Xây dựng giai cấp nông dân theo Nghị quyết 26 - NQ/TW

(Mặt trận) - Trong suốt quá trình cách mạng, giai cấp nông dân Việt Nam luôn một lòng theo Ðảng, nêu cao tinh thần yêu nước và truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao, khẳng định vai trò chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam

Xuất bản cuốn sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng về quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng

Giá trị bền vững của ‘Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương’

Giai cấp nông dân đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước

Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết khẳng định, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nông nghiệp, nông thôn nước ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu quả. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.

Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí cao trên thị trường thế giới. Thành tựu đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời gian qua đã đóng góp quan trọng và to lớn của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam vào sự phát triển của đất nước. Những chủ trương, chính sách đó đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, động viên đông đảo cán bộ, hội viên, nông dân quyết tâm thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, có được cơ chế, chính sách, nguồn lực, là công cụ, điều kiện để các cấp Hội trực tiếp tham gia các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân, tạo nguồn lực giúp đỡ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập; góp phần đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân; thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tiến trình đổi mới đất nước, giai cấp nông dân Việt Nam luôn là trụ đỡ phát triển nền kinh tế, đóng góp thành tựu vào phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Những vấn đề đặt ra trong xây dựng giai cấp nông dân hiện nay

Những thành tựu, kết quả thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW cho thấy, nông nghiệp Việt Nam có bước phát triển, tuy nhiên chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa thật sự đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước. Nông nghiệp nước ta phát triển còn kém bền vững. Tâm trạng người nông dân vẫn còn nhiều băn khoăn, bức xúc khi một số chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thực sự đi vào cuộc sống và chưa mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân. Nông dân chưa được hưởng lợi tương xứng với những công sức lao động, cũng như những chính sách mà Đảng và Nhà nước đề ra; còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, thể hiện ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp còn thấp

Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thiếu ổn định, chưa đa dạng và lệ thuộc vào một vài thị trường truyền thống, xuất khẩu trực tiếp qua con đường tiểu ngạch nên còn tiềm ẩn rủi ro. Mặc dù, lĩnh vực nông nghiệp đạt được nhiều thành tựu trong xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam, nhưng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, như: lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều,… hầu như chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế. Điều này cho thấy, giá trị gia tăng của hàng hóa nông sản nước ta vẫn còn rất thấp, khả năng cạnh tranh chưa cao so với các đối thủ khác trên thị trường. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng đã hồi phục, nhưng chưa thật sự vững chắc và còn bộc lộ hạn chế, yếu kém của một nền nông nghiệp manh mún, thiếu liên kết, năng suất và chất lượng thấp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Mô hình liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ giữa doanh nghiệp với nông dân triển khai chậm, chưa thật hiệu quả và bền vững. Hiện nay cả nước có khoảng hơn 49.600 doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, chiếm 8% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước. Tuy nhiên các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất các sản phẩm nông, lâm, thủy sản chỉ chiếm khoảng 1% tổng số doanh nghiệp với số lượng 7.600 doanh nghiệp. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay vẫn ở dạng hộ sản xuất với hơn 9,2 triệu hộ. 

Doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận đất đai để tổ chức sản xuất. Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, trong việc tiếp cận vốn tín dụng, đặc biệt là quy hoạch các vùng nguyên liệu chưa được triển khai hiệu quả, còn thiếu sự ổn định. Ngành nông nghiệp Việt Nam cũng không ngoại lệ, khi khả năng thích ứng của ngành còn thấp hơn so với tiêu chuẩn đặt ra trong Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Để các thị trường trên thế giới chấp nhận nông sản Việt Nam, ngoài sự độc đáo của mặt hàng, cần nâng cao chất lượng, giá trị dinh dưỡng, bao bì sản phẩm. Hiện, nông sản trong nước vẫn đang đối mặt với các cuộc “giải cứu”. Với nền sản xuất nông nghiệp manh mún trong tay hàng triệu hộ dân như hiện nay, rất dễ bị thao túng, tác động từ thị trường, khả năng “giải cứu” đã khó, cạnh tranh càng khó hơn. Trong những năm gần đây, mô hình phát triển nông nghiệp theo chiều rộng, chủ yếu dựa trên giá rẻ, số lượng lớn, khai thác triệt để nguồn lực tài nguyên, môi trường đã dần bộc lộ những hạn chế. Nền nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thách thức:

Sự gia tăng cạnh tranh với hàng nhập khẩu: Việc cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ tăng sức ép cạnh tranh cho nhà sản xuất trong nước, không chỉ về giá, mà còn về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngành được dự báo gặp bất lợi nhất là chăn nuôi, sẽ đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn bởi hàng nhập khẩu từ Mỹ (thịt bò, gà), New Zealand và Australia (thịt bò, sữa), Canada, Tây Ban Nha và Đan Mạch (thịt lợn), Pháp, Hà Lan (sữa),… Theo thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ cho thấy, hiện mới chỉ có khoảng 15% trong hơn 90.000 thương hiệu hàng hóa được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam là của các doanh nghiệp trong nước và có đến 80% hàng nông sản của Việt Nam được bán ra thị trường thế giới thông qua các thương hiệu nước ngoài. Tương tự, ở trong nước, cũng có khoảng 80% sản phẩm nông sản được tiêu thụ mà không có nhãn hiệu. Đây là bất lợi lớn, khiến sức cạnh tranh của các loại nông sản Việt trên thị trường cả trong và ngoài nước còn yếu và chịu nhiều thiệt thòi. 

Thách thức đáp ứng nguồn gốc xuất xứ để bảo đảm quyền lợi hưởng ưu đãi: Trong thời gian tới, một số ngành hàng có nguy cơ khó đáp ứng các quy định về xuất xứ, như hạt điều, gỗ...

Thách thức trong việc đáp ứng các quy định của thị trường nhập khẩu: Nhìn chung, nhiều nông sản của Việt Nam, như: thủy sản, tiêu, rau quả tươi... chưa đáp ứng được các quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật của nước nhập khẩu. Việc không tuân thủ các quy định này khiến nông sản Việt Nam bị mất uy tín, thậm chí mất quyền xuất khẩu.

Thách thức về sở hữu trí tuệ: Hệ thống quản lý về sở hữu trí tuệ hiện nay của Việt Nam còn tương đối lỏng lẻo. Việc vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ (lạm dụng chỉ dẫn địa lý hay nhãn hiệu) còn diễn ra và thiếu kiểm soát. Việc quản lý về vấn đề sở hữu trí tuệ chủ yếu khi phát sinh gian lận trong thương mại trên thị trường mà không có sự quản lý từ khâu sản xuất. Do đó, nguy cơ vi phạm các cam kết về sở hữu trí tuệ trong hai hiệp định là rất cao, bên cạnh đó là nguy cơ mất quyền sở hữu đối với kiến thức truyền thống, công trình sáng tạo và nguồn gen tự nhiên vào tay các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam với trình độ và năng lực cao.

Thứ hai, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn

Hiện nay, ở nông thôn kinh tế hộ vẫn là đơn vị sản xuất, kinh doanh chủ lực với quy mô sản xuất nhỏ và chưa có sự liên kết, hợp tác với nhau. Kinh tế trang trại, kinh tế tập thể chậm phát triển, mức độ trang bị cơ giới và áp dụng khoa học - công nghệ thấp, khả năng liên kết với thị trường hạn chế.  Hiện nay, hầu hết máy móc thiết bị của doanh nghiệp đều phải nhập khẩu từ nước ngoài do ngành chế tạo máy phục vụ nông nghiệp ở Việt Nam còn rất thô sơ, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường. Quy mô vốn, doanh thu, lợi nhuận bình quân của hợp tác xã, tổ hợp tác thấp.

Đầu tư từ ngân sách Nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Mặc dù dòng tín dụng nông nghiệp tăng trong thời gian qua, nhưng do năng lực sản xuất của lĩnh vực này vẫn còn rất lớn, nên chính sách tín dụng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa phát huy được hiệu quả như mong đợi. Để tín dụng nông nghiệp, nông thôn được khơi thông, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, cần điều chỉnh linh hoạt điều kiện cho vay phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp, cải thiện điều kiện tiếp cận vốn (bao gồm cả điều kiện về tài sản thế chấp). Mở rộng gói tín dụng cho vay theo vụ cây trồng, cho vay tiêu dùng đối với hộ nông dân. Cần nghiên cứu cơ chế bảo lãnh tín dụng cho nông dân một cách đơn giản, rõ ràng, thay vì phải cầm cố hay giao nộp sổ đỏ. Hỗ trợ mua bảo hiểm rủi ro trong nông nghiệp cho nông dân, bảo hiểm lãi suất cho vay đối với một số sản phẩm…

Bên cạnh vấn nạn được mùa rớt giá, trong bối cảnh hội nhập sâu, rộng của nền kinh tế Việt Nam với thế giới hiện nay, những biến động về chính trị, kinh tế trên toàn cầu có thể tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh của các hộ nông dân.

Thứ ba, thực trạng nguồn lực lao động nông thôn Việt Nam

Nguồn lực lao động nông thôn Việt Nam nhìn chung có trình độ thấp, mang nặng tính chất của người sản xuất nhỏ, phân tán, năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ và các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn rất hạn chế,  thụ động, tư duy cạnh tranh kém, tính tự do và manh mún cao. Sức ép về việc làm cho lao động nông thôn ngày một tăng, do dân số tăng, hằng năm nước ta có thêm ít nhất 1,4 - 1,6 triệu người đến tuổi lao động được bổ sung vào lực lượng lao động, trong đó, 0,9 triệu lao động tăng thêm ở khu vực nông nghiệp và nông thôn. Trong khi đó, quỹ đất nông nghiệp tiếp tục suy giảm do công nghiệp hóa và đô thị hóa. Điều này tạo ra sức ép lớn về việc làm và dòng người di cư từ nông thôn vào thành thị.

Hiện nay nước ta có hơn 9,2 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu lao động trong độ tuổi, nhưng mới có 17% trong số đó được đào tạo, chủ yếu thông qua các lớp tập huấn khuyến nông sơ sài. Trong số 16,5 triệu thanh niên nông thôn đang cần có việc làm ổn định thì chỉ có 12% tốt nghiệp phổ thông trung học; 3,11% có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở lên (thấp hơn 4 lần so với thanh niên đô thị). Với trình độ như vậy, họ khó có thể áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm hàng hóa nông sản trong khu vực và cũng khó có thể tìm được việc làm ở các doanh nghiệp đòi hỏi lao động phải qua đào tạo và đạt trình độ tay nghề cao. 

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng, kỷ nguyên công nghệ bùng nổ làm gia tăng nguy cơ mất việc làm. Tổ chức này đã có cảnh báo về việc Việt Nam sẽ mất 5 triệu việc làm vào năm 2020, vì chất lượng nhân lực lao động chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10); đứng thứ 11/12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng và chỉ số cạnh tranh nhân lực cũng chỉ đạt 4,3/10 điểm xếp thứ 56/133 nước; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ trong năm 2015 chỉ đạt 20,3%. Nhân lực Việt Nam còn thiếu kỹ năng mềm, như: ngoại ngữ, công nghệ thông tin, kỹ năng làm việc nhóm, tác phong giao tiếp công nghiệp và trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp. Cách mạng 4.0 tạo ra thách thức cho doanh nghiệp trong nước, đòi hỏi phải chuyển từ lao động giản đơn sang lao động trong những ngành nghề công nghệ, sử dụng nhiều chất xám mà Việt Nam có thế mạnh, như: dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao, người lao động phải tự học để thay đổi, đáp ứng với công nghệ thay đổi nhanh. 

Do lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng, làm cho việc tổ chức hợp tác lao động và việc bồi dưỡng đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn. Do đó, lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau, nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.

Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Muốn giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn thì phải bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng ngành nghề, thâm canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý.

Lao động nông thôn ít có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá cũng có nhiều hạn chế. Tập quán sản xuất của lao động nước ta nhìn chung vẫn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu bị trói buộc trong khuôn khổ làng, xã.

Với những đặc điểm trên, lao động nông thôn chủ yếu thuộc bộ phận dân số không có việc làm thường xuyên, hay còn gọi là thiếu việc làm hoặc bán thất nghiệp. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn còn do lao động tăng nhanh, do diện tích ruộng đất trên một lao động ngày càng giảm. Tình trạng đó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chính lao động nông thôn, mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, gây lãng phí một nguồn lao động lớn ở nước ta.

Do nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng còn chậm phát triển, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm nên chưa tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông thôn. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa đang diễn ra ngày càng nhanh chóng, nên ở nhiều vùng nông thôn nước ta, nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp; trong khi đó, trình độ của lao động nông nghiệp còn hạn chế tỉ lệ lao động nông thôn không có việc làm, thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng. Hơn nữa, công tác đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn triển khai còn chậm. Tính đến cuối năm 2015, mới tổ chức dạy nghề cho 132.148 lao động nông thôn, đạt 27,1% kế hoạch năm; trong đó có 92.322 người đã học xong, 67.052 người có việc làm (đạt 72,6%), chủ yếu là tự tạo việc làm. Ở nhiều bộ, ngành, địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Những hạn chế đó làm cản trở việc tạo việc làm cho lao động nông thôn nước ta thời gian qua. 

Thứ tư, về xây dựng nông thôn mới

Đến hết tháng 11/2017, cả nước có 2.884 xã (32,3%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Trong đó, có trên 305 xã được công nhận đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, vượt mục tiêu năm 2017 có ít nhất 31% số xã đạt chuẩn, tăng 524 xã so với cuối năm 2016; bình quân đạt 13,69 tiêu chí/xã; còn 176 xã dưới 5 tiêu chí, giảm 81 xã so với cuối năm 2016. Đồng thời, đến hết 15/12/2017, cả nước có 43 đơn vị cấp huyện thuộc 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. 

Nếu kể cả năm 2016, cả nước ước đã huy động được trên 1 triệu tỉ đồng đầu tư vào xây dựng nông thôn mới, trong đó phần kinh phí Nhà nước, nếu tính cả các chương trình lồng ghép chỉ chiếm khoảng 11%, còn lại là các nguồn khác, như: nguồn của nhân dân, doanh nghiệp,…

Riêng về giao thông nông thôn, trong giai đoạn 2011 - 2015, đã chứng kiến sự đầu tư với khối lượng khổng lồ, gấp 5 lần so với cả thời kỳ trước đó, không chỉ làm thay đổi diện mạo nông thôn, mà còn tạo cơ sở để thúc đẩy sản xuất.

Hiện nay, cả nước đã có 2.067 xã, 27 huyện đạt chuẩn nông thôn mới, với 20 nghìn mô hình sản xuất ở các cấp xã, huyện ở khắp cả nước. Diện mạo nông thôn thay đổi, đời sống vật chất tinh thần tăng lên một bước rõ rệt. Trong bối cảnh kinh tế đất nước còn khó khăn, khủng khoảng kinh tế ảnh hưởng lớn, việc huy động được nguồn lực vào xây dựng nông thôn tạo nên những chuyển biến trong đời sống người nông dân có ý nghĩa vô cùng to lớn.

Thực trạng một số địa phương mới chỉ chú trọng tới thiết chế hạ tầng mà chưa quan tâm đầu tư thúc đẩy sản xuất. Vấn đề môi trường nông thôn một số xã, thậm chí đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nhưng thực tế chưa đạt yêu cầu bền vững. Theo tổng hợp báo cáo của các địa phương, tính đến hết 30/11/2017, tổng số nợ xây dựng cơ bản thực hiện Chương trình nông thôn mới còn khoảng 5.845 tỷ đồng, giảm 9.373 tỷ đồng, tương đương 61,1% so với tháng 1/2016.

Thứ năm, về chính sách hỗ trợ nông dân

Chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp ngày càng được đẩy mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và phát triển nông thôn. Các chính sách đưa ra cần phải tính đến việc nông dân sử dụng được đồng ruộng của mình. Lao động nông thôn ly nông không phải ly hương mà vẫn đủ ăn, đặc biệt, nông dân phải làm giàu được từ những sản phẩm nông nghiệp. Tình trạng nông dân bỏ ruộng là phản ứng rõ nhất về chính sách đối với nông dân chưa phù hợp, chưa đem lại lợi ích cho người nông dân như tiềm năng đang có. Người nông dân phải là trung tâm của các hỗ trợ, các doanh nghiệp, nhà xuất khẩu nông thủy sản cần phải liên kết với nông dân và phải tham gia vào quá trình sản xuất mới được thụ hưởng chính sách hỗ trợ.

Mặc dù đã có nhiều quy định về tín dụng để phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhưng các hộ nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn vay. Khó khăn lớn nhất hiện nay là các hồ sơ vay của nông dân, qua thẩm định không đáp ứng những quy định trong việc cho vay tín dụng, trong đó có lý do về tính minh bạch thông tin. Ðể duy trì sản xuất nông nghiệp, nhiều nông dân đã phải vay "tín dụng đen" với lãi suất cao gấp nhiều lần lãi suất ngân hàng. Do đó, người dân mong muốn bên cạnh việc tạo ra chính sách đồng bộ, cần huy động sự vào cuộc của các ngành, các cấp để hỗ trợ nông dân trong việc tiếp cận vốn, cũng như có những ưu đãi đối với lãi suất tín dụng.

Ðể hỗ trợ các đối tượng sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là những hộ nông dân không có tài sản bảo đảm được vay vốn tín dụng, mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 116/2018/NÐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NÐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Với việc ban hành Nghị định 116/2018/NÐ-CP, cùng với các chính sách ưu đãi khác, chủ trương đẩy mạnh tín dụng trong nông nghiệp đang được áp dụng hiệu quả, hy vọng thời gian tới, nông dân sẽ dễ tiếp cận hơn với các khoản vốn vay ưu đãi. Qua đó, góp phần ngăn chặn những hoạt động tín dụng bất hợp pháp đang gây nhiều hệ lụy xấu trong đời sống người dân nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, bền vững.

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh - quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Do vậy, phong trào nông dân và tổ chức Hội phải không ngừng đổi mới, nỗ lực phấn đấu vươn lên, nâng cao chất lượng tổ chức, phương thức và hiệu quả hoạt động, phát huy mạnh mẽ vai trò, vị thế của giai cấp nông dân, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Nguyễn Thị Ngân

PGS.TS, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Chú thích:

1. https://theleader.vn/10-diem-nghen-trong-phat-trien-nong-nghiep-1532925343754.htm.

2. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Doi-ngoai-va-hoinhap/2016/41541 Nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cho-nong-nghiep-Viet-Nam-trong.aspx.

3.http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2008/3254/Nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-o-nong-thon.aspx.

4. Báo Thanh niên số 190 (8234, thứ hai ngày 9/7/2018, trang 1, 2.

5. http://tapchimattran.vn/kinh-te/giai-quyet-viec-lam-cho-lao-dong-o-nong-thon-5921.html.

6.http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2018-01-03/no-dong-xay-dung-nong-thon-moi-giam-tren-9000-ty-dong-52238.aspx.

7. https://nongnghiep.vn/khac-phuc-han-che-trong-xay-dung-nong-thon-moi-post181041.html.

Đồng chí Trần Thanh Mẫn Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Xem thêm
Gửi ban biên tập
Tìm kiếm văn bản