 |
| Thông qua việc phát hiện ra quy luật vận động của lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C. Mác và Ph. Ăngghen đặt nền móng khoa học vững chắc cho cuộc đấu tranh tự giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. (Trong tranh: C. Mác và Ph. Ăng-ghen) _Nguồn: Tư liệu |
Quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về sự lãnh đạo của đảng cộng sản, vai trò quản lý của nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Trong tiến trình phát triển tư tưởng chính trị nhân loại, sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong việc nhận thức về bản chất của quyền lực xã hội và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị. Thông qua việc phát hiện ra quy luật vận động của lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C. Mác và Ph. Ăngghen đặt nền móng khoa học vững chắc cho cuộc đấu tranh tự giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong hệ thống lý luận đó, vấn đề mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của đảng cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; vai trò quản lý của nhà nước và việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân giữ vị trí trung tâm, phản ánh quy luật vận động nội tại của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Một là, quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về vai trò, sứ mệnh, nội dung lãnh đạo của đảng cộng sản
Một trong những cống hiến lý luận vĩ đại nhất của C. Mác và Ph. Ăngghen đối với phong trào công nhân quốc tế là xây dựng học thuyết khoa học về chính đảng của giai cấp công nhân. Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vào nghiên cứu xã hội tư bản chủ nghĩa, hai ông đã luận giải một cách toàn diện về sự ra đời, bản chất, vai trò và sứ mệnh lịch sử của đảng cộng sản. Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng chính trị, vấn đề chính đảng của giai cấp công nhân được đặt trên nền tảng khoa học, phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử và cuộc đấu tranh giai cấp.
Trước hết, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định sự ra đời của đảng cộng sản là một tất yếu khách quan của lịch sử. Sự ra đời của đảng là sản phẩm tất yếu của việc giải quyết các mâu thuẫn nội tại trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Một mặt, sự phát triển của nền đại công nghiệp làm cho giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng; mặt khác, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (năm 1848), C. Mác và Ph. Ăngghen khái quát quy luật vận động lịch sử: “Lịch sử của tất cả các xã hội tồn tại từ trước tới nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”(1). Luận điểm nổi tiếng này không chỉ phản ánh quy luật phát triển của các xã hội có giai cấp mà còn chỉ ra cơ sở khách quan cho sự ra đời của đảng cộng sản. Khi cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản phát triển đến một trình độ nhất định, phong trào công nhân không thể dừng lại ở hình thức tự phát, phân tán mà bắt buộc phải phát triển thành phong trào chính trị tự giác, có tổ chức. Từ yêu cầu đó, đảng cộng sản ra đời với tư cách là lực lượng chính trị tiên phong, có nhiệm vụ thống nhất ý chí, tổ chức lực lượng và lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa.
Cùng với nguồn gốc ra đời, C. Mác và Ph. Ăngghen đã làm sáng tỏ bản chất giai cấp sâu sắc của đảng cộng sản. Các ông khẳng định, đảng cộng sản không phải là một lực lượng đứng trên hay đứng ngoài giai cấp công nhân, càng không theo đuổi những lợi ích cục bộ, riêng mình. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông viết: “Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt đối lập với các đảng công nhân khác”(2). Điều này có nghĩa, đảng là bộ phận ưu tú nhất, giác ngộ nhất và có tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích căn bản, lâu dài của toàn bộ giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mọi hoạt động của đảng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân và hướng tới mục tiêu giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột. Điểm khác biệt căn bản giữa những người cộng sản với các tổ chức khác không nằm ở mục tiêu trước mắt mà ở trình độ nhận thức khoa học về quy luật phát triển xã hội.
Từ bản chất giai cấp, C. Mác và Ph. Ăngghen xác định rõ vai trò và sứ mệnh lịch sử của đảng cộng sản với tư cách là đội tiên phong chính trị, bộ tham mưu chiến đấu có chức năng giáo dục, tổ chức và lãnh đạo quần chúng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông nhấn mạnh: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”(3). Luận điểm này chỉ ra vai trò quyết định của đảng trong việc biến giai cấp công nhân từ một lực lượng kinh tế thành một lực lượng chính trị độc lập, có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giành chính quyền và thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân. Hơn thế nữa, sứ mệnh của đảng không kết thúc khi giành được chính quyền mà còn tiếp tục lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động từng bước xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng quan hệ sản xuất mới, phát triển nền dân chủ và tạo tiền đề tiến tới một xã hội không còn giai cấp.
Hai là, quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung quản lý của nhà nước
Bên cạnh học thuyết về đảng, một cống hiến lý luận quan trọng khác của C. Mác và Ph. Ăngghen đối với khoa học chính trị là xây dựng học thuyết duy vật lịch sử về nguồn gốc, bản chất, vai trò và chức năng của nhà nước. Bác bỏ các quan điểm duy tâm, siêu hình cho rằng nhà nước là thiết chế vĩnh viễn do thần linh hay khế ước tự nhiên tạo ra, C. Mác và Ph. Ăngghen luận giải nhà nước dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Nhà nước là một phạm trù lịch sử, chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định gắn liền với sự ra đời của chế độ tư hữu, sự phân hóa giai cấp và các mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa. Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Ph. Ăngghen khẳng định nguyên lý: “Nhà nước là sản phẩm của xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định”(4). Luận điểm này chỉ rõ nhà nước không tồn tại vĩnh viễn cùng xã hội loài người. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa có chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp, việc quản lý cộng đồng dựa vào phong tục, tập quán và uy tín. Chỉ khi lực lượng sản xuất phát triển, của cải dư thừa xuất hiện, chế độ tư hữu được xác lập làm xã hội phân hóa thành các giai cấp có lợi ích đối lập, nhà nước mới ra đời với tư cách một bộ máy quyền lực đặc biệt nhằm duy trì trật tự và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Ph. Ăngghen tiếp tục làm sáng tỏ bản chất giai cấp của nhà nước: “Nhà nước không phải là cái gì khác hơn là quyền lực tổng hợp có tổ chức của những giai cấp hữu sản, những địa chủ và nhà tư bản, đối lập với những giai cấp bị bóc lột, những nông dân và công nhân”(5). Như vậy, nhà nước không phải là lực lượng đứng trên xã hội hay đại diện cho lợi ích chung hòa hợp, mà là công cụ bạo lực có tổ chức của giai cấp nắm quyền lực kinh tế. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã bóc trần bản chất của bộ máy nhà nước tư sản: “Chính quyền nhà nước hiện đại chẳng qua chỉ là một ủy ban quản lý những công việc chung của toàn bộ giai cấp tư sản”(6). Tuy nhiên, C. Mác và Ph. Ăngghen không chỉ dừng lại ở việc phê phán nhà nước bóc lột mà còn phát triển học thuyết về nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi lật đổ chính quyền tư sản, giai cấp vô sản không thể sử dụng nguyên trạng bộ máy nhà nước cũ mà phải đập tan nó để xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản. Trong Phê phán Cương lĩnh Gôta, C. Mác khẳng định: “Nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(7). Nhà nước vô sản mang bản chất của giai cấp công nhân nhưng đại diện cho lợi ích của đa số nhân dân lao động. Theo đó, nhà nước vô sản có vai trò vừa là công cụ trấn áp sự chống đối của các thế lực bóc lột cũ, vừa là công cụ tổ chức, quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội và xây dựng chế độ mới.
Một nội dung đặc sắc trong học thuyết Mác-xít về nhà nước là quan điểm về sự tiêu vong của nhà nước. Hai ông cho rằng, nhà nước là sản phẩm của đối kháng giai cấp, nên khi xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt đến trình độ phát triển hoàn thiện, chế độ tư hữu bị xóa bỏ hoàn toàn, giai cấp và đối kháng giai cấp không còn, thì nhà nước với tư cách là bộ máy cưỡng chế đặc biệt sẽ tự mất đi cơ sở tồn tại. Do đó, Ph.Ăngghen đã đưa ra luận điểm nổi tiếng trong tác phẩm Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học: “Nhà nước không “bị xóa bỏ”, nó tự tiêu vong”(8). Luận điểm này thể hiện tính nhân văn sâu sắc, khẳng định mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội tự do, trong đó việc quản lý con người được thay thế bằng việc quản lý các quá trình sản xuất và điều hành công việc xã hội dựa trên sự tự giác, hợp tác ở trình độ rất cao.
Từ việc luận giải nguồn gốc và bản chất đó, học thuyết Mác hình thành hệ thống quan điểm hoàn chỉnh về nội dung quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nội dung quản lý của nhà nước bao quát toàn diện đời sống xã hội: từ quản lý kinh tế, thiết lập quan hệ sản xuất mới; quản lý xã hội, văn hóa, giáo dục; đến bảo đảm an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Sự quản lý này được thực hiện bằng công cụ pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vì mục tiêu tối thượng là phục vụ lợi ích của nhân dân lao động.
Ba là, quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về vai trò, quyền và lợi ích của nhân dân, nhất là quyền làm chủ của nhân dân, nội dung và hình thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Trong toàn bộ hệ thống lý luận Mác-xít, vấn đề con người và quần chúng nhân dân giữ vị trí trung tâm. Kế thừa những giá trị tiến bộ của tư tưởng nhân văn trong lịch sử, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xây dựng quan niệm khoa học về vai trò sáng tạo lịch sử của nhân dân trên nền tảng duy vật lịch sử. Quần chúng nhân dân không chỉ là lực lượng đông đảo mà còn là chủ thể sáng tạo chân chính của lịch sử, quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự biến đổi các quan hệ xã hội và tiến trình văn minh nhân loại.
Trong tác phẩm Gia đình thần thánh, C. Mác và Ph. Ăngghen bác bỏ quan niệm duy tâm cho rằng lịch sử do thần linh hoặc các cá nhân kiệt xuất tạo ra: “Lịch sử không làm gì hết, nó “không có tính phong phú vô cùng tận nào cả”, nó “không chiến đấu ở những trận nào cả”! Không phải “lịch sử”, mà chính con người, con người thực sự, con người sống mới là kẻ làm ra tất cả những cái đó, có tất cả những cái đó và chiến đấu cho tất cả những cái đó”(9). Luận điểm này khẳng định hoạt động lao động sản xuất và đấu tranh xã hội của nhân dân là động lực trực tiếp tạo nên những biến đổi lịch sử.
Trước hết, nhân dân là lực lượng cơ bản của nền sản xuất xã hội. Thông qua lao động, nhân dân tạo ra của cải vật chất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội; đồng thời thúc đẩy sự phát triển của công cụ lao động, tri thức, khoa học, công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất. Nhân dân còn là chủ thể sáng tạo, lưu giữ và truyền bá các giá trị văn hóa, đạo đức, khoa học và tinh thần. Vai trò của các cá nhân kiệt xuất chỉ có thể được phát huy trong những điều kiện lịch sử nhất định và khi phản ánh được nhu cầu, lợi ích, khát vọng của quần chúng.
Từ việc khẳng định vai trò sáng tạo lịch sử của nhân dân, C. Mác và Ph. Ăngghen làm rõ quyền, lợi ích và sứ mệnh làm chủ của nhân dân trong tiến trình cách mạng. Mọi cuộc cách mạng chân chính đều hướng tới giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân - lực lượng đại diện cho lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng lao động: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thật sự cách mạng”(10). Trong Điều lệ của Hội Liên hiệp Công nhân quốc tế, C. Mác tiếp tục khẳng định: “Việc giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”(11). Không một lực lượng nào có thể làm thay hoặc ban phát quyền tự do, quyền làm chủ cho nhân dân; sự nghiệp giải phóng phải do chính nhân dân thực hiện.
Quyền và lợi ích của nhân dân được C. Mác và Ph. Ăngghen xem xét trong những quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội hiện thực, không dừng lại ở những tuyên bố pháp lý mang tính hình thức. Hai ông không phủ nhận giá trị tiến bộ của các quyền tự do, bình đẳng, dân chủ do cách mạng tư sản xác lập, nhưng chỉ ra giới hạn của những quyền đó trong xã hội dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Bình đẳng trước pháp luật chưa thể trở thành bình đẳng thực chất nếu còn bất bình đẳng sâu sắc về sở hữu, thu nhập và khả năng chi phối quyền lực. Tự do pháp lý cũng chưa bảo đảm tự do thực tế nếu người lao động không có những điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện quyền của mình.
Bởi vậy, quyền của nhân dân phải được bảo đảm toàn diện. Về chính trị, nhân dân có quyền tham gia xây dựng và thực thi quyền lực nhà nước, lựa chọn người đại diện, kiểm tra, giám sát và bãi miễn người không còn xứng đáng. Về kinh tế, nhân dân có quyền lao động, tham gia quản lý sản xuất và được hưởng thành quả lao động tương xứng. Về văn hóa, xã hội, nhân dân có quyền học tập, tiếp cận tri thức, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, được bảo đảm các điều kiện sống và phát triển toàn diện. Lợi ích căn bản, lâu dài của nhân dân là xóa bỏ những quan hệ làm nảy sinh áp bức, bóc lột và tha hóa, hướng tới một xã hội trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.
Hạt nhân trong quan niệm của C. Mác và Ph. Ăngghen là quyền làm chủ của nhân dân. Đó là quyền tự quyết định vận mệnh của mình, trực tiếp hoặc thông qua những đại diện do mình lựa chọn để tham gia tổ chức, quản lý nhà nước và xã hội. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông xác định bước đầu tiên của cách mạng công nhân là đưa giai cấp vô sản lên địa vị cầm quyền, “giành lấy dân chủ”. Thực chất của quá trình này là chuyển quyền lực từ thiểu số bóc lột sang đại đa số nhân dân lao động. Quyền làm chủ về chính trị phải gắn với quyền làm chủ về kinh tế, văn hóa và xã hội; nếu nhân dân có quyền bầu cử nhưng không làm chủ những điều kiện cơ bản của đời sống thì quyền làm chủ vẫn chưa đầy đủ.
Từ thực tiễn Công xã Paris năm 1871, C. Mác và Ph. Ăngghen đã phác thảo những hình thức cơ bản để thực hiện quyền làm chủ. Ph. Ăngghen chỉ rõ: “Công xã đã phải ngay từ đầu nhận thức rằng giai cấp công nhân, một khi đã nắm lấy quyền lãnh đạo, thì không thể tiếp tục quản lý bộ máy nhà nước cũ được nữa... phải làm sao cho nhà nước và các cơ quan nhà nước biến từ kẻ phục vụ xã hội thành người phục vụ xã hội”(12). Theo đó, bộ máy nhà nước phải thuộc về nhân dân, phục vụ nhân dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân.
Những hình thức chủ yếu để phát huy quyền làm chủ gồm: Thực hiện bầu cử phổ thông; lựa chọn các đại biểu thực sự đại diện cho lợi ích của nhân dân; bảo đảm đại biểu, viên chức chịu trách nhiệm trước cử tri; thực hiện quyền kiểm tra, giám sát và bãi miễn; xóa bỏ đặc quyền, đặc lợi; phát triển các cộng đồng tự quản, tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội và hợp tác xã của người lao động. Dân chủ đại diện phải kết hợp với dân chủ trực tiếp; quyền tham gia quyết định phải gắn với quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
Như vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen đã đưa nhân dân từ vị trí đối tượng bị quản lý hoặc thụ hưởng thụ động lên vị trí chủ thể của lịch sử, quyền lực và phát triển. Nhân dân không chỉ sáng tạo lịch sử mà còn phải làm chủ những thành quả của lịch sử; không chỉ được chăm lo lợi ích mà phải trực tiếp xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình. Quyền làm chủ chỉ trở thành hiện thực khi được bảo đảm đồng bộ bằng cơ sở kinh tế, thể chế dân chủ, cơ chế kiểm soát quyền lực và năng lực tham gia của nhân dân.
Bốn là, quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của đảng, vai trò quản lý của nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Từ việc nghiên cứu riêng biệt ba thành tố, học thuyết Mác - Ăng-ghen đi đến khẳng định mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ trong cơ chế vận hành của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Đây là ba chủ thể có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau trong quá trình tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực xã hội.
Trong chỉnh thể thống nhất đó: (1) Đảng cộng sản giữ vai trò lãnh đạo định hướng chính trị, xác định đường lối, mục tiêu và phương pháp cách mạng. (2) Nhà nước là công cụ tập trung, thể chế hóa đường lối của đảng thành hiến pháp, pháp luật và tổ chức quản lý xã hội bằng quyền lực công. (3) Nhân dân là chủ thể tối cao của mọi quyền lực, là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng và là mục tiêu phục vụ của cả đảng và nhà nước. Tính tất yếu của mối quan hệ này xuất phát từ chính bản chất của cuộc đấu tranh cách mạng, như C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ ra trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Bước thứ nhất trong cách mạng công nhân là giai cấp công nhân phải tự mình nâng lên thành giai cấp thống trị, phải giành lấy dân chủ”(13).
Sự lãnh đạo của đảng là điều kiện tiên quyết để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho nhà nước thực hiện đúng bản chất phục vụ nhân dân. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các ông đã làm rõ vị trí tiên phong, dẫn dắt của đảng: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp công nhân ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào đại chúng”(14).
Tuy nhiên, sự lãnh đạo của đảng không đồng nghĩa với việc bao biện, làm thay chức năng quản lý của nhà nước hay đứng trên nhân dân. Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng đường lối, công tác tư tưởng, tổ chức và sự nêu gương của đội ngũ đảng viên. Nhà nước trên cơ sở đường lối của Đảng sẽ ban hành pháp luật và quản lý bằng pháp luật. Mọi hoạt động quản lý của nhà nước phải bám sát đường lối của đảng và phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân. Ngược lại, thực tiễn quản lý của nhà nước và đời sống của nhân dân là cơ sở thực chứng để đảng bổ sung, phát triển đường lối.
Đặc biệt, sự lãnh đạo của đảng và sự quản lý của nhà nước chỉ thực sự có giá trị khi hướng tới mục tiêu tối thượng: bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Mục tiêu của xã hội mới đã được C. Mác và Ph. Ăngghen đúc kết ngắn gọn nhưng triết lý trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Thay cho xã hội tư bản cũ với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, xuất hiện một liên hợp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(15). Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là thước đo kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của đảng và nhà nước. Mối quan hệ giữa ba thành tố mang tính hai chiều: Đảng lãnh đạo vì nhân dân, nhà nước quản lý để phục vụ nhân dân, còn nhân dân là nguồn gốc sức mạnh và là chủ thể kiểm soát quyền lực.
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Nhà máy mẫu cho công nghệ sản xuất tiên tiến (Singapore) _Ảnh: TTXVN |
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong bối cảnh chuyển đổi số
Trong tiến trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự sáng tạo không chỉ thể hiện ở việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động của từng chủ thể, mà quan trọng hơn là từng bước hình thành phương thức lãnh đạo, quản lý và thực hành dân chủ dựa trên nền tảng số, dữ liệu số và sự kết nối trực tiếp, thường xuyên giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng đang từng bước được thực hiện bằng phương thức mới. Đảng lãnh đạo không chỉ thông qua nghị quyết, tổ chức và công tác cán bộ, mà còn thông qua dữ liệu, nền tảng số, hệ thống giám sát tiến độ và khả năng tương tác trực tuyến. Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan đảng giai đoạn 2025 - 2028 đặt mục tiêu xây dựng hạ tầng số thống nhất; hình thành kho dữ liệu tập trung; số hóa hồ sơ đảng viên, cán bộ, tổ chức bộ máy; triển khai sổ tay đảng viên điện tử, phòng họp không giấy, hệ thống theo dõi thực hiện nghị quyết và trợ lý ảo. Riêng trong năm 2025, Đề án đặt mục tiêu hoàn thành 50% số nền tảng, ứng dụng số; 100% số văn bản không mật được ký số, gửi, nhận và xử lý trên môi trường số; 100% số người sử dụng hệ sinh thái thông tin của Đảng được định danh và xác thực tập trung; 40% số dữ liệu về tổ chức bộ máy, biên chế, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức được số hóa. Điều này tạo điều kiện để nâng cao chất lượng dự báo, hoạch định chủ trương, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực.
Thứ hai, quản lý nhà nước đang chuyển dần từ mô hình hành chính truyền thống sang quản trị số, quản trị dựa trên dữ liệu và hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp. Chương trình chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06 và việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh điện tử VNeID đã tạo ra thay đổi căn bản trong quan hệ giữa cơ quan công quyền với người dân. Nhiều giấy tờ được tích hợp, nhiều thủ tục được thực hiện trực tuyến; dữ liệu dân cư được kết nối với thuế, bảo hiểm, ngân hàng, y tế, giáo dục và dịch vụ công. Đề án 06 được đánh giá góp phần tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi phí xã hội mỗi năm. Đến năm 2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 36,8%; 100% số xã, phường có hạ tầng băng rộng cáp quang; tốc độ internet di động của Việt Nam thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới. Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử năm 2024 xếp thứ 71/193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 2020. Năm 2025, gần 24.000 trạm 5G được lắp đặt, vùng phủ đạt khoảng 58,9% dân số; Trung tâm dữ liệu quốc gia số 1 đi vào vận hành, tạo nền tảng quan trọng cho quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu.
Thứ ba, quyền làm chủ của nhân dân được mở rộng cả về phạm vi, phương thức và mức độ tham gia. Không gian số tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin, phản ánh kiến nghị, giám sát hoạt động công quyền, tham gia xây dựng chính sách và đánh giá chất lượng phục vụ. Dấu ấn nổi bật là việc lần đầu tiên sử dụng ứng dụng VNeID, bên cạnh các hình thức trực tiếp và trực tuyến khác, để lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013. Trong một tháng, đã có hơn 280 triệu lượt ý kiến được tổng hợp; tỷ lệ tán thành đối với các nội dung dự thảo đạt trên 99%. Đây không chỉ là thành tựu về công nghệ mà còn là bước tiến quan trọng của dân chủ số, cho thấy khả năng huy động trí tuệ, ý chí và sự đồng thuận xã hội trên quy mô lớn, trong thời gian ngắn.
Chuyển đổi số còn làm tăng tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc số hóa quy trình xử lý công việc, lưu vết điện tử, công khai tiến độ giải quyết hồ sơ và tiếp nhận phản ánh trực tuyến góp phần hạn chế sự tùy tiện, giảm tiếp xúc trực tiếp, thu hẹp không gian phát sinh cơ chế “xin - cho”, tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, kinh tế số, xã hội số phát triển đã mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, tri thức, giáo dục, y tế và dịch vụ tài chính của người dân. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 44/139 quốc gia và vùng lãnh thổ, tiếp tục duy trì vị trí trong nhóm quốc gia có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn trình độ phát triển.
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa đồng đều và chưa tương xứng với tiềm năng:
Một là, chuyển đổi số ở một số nơi vẫn thiên về đầu tư thiết bị, số hóa văn bản và đưa quy trình cũ lên môi trường điện tử, chưa thực sự tái cấu trúc phương thức lãnh đạo, quản lý và cung cấp dịch vụ. Tư duy dựa trên dữ liệu chưa trở thành nền nếp trong xây dựng nghị quyết, hoạch định chính sách và đánh giá cán bộ.
Hai là, dữ liệu còn phân tán, cát cứ; chất lượng dữ liệu chưa bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Một số cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành chậm tiến độ, thiếu khả năng kết nối, chia sẻ. Giữa Trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành vẫn còn tình trạng người dân phải kê khai lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Ba là, chất lượng và mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế. Nhiều dịch vụ chưa thuận tiện, chưa thân thiện; còn yêu cầu nộp bản giấy hoặc đến trực tiếp để đối chiếu. Khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng và giữa các nhóm dân cư vẫn hiện hữu; người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và người có thu nhập thấp gặp khó khăn khi sử dụng nền tảng số.
Bốn là, các hình thức tham gia và giám sát trên không gian số chưa được thể chế hóa đầy đủ. Việc tiếp thu, phản hồi ý kiến nhân dân trên một số nền tảng chưa kịp thời; chưa có cơ chế đủ mạnh để phân tích, tổng hợp và chuyển hóa phản ánh trực tuyến thành quyết định chính sách. Cùng với đó là nguy cơ lộ, lọt dữ liệu cá nhân, tin giả, thao túng thông tin và tấn công mạng, có thể ảnh hưởng đến quyền làm chủ, niềm tin xã hội và an ninh quốc gia.
Để vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong bối cảnh chuyển đổi số, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và vị trí chủ thể của nhân dân. Chuyển đổi số phải phục vụ con người, giải phóng và phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội; không để công nghệ trở thành công cụ làm gia tăng bất bình đẳng, kiểm soát thiếu minh bạch hoặc xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với môi trường số. Đảng cần nâng cao năng lực dự báo, hoạch định đường lối và ra quyết định dựa trên dữ liệu; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số trong tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kiểm tra, giám sát. Đồng thời, phải bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, an ninh tư tưởng và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Thứ ba, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa số, hiện đại, liêm chính và phục vụ nhân dân. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về dữ liệu, giao dịch điện tử, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và trách nhiệm của các nền tảng số. Đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số, chính quyền số; liên thông cơ sở dữ liệu; cung cấp dịch vụ công trực tuyến thuận tiện; lấy mức độ hài lòng và lợi ích của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả quản lý nhà nước.
Thứ tư, phát huy thực chất quyền làm chủ của nhân dân trên môi trường số. Xây dựng các nền tảng để người dân được biết, được bàn, tham gia góp ý, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Mở rộng các hình thức tham vấn chính sách trực tuyến, tiếp nhận và phản hồi kiến nghị công khai; tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và cộng đồng tham gia giám sát quyền lực bằng công nghệ số.
Thứ năm, thiết lập cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực chặt chẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách quan trọng cần có quy trình số hóa minh bạch, xác định rõ chủ thể lãnh đạo, cơ quan thực hiện, trách nhiệm giải trình và phương thức giám sát. Khắc phục tình trạng bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo hoặc hành chính hóa vai trò làm chủ của nhân dân.
Thứ sáu, phát triển con người và bảo đảm công bằng số. Nâng cao năng lực số, đạo đức công vụ và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; phổ cập kỹ năng số cho người dân; thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, nhóm xã hội. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với thông tin sai trái, tham nhũng số và lợi ích nhóm trong quản trị dữ liệu, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Học thuyết của C. Mác và Ph. Ăngghen về sự lãnh đạo của đảng cộng sản, vai trò quản lý của nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân là một hệ thống lý luận khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc. Sự thống nhất biện chứng giữa ba yếu tố này phản ánh quy luật vận động khách quan của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho quyền lực xã hội luôn thuộc về nhân dân lao động và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Trong bối cảnh hiện nay, việc kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc đổi mới tại Việt Nam. Xử lý và vận hành tốt mối quan hệ giữa “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” là “chìa khóa” để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ thực chất và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự vận hành đồng bộ của cơ chế này chính là động lực trung tâm để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
PGS, TS DƯƠNG TRUNG Ý
Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
-------------------------
(1) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t. 4, tr. 596
(2) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 503
(3) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 615
(4) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 252
(5) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 18, tr. 352
(6) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 599
(7) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 19, tr. 47
(8) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 19, tr. 327
(9) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 141
(10) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 610
(11) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 523
(12) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 22, tr. 288
(13) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 626
(14) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 614
(15) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 628
Theo Tạp chí cộng sản