 |
| Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành nội dung phiên họp. Ảnh: Quang Khánh |
Sáng 4/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử.
Quy định rõ thẩm quyền thực hiện truy vết điện tử
Các ĐBQH đánh giá cao việc Ban soạn thảo tiếp thu ý kiến tại phiên thảo luận tổ, thể hiện qua Báo cáo số 2289 của Bộ Công an. Dự thảo Luật đã được hoàn thiện một bước, tạo nền tảng pháp lý cho chuyển đổi số, đồng thời bảo đảm an toàn, đưa định danh và xác thực điện tử trở thành “chìa khóa” xác lập niềm tin trên không gian số.
Về đối tượng định danh điện tử và phạm vi thực hiện, ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) nhận thấy, khoản 1 Điều 7 đã quy định bao quát các đối tượng gồm cá nhân, tổ chức, tài sản, dữ liệu, sự kiện, giao dịch, hành vi, địa điểm và không gian. Điều 8 cũng phân định phạm vi thực hiện giao dịch, giao Chính phủ quy định danh mục và lộ trình.
 |
| Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành nội dung phiên họp. Ảnh: Quang Khánh |
Đồng tình với cách tiếp cận này, đại biểu cho rằng cần làm rõ hơn ranh giới giữa trường hợp bắt buộc định danh và trường hợp thực hiện theo yêu cầu, nhất là khi các đối tượng có tính chất pháp lý khác nhau. Theo đó, chỉ nên yêu cầu định danh bắt buộc khi thật sự cần thiết cho quản lý nhà nước, có căn cứ pháp luật rõ ràng và tương xứng với mục đích; đồng thời kế thừa mã định danh, kết quả đăng ký chuyên ngành đã có, tránh phát sinh thủ tục, chi phí hoặc làm lộ bí mật kinh doanh.
Đối với tài sản và quyền tài sản, đại biểu đề nghị bảo đảm việc định danh chỉ nhằm nhận diện, không thay thế thủ tục xác lập quyền sở hữu theo pháp luật chuyên ngành, phù hợp với khoản 9 Điều 4 của dự thảo Luật.
Liên quan đến truy vết danh tính điện tử tại Điều 31, ĐBQH Phạm Thế Anh (Thanh Hóa) cho rằng, dù các khoản 11 và 12 Điều 3 đã quy định chủ thể có quyền yêu cầu xác thực danh tính điện tử và cơ quan có quyền thực hiện định danh, xác thực điện tử nhưng Điều 31 chưa làm rõ chủ thể có quyền yêu cầu truy vết, cơ quan phê duyệt và cơ quan tổ chức thực hiện hoạt động này.
 |
| ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh |
Do vậy, đại biểu đề nghị quy định cụ thể ngay trong dự thảo Luật về chủ thể có thẩm quyền thực hiện truy vết điện tử, bảo đảm đồng bộ với quy định về xác thực điện tử và chặt chẽ hơn về nguyên tắc. Theo đại biểu, quyền truy vết và quyền xác thực điện tử không mặc nhiên tương đương nhau, bởi phạm vi dữ liệu phục vụ truy vết có thể rộng hơn, bao gồm lịch sử nguồn gốc định danh, biến động và quan hệ liên kết của đối tượng.
Một vấn đề khác được ĐBQH Triệu Thị Ngọc Diễm (TP. Cần Thơ) đề cập là cơ chế tạm dừng, khôi phục hiệu lực danh tính điện tử và mã định danh tại Điều 17. Đại biểu cho rằng, các vụ việc tấn công chiếm quyền điều khiển tài khoản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc phát tán mã độc qua danh tính điện tử diễn ra với tốc độ tính bằng giây. Nếu thực hiện theo trình tự hành chính thông thường sẽ khó ngăn chặn kịp thời hậu quả.
Do vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định về “tạm dừng hiệu lực khẩn cấp” tại Điều 17, cho phép hệ thống tự động hoặc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, cơ quan điều tra ra lệnh phong tỏa, tạm dừng tức thời trên môi trường điện tử trong thời hạn 24–48 giờ để xác minh khi phát hiện danh tính điện tử bị chiếm quyền điều khiển hoặc bị sử dụng để thực hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.
Cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm an ninh với bảo vệ quyền con người, quyền công dân
 |
| ĐBQH Triệu Thị Ngọc Diễm (TP. Cần Thơ) phát biểu. Ảnh: Hồ Long |
Bên cạnh yêu cầu tăng cường khả năng truy vết, các ĐBQH cũng quan tâm đến việc quản lý, khai thác dữ liệu nhật ký xác thực, bảo đảm vừa phục vụ công tác điều tra, xử lý vi phạm, vừa bảo vệ quyền riêng tư của người dân.
Để dữ liệu nhật ký xác thực có thể trở thành chứng cứ điện tử hợp pháp phục vụ điều tra hình sự và xử phạt vi phạm hành chính về an ninh mạng, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm đề nghị bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 28 về các trường thông tin kỹ thuật tối thiểu phải có trong nhật ký xác thực. Các thông tin cần thiết gồm: mã định danh, thời gian chuẩn đồng bộ quốc gia, địa chỉ IP nguồn, thông tin định danh thiết bị đầu cuối (Device ID), phương thức và mức độ xác thực.
Đối với mô hình xác thực độc lập tại điểm b khoản 2 Điều 28, đại biểu đề nghị quy định rõ tần suất đồng bộ nhật ký xác thực về Hệ thống định danh và xác thực điện tử của Bộ Công an, theo thời gian thực hoặc định kỳ trong ngày, tránh lưu trữ cục bộ kéo dài, dẫn đến nguy cơ bị can thiệp, xóa dấu vết khi xảy ra sự cố an ninh mạng.
Đối với dữ liệu về kết quả xác thực tại khoản 3 và khoản 4 Điều 28, đại biểu đề nghị nghiên cứu yêu cầu nhật ký xác thực khi lưu trữ, trích xuất phải có chữ ký số và dấu thời gian của hệ thống quản lý, nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, chống chối bỏ. Qua đó, cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể sử dụng trực tiếp làm chứng cứ mà không phải phát sinh thủ tục giám định lại.
 |
| Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm. Ảnh: Hồ Long |
Cùng quan tâm đến nội dung này, đại biểu Dương Khắc Mai thống nhất với sự cần thiết phải quy định việc ghi nhận dữ liệu và đồng bộ nhật ký xác thực để góp phần phòng, chống gian lận. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý, nếu dữ liệu lịch sử xác thực được tập trung quá rộng và lưu giữ trong thời gian dài, có thể làm lộ thói quen giao dịch, ảnh hưởng đến quyền riêng tư của người dân.
Do vậy, cần quy định rõ nguyên tắc chỉ đồng bộ những trường thông tin tối thiểu phục vụ xác minh, truy vết; giới hạn mục đích khai thác, phân quyền truy cập và xác định thời hạn lưu giữ đối với từng loại dữ liệu. Đồng thời, bổ sung cơ chế ghi nhận truy cập, kiểm tra độc lập, xử lý hành vi truy cập trái phép và cho phép chủ thể tra cứu, yêu cầu giải trình về việc khai thác dữ liệu của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. “Những quy định này sẽ góp phần cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm an ninh với bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, đại biểu nhấn mạnh.
Về tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử (Điều 36, Điều 41), đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm nhấn mạnh, định danh và xác thực điện tử là hạ tầng cốt lõi của an ninh quốc gia và trật tự, an toàn trên không gian mạng. Do vậy, quy định tại khoản 3 Điều 36 chỉ yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ “thông báo cho Bộ Công an... trước khi cung cấp dịch vụ” là cơ chế hậu kiểm, chưa tương xứng với tính chất của ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 3 Điều 36 theo hướng áp dụng cơ chế tiền kiểm, yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử phải được Bộ Công an thẩm định hệ thống kỹ thuật, phương án bảo đảm an ninh mạng và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện (hoặc Giấy phép hoạt động) trước khi chính thức cung cấp dịch vụ.
 |
| Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm. Ảnh: Quang Khánh |
Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Lương Tam Quang đã giải trình, làm rõ các nội dung được ĐBQH quan tâm tại dự thảo Luật.
Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh khẳng định, những ý kiến tâm huyết, sâu sắc, cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung của các ĐBQH là cơ sở quan trọng để cơ quan thẩm tra, cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, giải trình, hoàn thiện dự thảo luật, bảo đảm hiệu quả thực thi sau khi được Quốc hội thông qua.
Sau phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội phối hợp với Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tổng hợp ý kiến của các đại biểu để gửi cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan có liên quan để nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp này, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo yêu cầu.
Theo Đại biểu nhân dân