Tư tưởng yêu nước trong văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam

(Mặt trận) - Văn hóa là khái niệm đa nghĩa, với hàng trăm định nghĩa khác nhau, tùy vào mục đích và cách tiếp cận của người nghiên cứu. Ở bài viết này, dưới góc độ tiếp cận của chính trị học, tác giả đề cập tới khái niệm văn hóa chính trị với nghĩa văn hóa chính trị là tập hợp các giá trị, thái độ, niềm tin được cộng đồng chia sẻ và nó có thể chi phối, định hướng hoạt động của các cá nhân và tổ chức khi các chủ thể này tham gia vào đời sống chính trị.

Công đoàn Việt Nam - dấu ấn lớn lao trong tiến trình cách mạng

Ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, ” tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên

Mở rộng kênh phân phối hàng Việt tới khắp mọi miền Tổ quốc

Trong văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay, tồn tại cả những giá trị truyền thống và hiện đại. Và tư tưởng yêu nước được coi là một trong những giá trị cốt lõi, xuyên suốt đối với sự phát triển của xã hội, tạo nên văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam đặc sắc.

Tư tưởng yêu nước là một giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Chính vì vậy, tư tưởng yêu nước đã thẩm thấu vào tình cảm, vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua mọi thời đại, làm nên một lịch sử oai hùng, giúp cho dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược cho dù chúng có mạnh gấp ta nhiều lần. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét rằng: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Từ xưa đến nay, mỗi khi đất nước bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”1. Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Trông vào lịch sử cũng dài nhiều nghìn năm của dân tộc Việt Nam, từ Văn Lang, Âu Lạc cho đến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người quan sát có thể thấy ngay rằng các tư tưởng chủ đạo, cái “lý thường hằng” nhất, quán triệt cổ kim, là chủ nghĩa yêu nước, chống xâm lăng, bảo vệ sự tồn tại của dân tộc, là tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại, ở đây bản chất Việt Nam biểu lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ chỗ nào khác. Yêu nước thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam”2.

Theo dòng lịch sử, lòng yêu nước của dân tộc ta được định hướng và quy tụ dưới những ngọn cờ tư tưởng tiến bộ, gắn với sự dẫn dắt, chèo lái của những người lãnh đạo đất nước anh minh là những nhà tư tưởng lớn, đồng thời là nhà chính trị - quân sự kiệt xuất. Từ đó, lòng yêu nước truyền thống đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, có sức sống mãnh liệt và luôn tỏa sáng; là động lực tinh thần chủ yếu, tạo nên tâm hồn, bản lĩnh và trí tuệ của các thế hệ người Việt Nam, sức mạnh to lớn của dân tộc.

Hàng ngàn năm nay, dân tộc Việt Nam liên tục trải qua những cuộc chiến tranh điển hình về tính chất ác liệt và sự gian khổ hy sinh; phải đương đầu với các thế lực xâm lược hung bạo và hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần. Song, với lòng yêu nước nồng nàn, dân tộc Việt Nam đã kiên cường đấu tranh giữ nước, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, không để bị đồng hóa. Khi chủ nghĩa yêu nước rực cháy trong tâm hồn người Việt Nam, tài thao lược “đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế, thời” và nghệ thuật quân sự “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”của dân tộc lại được phát huy cao độ, đầy sức sáng tạo, quân xâm lược không thể lường hết. Với sức mạnh “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo”, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với chính trị và ngoại giao, hội tụ được các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, trong đó quan trọng nhất là “nhân hòa”, dân tộc ta đã tạo nên sự chuyển hóa cả về thế, thời và lực để đánh thắng kẻ thù xâm lược.

Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam mang đậm tư tưởng dân chủ và tính nhân văn sâu sắc, yêu nước gắn liền với yêu dân và ý thức cộng đồng, phản ánh tư tưởng chủ đạo “Nước lấy dân làm gốc” trong văn hóa chính trị Việt Nam. Năm 1010, với quyết tâm xây dựng một quốc gia độc lập, hùng cường và bằng tầm nhìn chiến lược, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long “để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa làm kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân”. Trong thế kỷ XIII, với tư tưởng tiến bộ của Trần Hưng Đạo “khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”, nhà Trần đã thực hiện “cử quốc nghênh địch”, định hướng và phát huy cao độ lòng yêu nước của toàn dân nên cả ba lần đều đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông. Những năm đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi, Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược đã chăm lo xây dựng thống nhất, đồng bộ các yếu tố “dân giàu, nước mạnh, binh cường”, thực thi nhiều việc làm nhân nghĩa “cốt để dân yên” và “duy trì thế nước yên”. Vào thế kỷ XVIII, công cuộc giữ nước đòi hỏi tư duy chiến lược mới là phải chủ động “giữ cho trong ấm, ngoài êm”, kết hợp trấn áp thù trong với đánh giặc ngoài. Dưới sự lãnh đạo của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, lòng yêu nước của nhân dân ta được phát huy cao độ trong đấu tranh xóa bỏ cục diện Trịnh - Nguyễn phân tranh, thống nhất Tổ quốc, đánh thắng quân xâm lược Xiêm phía Nam và đỉnh cao là quét sạch 29 vạn quân Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi.

Do mang đậm tư tưởng dân chủ và tính nhân văn sâu sắc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã vượt qua những hạn chế của tính vị kỷ và tâm lý kỳ thị dân tộc hẹp hòi, tránh được những sai lầm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Khi tập kích chiến lược triệt phá căn cứ xuất phát tiến công xâm lược Đại Việt của nhà Tống ở các châu Ung - Khâm - Liêm (10/1075 - 3/1076), Thái úy Lý Thường Kiệt đã tuyên cáo “Phạt Tống lộ bố văn”, nêu rõ mục đích chính nghĩa là “muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân”. Lời tuyên cáo có lý, có tình cùng những hành động đầy nhân nghĩa của quân nhà Lý đã được nhân dân ở cả Đại Việt và nước Tống đồng tình, ủng hộ. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo, khi quân xâm lược nhà Minh lâm vào thế cùng, lực kiệt, chấp nhận đầu hàng thì quân và dân ta cởi bỏ oán thù, mở lòng khoan dung, với “đức lớn hiếu sinh”: Nghĩ kế nước nhà trường cửu/ Tha cho mười vạn hàng binh/ Gây lại hòa hảo cho hai nước/ Dập tắt chiến tranh cho muôn đời”. Ngay trước chiến dịch đại phá quân xâm lược Mãn Thanh, giải phóng Thăng Long, Nguyễn Huệ đã lo tính kế sách dập tắt lửa binh; bởi lẽ, “Nếu cứ để lửa binh liên miên, thật không phải phúc của nhân dân, lòng ta sao nỡ. Vì vậy, sau khi thắng trận phải khéo dùng từ lệnh thì mới dập tắt được lửa binh”. Sau khi lên ngôi hoàng đế, Quang Trung đã ra sức thực thi các chính sách an dân và chính sách ngoại giao hòa bình, lập lại bang giao hòa hiếu với phương Bắc để ổn định và phát triển đất nước. Trong lịch sử, ông cha ta cũng xử lý khôn khéo các quan hệ với các nước láng giềng, như: Lào và Campuchia, kết hợp ân uy, thông hiếu, mềm dẻo để phối hợp giúp đỡ lẫn nhau vì đại nghĩa. Đây là điều hiếm có trong lịch sử nhân loại.

Âu Lạc đang là một quốc gia mạnh, nhưng cuộc sống đế vương đã làm cho Thục Phán xa dân, nội bộ bất hòa, mắc mưu “giảng hòa” và kế “ly gián” hiểm độc của kẻ thù, ỷ vào thành Cổ Loa kiên cố và vũ khí lợi hại, không phát động được toàn dân đánh giặc nên Âu Lạc đã về tay nhà Triệu (năm 179 tr CN), làm cho dân ta mất nước và chịu ảnh hưởng đô hộ hơn 1.000 năm của phương Bắc Trong kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (1406-1407), nhà Hồ ra sức xây dựng thành lũy kiên cố, tổ chức quân đội thường trực đông hàng trăm vạn và trang bị vũ khí mạnh. Song, do vua quan nhà Hồ có nhiều chính sách xa dân, sách nhiễu dân và mất lòng dân, không động viên được lòng yêu nước và sức mạnh của nhân dân, nên cuộc kháng chiến bị thất bại, đất nước rơi vào sự đô hộ của nhà Minh. Sang thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ suy tàn, trở thành lực cản sự tiến bộ xã hội. Triều đình nhà Nguyễn đại biểu cho đặc quyền của tầng lớp phong kiến phản động, đối lập với lợi ích của nhân dân, đầu hàng thực dân Pháp, các phong trào yêu nước thiếu ngọn cờ lãnh đạo thống nhất nên không quy tụ được sức mạnh giữ nước.

Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường cứu nước gắn kết khát vọng tự giải phóng và vươn lên làm chủ của dân tộc với xu thế phát triển của thời đại, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có sự phát triển mới về chất, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Đó là chủ nghĩa yêu nước mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, được định hướng và thể hiện tập trung ở lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những trang lịch sử dân tộc, chúng ta có thể rút ra bài học sâu sắc là lòng yêu nước chỉ thực sự phát huy sức mạnh to lớn khi có nền tảng tư tưởng vững chắc, có định hướng chính trị - tư tưởng đúng đắn, được lãnh đạo bởi lực lượng tiền phong tiêu biểu cho bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc, quy tụ được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để dựng nước và giữ nước.

Yêu nước là biểu hiện cao quý của tư tưởng và tâm hồn Việt Nam, là giá trị nhân cách của con người Việt Nam, được tôi luyện và hun đúc qua biết bao biến cố của lịch sử và đã mãi trường tồn tỏa sáng cùng với sự đi lên của dân tộc. Đó chính là truyền thống văn hóa, văn hóa chính trị gắn liền với văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam. Nếu hiểu văn hóa chính trị theo nghĩa trên thì bên cạnh các giá trị truyền thống, như: lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, nhân nghĩa, hòa hiếu,... thì tư tưởng yêu nước có thể nói là tư tưởng cốt lõi, mang đậm những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam qua các thời đại. Và cho đến hôm nay, tư tưởng yêu nước đó vẫn tiếp tục khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng ta đã đề ra.

Nguyễn Thị Ưng

Tiến sĩ, Khoa Chính trị học - Học viện Chính trị khu vực I

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002.

2. Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, H.1980.

Đồng chí Trần Thanh Mẫn Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập

Danh sách các mặt trận toàn quốc:

UBMTTQ tỉnh Hà Giang UBMTTQ tỉnh Tuyên Quang UBMTTQ tỉnh Cao Bằng UBMTTQ tỉnh Bắc Kạn UBMTTQ tỉnh Thái Nguyên UBMTTQ tỉnh Lạng Sơn UBMTTQ tỉnh Bắc Giang UBMTTQ tỉnh Bắc Ninh UBMTTQ tỉnh Hải Dương UBMTTQ thành phố Hải Phòng UBMTTQ tỉnh Hưng Yên UBMTTQ tỉnh Nam Định UBMTTQ tỉnh Thái Bình UBMTTQ tỉnh Vĩnh Phúc UBMTTQ tỉnh Ninh Bình UBMTTQ tỉnh Thanh Hóa UBMTTQ tỉnh Nghệ An UBMTTQ tỉnh Hà Tĩnh UBMTTQ tỉnh Quảng Bình UBMTTQ tỉnh Thừa Thiên - Huế UBMTTQ thành phố Đà Nẵng UBMTTQ tỉnh Quảng Nam UBMTTQ tỉnh Quảng Ngãi UBMTTQ tỉnh Bình Định UBMTTQ tỉnh Phú Yên UBMTTQ tỉnh Khánh Hòa UBMTTQ tỉnh Bình Thuận UBMTTQ tỉnh Kon Tum UBMTTQ tỉnh Gia Lai UBMTTQ tỉnh Đắk Lắk UBMTTQ tỉnh Đắk Nông UBMTTQ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu UBMTTQ tỉnh Bình Dương UBMTTQ tỉnh Bình Phước UBMTTQ tỉnh Tây Ninh UBMTTQ tỉnh An Giang UBMTTQ tỉnh Cà Mau UBMTTQ tỉnh Sóc Trăng UBMTTQ tỉnh Tiền Giang UBMTTQ tỉnh Kiên Giang UBMTTQ tỉnh Đồng Tháp UBMTTQ thành phố Cần Thơ UBMTTQ tỉnh Trà Vinh UBMTTQ tỉnh Vĩnh Long UBMTTQ tỉnh Điện Biên UBMTTQ tỉnh Lai Châu UBMTTQ tỉnh Lào Cai UBMTTQ tỉnh Sơn La UBMTTQ tỉnh Yên Bái UBMTTQ tỉnh Phú Thọ UBMTTQ tỉnh Đồng Nai UBMTTQ thành phố Hà Nội UBMTTQ thành phố Hồ Chí Minh UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng UBMTTQ tỉnh Hà Nam UBMTTQ tỉnh Ninh Thuận UBMTTQ tỉnh Quảng Ninh UBMTTQ tỉnh Quảng Trị
Tìm kiếm văn bản