Về Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc

(Mặt trận) - Một trong những dự thảo luật được trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XIV là Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc. Theo cơ quan soạn thảo, Luật được chuẩn bị rất công phu và có sự tham gia đầy đủ của các bộ, ngành có liên quan. Nhưng thật bất ngờ, khi dự thảo Luật được đem ra trình bày trước cơ quan lập pháp và công bố cho nhân dân cả nước biết, đã làm nảy sinh nhiều lo lắng của không ít đại biểu Quốc hội và đông đảo cử tri cả nước. Đặc biệt là những vấn đề liên quan đến đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia và an toàn xã hội.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

Xuất bản cuốn sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng về quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng

Giá trị bền vững của ‘Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương’

Đông đảo người dân Việt Nam rất băn khoăn không biết vì những lý do cụ thể gì mà Nhà nước phải cùng một lúc ban hành Luật thành lập ba khu hành chính - kinh tế đặc biệt ở ba nơi có vị trí địa chính trị quan trọng và nhạy cảm, như: Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc? Đặc biệt, số tiền mà ngân sách Nhà nước sẽ bỏ ra để xây dựng cơ sở hạ tầng cho ba đặc khu kinh tế lại vô cùng lớn. Vì vậy, tác động thuận chiều và trái chiều về an ninh, chủ quyền, kinh tế, xã hội, môi trường… Nhưng, tài liệu này cũng chưa được công bố công khai để nhân dân tham gia ý kiến và phản biện. Người dân không chỉ băn khoăn về thời hạn cho thuê đất mà còn nhiều băn khoăn, lo lắng về an ninh chủ quyền quốc gia và an toàn xã hội, nhưng nhân dân chưa được giải đáp một cách thấu đáo và đầy đủ. Có thể đó là một trong những nguyên nhân khiến cho các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc và kích động nhân dân có những hành vi cực đoan.

Làn sóng cải cách mở cửa bằng cách thành lập các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế không phải là vấn đề mới. Từ những năm cuối nửa sau thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã bùng nổ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.(1) Các nước, trong đó có cả những nước đất đai không rộng, người không đông, rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, nhưng do sớm bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nên đã có sự phát triển nhảy vọt. Họ là những nước vốn đã giàu mạnh, nay càng giàu thêm. Các nước lạc hậu về công nghệ vốn nghèo lại càng nghèo cùng đó xuất hiện sự phân chia các nước trên thế giới thành ba loại: các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển. Điều trớ trêu là có những nước “nằm trên đống vàng”, nhưng người dân các nước ấy lại sống trong đói khổ, chết chóc, loạn lạc, chiến tranh triền miên. Đó là lý do chính khiến các nước chậm và đang phát triển nôn nóng trong việc kêu gọi, mời chào các nước phát triển đầu tư vào nước họ. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, số đặc khu kinh tế lên đến hàng nghìn ở nhiều nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ La tinh.

Sự mở cửa hội nhập với thế giới đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế của các nước chậm và đang phát triển có những chuyển biến khích lệ. Cơ sở hạ tầng bao gồm: hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường không, các trung tâm du lịch, khách sạn, giải trí, các sòng bạc, các sân gôn, các khu bất động sản cao cấp mọc lên. Tuy vậy, thành công trong việc lập ra các khu kinh tế đặc biệt, các khu chế xuất không nhiều. Chủ trương ồ ạt mở ra nhiều khu kinh tế đặc biệt, nhiều công trình đầu tư vượt quá khả năng quản lý của bộ máy nhà nước, khiến cho nhiều nước lâm vào nợ nần không có khả năng chi trả. Tình trạng an ninh, trật tự xã hội trở nên rối ren mà không thể kiểm soát. Nhân dân nhiều nước khu vực Thái Bình Dương, châu Á, Phi, Mỹ La tinh mất công ăn việc làm vì người lao động nước ngoài ồ ạt nhập cư. Chính phủ các nước này tỏ ý hối tiếc vì không kịp nhận ra các bẫy nợ do nôn nóng trong đầu tư. Một số nước buộc phải để cho nước ngoài thuê lãnh thổ của họ làm căn cứ quân sự trong thời hạn 99 năm, vì không đủ sức trả món nợ khổng lồ cho việc vay tiền để phát triển hạ tầng cơ sở(2).

Các nước tư bản rất lão luyện trong nền kinh tế thị trường. Trong lúc họ đang không biết phải làm gì với khối lượng máy móc, công nghệ lạc hậu của nền “công nghiệp ống khói” để lại, bỗng thấy các nước chậm phát triển và đang phát triển là thị trường nhiều tiềm năng để họ thanh toán “cục bướu” đang đè nặng trên lưng họ. Thế giới thứ ba trở thành nơi đón nhận công nghệ lạc hậu, tệ hại hơn là trở thành nơi chứa đựng rác thải công nghiệp3. Các nước có nền công nghệ cao lập ra các nhà máy tại các nước cho thuê đất để thu lợi trong việc sử dụng nhân công giá rẻ. Điều này góp phần tạo ra công ăn việc làm cho người dân ở các nước thuộc thế giới thứ ba. Nhưng họ cố tình “lờ” đi việc chuyển giao công nghệ cho nước sở tại. Vì vậy, giá trị gia tăng trong các sản phẩm của các nước thế giới thứ ba rất thấp. Xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu nguyên liệu thô. Công nghiệp chủ yếu là công nghiệp gia công, lắp ráp. Kim ngạch xuất khẩu tăng, nhưng thực tế thu nhập bình quân đầu người hàng năm của nước sở tại tăng chậm và thấp. Phần lớn lợi nhuận rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài. Chủ trương mở rộng cửa của các nước chậm phát triển đã giúp họ vươn lên thành nước đang phát triển, nhưng lại rơi ngay vào bẫy nước có thu nhập trung bình. Sự tụt hậu của các nước thuộc thế giới thứ ba ngày càng xa hơn. Hình ảnh “con gà đẻ trứng vàng” bằng cách mời chào đầu tư đã tắt ngấm trong suy nghĩ của nhân dân và chính phủ các nước chậm phát triển.

Đó là những nguyên nhân khiến cho chủ trương lập các khu chế xuất, các đặc khu kinh tế ở nhiều nước trên thế giới nay không còn háo hức như trước và đã chững lại. Một số nước thuộc thế giới thứ ba đã hủy giấy phép đầu tư có giá hàng trăm tỷ đô-la, vì họ nhận ra nguy cơ phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Việt Nam là nước đang phát triển. Chủ trương mở cửa và phát triển đặc khu kinh tế xuất hiện ngay từ sau đổi mới (năm 1986). Vũng Tàu - Côn Đảo là đặc khu đầu tiên ở nước ta, ra đời từ năm 1989 nhằm phục vụ phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt. Hơn 33 năm (1986-2018), kinh tế Việt Nam đã có bước tiến khá dài. Từ nước khan hiếm lương thực, hàng tiêu dùng, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lương thực và nhiều mặt hàng khác. Thu nhập bình quân đầu người và tốc độ phát triển của nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng trưởng. Đời sống của nhân dân được cải thiện rất nhiều so với thời kỳ bao cấp. Nhưng mặt khác, trải qua hơn ba thập kỷ, Việt Nam vẫn là nước có thu nhập trung bình và tụt hậu so với một số nước trong vùng Đông Nam Á. Năng suất lao động của người Việt Nam bằng 1/15 của Singapore, bằng 1/5 của người Malaysia, bằng 2/5 của người Thái. Ông Lý Quang Diệu, nguyên Thủ tướng của Singapore, đã có lần nói rằng, lẽ ra vị trí số một ở Đông Nam Á là của Việt Nam, căn cứ vào tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa chính trị thuận lợi mà nước này đang nắm giữ. Vậy, tại sao Việt Nam chưa phát huy được thế mạnh vốn có của đất nước? Câu hỏi này đến nay dường như vẫn chưa có sự đầu tư nghiên cứu để tìm lời giải đáp cặn kẽ.

Qua hơn ba mươi năm mở cửa, đến nay nhìn lại, Việt Nam đã không tránh khỏi một số lệch lạc như nhiều nước thuộc thế giới thứ ba đã vấp phải. Với quan điểm thu hút đầu tư bằng mọi giá, một số địa phương đã thiếu cân nhắc trong việc chọn nhà đầu tư. Một số tỉnh đã đề ra những chính sách ưu đãi về đất đai, về thuế vượt khung quy định của pháp luật. Nhiều nhà đầu tư đã đổ xô vào việc đầu tư xây dựng các khu nghỉ dưỡng cao cấp, nhà ở cao cấp, các sân gôn, các khu du lịch,… vì đây là lĩnh vực đầu tư đem lại siêu lợi nhuận đối với họ. Diện tích thu hồi đất ở, đất canh tác của người dân để phục vụ cho mục đích này ngày càng nhiều. Lệnh thu hồi đất thường là rất cấp tập, nhưng việc đền bù thì chưa thỏa đáng, người dân bị thu hồi đất thì không được tạo điều kiện cho nơi ở được tốt, nên gặp khó khăn trong làm ăn. Dự án treo xảy ra nhiều nơi. Có những dự án bị treo đến trên 10 năm,…

Việt Nam hiện có rất nhiều, có thể nói là dày đặc các khu kinh tế. Tại 3 trung tâm lớn là: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh và tất cả các tỉnh đều đã có nhiều khu kinh tế. Nhưng thực tế, các khu kinh tế này đã lấp đầy các dự án đầu tư chưa? Vậy câu hỏi tiếp là liệu có cần thiết một lúc mở thêm ba đặc khu kinh tế nữa không? Hơn nữa, với kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, theo tính toán của cơ quan chuyên môn lên đến 1,57 triệu tỷ đồng Việt Nam (tương đương với 75 tỷ USD) phục vụ cho ba địa điểm nêu không phải là tiền của nhà đầu tư bỏ ra mà là tiền từ ngân sách Nhà nước. Vậy lấy đâu ra tiền để trang trải trong lúc Nhà nước đang cần rất nhiều khoản tiền nóng bỏng khác để phát triển kinh tế, như: khắc phục hậu quả của biến đổi khí hậu, xây dựng để giảm tải cho các sân bay, hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ đã quá tải, tiền để cải thiện đời sống dân sinh,… Đây là những nỗi lo không của riêng ai, mà là nỗi lo của mọi người dân Việt Nam.

Người Trung Quốc đã chọn Thẩm Quyến, một làng chài ven biển nghèo khổ, biệt lập, thậm chí bị lãng quên, làm khu kinh tế đặc biệt. Thẩm Quyến trở thành một đô thị thịnh vượng của Trung Quốc. Sự đúng đắn của người Trung Quốc không chỉ ở chỗ họ đã tạo ra thêm một khối lượng vật chất, tài sản khổng lồ, mà còn ở chỗ cách suy nghĩ của họ. Người Trung Quốc muốn qua kinh nghiệm của Thẩm Quyến, để biến các khu nghèo trong toàn lãnh thổ rộng lớn của Trung Quốc thành những vùng giàu có. Vì vậy, rất nhiều người nói rằng, Việt Nam làm ngược lại khi chọn Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc là những nơi được nhìn nhận là những hòn ngọc quý của đất nước, là những nơi mà đời sống kinh tế của người dân đã có nhiều cải thiện, là những nơi mà nền kinh tế địa phương đã có những phát triển khá thuận lợi và có nhiều triển vọng. Có người biện minh rằng, nếu chọn nơi nghèo, nơi không thuận tiện về mặt cơ sở hạ tầng thì không thể kêu gọi được nhà đầu tư? Vậy, đối với các mảnh đất phì nhiêu mà tổ tiên ta đã phải trải qua nhiều thế hệ mới cải tạo trở thành đất canh tác nuôi sống con người thì có cần kêu gọi đầu tư để các mảnh đất đó trở thành sân gôn, khách sạn, khu nghỉ dưỡng hay không? Khu nghỉ dưỡng, khách sạn, sòng bạc,… không tạo ra được sản phẩm công nghệ cao.

Công nghiệp sản xuất nhôm và sắt thép ngày nay được xem là ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều năng lượng và gây tác hại đến môi trường nhiều nhất. Trung Quốc đã có chủ trương đóng cửa và hạn chế các nhà máy khai thác, chế biến nhôm và sắt thép ở nước họ và họ bỏ ra nhiều khoản tiền lớn để lập ra các nhà máy luyện thép ở các nước thuộc thế giới thứ ba và kể cả ở nước Mỹ. Với một mũi tên trúng nhiều đích, Trung Quốc đã thu về nhiều món lợi, vừa tránh được những tác hại về môi trường xảy ra ở nước họ, vừa sản xuất ra nhiều sắt thép, lại tránh được việc đánh thuế bán hạ giá sản phẩm do che giấu được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Chính sách này đã làm cho nước Mỹ bị thâm hụt trong cán cân buôn bán và là nguyên nhân gây ra tranh chấp, có người gọi là chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Thiết tưởng điều này sẽ giúp Việt Nam hết sức cảnh tỉnh trong việc kêu gọi đầu tư vào những ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều năng lượng và gây ảnh hưởng nặng đối với môi trường. Vụ nhà máy luyện thép Formosa ở Hà Tĩnh, vụ khai thác quặng Bô xít để chế biến nhôm ở Tây Nguyên là những tiếng chuông báo động đã vang lên. 

Điều mà Việt Nam đang rất cần là sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, là đội ngũ lao động lành nghề có năng suất cao và các nhà quản lý giàu kinh nghiệm. Nhưng những đòi hỏi này chưa được thể hiện rõ trong dự thảo Luật về các ngành nghề ưu tiên phát triển tại các đặc khu hành chính - kinh tế đặc biệt: Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc. Theo quy định tại Điều 16 của Dự thảo, danh mục đầu tư ở các nơi này vẫn bao gồm cả các ngành nghề về bất động sản, về du lịch, về khách sạn vốn có rất nhiều trong các kế hoạch thu hút đầu tư tại các tỉnh. Người dân lo ngại không phải do sợ bóng, sợ vía, mà vì thực trạng đã xảy ra làm dân chúng không yên. Chính quyền địa phương một số nơi (cấp xã, huyện, phường, quận) đã buông lỏng việc quản lý, thậm chí không thể tiến hành các công việc kiểm tra, giám sát các địa điểm có đông lao động người nước ngoài cư trú. Đã có đồn biên phòng, những vùng đất yếu địa của đất nước suýt bị thu hồi để cho người nước ngoài xây dựng khách sạn, nhà nghỉ nhưng do nhân dân lên tiếng phản đối nên đã được ngăn chặn.

Những người trông rộng, nhìn xa thấu hiểu được rằng, không nên biến Việt Nam thành “xã hội tiêu dùng”, khiến cho con người tiêm nhiễm lối sống ích kỷ, chỉ biết hưởng thụ mà không quan tâm đến việc dành dụm và làm giàu thêm tài nguyên để lại cho các thế hệ mai sau.

Luật Đặc khu kinh tế của nước Nga (Điều 6) ban hành và áp dụng ngày 22/6/2005 đã quy định: “Các đặc khu kinh tế được thành lập nhằm mục đích phát triển các ngành chế biến của nền kinh tế, của ngành công nghệ cao, sản xuất các dạng sản phẩm mới và phát triển hạ tầng giao thông. Mỗi đặc khu kinh tế không quá 20 km2. Trên lãnh thổ các đặc khu kinh tế không cho phép triển khai các công trình thuộc quỹ nhà ở”. Một câu hỏi được đặt ra buộc chúng ta phải suy nghĩ. Vì sao nước Nga, một nước có diện tích bằng 1/6 của thế giới lại quy định diện tích khu kinh tế đặc biệt ở nước họ không quá 20 km2 và các công trình nhà ở khách sạn, ca-si-nô bị loại ra khỏi danh mục đầu tư? Có thể tìm ra được đôi điều thú vị nếu đi sâu nghiên cứu các câu hỏi này.

Việc tạo ra những bứt phá, đột phá để có những bước phát triển nhảy vọt là rất cần. Nhưng không thể nóng vội và ồ ạt. Thay vì kêu gọi đầu tư các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, ca-si-nô,… danh mục kêu gọi đầu tư ở khu kinh tế đặc biệt chỉ nên tập trung vào phát triển các máy móc, sản phẩm sử dụng ít nguyên liệu, năng lượng mà lại có giá trị gia tăng cao. Do vậy, diện tích dành cho các khu kinh tế đặc biệt, không đòi hỏi phải quá rộng lên đến hàng trăm km2. Sản phẩm của công nghiệp 4.0 thay đổi rất nhanh. Các nhà đầu tư công nghệ cao không đòi hỏi thời gian thuê đất đến hàng chục năm. Thời gian thuê đất không cần thiết kéo dài đến 70 hoặc 99 năm. Diện tích đất đai Phú Quốc là 593,05 km2, xấp xỉ bằng Singapore (712 km2). Nhà nước ta nên nghiên cứu kỹ mọi điều kiện để tập trung làm tốt một khu kinh tế đặc biệt trong một diện tích không quá rộng để rút kinh nghiệm và tiếp tục nhân rộng về sau cũng không muộn.

Thật đáng tiếc là đã xảy ra những hành vi cực đoan ở một số nơi. Qua công tác điều tra của Công an, nhiều người có mặt trong các cuộc biểu tình hoặc do bị đe dọa, hoặc do bị xúi dục, hoặc do hiếu kỳ, hoặc do được cho tiền. Những thế lực thù địch đã lộ mặt. Dư luận đòi nghiêm trị những kẻ kích động, xúi dục chống phá chính quyền. Chúng ta không sợ việc bị gán ghép là vi phạm nhân quyền. Không nước nào trên thế giới lại làm ngơ trước việc các thế lực thù địch ngang nhiên dùng các hành vi bất hợp pháp để chống đối chế độ. Nhưng biện pháp có hiệu quả nhất để vô hiệu hóa các hành vi kích động của các thế lực thù địch là làm cho nhân dân hiểu rõ và đồng tình với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội và cam kết lắng nghe ý kiến của nhân dân, Chính phủ đã thống nhất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định lùi thời hạn thông qua dự thảo Luật tại kỳ họp thứ năm và chuyển sang kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa XIV. Đây là việc làm đúng. Nhưng liệu với thời gian ít ỏi trong vài tháng từ nay đến kỳ họp thứ sáu của Quốc hội, cơ quan soạn thảo Luật, các phương tiện thông tin đại chúng có đủ thời gian để chỉnh sửa dự thảo và giải thích cho nhân dân rõ mọi điều? Rõ ràng đây là điều bất cập có thể thấy trước. Gánh nặng trong việc, làm cho nhân dân hiểu rõ và đồng tình với Đảng và Chính phủ về đường lối, chính sách, phương hướng biện pháp kêu gọi đầu tư của nước ngoài sao cho có lợi nhất đối với đất nước được đặt trên vai Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.

Điều cần nhất là cơ quan dự thảo nên có đánh giá, tổng kết 33 năm mở cửa, cải cách kinh tế với nội dung chỉ ra được những thành công và thiếu sót trong chủ trương thành lập các khu kinh tế và đặc khu kinh tế, dự kiến đầy đủ tác động thuận chiều và ngược chiều của việc ban hành Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có tài liệu hướng dẫn đông đảo nhân dân tham gia ý kiến và phản biện. Chỉ có cách làm như vậy mới đạt được sự đồng tình và thống nhất cao trong nhân dân khi ban hành Luật.

Lê Đức Tiết

Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ - Pháp luật UBTƯ MTTQ Việt Nam

Chú thích:

1.       Cho đến nay, nhân loại đã trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN). Cuộc CMCN lần một là sự chuyển đổi từ nền sản xuất thủ công sang nền sản xuất cơ giới, diễn ra vào đầu thế kỷ XVIII. Cuộc CMCN lần hai là sự chuyển đổi từ nền sản xuất cơ giới hóa sang nền sản xuất tự động hóa, diễn ra vào cuối thế kỷ XIX. Cuộc CMCN lần ba, diễn ra vào nửa sau thế kỷ XX, là sự chuyển đổi từ nền sản xuất tự động hóa, còn được gọi là thời kỳ công nghiệp ống khói, sang nền sản xuất điện tử với quy mô nhỏ hơn, công nhân, nguyên liệu ít hơn nhưng đem lại năng xuất, chất lượng cao hơn. Cuộc CMCN lần bốn, diễn ra vào những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, với việc rô-bốt hóa quá trình sản xuất, số hóa, ứng dụng công nghệ na-nô, trí tuệ nhân tạo,…

2.       Sri Lanka buộc phải để cho Trung Quốc thuê cảng biển chiến lược của nước này trong 99 năm vì không thể trả nợ vay để phát triển hạ tầng cơ sở cho các đặc khu kinh tế của họ. Myanmar cũng đã hủy nhiều hợp đồng với Trung Quốc về xây dựng các đập thủy điện lớn ở nước này.

3.       Theo tin tức mới nhất, không ít các cảng biển của Việt Nam, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, hiện đang nan giải vì sự tồn đọng rất nhiều container rác thải từ nước ngoài quá cảnh hoặc nhập về.

4.       Theo số liệu của Bộ Ngoại giao, Việt Nam hiện có quan hệ với 180 quốc gia, vùng lãnh thổ, bao gồm: châu Á: 44 nước, châu Âu: 46 nước; châu Mỹ: 29 nước, châu Phi: 50 nước.

Đồng chí Trần Thanh Mẫn Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập
Tìm kiếm văn bản