống nhất đối với các vấn đề liên ngành, liên vùng và có ý nghĩa chiến lược quốc gia.

Bốn là, chuyển từ quản trị dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, bằng chứng và trí tuệ nhân tạo. Dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực chiến lược của quốc gia, là nền tảng của quá trình ra quyết định hiện đại. Trong môi trường phát triển nhiều biến động và bất định, việc đưa ra quyết định chỉ dựa trên kinh nghiệm hoặc báo cáo hành chính truyền thống ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế. Quản trị quốc gia hiện đại phải dựa trên dữ liệu, bằng chứng và năng lực dự báo. Dữ liệu giúp nhận diện xu hướng phát triển, dự báo rủi ro, phân tích nhu cầu xã hội và đánh giá tác động chính sách theo thời gian thực. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phát hiện bất thường, tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, cá thể hóa dịch vụ công và nâng cao hiệu quả quản trị. Tuy nhiên, quản trị dựa trên dữ liệu không đồng nghĩa với việc trao quyền quyết định cho thuật toán. Mọi quyết định công liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân vẫn phải được đặt trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình, khả năng giải thích, quyền khiếu nại và trách nhiệm cuối cùng của con người có thẩm quyền. Nói cách khác, công nghệ là công cụ hỗ trợ nâng cao chất lượng quản trị, nhưng không thể thay thế trách nhiệm chính trị, pháp lý và đạo đức trong quản trị quốc gia.

Năm là, chuyển từ quản lý một chiều của Nhà nước sang quản trị hợp tác, thích ứng và đồng kiến tạo. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong bảo đảm lợi ích công, nhưng không thể tự mình tạo ra toàn bộ tri thức, nguồn lực và giải pháp cần thiết cho phát triển. Cần thiết kế cơ chế để doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia, tổ chức xã hội và người dân tham gia thực chất từ nhận diện vấn đề, thiết kế chính sách, thử nghiệm giải pháp đến giám sát, đánh giá. Dữ liệu mở, tham vấn các bên liên quan, phòng thí nghiệm chính sách, đặt hàng nghiên cứu và hợp tác công - tư là những công cụ quan trọng để huy động nguồn lực xã hội và nâng cao chất lượng chính sách.

Năm chuyển đổi trên được thực hiện trong một chỉnh thể thống nhất. Nếu thúc đẩy dữ liệu mà không đổi mới thể chế, dữ liệu sẽ tiếp tục bị chia cắt; phân quyền mà không xác định trách nhiệm và tiêu chuẩn đầu ra, hệ thống có thể phân tán hơn; mở rộng hợp tác mà thiếu minh bạch và kiểm soát xung đột lợi ích, niềm tin xã hội có thể suy giảm. Nền tảng xuyên suốt phải là sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kỷ luật thực thi, kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và sự tham gia thực chất của nhân dân và xã hội.

Thực tiễn đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam thời gian qua

 Nhiều kỹ sư trẻ tham gia cuộc thi Vietnam AI Innovation Challenge 2026, qua đó phát hiện, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực AI theo hướng thực chiến_Ảnh: sggp.org.vn

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng tạo lập nhiều tiền đề cho đổi mới mô hình phát triển(5). Hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ công trực tuyến có bước phát triển nhanh. Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 của Liên hợp quốc xếp Việt Nam thứ 71 trong 193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 2022 và lần đầu thuộc nhóm có Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử ở mức rất cao(6). Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 xếp Việt Nam thứ 44 trong 139 nền kinh tế; nhóm chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo xếp thứ 50, nhóm chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo xếp thứ 37(7). Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn đầu mối và vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền ba cấp đã mở ra không gian đổi mới phương thức quản trị, rút ngắn chuỗi quyết định và tăng yêu cầu chuẩn hóa quy trình, liên thông dữ liệu.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từng bước được mở rộng với vai trò ngày càng rõ của doanh nghiệp công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và mạng lưới chuyên gia. Sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Việt Nam đã xác định 10 công nghệ chiến lược gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn của quốc gia(8). Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID tiếp tục được hoàn thiện, kết nối và khai thác; nhiều địa phương, doanh nghiệp từng bước ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh và quản lý. Nhiều cơ quan, địa phương đã ứng dụng hiệu quả dữ liệu, chuyển đổi số trong quản lý và cung cấp dịch vụ công(9). Điều đó cho thấy nền tảng của mô hình quản trị mới đã và đang hình thành.

Tuy nhiên, giữa nền tảng được tạo lập và năng lực vận hành còn khoảng cách đáng kể.

Thứ nhất, thể chế trong một số lĩnh vực chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ, mô hình kinh doanh và quan hệ xã hội mới. Không ít quy định vẫn được thiết kế theo tư duy quản lý từng ngành, từng loại hình và từng chủ thể, trong khi kinh tế số và đổi mới sáng tạo có tính liên ngành, xuyên biên giới và biến đổi nhanh. Một số cơ chế khuyến khích thử nghiệm đã được đặt ra nhưng phạm vi, tiêu chí lựa chọn, cơ chế miễn trừ trách nhiệm hợp lý, kiểm soát rủi ro và phương thức đánh giá sau thử nghiệm chưa đồng bộ. Điểm nghẽn không chỉ nằm ở thiếu quy định mà còn ở tình trạng chồng chéo, thiếu ổn định, khoảng cách giữa xây dựng chính sách và tổ chức thi hành.

Thứ hai, phân cấp, phân quyền có mặt chưa gắn đồng bộ với nguồn lực, năng lực thực thi, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực. Có nơi được giao thêm nhiệm vụ nhưng chưa đủ nhân lực đáp ứng, tài chính, dữ liệu và công cụ; có lĩnh vực thẩm quyền phân tán qua nhiều cấp, nhiều ngành. Ngược lại, phân quyền nhưng không đi kèm nguồn lực thực thi, thiếu giám sát và năng lực thực hiện có thể làm gia tăng bất bình đẳng giữa các địa phương. Cốt lõi là phải bảo đảm rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ thời gian, rõ sản phẩm và rõ trách nhiệm.

Thứ ba, dữ liệu còn phân mảnh, chất lượng không đồng đều và chưa được khai thác như nguồn lực, tài nguyên chiến lược. Dữ liệu còn phân tán theo cơ quan, dự án và nền tảng; chất lượng, cấu trúc, định danh, tiêu chuẩn và tần suất cập nhật không đồng đều. Chia sẻ dữ liệu đôi khi vẫn phụ thuộc vào thỏa thuận hành chính giữa từng cơ quan, chưa vận hành ổn định theo quyền, nghĩa vụ và chuẩn kỹ thuật thống nhất. Cần chuyển từ tư duy “sở hữu dữ liệu của cơ quan” sang “quản trị dữ liệu vì lợi ích công, đúng thẩm quyền và có kiểm soát”. Khi đó, dữ liệu trở thành hạ tầng dùng chung, là tài nguyên chiến lược của quản trị quốc gia.

Thứ tư, năng lực điều phối và tổ chức thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu quản trị các vấn đề phức hợp, mang tính hệ thống. Báo cáo, kế hoạch và nhiệm vụ liên ngành được phân chia theo chức năng của từng cơ quan mà thiếu một chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả chung. Dữ liệu giám sát chưa luôn được cập nhật theo thời gian thực; đánh giá công việc còn thiên về tiến độ thủ tục; cơ chế điều chỉnh nhanh khi chính sách không tạo ra kết quả còn hạn chế. Nhận định “khâu yếu nhất hiện nay là tổ chức thực hiện” trong sơ kết Nghị quyết số 57-NQ/TW có ý nghĩa rộng hơn đối với toàn bộ quá trình đổi mới quản trị quốc gia.

Thứ năm, năng lực đội ngũ chưa theo kịp yêu cầu mới. Quản trị trong môi trường số đòi hỏi tư duy hệ thống, linh hoạt, thích ứng, đổi mới sáng tạo, phân tích dữ liệu, thiết kế chính sách, quản trị rủi ro và phối hợp mạng lưới. Trong khi đó, đào tạo và đánh giá còn nặng về kiến thức, văn bằng, chưa gắn chặt với năng lực giải quyết vấn đề và kết quả công việc. Tâm lý ưu tiên an toàn, ngại thử nghiệm, sợ trách nhiệm khiến công nghệ mới nhiều khi chỉ hỗ trợ tác nghiệp, chưa tạo ra đổi mới trong quyết định và tổ chức thực thi.

Thứ sáu, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chưa liên kết đủ chặt. Quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu còn thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro, lợi ích; kết quả nghiên cứu khó chuyển giao; mua sắm công chưa phát huy đầy đủ vai trò tạo thị trường cho giải pháp mới.

Thứ bảy, hệ thống đo lường, trách nhiệm giải trình và niềm tin số chưa hoàn thiện. Nhiều chỉ tiêu vẫn đo khối lượng công việc hơn là kết quả và tác động; chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phối hợp, trải nghiệm người sử dụng, chi phí tuân thủ và giá trị công. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chia sẻ dữ liệu và cá thể hóa dịch vụ nếu thiếu minh bạch, an toàn và khả năng giải trình có thể tạo rủi ro phân biệt đối xử, xâm phạm quyền riêng tư hoặc làm suy giảm niềm tin. Nghịch lý chủ yếu hiện nay không chỉ là thiếu công nghệ, mà là công nghệ, dữ liệu và các chủ trương đổi mới chưa được kết nối đầy đủ bằng một cơ chế quản trị đồng bộ. Trọng tâm tiếp theo phải chuyển từ xây dựng nền tảng sang tạo ra năng lực vận hành; từ số hóa từng phần sang tái thiết kế hệ thống; từ hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra kết quả phát triển.

Quan điểm và một số giải pháp đổi mới quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới

Về quan điểm

Một là, đổi mới quản trị quốc gia phải được nhìn nhận là quá trình chuyển đổi thể chế và hệ thống, không phải chương trình ứng dụng công nghệ hay cải cách hành chính đơn lẻ. Công nghệ phải phục vụ mục tiêu phát triển, pháp quyền, hiệu lực, hiệu quả và quyền lợi chính đáng của nhân dân.

Hai là, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Đảng lãnh đạo về chiến lược, định hướng giá trị, lựa chọn ưu tiên, công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát; Nhà nước thể chế hóa, tổ chức thực thi, điều phối và bảo vệ lợi ích công; thị trường thúc đẩy cạnh tranh, phân bổ nguồn lực và đổi mới sáng tạo; nhân dân là chủ thể, trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển. Đổi mới quản trị phải góp phần kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; mở rộng công khai, minh bạch, giám sát và phản biện xã hội, không làm suy giảm vai trò và trách nhiệm của bất kỳ chủ thể nào.

Ba là, thể chế phải đi trước hoặc song hành với công nghệ. Đối với lĩnh vực mới, cần chuyển từ tư duy “không quản được thì cấm” sang quản lý dựa trên rủi ro, thử nghiệm có kiểm soát và hậu kiểm thông minh; nhưng không tuyệt đối hóa hậu kiểm. Những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, sức khỏe, tính mạng, tài sản và quyền cơ bản vẫn phải duy trì tiền kiểm phù hợp. Mọi đổi mới phải gắn với kiểm soát quyền lực, bảo vệ dữ liệu, khả năng giải thích và trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền.

Bốn là, người dân là trung tâm, chủ thể, động lực, mục tiêu của sự phát triển; bảo đảm bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Dịch vụ phải được thiết kế theo nhu cầu và vòng đời của người sử dụng, không theo sự thuận tiện của cơ quan quản lý. Giá trị cuối cùng của quản trị không chỉ là hiệu suất, mà còn là công bằng, nhân văn, niềm tin và hạnh phúc của nhân dân.

Năm là, thực hiện đổi mới có trọng tâm, lộ trình và khả năng học hỏi. Những cải cách lớn cần được thí điểm có kiểm soát, đánh giá độc lập, công khai kết quả và nhân rộng trên cơ sở bằng chứng; kết hợp mở cửa, hợp tác quốc tế với tự chủ công nghệ, an ninh, an toàn và chủ quyền số.

Về giải pháp trọng tâm trong thời gian tới

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và năng lực quản trị chiến lược quốc gia. Vai trò lãnh đạo của Đảng cần được thể hiện tập trung ở năng lực định hướng chiến lược, lựa chọn ưu tiên, kiến tạo thể chế, tổ chức thực thi, kiểm tra, giám sát và tập hợp sức mạnh của toàn xã hội. Cần đổi mới quá trình xây dựng và triển khai nghị quyết theo hướng thống nhất từ chủ trương đến hành động, từ mục tiêu đến kết quả; xác định rõ nhiệm vụ, lộ trình, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm của từng cơ quan, người đứng đầu. Hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo chuyển từ báo cáo định kỳ, nhiều tầng nấc sang dữ liệu cập nhật, có khả năng đối chiếu, cảnh báo và theo dõi kết quả. Công tác cán bộ phải coi hiệu quả công việc, năng lực đổi mới và khả năng giải quyết vấn đề là thước đo chủ yếu; khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm né tránh, đùn đẩy, trì trệ và lợi dụng đổi mới để trục lợi.

Thứ hai, tạo đột phá về thể chế, đồng thời nâng cao năng lực tổ chức thi hành pháp luật và kỷ luật thực thi. Tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, ổn định nhưng có khả năng thích ứng. Xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn, dựa trên dữ liệu và đánh giá tác động; coi tổ chức thi hành là một bộ phận không tách rời của quá trình thiết kế chính sách. Đối với lĩnh vực công nghệ và mô hình kinh doanh mới, cần thiết lập khung pháp lý cho thử nghiệm có kiểm soát, xác định rõ phạm vi, thời hạn, tiêu chí đánh giá và trách nhiệm xử lý rủi ro. Cần phân biệt rủi ro phát sinh từ hành vi vụ lợi, vi phạm với rủi ro khách quan của quá trình đổi mới được thực hiện đúng thẩm quyền, minh bạch, vì lợi ích chung; qua đó vừa khuyến khích cán bộ dám đổi mới, vừa ngăn ngừa lợi dụng đổi mới để né tránh trách nhiệm. Mở rộng quản lý dựa trên rủi ro, lựa chọn tiền kiểm, hậu kiểm phù hợp; giảm điều kiện không cần thiết, hạn chế xin - cho, tăng kiểm tra bằng dữ liệu, trách nhiệm giải trình. Phân cấp, phân quyền phải đi cùng ngân sách, nhân lực, dữ liệu và công cụ; quy định rõ trách nhiệm cuối cùng trong nhiệm vụ liên ngành và thiết lập cơ chế điều phối theo mục tiêu, vùng, chương trình ưu tiên.

Thứ ba, xây dựng quản trị dữ liệu và hạ tầng số thống nhất, an toàn, có khả năng liên thông. Dữ liệu phải được xác lập là tài sản và hạ tầng chiến lược của quốc gia, được quản trị xuyên suốt vòng đời từ tạo lập, chuẩn hóa, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, khai thác đến hủy bỏ. Cần thực hiện thống nhất kiến trúc dữ liệu quốc gia, danh mục dữ liệu dùng chung, tiêu chuẩn kỹ thuật, mã định danh và cơ chế bảo đảm chất lượng; xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm về tính đúng, đủ, sạch, sống của từng loại dữ liệu. Thực hiện thực chất nguyên tắc người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần; cơ quan nhà nước có trách nhiệm khai thác dữ liệu đã có theo đúng thẩm quyền. Xóa bỏ cát cứ dữ liệu bằng cơ chế chia sẻ mặc định trong khu vực công, trừ trường hợp pháp luật quy định hạn chế, loại trừ. Phát triển dữ liệu mở có chọn lọc để thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và giám sát xã hội; đồng thời bảo đảm định danh, phân quyền truy cập, lưu vết và kiểm toán việc sử dụng dữ liệu. Hạ tầng số, năng lực tính toán, nền tảng trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và Trung tâm dữ liệu quốc gia phải được phát triển như hạ tầng chiến lược, có khả năng kết nối, dự phòng và phục hồi. Ưu tiên nền tảng dùng chung, tránh đầu tư phân tán; tích hợp an ninh mạng, an toàn dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư ngay từ khâu thiết kế.

Thứ tư, tái thiết kế mô hình vận hành của khu vực công. Chuyển đổi số phải bắt đầu từ rà soát mục tiêu và quy trình, loại bỏ bước trung gian, giấy tờ và yêu cầu dữ liệu không cần thiết trước khi số hóa. Dịch vụ công cần được thiết kế theo sự kiện đời sống và nhu cầu của người dân, doanh nghiệp, hướng tới cung cấp chủ động, cá thể hóa, không phụ thuộc địa giới hành chính. Dịch vụ công phải có khả năng tiếp cận đa kênh; người không có thiết bị, kỹ năng hoặc điều kiện sử dụng dịch vụ số, nhóm yếu thế vẫn được hỗ trợ, không bị loại trừ được thể hiện ngay trong quá trình thiết kế và thực thi chính sách. Nơi dữ liệu đã liên thông, chính xác và đủ tin cậy, cơ quan nhà nước phải chủ động xử lý, không yêu cầu người dân chứng minh lại thông tin Nhà nước đã có. Đối với chương trình liên ngành, cần tổ chức nhóm thực thi có đại diện các cơ quan liên quan, được giao mục tiêu, dữ liệu, nguồn lực và quyền quyết định rõ. Thanh tra, kiểm tra phải dựa nhiều hơn vào phân tích rủi ro và dữ liệu, tránh trùng lặp, giảm chi phí tuân thủ. Hệ thống quản trị cần có vòng phản hồi ngắn để điều chỉnh chính sách kịp thời, thay vì chờ tổng kết dài kỳ.

Thứ năm, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực quản trị trong kỷ nguyên số. Khung năng lực cần bổ sung tư duy hệ thống, năng lực thích ứng, đổi mới sáng tạo; phân tích dữ liệu, thiết kế chính sách, quản trị dự án, quản trị rủi ro, phối hợp đa chủ thể và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với tình huống thực tiễn, dữ liệu thật và bài toán của cơ quan; tăng học tập qua dự án, thực hành và đánh giá sản phẩm. Cần đổi mới tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và đãi ngộ theo vị trí việc làm, năng lực và kết quả đầu ra; tạo cơ chế linh hoạt thu hút chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực công nghệ vào khu vực công. Xây dựng văn hóa công vụ coi học hỏi, hợp tác, sáng tạo và trách nhiệm là giá trị cốt lõi; phân định rõ đổi mới có trách nhiệm với tùy tiện, lợi dụng; bảo vệ người dám làm đúng vì lợi ích chung nhưng không hợp thức hóa sai phạm.

Thứ sáu, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và quản trị hợp tác. Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang đặt hàng bài toán chiến lược và tạo thị trường cho giải pháp mới. Mua sắm công đổi mới cần được sử dụng như công cụ thúc đẩy công nghệ, cho phép thí điểm sản phẩm, dịch vụ chưa có tiền lệ nhưng có khả năng tạo giá trị công, đi kèm tiêu chuẩn minh bạch và quản trị rủi ro. Các chương trình nghiên cứu phải gắn với nhu cầu phát triển và doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm không gian cho nghiên cứu cơ bản, công nghệ lõi và lĩnh vực có ý nghĩa tự chủ chiến lược. Cần phát triển nền tảng thử nghiệm, phòng thí nghiệm chính sách và trung tâm đổi mới mở để cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia và người dân cùng thiết kế, thử nghiệm, đánh giá giải pháp. Cơ chế sở hữu trí tuệ, chia sẻ lợi ích và thương mại hóa kết quả nghiên cứu phải rõ ràng; dữ liệu công, hạ tầng tính toán và nguồn lực tài chính cần được tiếp cận theo cơ chế minh bạch, cạnh tranh, ưu tiên nhiệm vụ có khả năng lan tỏa.

Thứ bảy, củng cố niềm tin số, trách nhiệm giải trình và hệ thống đo lường kết quả. Cần xây dựng khung chỉ số quản trị quốc gia phản ánh chất lượng thể chế, năng lực dữ liệu, khả năng phối hợp, chất lượng thực thi, mức độ minh bạch, trải nghiệm người sử dụng, kết quả và tác động phát triển. Bộ chỉ số phải khai thác tối đa dữ liệu tự động từ quá trình vận hành, cho phép so sánh theo thời gian và giữa các cơ quan, địa phương; có kiểm định độc lập để hạn chế chạy theo thành tích. Công khai phải đi từ công khai văn bản sang công khai dữ liệu, tiêu chuẩn, tiến độ, kết quả và lý do của quyết định. Đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo trong khu vực công, cần đánh giá tác động, kiểm thử thiên lệch, kiểm toán thuật toán và lưu vết quyết định; công dân phải được biết khi quyết định có sử dụng hệ thống tự động, được yêu cầu giải thích và có kênh khiếu nại hiệu quả. Niềm tin số chỉ được tạo dựng bằng trải nghiệm an toàn, minh bạch, công bằng và hữu ích.

*

Đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu đổi mới tương ứng về quản trị quốc gia. Đổi mới quản trị quốc gia phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, thể chế và cách thức tổ chức thực hiện; lấy chất lượng phục vụ nhân dân, năng lực giải quyết vấn đề, hiệu quả sử dụng nguồn lực và tác động phát triển làm thước đo. Thực hiện thành công chuyển đổi này sẽ tạo ra “năng lực hấp thụ thể chế”, biến tri thức, dữ liệu, công nghệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam thành năng suất, giá trị công, năng lực tự chủ và sức mạnh quốc gia; góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

PGS, TS Nguyễn Bá Chiến - TS Trương Quốc Việt

Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương - Học viện Hành chính và Quản trị công

-----------------------

(1) World Bank (2026): World Development Indicators: GDP (current US$) - Viet Nam; GDP per capita (current US$) - Viet Nam (tạm dịch: Các chỉ số phát triển thế giới: GDP (USD hiện hành) - Việt Nam; GDP bình quân đầu người (USD hiện hành) - Việt Nam), https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.CD?locations=VN

(2) Xem: Vietnam’s 15 comprehensive strategic partners (tạm dịch: 15 đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam), ngày 4-2-2026, https://en.vietnamplus.vn/vietnams-15-comprehensive-strategic-partners-post337074.vnp

(3) Xem: Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28-7-2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, “Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”

(4) Xem: Douglass C. North (1990), Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press; Daron Acemoglu và James A. Robinson (2012), Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty, Crown Business

(5) Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia, là điều kiện tiên quyết và thời cơ tốt nhất để Việt Nam phát triển giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.  Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt yêu cầu đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, mở đường cho kiến tạo phát triển. Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục làm rõ vai trò của kinh tế tư nhân, doanh nghiệp và thị trường trong huy động nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo

(6) United Nations Department of Economic and Social Affairs (2024), UN E-Government Survey 2024: Accelerating Digital Transformation for Sustainable Development, United Nations, New York

(7) World Intellectual Property Organization (2025), Global Innovation Index 2025, WIPO, Geneva

(8) Xem: Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 10-7-2026, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thong-bao-so-24-tb-cqttbcd-ket-luan-cua-dong-chi-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-so-ket-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-so-57-nq-tw-119260710083249224.htm

(9) Tổng đài 1022 của Thành phố Hồ Chí Minh, ứng dụng Huế-S tại thành phố Huế, ứng dụng IHanoi tại thành phố Hà Nội; ứng dụng “Danang Smart City”

 

Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài Ủy viên Bộ Chính trị,
Bí thư Trung ương Đảng,
Bí thư Đảng ủy Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch
Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập
Tìm kiếm văn bản